Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt luận văn: Sau khoảng 30 năm hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành một trong các nền kinh tế đang phát triển thành công trên thế giới. Lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đang cố gắng điều chỉnh các hoạt động của mình tiệm cận theo chuẩn mực của ngân hàng thế giới. Một trong những thách thức của hệ thống ngân hàng hiện nay là tập trung tài chính cho lĩnh vực bảo vệ môi trường, có lợi cho xã hội. Hành vi xanh là một cách tiếp cận sống thân thiện với môi trường đã trở thành một xu hướng được chấp nhận rộng rãi bởi cả cấp độ cá nhân lẫn doanh nghiệp, các tổ chức như ngân hàng phải phát huy vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường để đạt được hiệu quả kinh doanh bền vững.

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định sự tác động của thực hành ngân hàng xanh tới thương hiệu ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên tại các ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua kết quả nghiên cứu này, các ngân hàng và các nhà quản trị có thể xem xét điều chỉnh các hoạt động để đem lại những ảnh hưởng tích cực trong việc áp dụng các thực hành ngân hàng xanh tại các ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ khóa: Thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên, hình ảnh thương hiệu xanh

ABSTRACT

Dissertation title: The relationship between green banking practices, employee green behavior and green brand image at commercial banks in Ho Chi Minh City.

Dissertation summary: After about 30 years of international economic integration, Vietnam has become one of the successful developing economies in the world. The banking sector in Vietnam is trying to adjust its operations to the standards of the World Bank. One of the challenges of the current banking system is to focus finance on environmental protection and social benefits. Green behavior is an environmentally friendly approach to living that has become a widely accepted trend by both individuals and businesses, organizations such as banks must play an important role in environmental protection to achieve sustainable business performance. Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

The thesis uses quantitative research method to test the impact of green banking practices on green bank brand, green behavior of employees at commercial banks in Ho Chi Minh City. Through the results of this study, managers can consider adjusting activities to bring about positive effects in the application of green banking practices in commercial banks in Ho Chi Minh City.

Keywords: Green banking practice; Green behavior of employees; Green brand image

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Trong thời gian gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường đang gây ảnh hưởng không chỉ đến con người mà còn cả môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Những thách thức đặt ra như hiệu ứng nhà kính, chất lượng không khí suy giảm đang đòi hỏi các tổ chức phải cùng chung tay trong việc bảo vệ hành tinh, cùng với đó là mối quan tâm của công chúng về tình trạng môi trường đã tăng lên đáng kể. Chính vì vậy, hành vi xanh đã trở thành một xu hướng được chấp nhận rộng rãi bởi cả cấp độ cá nhân lẫn doanh nghiệp. Hành vi xanh là một cách tiếp cận sống thân thiện với môi trường đòi hỏi các tổ chức như ngân hàng phải phát huy vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường để đạt được hiệu quả kinh doanh bền vững. Xu hướng mới đòi hỏi cập nhật hệ thống ngân hàng truyền thống với chiến lược ngân hàng xanh, nhân viên ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các thông lệ ngân hàng tốt hơn, thân thiện hơn với môi trường để đạt được hoạt động bền vững của ngân hàng (Norton và cộng sự, 2014).

Sau khoảng 30 năm hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành một trong các nền kinh tế đang phát triển thành công trên thế giới. Lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đang cố gắng điều chỉnh các hoạt động của mình tiệm cận theo chuẩn mực của ngân hàng thế giới. Một thách thức khác của hệ thống ngân hàng là tập trung tài chính cho lĩnh vực bảo vệ môi trường, một hoạt động có nhiều lợi ích cho xã hội. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng khi phải đảm bảo thực thi đồng thời các mục tiêu về kinh tế.

2. Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội ngày nay đang phải đối mặt với những vấn đề phức tạp, một trong đó là vấn đề biến đổi khí hậu. Con người ngày càng quen thuộc hơn với hiện tượng nóng lên toàn cầu và những tác động xấu của nó đối với đời sống con người. Do đó, những thay đổi trong chính sách là cần thiết để bảo vệ môi trường một cách bền vững vì nó rất quan trọng cho sự sống còn. Đó không chỉ là mối quan tâm của chính phủ và những người chịu trách nhiệm trực tiếp về ô nhiễm, mà còn của các bên liên quan khác, chẳng hạn như các tổ chức tài chính, thực hiện vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ môi trường thông qua ngân hàng xanh. Ngân hàng là một trong những nguồn tài trợ chính cho các dự án công nghiệp tạo ra nhiều khí thải carbon như thép, giấy, xi măng, hóa chất, phân bón, điện. Vì vậy, các ngân hàng có thể đóng vai trò trung gian trong việc bảo vệ môi trường bằng cách thúc đẩy đầu tư bền vững và có trách nhiệm với xã hội. Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Ngân hàng xanh là một phần của hệ sinh thái phát triển nghiên cứu các mối quan hệ hoặc tương tác qua lại tốt giữa sự phát triển và sinh vật hoặc môi trường. Tuy nhiên, khác với các ngân hàng thông thường, ngân hàng xanh tập trung đặc biệt vào các yếu tố môi trường. Mục đích của họ là cung cấp kinh doanh môi trường và xã hội tốt thông qua việc kiểm tra tất cả các yếu tố trước khi cho vay, đảm bảo dự án có tính thân thiện với môi trường và có giá trị trong tương lai. (Deka, 2015).

Ngân hàng xanh quản lý rủi ro môi trường bằng cách thiết kế hệ thống quản lý môi trường phù hợp để đánh giá các rủi ro liên quan đến đầu tư dự án. Các rủi ro có thể được nội bộ hóa bằng cách áp dụng lãi suất chênh lệch và các kỹ thuật khác. Hơn nữa, các ngân hàng có thể tự rút lui khỏi việc tài trợ cho các khoản rủi ro cao của dự án. Một thành phần quan trọng của ngân hàng xanh yêu cầu tạo ra các sản phẩm tài chính và các dịch vụ hỗ trợ phát triển thương mại với lợi ích môi trường, bao gồm đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo, bảo tồn đa dạng sinh học, hiệu quả năng lượng, đầu tư vào quy trình và công nghệ sản xuất sạch hơn, trái phiếu và quỹ tương hỗ dành cho đầu tư môi trường (Bihari, 2011).

Ngân hàng xanh còn được gọi là ngân hàng có đạo đức, ngân hàng có trách nhiệm với môi trường, có trách nhiệm với xã hội. Họ xem xét tất cả các yếu tố xã hội và môi trường hoặc sinh thái nhằm mục đích bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (Kaur, 2014).

Ngân hàng xanh còn được gọi là ngân hàng có đạo đức hoặc bền vững, chịu sự điều chỉnh của các cơ quan quản lý tương tự, nhưng tập trung hơn vào việc chăm sóc môi trường. Giống như một ngân hàng thông thường, nó xem xét tất cả các yếu tố xã hội và môi trường/sinh thái với mục đích bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Nó được gọi là một ngân hàng có đạo đức hoặc bền vững (Jain, 2013).

Ngân hàng xanh ngụ ý hoạt động của các ngân hàng, các biện pháp khuyến khích cho các hoạt động môi trường và giảm lượng khí thải carbon, chẳng hạn như: khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ xanh; áp đặt các tiêu chuẩn môi trường khi khoản vay được chấp thuận hoặc cấp tín dụng ưu đãi cho các dự án giảm CO2, năng lượng tái tạo … Ngân hàng xanh hoạt động giống như một ngân hàng truyền thống và cung cấp dịch vụ cho các nhà đầu tư và khách hàng trong khi triển khai các chương trình hữu ích cho cộng đồng và môi trường. Ngân hàng xanh không phải là một hoạt động kinh doanh thuần túy dành cho trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), cũng không hoàn toàn là kinh doanh thuần túy vì lợi nhuận; nó là một sự kết hợp mới để đảm bảo sự hài hòa và bền vững về kinh tế – môi trường – xã hội. Do đó, khái niệm sẽ có những lợi ích cho cả ngân hàng, các ngành công nghiệp và nền kinh tế, đặc biệt là với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.

Nâng cao nhận thức về lợi ích của thực hành ngân hàng xanh giữa các nhân viên của ngân hàng được coi là quan trọng cho việc đảm bảo khả năng ứng dụng nhiều hơn cho ngân hàng xanh. Khi nhân viên hiểu các giá trị và ý nghĩa của các hoạt động ngân hàng xanh, họ sẽ hoạt động hiệu quả hơn và cố gắng phát triển các sản phẩm và các dịch vụ tài chính sáng tạo vì điều này sẽ góp phần bảo vệ môi trường, cũng chính là bảo vệ nơi họ sống. Nhận thức về các mối đe dọa môi trường giữa khách hàng do các sản phẩm và dịch vụ khác nhau gây ra đã thúc đẩy các công ty kết hợp các thuộc tính thân thiện với môi trường vào sản phẩm của họ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Deka, 2015).

Việc khắc sâu các nguyên tắc ngân hàng xanh trong tư duy của nhân viên có thể dẫn đến hành vi tích cực của họ đối với môi trường và xã hội. Nó cũng có thể dẫn đến giảm việc sử dụng các nguồn tài nguyên sẵn có và tiêu thụ năng lượng. đồng thời sẽ thúc đẩy họ truyền bá kiến thức về tầm quan trọng của ngân hàng xanh và các mối đe dọa nếu không được tuân thủ, cuối cùng dẫn đến việc cải thiện hình ảnh của ngân hàng và cuối cùng sẽ cải thiện sự công nhận của ngân hàng, dẫn đến hiệu suất tốt hơn và nhiều lợi nhuận hơn.

Từ những lý do trên tác giả nhận thấy chủ đề thực hành ngân hàng xanh là cần thiết tại Việt Nam nên chọn đề tài “Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh”

3. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

 Kiểm định mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh trong các Ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

  • Hệ thống hóa các yếu tố trong thực tiễn hoạt động ngân hàng xanh.
  • Kiểm định mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh, hình ảnh thương hiệu xanh tại các NHTM trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
  • Kiểm định mối quan hệ giữa hành vi xanh của nhân viên ngân hàng và hình ảnh thương hiệu xanh tại các NHTM trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
  • Kiểm định vai trò trung gian của hành vi xanh trong mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh tại các NHTM trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
  • Đề xuất hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu.

4. Câu hỏi nghiên cứu

  • Các yếu tố ảnh hưởng trong thực tiễn hoạt động ngân hàng xanh là gì?
  • Mức độ tác động giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh, hình ảnh thương hiệu xanh tại các NHTM trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh?
  • Mức độ tác động giữa hành vi xanh của nhân viên ngân hàng và hình ảnh thương hiệu xanh tại các NHTM trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
  • Có tồn tại vai trò trung gian của hành vi xanh trong mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh tại các NHTM trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh không?
  • Hàm ý chính sách gì rút ra từ nghiên cứu?

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh tại các NHTM trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.

Đối tượng khảo sát: người lao động đang làm việc tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng trả lời các bảng hỏi đang làm việc tại các phòng có liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng. Thời gian nghiên cứu: 07/2022-02/2023.

6. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn nhóm tập trung để hoàn thiện mô hình nghiên cứu và điều chỉnh bảng câu hỏi, thang đo cho phù hợp thực tiễn nghiên cứu của đề tài. Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Nghiên cứu định lượng: Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính thông qua phần mềm Smart PLS để kiểm định mô hình đo lường.

7. Bố cục của đề tài

Kết cấu luận văn gồm có năm phần như sau:

  • PHẦN MỞ ĐẦU
  • CHƯƠNG 1.  CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
  • CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
  • CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

8. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu

Kết quả của đề tài nghiên cứu của luận văn này có thể giúp người đọc nhận biết được tác động các thực hành ngân hàng xanh tới thương hiệu ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên tại các ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, thông qua kết quả nghiên cứu này thì các ngân hàng và các nhà quản trị có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo trong việc quản trị ngân hàng theo định hướng các thực hành ngân hàng xanh tại các ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm nghiên cứu liên quan

1.1.1.Thực hành ngân hàng xanh

1.1.1.1 Khái niệm

Ngân hàng xanh là lĩnh vực ngân hàng lấy tư tưởng bảo vệ môi trường làm nền tảng cho hoạt động ngân hàng với tư cách là một thực thể có ý thức. Nó thuyết phục khách hàng tham gia vào các dự án xanh và khuyến khích các dự án thông qua việc cho vay cùng với việc thực hiện các hoạt động bảo tồn – sử dụng năng lượng mặt trời hoặc năng lượng tái tạo. Các hoạt động ngân hàng xanh thúc đẩy sự đổi mới công nghệ và thay đổi hành vi của khách hàng cũng như nâng cao các hoạt động thân thiện với môi trường, giảm lượng khí thải carbon từ hoạt động ngân hàng; dựa vào các giao dịch trực tuyến/điện tử nhằm tiết kiệm tài nguyên.

Theo Biswas (2011), ngân hàng xanh là nỗ lực của các ngân hàng nhằm tạo ra các tổ chức phát triển bền vững và phục hồi môi trường tự nhiên.

Thực hành ngân hàng xanh là thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ các hoạt động của các ngân hàng nhằm giảm thiểu lượng khí thải carbon từ các hoạt động ngân hàng hàng ngày và hỗ trợ cho các hoạt động thân thiện với môi trường. Các thực hành ngân hàng xanh thông qua hoạt động đầu tư và cho vay nhằm duy trì sự phát triển bền vững giúp khôi phục môi trường tự nhiên (Deka, 2015). Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

1.1.1.2 Vai trò của ngân hàng xanh

Hệ thống ngân hàng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Nó đóng một vai trò cơ bản trong sự phát triển kinh tế của một quốc gia và là cốt lõi của thị trường tiền tệ ở một nước. Trong thời gian gần đây, lĩnh vực ngân hàng trên toàn thế giới đã trải qua rất nhiều thay đổi do việc bãi bỏ nhiều hạn chế, đổi mới công nghệ, xu hướng toàn cầu hóa, yếu tố môi trường, v.v. Lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đang cố gắng điều chỉnh các hoạt động của mình tiệm cận theo chuẩn mực của ngân hàng thế giới. Một thách thức khác của hệ thống ngân hàng là tập trung tài chính cho lĩnh vực bảo vệ môi trường, có lợi cho xã hội. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng vì các ngân hàng cũng quan tâm đến lợi nhuận.

Những thách thức đặt ra như hiệu ứng nhà kính, chất lượng không khí suy giảm đang đòi hỏi các tổ chức phải cùng chung tay trong việc bảo vệ hành tinh, cùng với đó là mối quan tâm của công chúng về tình trạng môi trường đã tăng lên đáng kể trong thời gian qua. Các ngân hàng giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống kinh tế do nó có thể ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế thông qua các hoạt động tài trợ. Ngân hàng xanh không chỉ nâng cao tiêu chuẩn của mình mà còn ảnh hưởng đến hành vi có trách nhiệm với xã hội của các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, nếu ngân hàng xanh chỉ đơn giản làm tăng chi phí của một ngân hàng, nó có thể không bao giờ được chấp nhận như các thông lệ kinh doanh phổ biến của ngành ngân hàng toàn cầu.

Theo Biswas (2011), ngân hàng xanh có thể hưởng lợi từ hiệu quả hoạt động và giảm chi phí trong hoạt động ngân hàng. Giảm chi phí do ngân hàng xanh mang lại bao gồm giảm chi phí liên quan đến văn phòng phẩm và giảm chi phí liên quan đến việc thuê thêm nhân viên để loại bỏ lãng phí và phế liệu. Tuy nhiên, mối quan hệ tích cực giữa chiến lược ngân hàng xanh và lợi nhuận không phải lúc nào cũng đúng. Về mặt xã hội, các ngân hàng có trách nhiệm với môi trường cũng có thể thành công về mặt tài chính và thậm chí tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh thông thường của họ.

Ngân hàng xanh là việc tiến hành hoạt động kinh doanh ngân hàng theo cách giúp giảm tổng thể phát thải carbon ra bên ngoài. Nó thúc đẩy các hoạt động thân thiện với môi trường bằng cách giảm lượng khí thải carbon từ hoạt động ngân hàng. Điều này có nhiều hình thức như sử dụng ngân hàng trực tuyến thay vì ngân hàng trực tiếp, thanh toán hóa đơn trực tuyến thay vì gửi chúng qua đường bưu điện, v.v. Ngân hàng xanh giúp tạo ra hiệu quả và khả năng tiếp cận sâu rộng các giải pháp dựa trên thị trường để giải quyết một loạt các vấn đề môi trường bao gồm biến đổi khí hậu, phá rừng, các vấn đề chất lượng không khí và suy giảm đa dạng sinh học đồng thời xác định và đảm bảo các cơ hội có lợi cho khách hàng.

1.1.1.3 Những thách thức của ngân hàng xanh

Các ngân hàng có thể đóng một vai trò quan trọng trong phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Điều đó có thể đạt được bằng cách áp đặt lãi suất cho vay cao hơn đối với các dự án mà nó tạo mối đe dọa đối với môi trường (Miah và cộng sự, 2020). Khuyến khích cho vay đối với lĩnh vực công nghệ xanh và các dự án giảm thiểu ô nhiễm. Sự phát triển các chính sách hỗ trợ tín dụng xanh là cần thiết và cung cấp trợ cấp cho việc sản xuất năng lượng tái tạo có thể được coi là một bước quan trọng mà các ngân hàng có thể sử dụng để cải thiện môi trường tài chính xanh. Các ngân hàng đôi khi có thể gặp sự cố với không đủ tài liệu được cung cấp bởi các công ty đang tìm kiếm tài chính cho các dự án năng lượng sạch. Do đó, điều này làm cho họ không thể quyết định đầu tư vào các dự án phù hợp. Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Bên cạnh những lợi ích mang lại cho ngân hàng, ngân hàng xanh còn phải đối mặt với nhiều thách thức đối đầu, có thể bao gồm như sau:

  1. Giảm dòng tiền đối với các khoản đầu tư / dự án xanh trong ngắn hạn: Các khoản đầu tư / dự án xanh thường có thời gian hoàn vốn dài hạn với dòng tiền thấp hơn trong ngắn hạn. Trước khi cho vay, các ngân hàng nên đánh giá những rủi ro này thông qua phân tích dòng tiền hoặc phân tích chi phí và lợi ích đối với các khoản đầu tư / dự án xanh này. Việc này sẽ mất thời gian và gây tốn kém cho ngân hàng; do đó, có thể khó tài trợ cho nhiều dự án cùng một lúc.
  2. Những thách thức đối với các ngân hàng đang xây dựng các khoản đầu tư / dự án xanh là thiếu dữ liệu đáng tin cậy để đánh giá tác động môi trường của các khoản đầu tư/ dự án này. Thông thường, các dữ liệu đáng tin cậy không có sẵn cho các ngân hàng, và việc tự mình đánh giá độ tin cậy của dữ liệu là không khả thi. Họ cũng có thể cần các đánh giá chuyên môn của các kiểm toán viên môi trường độc lập.

Một trong những hạn chế của hoạt động ngân hàng xanh là thời gian khởi động dài hơn và số lượng khách hàng thấp hơn so với các hoạt động thông thường. Hoạt động ngân hàng xanh đòi hỏi nhiều thời gian để chuẩn bị và triển khai, và cần có sự đầu tư về nhân lực, tài chính và công nghệ. Do đó, số lượng khách hàng của ngân hàng xanh thường thấp hơn so với các hoạt động thông thường và cần thời gian để xây dựng mối quan hệ và tăng cường sự tin tưởng từ khách hàng.

  1. Các ngân hàng xanh thường thẩm định các dự án của khách hàng dựa trên các tiêu chuẩn môi trường cụ thể. Việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt có thể làm hạn chế số lượng khách hàng của ngân hàng. Các khách hàng không đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường thì sẽ không được chấp nhận vay vốn hoặc được hỗ trợ từ ngân hàng.
  2. Lợi nhuận trong ngắn hạn thấp: Mục tiêu chính của ngân hàng xanh là hỗ trợ các dự án / đầu tư “xanh” với trọng tâm là thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Các dự án / khoản đầu tư này có thể không tập trung vào việc tạo ra lợi nhuận. Điều này sẽ dẫn đến lợi nhuận của các ngân hàng thấp hơn.
  3. Chi phí hoạt động cao hơn: Các ngân hàng xanh cần đầu tư nhiều vốn vào việc đào tạo và thường xuyên đào tạo đội ngũ nhân viên ngân hàng chuyên sâu, tài năng và có kỹ năng để đánh giá tác động môi trường của các khoản đầu tư / dự án. Nhân viên ngân hàng cũng cần có thêm kiến thức và kinh nghiệm trong việc xử lý các khoản đầu tư / dự án xanh. Ngoài ra, các ngân hàng đôi khi cần đầu tư vào các công nghệ hiện đại để đánh giá tác động môi trường của các dự án / đầu tư xanh.

Rủi ro về danh tiếng: Tập trung vào ngân hàng xanh giúp các ngân hàng nâng cao uy tín về dài hạn. Tuy nhiên, do khó đánh giá tác động môi trường của các dự án / khoản đầu tư, các ngân hàng cũng phải đối mặt với rủi ro tài trợ cho các dự án “bẩn” không được coi là “xanh” hoặc có thể gây tổn hại đến môi trường và sự phát triển bền vững. Danh tiếng tổng thể của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng khi tài trợ cho những dự án kiểu này.

Thiếu các hướng dẫn chính thức về ngân hàng xanh: Ngân hàng xanh là một khái niệm mới trong ngành ngân hàng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Do đó, một khung pháp lý chính thức về ngân hàng xanh vẫn chưa được Chính phủ ban hành. Ngoài ra, khung pháp lý để đánh giá các dự án “xanh” không được chính thức thiết lập và hợp nhất giữa các cơ quan chính phủ.

1.1.2 Hành vi xanh của nhân viên Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Hành vi xanh được định nghĩa là hành động của nhân viên để bảo vệ môi trường, chẳng hạn như tái chế, sử dụng tài nguyên hiệu quả và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Khái niệm này còn được gọi là hành vi thân thiện với môi trường, bao gồm một loạt các hành động thúc đẩy bảo vệ môi trường (De Roeck và Farooq, 2017)

Hành vi xanh đề cập đến bất kỳ hành vi nào có lợi cho môi trường hoặc giảm thiểu tác hại đến môi trường, với việc thực hiện chiến lược phát triển bền vững doanh nghiệp, hành vi xanh của nhân viên tại nơi làm việc ngày càng được chú trọng (Wang và cộng sự, 2019). Theo các tiêu chuẩn hành vi tự chủ, hành vi xanh có thể được chia thành hai khía cạnh như sau: (1) Hành vi xanh trong trách nhiệm: Đây là những hành vi xanh liên quan đến nhiệm vụ được thực hiện trong phạm vi trách nhiệm của nhân viên; (2)  Hành vi xanh bên ngoài trách nhiệm: Đây là những hành vi xanh được thực hiện bên ngoài phạm vi trách nhiệm của nhân viên, nhằm thúc đẩy tư duy và hành động xanh trong cộng đồng và xã hội.

 Theo các tiêu chuẩn hành vi tự chủ (của tổ chức và sự tự quyết định của cá nhân), hành vi xanh gồm hai khía cạnh: hành vi xanh liên quan đến nhiệm vụ được thực hiện trong trách nhiệm của nhân viên và hành vi xanh chủ động được thực hiện bên ngoài trách nhiệm của nhân viên (Bissing-Olson và cộng sự, 2013). Hành vi xanh được thực hiện bởi nhân viên để hoàn thành các nhiệm vụ công việc cốt lõi mà tổ chức yêu cầu (chẳng hạn như trách nhiệm bảo vệ môi trường được quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ, tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường). Hành vi xanh chủ động đề cập đến hành vi tùy ý và thân thiện với môi trường không được hệ thống khen thưởng chính thức công nhận một cách rõ ràng (Bissing-Olson và cộng sự, 2013), chẳng hạn như việc nhắc nhở đồng nghiệp tiết kiệm năng lượng.

1.1.3. Hình ảnh thương hiệu xanh

Sản phẩm xanh: Định nghĩa về sản phẩm xanh không còn mới và rất phổ biến đối với lĩnh vực kinh tế nói chung cũng như đối với khách hàng quan tâm về vấn đề môi trường nói riêng. Có nhiều nghiên cứu đề suất khái niệm về sản phẩm xanh:

Sản phẩm xanh là sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng mà không gây tổn hại đến môi trường và góp phần hướng tới một thế giới bền vững hơn hơn. (Shamdasami và cộng sự, 1993).

Sản phẩm xanh có thể là quy trình sản xuất phù hợp với môi trường, có trách nhiệm khi sử dụng sản phẩm, hay loại bỏ sản phẩm, mà người tiêu dùng so sánh với những sản phẩm cạnh tranh (Hartmann và Apaolaza Ibanez, 2006). Theo một nghĩa chặt chẽ, không có sản phẩm xanh hoặc bền vững thực sự, vì tất cả các sản phẩm chúng ta sử dụng và loại bỏ trong đời sống hằng ngày đều có sự ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến môi trường ở một số giai đoạn trong chu kỳ sống của chúng.

Tóm lại, sản phẩm xanh được định nghĩa là ít tác động tiêu cực hơn cho hệ sinh thái và môi trường. Vì vậy, sản phẩm xanh không mang tính tuyệt đối, là định nghĩa miêu tả các sản phẩm với sự tác động đến môi trường ít hơn các sản phẩm hoặc lựa chọn thay thế. Trong dài hạn, nếu các công ty kinh doanh định hướng phát triển bền vững bằng việc sử dụng hay sản xuất sản phẩm xanh thì nó cũng là một lợi thế cạnh tranh. Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Hình ảnh thương hiệu: Định nghĩa hình ảnh thương hiệu là niềm tin tri giác về các liên kết thuộc tính, lợi ích và thái độ của thương hiệu, thường được xem là cơ sở để đánh giá tổng thể hoặc thái độ đối với thương hiệu. Vì vậy, hình ảnh thương hiệu là một cấu trúc tổng thể được hình thành từ tất cả các yếu tố, đặc điểm cấu tạo nên thương hiệu (Keller, 1993).

Theo Anwar và cộng sự (2011), hình ảnh thương hiệu có vai trò như là dấu hiệu quan trọng để người tiêu dùng phân biệt một thương hiệu với các đối thủ của nó khi rất khó so sánh các thương hiệu bằng cách sử dụng các đặc điểm thực tế. Hình ảnh thương hiệu được xem là một trong những tài sản vô hình quan trọng nhất có tác động đến nhận thức của người tiêu dùng đối với công ty, nó định hình nên những hình ảnh về thương hiệu căn cứ vào sự tương tác và thông qua quá trình trải nghiệm của chính họ với các sản phẩm của thương hiệu.

Thương hiệu xanh: Hartmann và Apaolaza Ibanez (2006) đã định nghĩa thương hiệu xanh được xem là một nhóm các thuộc tính và lợi ích cụ thể của thương hiệu liên quan đến việc giảm thiểu ảnh hưởng xấu hoặc tạo tác động tốt đến môi trường. Như vậy, thương hiệu xanh giúp khách hàng có ý thức hơn về môi trường và để xây dựng được thương hiệu xanh thành công thì nó phải có lợi ích đáng kể so với thương hiệu khác và định hướng người tiêu dùng coi trọng các vấn đề về môi trường.

Hình ảnh thương hiệu xanh: Theo Chen (2010) thì hình ảnh thương hiệu xanh là một tập hợp các nhận thức về thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng có liên quan đến các cam kết về môi trường và các mối quan tâm về môi trường. Hình ảnh thương hiệu xanh được chứng minh là có ảnh hưởng đến ý định mua hàng của người tiêu dùng do nó giải thích, đánh giá, nhận thức của người tiêu dùng về hình ảnh sản phẩm. Hình ảnh thương hiệu xanh được hình thành dựa trên tâm trí người tiêu dùng thông qua một loạt nhận thức. Các lý thuyết trước đây giải thích rằng hình ảnh thương hiệu xanh được thực hiện từ một số đánh giá từ người tiêu dùng. Đánh giá liên quan đến mức độ khác biệt với các thương hiệu khác (Gupta và Kumar, 2013), mức độ danh tiếng của công ty với tư cách là người làm ra sản phẩm thân thiện môi trường, mức độ hoạt động của công ty được đánh giá tốt trong việc làm ra sản phẩm thân thiện với môi trường, mức độ chú ý của công ty đối với sản phẩm thân thiện với môi trường và mức độ tin cậy của khách hàng đối với công ty (Chen, 2010).

Hình ảnh của tổ chức cho biết mức độ tin cậy dành cho mọi người có trong đó. Các công ty có hình ảnh công ty tích cực có xu hướng nhận được sự trung thành cao từ các bên liên quan của họ và chủ yếu là khách hàng của họ. Vì vậy, điều cần thiết là phải tích cực làm việc để duy trì hình ảnh của tổ chức để đảm bảo lợi nhuận tối đa và mức cam kết cao về phía nó. Theo Worcester (1997), hình ảnh tổ chức được định nghĩa là kết quả ròng của sự tương tác của tất cả các trải nghiệm, ấn tượng, niềm tin và kiến thức mà mọi người có về tổ chức. Hình ảnh có tầm quan trọng hàng đầu đối với các công ty dịch vụ và ở một mức độ lớn được xác định bởi đánh giá của khách hàng về các dịch vụ mà họ nhận được.

Liên quan đến hình ảnh công ty xanh, người ta tin rằng xây dựng một hình ảnh công ty xanh đòi hỏi có thái độ tích cực đối với các vấn đề môi trường vì điều này giúp tạo ra một hình ảnh thân thiện với môi trường (Mayer và cộng sự, 2012). Do đó, quản lý hình ảnh của ngân hàng gần như là trách nhiệm của tất cả mọi người tham gia vào các hoạt động điều hành của ngân hàng (Worcester, 1997). Các ngân hàng có hình ảnh xanh được hưởng lợi từ việc giảm quá trình giám sát với chính phủ và các tổ chức phi chính phủ khác, bên cạnh đó hoạt động ngân hàng xanh xây dựng một hình ảnh xanh giúp tăng sự tin tưởng của những người khác về tổ chức. Nó được chứng minh rằng hình ảnh ngân hàng xanh ảnh hưởng đến lòng tin và lòng trung thành đối với ngân hàng. Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Các công ty có hình ảnh xanh được kỳ vọng sẽ đạt được nhiều hơn sự tin tưởng từ khách hàng của họ và giao tiếp tích cực hơn với thế giới bên ngoài. Khách hàng duy trì mối quan hệ trung thành với các công ty có hình ảnh công ty xanh nên nó đòi hỏi một quá trình lâu dài để cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao với mối quan hệ tốt với khách hàng. Các công ty có thể có nhiều lợi ích từ việc có hình ảnh phù hợp. Trên hết là xây dựng nền tảng cho việc cạnh tranh bền vững và có lợi thế so với các đối thủ trên thị trường. Lập luận của Grönroos (1984) cho rằng hình ảnh công ty chủ yếu được xây dựng bằng chất lượng kỹ thuật, tức là dịch vụ mà khách hàng được trải nghiệm. Các hoạt động ngân hàng xanh được coi là rất quan trọng đối với các ngân hàng, điều này là do khi các ngân hàng tuân thủ chính sách ngân hàng xanh sẽ giúp nâng cao danh tiếng của họ. Theo Sharmeen và cộng sự (2019), việc tuân thủ các chính sách ngân hàng xanh nâng cao uy tín về trách nhiệm giải trình và lợi nhuận của các ngân hàng hơn các ngân hàng thông thường. Thúc đẩy các cam kết môi trường thể hiện hình ảnh xanh giúp công ty cải thiện đáng kể hình ảnh của mình.

Lợi ích xã hội từ việc bảo vệ môi trường còn cao hơn nếu trong cộng đồng có nhiều người tự nhận thức về các hoạt động xanh. Chính vì thế dường như có một mối quan hệ giữa khái niệm về hình ảnh xanh và hình ảnh công ty. Điều này thúc đẩy các công ty đầu từ vào hoạt động bảo vệ thiên nhiên và môi trường nhằm xây dựng hình ảnh doanh nghiệp (Bansal, 2005). Nhận thức cũng được coi là một yếu tố cần thiết trong việc phát triển hình ảnh ngân hàng và cần được lan tỏa trong khách hàng và nhân viên.

1.2  Tổng quan về thực hành ngân hàng xanh Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

1.2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Biswas (2011): Nhấn mạnh sự cần thiết của cách tiếp cận ngân hàng xanh bền vững, nêu bật những lợi ích và khía cạnh chiến lược của nó. Nghiên cứu lưu ý rằng mặc dù vai trò tích cực của các ngân hàng trong nền kinh tế của Ấn Độ, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều sáng kiến hướng tới ngân hàng xanh. Nghiên cứu gợi ý rằng các ngân hàng nên đóng vai trò chủ động trong việc thúc đẩy các nguyên tắc về môi trường và sinh thái, điều này sẽ giúp thúc đẩy các ngành công nghiệp đầu tư vào quản lý môi trường, sử dụng các công nghệ và hệ thống quản lý phù hợp. Nghiên cứu cũng xác định một số lợi ích của ngân hàng xanh, bao gồm cải thiện nhận thức của công chúng, giảm chi phí hoạt động và quản lý rủi ro được cải thiện. Nghiên cứu cũng xác định thêm một số thách thức đối với việc triển khai ngân hàng xanh, chẳng hạn như thiếu nhận thức, đào tạo không đầy đủ và khung pháp lý không đầy đủ. Các ngân hàng cần áp dụng cách tiếp cận ngân hàng xanh bền vững, điều này sẽ giúp thúc đẩy các nguyên tắc môi trường và sinh thái, giảm chi phí hoạt động và cải thiện quản lý rủi ro.

Nghiên cứu của Chowdhury (2014): Nghiên cứu xem xét các mô hình và kênh ngân hàng xanh khác nhau được ngành ngân hàng ở Ấn Độ áp dụng, tập trung vào tính bền vững của môi trường. Nghiên cứu cho thấy rằng các ngân hàng đã không hoàn toàn chấp nhận khái niệm ngân hàng xanh, với các ngân hàng khu vực công thể hiện sự quan tâm nhiều hơn so với các ngân hàng khu vực tư nhân. Nghiên cứu gợi ý rằng để thúc đẩy tính bền vững, các ngân hàng nên kết hợp thông tin môi trường vào các hoạt động ngân hàng, cho vay và các quyết định đầu tư của họ. Điều này sẽ giúp cải thiện tính bền vững của môi trường và tạo ra giá trị lâu dài cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Galpin và cộng sự (2015): Nghiên cứu đã trình bày một mô hình có thể đóng vai trò là hướng dẫn cho các nhà quản lý trong lĩnh vực ngân hàng để thiết lập và duy trì văn hóa bền vững. Nghiên cứu cho thấy các hoạt động ngân hàng xanh có tác động tích cực và trực tiếp đến tính bền vững của ngân hàng. Do đó, ngân hàng nào càng thực hiện nhiều hành động thân thiện với môi trường thì ngân hàng đó có thể tiến gần hơn tới một tương lai bền vững, có thể mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và môi trường toàn cầu.

1.2.1.2 Nghiên cứu về ngân hàng xanh ở Việt Nam

Hiện tại, có rất ít nghiên cứu về ngân hàng xanh ở Việt Nam. Hong (2013) đã chỉ ra hai thách thức cơ bản đối với việc triển khai tài chính và ngân hàng xanh ở Việt Nam: Thứ nhất là nhận thức của xã hội về hoạt động tài chính và ngân hàng còn hạn chế, và tăng trưởng xanh được coi là cái giá phải trả cho môi trường hơn là cơ hội kinh doanh; và thứ hai là thiếu các quy định và luật pháp về tài chính ngân hàng xanh và thiếu cơ chế hỗ trợ sự phát triển của các tổ chức tài chính và ngân hàng xanh. Một nghiên cứu độc lập của PanNature (2012) đã kiểm tra 19 ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam (dựa trên vốn và tài sản) cho thấy chỉ duy nhất Sacombank tự mình xây dựng hệ thống quản lý rủi ro tín dụng đối với môi trường và xã hội. Theo đó, dự án giới thiệu với Sacombank được phân loại dựa trên mức độ tác động đến môi trường, cho phép ngân hàng đưa ra quyết định cấp tín dụng cho dự án và lập kế hoạch giám sát, thỏa thuận thử nghiệm với khách hàng nhằm giảm thiểu tác động của dự án đối với môi trường (PanNature, 2012). Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Tran và Tran (2015) đã phân tích thực trạng ngân hàng xanh và cho rằng có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về ngân hàng xanh được thực hiện tại Việt Nam và chưa có nghiên cứu nào đề xuất mô hình ngân hàng xanh phù hợp cho các ngân hàng Việt Nam. Theo một cuộc khảo sát thực hiện vào tháng 6/2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đối với 54 ngân hàng thương mại cho thấy, 91% trong số đó chưa có chính sách rõ ràng ở cấp ngân hàng về tăng trưởng xanh, trong khi 35% thì không hiểu biết về các định nghĩa của môi trường và các vấn đề xã hội. Đặc biệt, 89% thừa nhận rằng các quy định của NHNN vẫn còn thiếu việc quản lý môi trường xã hội trong ngành tài chính. Nhìn chung, giữa các ngân hàng Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm về công nghệ mới, điều này khiến họ gặp rắc rối với tín dụng năng lượng mới như thiên vị về đánh giá rủi ro đối với các dự án xanh. Ở Việt Nam hiện chưa có ngân hàng nào được coi là ngân hàng xanh; tuy nhiên, có một số sản phẩm xanh dành cho đầu tư xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nghiên cứu quốc tế trước đây cho thấy có nhiều định nghĩa và hình thức ngân hàng xanh khác nhau (Kaeufer, 2010). Kaeufer (2010) đã chứng minh năm cấp độ phát triển của ngân hàng xanh và cho rằng các định nghĩa về ngân hàng xanh thay đổi theo cách tương đương với năm cấp độ phát triển. Việc hiểu rõ các định nghĩa về ngân hàng xanh là cơ sở để các ngân hàng áp dụng các hoạt động ngân hàng xanh.

Nếu các ngân hàng thương mại Việt Nam xác định được các định nghĩa về ngân hàng xanh, thì chắc chắn họ có thể tuân theo các thông lệ ngân hàng xanh. Do đó, tác giả cho rằng việc hiểu rõ các định nghĩa về ngân hàng xanh sẽ có tác động tích cực đến sự sẵn lòng của các ngân hàng Việt Nam trong việc áp dụng các thực hành ngân hàng xanh.

1.3 Các lý thuyết nền

1.3.1 Lý thuyết đầu tư có trách nhiệm với xã hội (Socially Responsible Investment Theory – SRI)

Lý thuyết đầu tư có trách nhiệm với xã hội (SRI) được thúc đẩy bởi nhu cầu đầu tư đáp ứng tiêu chuẩn về mặt đạo đức, lý thuyết này được cho là đã tồn tại từ rất lâu (Renneboog và cộng sự, 2008) nhưng đến nay nó vẫn được coi là một lý thuyết khá phức tạp nên vẫn chưa tìm được sự đồng thuận. Các thuật ngữ như đạo đức, tính bền vững, xã hội, môi trường, đầu tư xanh,. đã được sử dụng như một tiền tố cho SRI (Chatzitheodorou và cộng sự, 2019). Lý thuyết SRI tập trung vào việc tích hợp giá trị cá nhân và phúc lợi xã hội là những yếu tố quan trọng cần được xem xét khi đánh giá lựa chọn đầu tư. Nhiều nghiên cứu đã xem SRI là một khoản đầu tư có tác động xã hội dưới dạng SRI trực tiếp hoặc SRI gián tiếp, với cả hai loại tác động này đều nâng cao đáng kể lợi ích xã hội của nhà đầu tư và cho cả cộng đồng (Sturm và Field, 2018).

Lý thuyết SRI tập trung vào việc khuyến khích sử dụng tài chính trong các hoạt động mang lại mục tiêu khác cho cuộc sống (Lee và Miller, 2012), và các công ty tài chính có động cơ xã hội, chẳng hạn như các tổ chức tài chính vi mô, trong những năm qua, được sử dụng để giải quyết các thách thức về môi trường, tạo việc làm và phát triển khu vực nông thôn (Cervelló-Royo và cộng sự, 2019). Hơn nữa, lý thuyết SRI đã được xem xét theo kinh nghiệm từ các khía cạnh xã hội, môi trường và tính bền vững (Chatzitheodorou và cộng sự, 2019). Khía cạnh xã hội tập trung vào việc sử dụng tài chính để hoàn thành đồng thời cả giá trị tài chính đơn thuần và giá trị xã hội.  Khía cạnh môi trường nhằm mục đích khám phá các lợi ích tài chính bằng cách áp dụng các khoản đầu tư cho việc bảo vệ môi trường (Bergek và cộng sự, 2013), khía cạnh bền vững tập trung vào sự tham gia của các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy các lợi ích về tài chính, xã hội và môi trường (Dorfleitner và Nguyen, 2016)

Lý thuyết SRI đóng vai trò như một cấu trúc được sử dụng để tăng cường mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh của nhân viên, hình ảnh thương hiệu xanh, niềm tin ngân hàng, lòng trung thành với ngân hàng và tập trung vào trách nhiệm xã hội như một phương tiện để cải thiện hoạt động bền vững đã được coi là lợi thế cho cả các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý (Korzeb và Samaniego, 2019).  Một trong những điều kiện tiên quyết cần thiết của một ngân hàng xanh là chịu trách nhiệm xã hội bằng cách xem xét tác động của các dự án dự kiến hoặc hiện tại đối với sự an toàn của môi trường trong ngắn hạn và dài hạn trước khi phê duyệt các khoản vay (Bihari, 2011). Điều này là do nhu cầu cao từ các bên liên quan ngày nay đã vượt ra ngoài các yếu tố như lợi tức đầu tư và rủi ro. Các nhà đầu tư hiện có thái độ tích cực đối với SRI vì tính xã hội và lợi ích môi trường của nó (Borgers và Pownall, 2014). Đây cũng được coi là một cách tiếp cận quan trọng mà các công ty có thể sử dụng trong việc thiết lập một hình ảnh tích cực, đổi lại có thể là công cụ để giữ chân nhân viên và trong việc tăng cường mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và chính phủ (Borghesi và cộng sự, 2014). Thêm vào đó, ưu tiên cho các lợi ích xã hội và môi trường được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định đầu tư của các bên liên quan, có thể được hỗ trợ bởi sự tự nguyện của các bên liên quan để đánh đổi một phần đáng kể lợi nhuận tài chính của họ từ các khoản đầu tư, vì lợi ích xã hội.

1.3.2 Lý thuyết xử lý thông tin xã hội Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Bối cảnh của môi trường xã hội khác nhau có thể ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của một các nhân, điều này được lý giải trong lý thuyết xử lý thông tin xã hội (Salancik và Pfeffer, 1978). De Roeck và Farooq (2017) cho rằng thái độ và hành vi của một cá nhân thực chất là kết quả của việc xử lý các tín hiệu thông tin từ môi trường xung quanh họ nên nó có thể bị ảnh hưởng bởi nhận thức của chính các nhân đó về môi trường làm việc của bản thân. Lý thuyết xử lý thông tin xã hội (Salancik và Pfeffer, 1978) cho rằng môi trường làm việc gần gũi nhất với nhân viên đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ và hành vi của họ. Điều này ngụ ý rằng nhân viên áp dụng những gì họ cho là hành vi phù hợp tại nơi làm việc bằng cách xử lý các tín hiệu nhận được từ môi trường làm việc (Salancik và Pfeffer, 1978). Nhận thức của nhân viên về các sáng kiến xanh của công ty có liên quan trực tiếp đến hành vi của họ tại nơi làm việc. Điều này có thể khuyến khích họ tham gia vào các hành động tích cực và có lợi cho công ty (De Roeck và Farooq, 2017).

1.4 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất

1.4.1 Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh của nhân viên ngân hàng

Ngân hàng xanh tập trung vào phát triển nhân tố môi trường và chiến lược cần thiết, nó tập trung chủ yếu vào việc đầu tư tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nhằm đảm bảo sự an toàn cho cộng đồng và môi trường xung quanh. Khách hàng cảm thấy an toàn hơn với các ngân hàng áp dụng ngân hàng xanh thực hành các hoạt động của họ vì chúng được coi là có đạo đức ngân hàng ở một mức độ nào đó. Do đó, bên cạnh việc xem xét khía cạnh an toàn cho các khoản tiền gửi và đầu tư thì khách hàng còn cân nhắc thêm việc đảm bảo cải thiện môi trường và tiêu chuẩn cuộc sống. Vì vậy, họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm ngân hàng xanh (Chen và cộng sự, 2006).

Việc chuyển đổi hướng tới nền kinh tế các bon thấp sẽ thúc đẩy đổi mới, tăng năng suất và tạo ra việc làm với thu nhập cao (Bhardwaj và Malhotra, 2013).

Lý thuyết SRI tập trung vào việc thúc đẩy việc sử dụng tài chính trong các nỗ lực phục vụ các mục tiêu cuộc sống (Lee và Miller, 2012). Trong thời gian gần đây, các tổ chức tài chính với động cơ xã hội, bao gồm cả các tổ chức tài chính vi mô, đã được sử dụng để giải quyết các khó khăn về sinh thái, tạo việc làm và thúc đẩy các khu vực nông thôn (Cervelló-Royo và cộng sự, 2019). Ngoài ra, lý thuyết SRI đã được xem xét kỹ lưỡng thông qua các quan điểm về xã hội, môi trường và tính bền vững (Chatzitheodorou và cộng sự, 2019). Lý thuyết SRI đóng vai trò như một cấu trúc được sử dụng để tăng cường mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh của nhân viên thông qua việc tập trung vào trách nhiệm xã hội như một phương tiện để cải thiện hoạt động bền vững đã được coi là lợi thế cho cả các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý (Korzeb và Samaniego, 2019). Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Theo lý thuyết xử lý thông tin xã hội, thái độ và hành vi của một cá nhân có thể bị ảnh hưởng trực tiếp từ bối cảnh và môi trường xã hội của họ (Salancik và Pfeffer, 1978). Dựa trên lý thuyết này, có thể thấy rằng thái độ và hiệu suất công việc của nhân viên bị ảnh hưởng bởi đánh giá của họ về môi trường làm việc. Do đó, các hoạt động bảo vệ môi trường được công nhận là thúc đẩy các hành vi có trách nhiệm xã hội của nhân viên (De Roeck và Farooq, 2017), bao gồm cả những nhân viên nỗ lực mang lại lợi ích hoặc giảm tác hại của môi trường. Từ đó tác giả đề xuất giả thuyết sau:

H1: Có một mối quan hệ tích cực giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh của nhân viên Ngân hang

1.4.2 Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh 

Các nghiên cứu cho thấy tác động đáng kể của nhận thức về sản phẩm xanh, lợi ích của sản phẩm xanh tới ý định của khách hàng. Các nhà đầu tư đánh giá hiệu suất tổ chức dựa trên các tiêu chuẩn hiệu quả môi trường sinh thái của nó (Derwall và cộng sự 2005). Đánh giá này dẫn đến sự ra đời của các tổ chức đầu tư vào các dự án xanh, phát triển thị phần và giảm thiểu tác hại tới môi trường, đồng thời thu được nhiều danh tiếng và lợi nhuận hơn.

Để có được sự tin tưởng cao giữa các bên liên quan như nhân viên, khách hàng và các công ty bên ngoài, các ngân hàng phải từng bước tạo ra các sản phẩm và dịch vụ tài chính xanh nhằm bảo vệ môi trường bằng cách thúc đẩy tài trợ cho các dự án tạo ra ít carbon hơn. Họ cũng cần tuyên truyền nhận thức về lợi ích của ngân hàng xanh, thúc đẩy nhân viên nhằm tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ xanh, và chính các hành động đó có thể tác động tích cực đến hiệu suất tổng thể của ngân hàng. Nó cũng có thể giúp cải thiện hình ảnh của các ngân hàng đối với các bên liên quan và các công ty bên ngoài, giành được sự tôn trọng từ chính phủ và các cơ quan bảo vệ môi trường, đồng thời tăng lợi nhuận. Do đó, việc xem xét mối quan hệ giữa các thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh là cần thiết.

Để tạo ra một tương lai tươi sáng hơn, các phương pháp tiếp thị mới và cách tiếp cận sáng tạo nhằm hạn chế tác động của các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế, cũng như biến đổi khí hậu và môi trường. Thị trường dịch vụ tài chính cũng đã thay đổi đòi hỏi nguồn cảm hứng và kỹ năng tiếp thị mới. Với khủng hoảng tín dụng, chức năng và hoạt động của các ngân hàng truyền thống đòi hỏi tích hợp thêm các nguyên tắc đạo đức lý tưởng vào quy trình ngân hàng (San-Jose và cộng sự, 2009). Vì vậy, hầu hết các ngân hàng hiện nay đều xem xét tính bền vững và minh bạch hơn trong báo cáo của họ và cung cấp các sản phẩm tài chính phù hợp với vấn đề này. Bằng cách đầu tư vào các khu vực nhạy cảm với khí hậu, ngành ngân hàng đóng góp cho việc giảm thiểu rủi ro khí hậu và hỗ trợ phục hồi môi trường (Park và Kim, 2020). Hiện nay, các ngân hàng thân thiện với môi trường và ngân hàng xanh trở nên phổ biến và đồng nghĩa với tính bền vững lâu dài. Các ngân hàng đã công khai các sáng kiến về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) của họ. Tiếp thị ngân hàng xanh là một phần của khái niệm CSR lớn hơn. Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn cho các dự án có lợi cho môi trường, cũng như đóng góp cho xã hội. Các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu về ngân hàng xanh và các chiến lược ngân hàng xanh đã được thực hiện bởi cả ngân hàng khu vực công và tư nhân. (Bihari, 2011). Hơn nữa, các ngân hàng trên khắp thế giới đang tạo ra lợi nhuận đáng kể bằng cách đầu tư vào các chiến lược xanh để tạo ra một hình ảnh xanh (Evangelinos vaf cộng sự, 2009). Từ đó tác giả đề xuất giả thuyết sau:

H2:  Có một mối quan hệ tích cực giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng.

1.4.3 Mối quan hệ giữa hành vi xanh của nhân viên ngân hàng và hình ảnh thương hiệu xanh Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Hoạt động quản lý bao gồm việc thiết lập các nguyên tắc, giá trị và quyết định mối quan hệ giữa các người lao động trong tổ chức. Các hành vi của nhân viên thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như các giá trị, truyền thống, phong tục, quy tắc, các quy định và chính sách được quyết định từ trước. Các ngân hàng có kế hoạch áp dụng các thực hành ngân hàng xanh sẽ cần sự ủng hộ nhiệt tình từ nhân viên của họ. Vì vậy, nếu không có phản ứng tích cực hướng tới các hoạt động xanh, sẽ thực sự là một thách thức đảm bảo cho sự thành công. Nhân viên đóng một vai trò quan trọng trong việc sáng tạo và phát triển của các sản phẩm và dịch vụ xanh cần thiết cho việc bảo vệ môi trường cũng như việc thực hiện các chính sách do ban lãnh đạo đề ra. Tuy nhiên, điều này sẽ không đạt được trừ khi có sự hỗ trợ từ tổ chức với một tầm nhìn rõ ràng để có hình ảnh ngân hàng xanh tốt hơn, làm tăng mức độ niềm tin giữa các bên liên quan và tăng mức độ thu nhập cho cả ngân hàng và người lao động. Hành vi của con người có xu hướng được định hình tùy thuộc vào môi trường xung quanh. Mọi người nói chung và nhân viên của ngân hàng nói riêng đều dành nhiều thời gian ở nơi làm việc của họ và hành động theo các quy tắc và quy định được áp dụng từ ban lãnh đạo. Chính vì vậy họ là nhân tố quyết định thúc đẩy hành vi xanh của tổ chức vào thực tế (Ruepert và cộng sự, 2016).

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng môi trường làm việc có mối liên hệ đáng tin cậy với thái độ và hành vi của nhân viên (Kuenzi và Schminke, 2009). Có nghĩa là, tùy thuộc vào môi trường làm việc, các nhân viên sẽ cư xử tương xứng. Các tổ chức có định hướng xanh sẽ có nhiều nhân viên chấp nhận các thực hành ngân hàng xanh hơn và ngược lại. Hành vi xanh tại nơi làm việc của nhân viên được định nghĩa là một loạt các hành vi trong tổ chức có liên quan đến tính bền vững của môi trường (Paillé và Mejía-Morelos, 2014). Khi nhân viên nhận thức định hướng tích cực của các tổ chức của họ đối với sự bền vững về môi trường, từ đó sẽ hình thành các chuẩn mực hành vi ứng xử vì lợi ích đối với môi trường. Ngoài ra, khi một nhân viên nhận ra nơi làm việc thân thiện với môi trường, thì nhân viên của tổ chức đó sẽ hình thành tiêu chuẩn cư xử theo cách tích cực đối với môi trường (Norton và cộng sự, 2014). Nhân viên hành động vì môi trường có xu hướng làm việc nhằm duy trì tính bền vững, tránh gây hại, ảnh hưởng đến người khác (Iqbal và cộng sự, 2018). Nhân viên tăng cường cải tiến hiệu suất của tổ chức, hỗ trợ cân bằng các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu môi trường và cuối cùng là giúp đạt được sự phát triển bền vững.

Mặc dù vậy, nghiên cứu của Ramus và Steger (2000) đã cho rằng không nhất thiết phải luôn có mối quan hệ tích cực giữa các chính sách của tổ chức và hành vi của nhân viên. Hành vi xanh chủ yếu là tự nguyện, tuy nhiên, hành vi được liên kết với nhiệm vụ công việc cũng rất cần thiết. Nói chung, hành vi xanh liên quan đến xác định thái độ và hành vi, nó có thể được sử dụng để phát triển các ý tưởng về sản phẩm xanh và đòi hỏi các ngân hàng tuyên truyền nâng cao nhận thức về môi trường cho các nhân viên của họ để đảm bảo thực hiện các khía cạnh thực hành một cách suôn sẻ (Owino và Kwasira, 2016). Khi các thông tin xanh cần thiết được chuyển cho nhân viên, nó có thể tạo ra ý định về hành vi xanh và sau đó áp dụng hành vi xanh tương tự.

Một tổ chức có thể chuyển tải trực tiếp hoặc gián tiếp tầm nhìn về các khái niệm bảo vệ môi trường và các giá trị xanh. Theo đó, nhân viên lựa chọn hành vi xanh sau khi nhận được thông tin này. Theo Norton và cộng sự (2014), có hai loại hành vi xanh tại nơi làm việc, thứ nhất là hoàn thành theo trách nhiệm của công việc, hệ thống khen thưởng và trừng phạt của tổ chức, chẳng hạn như tiết kiệm nước và các nguồn tài nguyên khác. Và cái thứ hai có vai trò bổ sung của hành vi xanh tại nơi làm việc không phải là tuân theo các tiêu chuẩn chính thức của tổ chức, chẳng hạn như dựa trên khả năng phán đoán cá nhân để đưa ra những hành vi xanh tự nguyện. Nhân viên cũng có thể quyết định làm vượt ra ngoài những gì được tổ chức yêu cầu. Nó có thể liên quan đến một sáng kiến cá nhân vượt quá kỳ vọng của tổ chức, chẳng hạn như ưu tiên các lợi ích môi trường, khởi xướng các chương trình và chính sách môi trường. Điều này có liên quan chặt chẽ đối với các khái niệm về hiệu suất theo ngữ cảnh và hành vi công dân, đề cập đến các hành vi hỗ trợ môi trường tổ chức, xã hội và tâm lý trong thực hiện nhiệm vụ.

Theo De Roeck và Farooq (2017), nhận thức của nhân viên về môi trường làm việc có thể ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của họ. Thực tế, thái độ và hành vi của mỗi cá nhân là kết quả của việc xử lý thông tin từ môi trường xung quanh. Lý thuyết xử lý thông tin xã hội (Salancik và Pfeffer, 1978) cho rằng môi trường làm việc gần gũi nhất với nhân viên có vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ và hành vi của họ. Điều này cho thấy nhân viên sẽ áp dụng những hành vi mà họ cho là phù hợp tại nơi làm việc dựa trên việc xử lý thông tin từ môi trường làm việc (Salancik và Pfeffer, 1978). Do đó, nhận thức của nhân viên về các sáng kiến xanh của công ty có liên kết mật thiết với hành vi của họ tại nơi làm việc, khuyến khích họ tham gia vào các hành động tích cực và có lợi cho công ty (De Roeck và Farooq, 2017). Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

Theo lý thuyết SRI, hành vi xanh của nhân viên giúp tạo ra các sản phẩm và dịch vụ tài chính xanh nhằm bảo vệ môi trường sẽ tăng cường tính bền vững và minh bạch hơn cho các hoạt động ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng có được sự tin tưởng cao giữa các bên liên quan như nhân viên, khách hàng và các công ty bên ngoài thông qua hình ảnh thương hiệu xanh. Bên cạnh đó, cơ sở lý thuyết SRI cho thấy thực hành ngân hàng xanh giúp cung cấp các sản phẩm tài chính phù hợp với vấn đề bảo vệ môi trường nâng cao hình ảnh thương hiệu xanh, điều này sẽ được thúc đẩy thông qua các yếu tố nội tại của tổ chức. Trong khi đó hành vi xanh của nhân viên chuyển tải trực tiếp hoặc gián tiếp tầm nhìn về các khái niệm bảo vệ môi trường và các giá trị xanh ra bên ngoài sẽ thúc đẩy hình ảnh thương hiệu xanh (Norton và cộng sự, 2014). Từ đó tác giả đề xuất giả thuyết sau:

  • H3: Có một mối quan hệ tích cực giữa hành vi xanh của nhân viên ngân hàng và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng
  • H3a: Hành vi xanh của nhân viên đóng vai trò trung gian giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng.

Các giả thuyết nghiên cứu:

  • H1: Có một mối quan hệ tích cực giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh của nhân viên ngân hàng
  • H2:  Có một mối quan hệ tích cực giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng.
  • H3: Có một mối quan hệ tích cực giữa hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng
  • H3a: Hành vi xanh của nhân viên đóng vai trò trung gian giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng.

Tóm tắt chương 1:

Trong chương một, tác giả đã trình bày hai lý thuyết chính được sử dụng trong đề tài gồm lý thuyết đầu tư có trách nhiệm với xã hội (SRI) và lý thuyết xử lý thông tin xã hội. Các khái niệm nghiên cứu được trình bày, gồm có: Thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên, hình ảnh thương hiệu xanh. Dựa trên cơ sở các lý thuyết và khái niệm, tác giả đề xuất bốn giả thuyết nghiên cứu từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu làm cơ sở cho nghiên cứu ở các chương tiếp theo. Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537