Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học giao thông vận tải dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Vài nét về công tác đào tạo của Nhà trường
Trường Đại học Giao thông Vận tải là trường Đại học kỹ thuật – công nghệ có quy mô lớn, có chất lượng và uy tín cao trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Năm 2025, Nhà trường kỷ niệm 67 năm ngày Khai giảng trường và 50 năm Ngày thành lập (24.3.1962-24.3.2025). Trong 50 năm qua, Nhà trường đã đào tạo cho đất nước gần 5 vạn kỹ sư, hàng ngàn thạc sỹ và hàng trăm tiến sĩ; đã tiến hành hàng trăm đề tài NCKH có giá trị thực tiễn cao và đóng góp đáng kể trong sự phát triển của ngành giao thông vận tải Việt Nam cũng như góp phân tích cực trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhà trường đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2018), danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 2020), danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 2025). Đó là sự ghi nhận và khích lệ to lớn đối với các thế hệ CB-GV-CNV và sinh viên Nhà trường.
Trong những năm gần đây, Trường Đại học Giao thông Vận tải có những bước phát triển vượt bậc. Dưới sự chỉ đạo cuả Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự lãnh đạo của Đảng ủy và điều hành của Ban Giám hiệu, tập thể CB-GV-CNV và sinh viên Nhà trường đã có nhiều cố gắng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao với kết quả năm sau cao hơn năm trước. Toàn trường là một khối đoàn kết, ổn định và phát triển. Hoạt động của Nhà trường đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ủy, sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả của các tổ chức trong Nhà trường.
Uy tín của Nhà trường ngày càng được khẳng định ở trong nước và quốc tế. Vị thế của Nhà trường trong hệ thống các trường Đại học Việt Nam ngày càng được nâng cao; Quy mô đào tạo tiếp tục tăng, chất lượng đào tạo được giữ vững và từng bước được nâng cao, bám sát yêu cầu xã hội. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Cơ cấu tổ chức của trường tiếp tục được điều chỉnh, sắp xếp phù hợp với tình hình phát triển trong giai đoạn mới. Hiệu quả quản lý của bộ máy điều hành Nhà trường được đổi mới và nâng cao, nhất là khi triển khai thực hiện chỉ thị 296/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 05 của Ban Cán sự Đảng bộ GD-ĐT về đổi mới quản lý giáo dục giai đoạn 2023-2025. Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý được bổ sung số lượng, nâng cao về chất lượng, đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu công tác.
Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đã được đầu tư, xây dựng theo hướng hiện đại, tập trung cho việc đáp ứng nhu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học và cải thiện điều kiện làm việc của cán bộ viên chức. Quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế tiếp tục được đa dạng hóa, tranh thủ được sự giúp đỡ từ các đối tác cho công tác bồi dưỡng đội ngũ và đổi mới đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Đến năm học 2025-2026; quy mô đào tạo của trường là trên 32.000 sinh viên hệ đại học; trong đó có trên 18.000 sinh viên chính quy; trên 2.000 học viên cao học và 160 nghiên cứu sinh. Tổng số CB-GV-CNV của trường hiện có là 1.093 người trong đó có 781 giảng viên với 05GS, 52 phó GS, 01TSKH và 151 TS, 374 ThS. Cơ cấu tổ chức của Trường gồm 9 khoa, 3 viện, 22 phòng ban tham mưu và Cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học Giao thông Vận tải
2.2.1. Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học của trường Đại học Giao thông Vận tải
- Về hệ thống trường sở, giảng đường
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, kể từ khi tiếp nhận cơ sở vật chất nghèo nàn của hai trường Trung cấp kỹ thuật Đường sắt và trường Trung cấp Giao thông Thủy bộ đến nay diện mạo của trường đã hoàn toàn thay đổi. Theo chủ trương của Bộ Giao thông vận tải về việc phân chia trường sở, và chính thức được giao quản lý sử dụng bằng Quyết định số 1745 CB2/QĐ ngày 29/6/1965 của Bộ Giao thông vận tải. Với tổng diện tích là 220.000 m2 chia làm 3 khu vực: Khu Cầu Giấy, khu Láng, Cơ sở II tại Thủ Đức TP Hồ Chí Minh. Trụ sở chính của trường có tổng diện tích xây dựng hơn 44.000m2 .
Khu vực giảng đường- Hành chính: tại trụ sở chính với diện tích 38.607m2, mật độ xây dựng là 34.8%. Trong khuôn khổ diện tích 3.86 ha đất học tập hiện còn tồn tại 05 dãy nhà lắp ghép cũ 2 tầng được xây dựng từ những năm 70 thế kỷ trước hiện đã xuống cấp nhiều và một số công trình kiên cố được xây dựng trong những năm gần đây. Không gian trung tâm và cũng là không gian kiến trúc bộ mặt của trường ở khu vực này được hình thành bởi cụm công trình trung gồm: Nhà Hiệu bộ, Tòa nhà Thư viện, Văn phòng các Viện và trung tâm nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa học công nghệ, khối làm việc của các khoa và bộ môn.
Toàn trường gồm 174 phòng học, hơn 40 phòng thí nghiệm, phòng máy tính và phòng học tiếng Anh, hơn 100 phòng làm việc cho các phòng ban và các bộ môn. Trong vài năm trở lại đây nhà trường đã khánh thành và đưa vào sử dụng trung tâm thông tin thư viện, trung tâm đào tạo thực hành và chuyển giao công nghệ, phòng thí nghiệm A10 với hơn 13.000m2 xây dựng được trang bị các thiết bị mới, tiên tiến. Toàn trường có hơn 500 máy tính được nối mạng có tốc độ truy cập nhanh. Nhiều phòng thí nghiệm được đầu tư hàng chục tỷ đồng với các thiết bị máy móc hiện đại. Nhưng với quy mô đào tạo ngày càng tăng và để phù hợp với chương trình đào tạo mới thì cơ sở vật chất của trường vẫn còn khiêm tốn vì vậy nhà trường cần phải tăng cường đầu tư hơn nữa trong thời gian tới. Xác định được tầm quan trọng đó nhà trường đã xây dựng quy hoạch phát triển cơ sở vật chất, thiết bị và khuôn viên giai đoạn 2020-2028 và tầm nhìn 2030. Với mục tiêu là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng chuẩn hóa, hình thành hệ thống phòng thí nghiệm đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu cao cho sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước, đảm bảo đến năm 2030 cơ sở vật chất của Trường Đại học Giao thông vận tải đáp ứng được yêu cầu đào tạo mới ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực. Kế hoạch đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, Trường Đại học Giao thông vận tải đảm nhiệm hai nhiệm vụ chính trị là thay đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ và nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Để đáp ứng hai nhiệm vụ nói trên cần có hệ thống phòng học, thư viện hiện đại và hai hệ thống phòng thí nghiệm: phòng thí nghiệm phục vụ đào tạo và phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu khoa học. Hệ thống phòng học sẽ được trang bị đầy đủ các thiết bị nghe nhìn, đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Bên cạnh đội ngũ giáo viên, để phát triển bền vững và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo thì cơ sở vật chất phục vụ đào tạo là yếu tố quan trọng trong kế hoạch phát triển của nhà trường. Nhìn trên diện rộng thì cơ sở vật chất của Nhà trường vài năm gần đây đã có thay đổi nhiều, phòng học khang trang hơn, thiết bị hỗ trợ giảng dạy đã được tăng cường, một số phòng thí nghiệm trọng điểm đã được đầu tư lớn sẵn sàng cho kế hoạch phát triển của nhà trường.
Chất lượng và số lượng các phòng học tại các giảng đường chiếm một vai trò quan trọng đối với chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ công tác dạy và học phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình đổi mới phương pháp giảng dạy. Về số lượng phòng học đến nay tạm thời đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu, nhưng với quy mô tuyển sinh hàng năm của Nhà trường tăng từ 5% đến 10% thì sẽ thiếu phòng, những phòng học có sức chứa từ 100 chỗ ngồi trở lên. Đặc biệt là những phòng học nhỏ (30-50 chỗ) phục vụ cho các lớp học tự chọn đào tạo theo tín chỉ. Năn học 2021-2022 Nhà trường đã chỉ đạo chuyển toàn bộ chương trình từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ. Do đó mà các phòng học, giảng đường có diện tích và cấu trúc gần giống nhau để phục vụ cho đào tạo niên chế với số lượng sinh viên rất đông từ 100-150 sinh viên trong một lớp, số lượng sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ lại phụ thuộc vào việc đăng ký môn học, lớp học. Về cơ bản học chế tín chỉ yêu cầu 2 loại phòng học là phòng lớn (100-150 chỗ) để học lý thuyết và phòng nhỏ (30-50 chỗ) để thảo luận, chữa bài tập…Vậy nếu trong điều kiện lượng sinh viên và số chuyên ngành như hiện nay có thể tính ra số phòng lớn yêu cầu là 70-80 phòng và 30-40 phòng nhỏ. Tỷ lệ phòng học lớn và nhỏ là 2/1. Tuy nhiên việc xếp giờ tín chỉ/phòng học sẽ phức tạp hơn niên chế, và sẽ được xếp bằng các phần mềm một cách tự động cùng lúc khi xếp thời khóa biểu các lớp học phần việc xắp xếp phòng học lại phải căn cứ vào số lượng sinh viên trong một lớp và môn học, tiết học vì vậy việc thay đổi phòng học sẽ phải có kế hoạch trước khi lên thời khóa biểu. Theo bảng khảo sát số 2.1 mục 1 và 2 cho thấy số lượng phòng học còn thiếu và phải cần thêm 15-20 phòng học và cần từ 500 đến 700 chỗ ngồi cho sinh viên. Với chương trình học mới thì khi giảng theo các bài giảng soạn mới cần 100% các phòng học có đèn chiếu nhưng hiện nay mới chỉ trang bị được 27 máy chiếu kết nối máy tính, được lắp cố định tại phòng học, phòng học có máy chiếu và hệ thống âm thanh còn chưa đủ đáp ứng, mới chỉ có 15% các phòng được trang bị đủ. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Về chất lượng phòng học: Theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo nâng cao chất lượng đào tạo về quy hoạch cải tạo sửa chữa cơ sở vật chất phòng học để nâng cao chất lượng đào tạo, căn cứ yêu cầu của chương trình đào tạo, nhà trường đã thành lập tiểu ban cơ sở vật chất để lập phương án quy hoạch cải tạo bổ sung phòng học lớn và sửa chữa chống xuống cấp cơ sở vật chất phòng học với kinh phí đầu tư lên tới hàng chục tỷ đồng, các phòng học mới đều được trang bị những thiết bị hiện đại như máy chiếu, âm thanh, máy tính…tổ công tác quản lý cơ sở vật chất được thành lập với nhiệm vụ chính là kiểm tra, sửa chữa các hỏng hóc nhỏ cũng như lập kế hoạch bảo dưỡng, duy trì các trang thiết bị.
Phòng thí nghiệm có vai trò quan trọng đối với việc học tập và nghiên cứu của sinh viên. Phòng thí nghiệm của trường đặc biệt là các thiết bị thí nghiệm là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác giảng dạy và học tập, thiết kế, nghiên cứu ra các sản phẩm khoa học công nghệ. Để sinh viên, trong quá trình học tập có nhiều kỹ năng trong thực hành và nâng cao kiến thức thực tế, muốn vậy nhà trường có các phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn cả về chất lượng và đầy đủ các trang thiết bị thí nghiệm và hỗ trợ thí nghiệm.
Đến nay Nhà trường mới có một số phòng thí nghiệm có nhiều trang thiết bị hiện đại như phòng thí nghiệm Công trình, Cơ khí Vilas, Điện điện tử, Môi trường, Vật liệu xây dựng đủ đáp ứng đào tạo. Còn các phòng thí nghiệm khác vẫn chưa có sự đầu tư mới nên các trang thiết bị vẫn lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Đến nay ngoài các phòng thí nghiệm hiện đại nêu trên phần lớn các thiết bị đã cũ, lạc hậu bị hỏng hóc, hoặc rất nhiều thiết bị còn lạc hậu về công nghệ. Một số thiết bị thí nghiệm phần lớn là của các nước xã hội chủ nghĩa cũ. Nhiều thiết bị thí nghiệm không vận hành được vì chất lượng rất thấp. Thể hiện rõ nhất trên sổ sách quản lý về các thiết bị thí nghiệm của trường thì thấy đa phần các thiết bị đều được trang cấp từ năm 1999 trở về trước, và trong các đợt kiểm kê hàng năm các phòng thí nghiệm trong trường đều xin thanh lý rất nhiều trang thiết bị thí nghiệm, máy móc do không sử dụng được. Nhiều việc phân phối nghiên cứu khoa học, đào tạo với các đơn vị ngoài trường còn hạn chế do thiếu thiết bị thí nghiệm, đặc biệt là các thiết bị để phục vụ cho hợp tác đào tạo chương trình tiên tiến với nước ngoài.
Cùng với sự phát triển chung của Nhà trường đến nay một số phòng thí nghiệm đã từng bước được đầu tư cơ sở vật chất và trang bị thiết bị thực hành thí nghiệm hiện đại của một số dự án đã được triển khai thực hiện:
- Bảng 1.1: Dự án cải tạo nâng cấp phòng thí nghiệm Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Năm 2022 dự án cải tạo nâng cấp một số phòng thí nghiệm nhà A3, nhà A4, nhà Van hãm và xây mới được 200m2 nhà thí nghiệm sau A4 với tổng mức đầu tư hơn bốn tỷ đồng. Cùng với năm 2022 dự án giáo dục giai đoạn II cũng được đầu tư cải tạo nâng cấp một số phòng thí nghiệm công trình nhà A3, A4. Năm học 2023-2024 Nhà trường đã có thêm một số phòng thí nghiệm có nhiều trang thiết bị hiện đại như phòng thí nghiệm công trình, cơ khí Vils, Điện – Điện tử, Vật liệu xây dựng cơ bản đã đáp ứng nhu cầu đào tạo thực hành nghiên cứu khoa học
Tuy nhiên, do kinh phí có hạn mà nhu cầu phát triển lại rất lớn nên Trường Đại học Giao thông vận tải vẫn chưa có điều kiện đầu tư một cách đồng bộ, hiện đại các phòng thí nghiệm và các Trung tâm thí nghiệm phục vụ NCKH-CGCN. Trong trường hiện nay vẫn còn nhiều phòng thí nghiệm chưa được đầu tư nâng cấp, nhiều trang thiết bị thí nghiệm sản xuất từ những thập kỷ 60 thế kỷ trước vẫn đang còn tiếp tục được sử dụng, nhiều môn học có nhu cầu thực hành, thí nghiệm nhưng không thực hiện được do thiếu thiết bị. Trước tình hình như vậy, vấn đề đầu tư hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống phòng thí nghiệm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH tiến tới hội nhập khu vực và thế giới trở nên rất bức thiết.
- Phương tiện kỹ thuật dạy học
Phương tiện kỹ thuật dạy học là đối tượng vật chất giúp cho giảng viên và sinh viên tổ chức có hiệu quả quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học. Nhờ những đối tượng vật chất này, giảng viên tiến hành tổ chức, điều khiển quá trình dạy học giúp sinh viên tự tổ chức hoạt động nhận thức của mình một cách hiệu quả. Trong hoạt động dạy học, mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua các chủ thể tương ứng đó là xã hội. Thực tế dạy học đã chứng minh rằng, quá trình nhận thức của con người đều có xuất phát điểm từ thực tiễn, từ những hình tượng trực quan mà ta tri giác được trong cuộc sống. Trực quan đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành khái niệm. Nó là phương tiện giúp cho sự phát triển tư duy logic của người học. Vì thế, trong quá trình dạy học, việc vận dụng những phương pháp dạy học không thể tách rời việc sử dụng những phương tiện dạy học. Nó được sử dụng nhằm mục đích khắc phục những khoảng cách giữa việc tiếp thu lí thuyết và thực tiễn, làm cho hoạt động nhận thức của sinh viên trở nên dễ dàng, sinh động, cụ thể. Ngày nay, với những thành tựu do khoa học kĩ thuật- công nghệ mang lại, phương tiện dạy học càng có vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở trường học, nó cho phép đưa vào bài học những nội dung diễn cảm và hứng thú, làm thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, tạo ra cho quá trình dạy học một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lí mới. Đây chính là một trong những đặc điểm của nhà trường hiện đại. Để đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đào tạo chất lượng cao. Việc chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ được coi là một bước đi quan trọng trong tiến trình đổi mới đào tạo tại các trường đại học ở Việt Nam, trong đó có trường Đại học Giao thông Vận tải. Một trong những sự khác biệt giữa đào tạo tín chỉ với đào tạo niên chế có tính chất quyết định, đó là việc giảm bớt giờ lên lớp và tăng giờ tự học cao, tăng tính chủ động cho sinh viên, giúp sinh viên sáng tạo trong tư duy học tập. Để thực hiện tốt được các yêu cầu của đào tạo tín chỉ, đòi hỏi nhà trường cần chuẩn bị thật tốt từ cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, trang thiết bị, đội ngũ, nguồn tài chính… Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Nhận thức về vai trò của PTKTDH đối với chất lượng dạy học, GD-ĐT. Để có thể đầu tư cho PTKTDH thi việc xác định được vị trí vai trò của PTKTDH đối với quá trình dạy học là một vấn đề vô cùng quan trọng, có nhận thức đúng thì mới có quan điểm đúng trong việc đầu tư phát triển. Vì vậy, các lực lượng chức năng trong nhà trường phải nhất quán quan điểm thường xuyên chăm lo đầu tư mua sắm trạng bị các PTKTDH phục vụ ngày càng tốt hơn cho quá trình giáo dục đào tạo của nhà trường. Phương tiện càng hiện đại, càng đầy đủ thì chất lượng dạy học ngày càng cao. Đặc biệt đối với những môn kỹ thuật chuyên ngành của Khoa Cơ khí và Khoa Công trình. Vì vậy, việc đầu tư đến đâu, trang bị đến đâu phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của các chủ thể quản lý cũng như các cơ quan chức năng trong nhà trường.
Từ nhận thức vai trò, tầm quan trọng của PTKTDH đối với quá trình dạy học và GD-ĐT. Trong những năm qua nhà trường đã có sự đầu tư lớn về các thiết bị, kỹ thuật dạy học nhằm đáp ứng cho nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương thức đào tạo.
Về số lượng kết quả trưng cầu ý kiến của đội ngũ cán bộ, giáo viên cho thấy: các PTKTDH của nhà trường nhìn chung là mới đảm bảo nhu cầu tối thiểu trong đầu tư. Về tài liệu cập nhật thông tin mới như băng, đĩa, phần mền dạy học; các loại máy tính, máy chiếu, hệ thống âm thanh, loa đài tương đối đầy đủ. Song các thiết bị mô phỏng, phương tiện phòng thí nghiệm, hệ thống máy chiếu, máy kiểm tra, thực hành,…còn thiếu rất nhiều mới đáp ứng được nhu cầu. Nhất là các hệ thống máy thực hành còn thiếu chưa đáp ứng đủ cho các phòng học, lớp học. Việc thực hành của sinh viên gặp rất nhiều khó khăn. Nhà trường phải ký kết hợp tác với các công ty ngoài về việc cho sinh viên đến thực hành tại các nhà máy, xí nghiệp, sinh viên không có nhiều thời gian để thực hành và làm gián đoạn sản xuất của doanh nghiệp dẫn đến nhiều công ty, doanh nghiệp không muốn ký kết hợp tác với nhà trường.
Về chất lượng PTKTDH: chất lượng PTKTDH ngày một tốt hơn, tiện ích hơn, song cơ bản chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển của nội dung, yêu cầu học tập hiện nay. Nhiều phương tiện kỹ thuật đã cũ, đã được cấp từ lâu, tính đồng bộ hạn chế do vậy khó khăn cho công tác khai thác sử dụng. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
- Thư viện
Nói đến cơ sở vật chất của một trường đại học người ta thường nghĩ ngay đến giảng đường, các phòng thí nghiệm, xưởng thực tập hay trại thực nghiệm và thư viện. Hoạt động chính của một trường đại học diễn ra chủ yếu ở bốn khu vực trên. Có thể nói nhìn vào trụ sở, trang thiết bị, vốn tài liệu của thư viện, mức độ làm việc của cán bộ thư viện, hiệu quả học tập của sinh viên, giảng viên ở thư viện, người ta có thể hiểu phần nào chất lượng đào tạo, thương hiệu của một trường đại học.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị: là phần quan trọng cấu thành nên trung tâm thông tin thư viện. Đây không chỉ là nơi chứa đựng, bảo quản tài liệu, là nơi người dùng tiếp xúc với tài liệu mà còn là nơi làm việc của cán bộ thư viện. Chính vì vậy việc xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn thiện và hiện đại là yêu cầu cần thiết của các thư viện nói chung và Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Giao thông Vận tải. Cuối năm 2016, đầu 2017, với dự án mức C đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của Trung tâm thư viện và bắt đầu từ đây Trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải trở thành một thư viện hiện đại với cơ sở vật chất hiện đại bậc nhất trong hệ thống thư viện ở miền Bắc không chỉ về cơ sở vật chất và cả công nghệ quản lý thư viện- công nghệ định danh bằng sóng rađio (RFID). Thông qua dự án C, thư viện đã bổ sung các cơ sở dữ liệu chuyên ngành giao thông vận tải phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Trung tâm thông tin thư viện được bố trí tại nhà A8 với diện tích gần 4000m2 . Hầu hết trang thiết bị của Trung tâm được dự án C trang bị mới hoàn toàn đồng bộ về hệ thống phòng đọc, phòng mượn, từ hệ thống máy chủ đến máy trạm hiện đại, từ bàn ghế dành cho bạn đọc đến bàn ghế làm việc của nhân viên, giá sách đến kệ để báo- tạp chí, vv…
Hệ thống máy tính: 17 máy chủ, 140 máy trạm phục vụ công tác nghiệp vụ và tra cứu. Hệ thống an ninh: tất cả các phòng từ tầng 4 lên tầng 7 đều được lắp đặt camera phục vụ quản lý bạn đọc. Với 30 camera có khả năng lưu giữ hình ảnh, được lắp đặt ở những vị trí khác nhau, nhân viên thư viện có thể kiểm soát được bạn đọc. Ngoài ra với đầu đọc RFID, việc kiểm kê sách sẽ được thực hiện dễ dàng. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Nguồn tài liệu tại trung tâm: với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ được hướng dẫn trong công văn 1164/HD/ĐHH – ĐTĐH: “Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được 1 tín chỉ (15 tiết) sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân”. Như vậy, để học được 15 tiết lý thuyết mỗi sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ tự học và tìm kiếm tài liệu. Sinh viên có thể học ở nhà hay đến học tại thư viện. Học ở nhà bắt buộc sinh viên phải tự túc được tài liệu, nơi ở phải yên tĩnh, nhưng với điều kiện sinh hoạt của đa số sinh viên hiện nay, việc mua tài liệu giáo trình, tài liệu tham khảo, có điều kiện thuê chỗ ở tốt là ngoài tầm chi phí của sinh viên. Do đó việc đến thư viện học và tìm tài liệu của sinh viên ít nhất 15 giờ trong 1 tuần (tức ba buổi). Ước tính số sinh viên chính quy trong trường vào khoảng 5000; nếu chỉ tính bình quân một em đến thư viện học ba buổi trong một tuần thì một ngày thư viện đón tiếp ít nhất 500 em đến tìm tài liệu và tự học.
Hướng dẫn của ĐHH về phương thức đào tạo tín chỉ quy định: một sinh viên ra trường được đào tạo trong 4 năm, ít nhất phải tích lũy được 120 tín chỉ; quy định một môn học ít nhất là 3 tín chỉ. Như vậy sau 4 năm sinh viên phải học ít nhất 40 môn học; mỗi môn học cần ít nhất 1-2 tài liệu giáo trình, 2-4 tài liệu tham khảo chính. Một sinh viên học 40 môn học phải có ít 160 đầu tài liệu giáo trình và sách tham khảo chính.
Theo cách tính trên đòi hỏi thư viện phải bổ sung một số tài liệu rất lớn, trên thực tế thư viện có khoảng trên 100.000 bản tài liệu truyền thông in trên giấy trong đó bao gồm 53 đầu giáo trình, 7000 báo tạp chí, 400 luận văn luận án ngoài ra còn bài giảng, 3200 sách tham khảo, nghiên cứu bằng tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, ngoài ra còn hơn 3.100 sách tiếng Nga được xuất bản trước 1990. Là thư viện hiện đại, trung tâm thông tin thư viện còn cung tấp tư liệu cho bạn đọc qua 2300 đĩa CD-ROM.
Thư viện của Nhà trường đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu đào tạo nhưng vẫn cần cập nhật thêm nhiều sách mới thường xuyên. Đối với loại sách chuyên ngành cần cập nhật thêm sách nước ngoài để phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
- Cơ cấu tổ chức của Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Giao thông vận tải
Đối tượng phục vụ: đối tượng phục vụ của Trung tâm thông tin thư viện là tất cả các cán bộ, giảng viên, sinh viên các hệ, học viên cao học, NCS thuộc trường. Họ đều được cấp thẻ thư viện và sử dụng các dịch vụ của thư viện. Đối với những độc giả khác cũng được sử dụng các dịch vụ khác trừ dịch vụ mượn giáo trình. Đối tượng phục vụ ở trung tâm có thể chia thành nhiều nhóm khác nhau. Có 4 nhóm cơ bản: Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Nhóm cán bộ quản lý, cán bộ quản lý trong trường bao gồm Ban Giám hiệu, trưởng, phó các phòng ban chức năng, ban chủ nhiệm khoa, chủ nhiệm bộ môn và các cấp lãnh đạo. Nhóm cán bộ này có thể vừa là nhà quản lý, nhà khoa học, vừa là cán bộ giảng dạy. Chính vì vậy, nhu cầu thông tin của họ rất đa dạng, phong phú, có tính tổng hợp cao, chuyên sâu và thật sự khoa học. Đồng thời nhóm bạn đọc có nhu cầu thông tin cao, giải quyết những vấn đề mang tính thực tiễn cao có định hướng trong công tác quản lý và hoạt động nghiên cứu khoa học.
Nhóm cán bộ giảng dạy: đây là nhóm bạn đọc có trình độ chuyên môn, sử dụng thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Trong hoạt động thông tin thư viện họ đóng vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể. Với tư cách chủ thể họ tạo ra thông tin qua các bài giảng, giáo trình, giáo án, bài báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học có tính khoa học và tính chính xác cao. Với tư cách là khách thể, họ luôn có nhu cầu sử dụng thông tin với nhiều loại hình tài liệu để phục vụ các hoạt động chuyên môn của mình như giảng dạy, viết giáo trình, thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học, giải trí…
Nhóm sinh viên, nghiên cứu sinh, học viên sau đại học. Đây là nhóm người dùng tin chủ yếu của Trung tâm thông tin thư viện. Với sự phát triển của nhà trường, mở rộng quy mô đào tạo, chỉ tiêu đào tạo được tăng lên làm cho số lượng sinh viên của trường không ngừng gia tăng. Điều này làm cho nhóm đối tượng là sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh cũng không ngừng gia tăng. Nhu cầu sử dụng tài liệu cũng như thông tin ngày càng tăng. Chính vì vậy, trung tâm thông tin thư viện ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên, đặc biệt là vào các kì thi hay các đợt nghiên cứu khoa học, làm đồ án tốt nghiệp, tìm tài liệu cho việc làm và bảo vệ luận văn, luận án. Mỗi sinh viên khi lên thư viện có những nhu cầu và mục đích khác nhau nhưng nhu cầu quan trọng nhất vẫn là tìm thông tin và tài liệu để phục vụ cho việc học tập, nâng cao hiểu biết. Do đó, các tài liệu liên quan đến môn học chuyên ngành luôn được quan tâm. Trong nhóm đối tượng này sinh viên chiếm tỷ lệ lớn nhất. Nhu cầu về tài liệu của sinh viên rất phong phú và đa dạng.
Việc đánh giá đúng đối tượng và nhu cầu thông tin của họ sẽ giúp cho Trung tâm thông tin thư viện quản lý tốt hoạt động của trung tâm, có kế hoạch bổ sung tài liệu, chiến lược phát triển phù hợp, phát triển các dịch vụ một cách hợp lý, hiệu quả.
2.2.2. Thực trạng về quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học Giao thông Vận tải Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Đánh giá thực trạng của hoạt động quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học Giao thông Vận tải.
Trong chiến lược phát triển của trường Đại học Giao thông vận tải đã xác định: “ Nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ trung tâm. Để nâng cao chất lượng đào tạo cần xác định quy mô phát triển nhà trường một cách hợp lý; tiếp tục đa dạng hóa loại hình đào tạo. Tiến hành việc đổi mới chương trình đào tạo và chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ đi đôi với xây dựng các chương trình đào tạo đại học của các trường đại học tiên tiến trên thế giới trên cơ sở nắm bắt yêu cầu về cơ cấu, trình độ, kỹ năng của nguồn nhân lực của các đơn vị sử dụng lao động. Đẩy mạnh việc đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy; đổi mới quản lý, phát triển, khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học phục vụ đào tạo” [31,tr5]
Một là, nhận thức và vai trò của chủ thể quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Nhìn chung, nhận thức của chủ thể quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đã có sự phát triển, mau chóng tiếp cận với những nội dung, quan điểm và phương thức quản lý hiện đại, phù hợp với định hướng đổi mới trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học; vai trò của chủ thể quản lý ngày càng được củng cố và nâng cao, cơ bản đáp ứng với yêu cầu, nội dung, tính chất của công việc quản lý trên từng cương vị, chức trách.
- Đối với Ban Giám hiệu Nhà trường
Quán triệt và chấp hành sâu sắc quan điểm của Đảng, Nhà nước, Bộ GD-ĐT yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, lãnh đạo nhà trường đã xây dựng kế hoạch đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo với 4 nhóm mục tiêu rà soát lại và xây dựng chương trình đào tạo; nâng cao hiệu quả công tác quản lý; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học; bổ sung nguồn kinh phí đầu tư cho đào tạo. Thành lập hội đồng chỉ đạo thực hiện kế hoạch; thành lập các tiểu ban để tiến hành các mục tiêu; thành lập ban gián sát để giám sát việc thực hiện các mục tiêu của các tiểu ban, ban giám sát gồm đại diện lãnh đạo các khoa, viện. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Chủ trương phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng cho đổi mới chương trình đào tạo của nhà trường. Đây là một chủ trương đúng đắn trong lãnh đạo nhà trường, nhà trường đã xây dựng kế hoạch quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học xác định phương hướng, nhiệm vụ quản lý phù hợp với nhiệm vụ phát triển của nhà trường, nhiệm vụ này do tiểu ban cơ sở vật chất thực hiện. Chú trọng thực hiện các giải pháp chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, tăng cường công tác quản lý để phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ quản lý đối với hoạt động của Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Đã chủ động nghiên cứu, đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng để tháo gỡ khó khăn, từng bước nâng cao chất lượng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng cho chương trình đào tạo tín chỉ; tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, Ban Giám hiệu cho nhiệm vụ quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học… Trong bối cảnh của Nhà trường hiện nay, những quan điểm, chủ trương đó thực sự có giá trị, tạo cơ sở, tiền đề vững chắc để đẩy mạnh, nâng cao chất lượng quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Kết quả điều tra cho thấy tầm rất quan trọng của Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đối với chương trình đào tạo tín chỉ đối với cán bộ là 66,6%, giảng viên là 75% còn sinh viên là 53,75%
- Đối với Phòng Thiết bị quản trị
Phòng thiết bị quản trị với tư cách là cơ quan chỉ đạo về chuyên môn, trực tiếp quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học của Nhà trường, đã phát huy được vai trò, trách nhiệm trong việc tham mưu cho Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường xây dựng nghị quyết lãnh đạo, văn bản, chỉ thị, hướng dẫn, quy chế, kế hoạch đầu tư phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc sử dụng, khai thác, bảo quản Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Phối hợp chặt chẽ với Phòng Đào tạo, ban Quản lý Giảng đường để xây dựng chương trình quản lý phòng học, phòng thí nghiệm, quản lý trang thiết bị phòng học, phương tiện kỹ thuật dạy học, bảo quản Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng cho đào tạo tín chỉ.
Qua trao đổi với đội ngũ cán bộ đơn vị, các cơ quan chức năng nói chung, Phòng Thiết bị quản trị đã hiểu đúng vị trí, tầm quan trọng của Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng cho đổi mới chương trình đào tạo của Nhà trường, bước đầu phát huy được trách nhiệm trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Tuy nhiên, trên cương vị chủ thể quản lý, có lúc, có nội dung, Phòng Thiết bị quản trị chưa thể hiện hết vai trò của mình, nhất là trong tham mưu, đề xuất đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và việc bám nắm, theo dõi, kiểm tra tình hình Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
- Hai là, xây dựng kế hoạch, hoàn thiện cơ chế quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học
Kế hoạch là nội dung bản chất nhất của quản lý, là chức năng quan trọng số một, là phương pháp chủ yếu của quản lý nói chung; trong đó có quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Kế hoạch là công cụ đắc lực của công tác quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Từ sự nhận thức đúng vấn đề trên, Trường Đại học Giao thông Vận tải đã xây dựng kế hoạch 5 năm (2021-2026); các kế hoạch năm theo phương hướng từ dưới lên cơ bản bảo đảm được tính mục đích, và các chỉ tiêu, biện pháp bảo đảm. Trình độ của đơn vị chức năng đã đáp ứng được yêu cầu tham mưu cho Đảng ủy, Ban Giám hiệu chỉ đạo công tác quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Bên cạnh công tác xây dựng kế hoạch trung hạn và ngắn hạn; nhà trường còn xác định đúng phương hướng hoạt động, đây là nội dung quan trọng của quản lý vi mô. Việc xác định đúng phương hướng cho phép hoạt động quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học thực hiện được chức năng định hướng và điều khiển toàn bộ hoạt động phát triển, khai thác, sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Từ những yêu cầu đặt ra, đòi hỏi việc quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học phải hướng vào tất cả các đối tượng như cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng, bảo quản Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học
Cơ chế vận hành của bộ máy quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học của Nhà trường nhìn chung được triển khai thực hiện thông suốt, tác động tích cực tới việc nắm giữ, điều khiển các công cụ quản lý. Điều đó thể hiện chủ yếu ở kết quả thực hiện các quá trình quản lý, từ việc xây dựng chủ trương, ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý. Qua nghiên cứu thực tế được biết, để quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, Nhà trường và phòng ban chức năng đã xây dựng ban hành các loại quyết định, quy định quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học dài hạn đến các quyết định quy định trung hạn, ngắn hạn. Bên cạnh đó đã không ngừng hoàn thiện hệ thống qui chế, qui định quản lý, sử dụng, khai thác hiệu quả Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, tạo điều kiện cho các chủ thể quản lý duy trì nề nếp các hoạt động quản lý, bảo đảm tính đồng thuận, thống nhất trong hệ thống quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Các tổ chức đã thực hiện đúng cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Mọi hoạt động của việc đầu tư, mua sắm, thanh lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đều phải thông qua nghị quyết lãnh đạo và có sự chỉ đạo chặt chẽ từ Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường đến các cơ quan chức năng. Việc phân cấp quản lý được thực hiện khá rõ ràng, đảm bảo dân chủ hóa, công khai hóa các dự thảo quyết định. Có sự liên kết, hỗ trợ, hợp tác giữa các cơ quan chức năng trong điều hành quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Bước đầu phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ quản lý. Thực hiện công khai, dân chủ, nghiêm túc trong việc đấu thầu công trình, nghiệm thu công trình, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật dạy học. Cơ chế bảo đảm tài chính trong Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học được thực hiện chặt chẽ, thống nhất. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Bên cạnh những ưu điểm trên, việc xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học của Nhà trường hiện nay cũng còn những điểm chưa hoàn thiện, cần bổ sung, điều chỉnh. Qua trao đổi với cán bộ quản lý, giảng viên nhận thấy việc thực hiện dân chủ hóa quá trình Nhà trường ra quyết định quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa trở thành qui chế bắt buộc, chưa có chế tài trong việc xử lý vi phạm, mà mới chỉ được đặt ra như một yêu cầu cần thực hiện, một yếu tố cần chú ý trong quá trình ra quyết định Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Nhìn chung, cơ chế quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa đạt tới trình độ quản lý mang tính chất “quản lý phát triển”, nghĩa là quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chủ yếu dựa vào tính tự giác, chủ động của người sử dụng. Còn thiếu cụ thể trong xây dựng, tổ chức thực hiện cơ chế phối hợp giữa các phòng chức năng, cơ chế bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, cơ chế đảm bảo chế độ, chính sách, khen thưởng. Qua điều tra cho thấy phần lớn cho rằng cán bộ quản lý chưa phát huy hết tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Có 45,36% giảng viên, 43,33% cán bộ khẳng định, sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng chỉ đạt ở mức trung bình.
- Bảng 1.2: Số liệu tổng hợp quy hoạch đầu tư trang thiết bị, cải tạo sửa chữa vật chất để phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo năm 2025.
Công tác quản lý tài sản: hàng năm nhà trường đều tiến hành rà soát, kiểm kê tài sản, xác định nhu cầu thực tế yêu cầu của chương trình đào tạo lập quy hoạch đầu tư, phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, lên phương án khai thác các phòng học, phòng thí nghiệm để phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học.
Đánh giá về hiệu suất sử dụng các Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học: mục đích là đánh giá được hiệu suất sử dụng các PTKTDH hiện có, thể hiện ở số lần sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học trong một khoảng thời gian (học kỳ, năm học) xét theo từng loại so với yêu cầu giảng dạy môn học đã qui định trong chương trình, kế hoạch dạy học. Đây là chỉ số quan trọng nhất khi đánh giá hiệu quả sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Qua báo cáo về tình hình sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học của Ban quản lý giảng đường cho thấy hiệu suất sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học còn hạn chế rất nhiều, cần phải có kế hoạch cụ thể đối với việc tăng cường tần xuất và hiệu quả sử dụng các Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học trong quá trình dạy học.
Về trình độ quản lý và vận hành Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học của cơ quan quản lý: qua kết quả khảo sát cho thấy phần lớn cán bộ, giáo viên cho rằng trình độ quản lý vận hành của cơ quan quản lý ở mức tốt và khá. Nhưng vẫn cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc tổ chức quản lý, vận hành, phát huy tối đa hiệu quả sử dụng của các Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Cần phải được bồi dưỡng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý cho đội ngũ cán bộ và nhân viên, đồng thời phải có quy chế, qui định rõ ràng để thực hiện tốt các khâu, các bước trong quản lý.
- Ba là, về phát huy các nguồn lực trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, bồi dưỡng năng lực trình độ quản lý.
Đây luôn là yếu tố mấu chốt của hệ thống quản lý, nhân sự luôn là chìa khóa của thành công. Hoạt động của bộ máy tổ chức và nhân lực của nhà trường trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học là lĩnh vực rất quan trọng hiện nay. Để tìm hiểu thực trạng nhân lực của nhà trường như xây dựng kế hoạch, đầu tư mua sắm, sử dụng và bảo quản phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ GD-ĐT, tác giả đã tiến hành khảo sát theo mẫu phiếu điều tra tại phục lục số 1, kết quả thể hiện trong (bảng 1.7)
Việc tổ chức và phân công nhân lực: không có ý kiến đánh giá tốt, 100% đánh giá ở mức trung bình và khá. Điều này chứng tỏ sự đánh giá về phân công nhân lực chưa phù hợp, nhiều người làm việc không đúng chuyên môn đã được đào tạo, nhiều người phải kiêm nhiệm. Qua đây ta thấy việc làm tiếp theo là phải sắp xếp lại nhân lực trong khâu tổ chức, quản lý kết hợp với việc đầu tư cho cán bộ, nhân viên đi bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ để đảm bảo được công tác chuyên trách mang tính ổn định lâu dài.
Huy động nguồn tài chính đầu tư cho Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Với mục tiêu đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở vật chất. theo hướng hiện đại hóa phục vụ cho đào tạo và NCKH, Nhà trường đã triển khai xây dựng và thực hiện một số dự án lớn như tăng cường trang thiết bị cho phòng thí nghiệm; dự án tăng cường nhân lực nghiên cứu cho phòng thí nghiệm; dự án đào tạo bồi dưỡng công nghệ thông tin có các chuyên ngành thuộc lĩnh vực giao thông vận tải, dự án cải tạo, sửa chữa, chống xuống cấp (giảng đường đa năng), với tổng kinh phí là 190.5tỷ đồng. Phần lớn kinh phí cho các dự án này đều được cấp từ ngân sách nhà nước, vốn đối ứng của Trường chiếm tỷ trọng nhỏ. Nhà trường tổ chức đấu thầu, tiến hành mua sắm các trang thiết bị, tổ chức sửa chữa cơ sở vật chất theo đúng các hạng mục và kinh phí đã được phê duyệt. Thực hiện các giải pháp nâng cao tiềm lực tài chính, Nhà trường đã thực hiện tốt phương châm: thu đúng, thu đủ; chi tiêu tiết kiệm, có hiệu quả, đúng quy định và công bằng.
- Bốn là, Công tác thanh, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá kết quả quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Công tác thanh tra, kiểm tra có vị trí rất quan trọng, là hoạt động không thể thiếu được trong mọi hoạt động. Mục đích nhằm đôn đốc việc thực hiện theo các nội dung theo mục tiêu đã đề ra, ngăn ngừa sai phạm và điều chỉnh sao cho phù hợp yêu cầu thực tế diễn ra. Để tìm hiểu thực trạng công tác, thanh tra, kiểm tra trong việc quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, tác giả đã tiến hành khảo sát và thu được kết quả ở bảng (1.11) như sau: Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Về việc thành lập hội đồng thanh kiểm tra và đánh giá chất lượng có tới 83.75% ý kiến đánh giá ở mức độ khá,16.25% ý kiến đánh giá ở mức trung bình. Kết quả cho thấy cơ bản nhà trường đã thành lập hội đồng kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng, bảo quản Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Hội đồng đã thường xuyên hoạt động tương đối tốt, đã giám sát chặt chẽ việc đầu tư, mua sắm các phương tiện kỹ thuật mới phục vụ cho GD-ĐT của nhà trường. Song bên cạnh đó, hoạt động của hội đồng có thời gian còn chưa thực sự tích cực, sâu sát, chủ yếu là các đơn vị chức năng phối hợp thực hiện theo nhiệm vụ.
- Những nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học
Một là, nhận thức còn chưa nhất quán, đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và vai trò, vị trí của Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đối với việc đổi mới chương trình đào tạo từ niên chế sang tín chỉ; do vậy lãnh đạo một số đơn vị chưa chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức điều hành Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học ở đơn vị mình. Chất lượng hiệu quả hoạt động Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học còn thấp vì chưa xác định được những chủ trương, biện pháp quản lý, khai thác tiềm lực Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Cá biệt có những quan niệm cho rằng hoạt động của cơ quan chức năng chỉ là cơ quan “phục vụ”, “đảm bảo”… Mặt khác chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hoạt động Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa thật rõ, các công cụ, chính sách quản lý còn nhiều bất cập. Chưa kích thích được các nhân tố tích cực. Kết quả khảo sát, điều tra cho thấy có 52% trả lời nhận thức tốt; 34,5 nhận thức bình thường; 15% không đạt.
Hai là, việc xây dựng kế hoạch và điều hành kế hoạch hoạt động Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học còn nhiều lúng túng, bị động, ít yếu tố dự báo; hệ thống văn bản quy phạm tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa hoàn thiện.
Trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học ở trường Đại học Giao thông Vận tải hiện nay có những yếu tố thuận lợi là sự thừa nhận vai trò, vị trí của Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đối với chương trình đào tạo theo tín chỉ, nhưng chưa có sự đầu tư ngang tầm với nhiệm vụ trung tâm; mặc dù nhà trường đã ban hành “Kế hoạch xây dựng phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học Nhà trường giai đoạn 2021-2026”, xây dựng quy định, quy chế về quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, song hiện nay một số đơn vị chưa thực hiện nghiêm văn bản này. Vẫn còn nhiều cá nhân và đơn vị chưa có ý thức trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng khai thác hiệu quả Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, một phần do quy định, quy chế chưa có những chế tài đủ mạnh để xử lý những vi phạm; chính sách khuyến khích, động viên chưa phù hợp với thực tiễn. Việc quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa tập trung, thống nhất, tính ổn định không cao. Kết quả điều tra về nội dung ban hành và thực hiện các văn bản pháp quy về quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học cho thấy 52% trả lời tốt; 21% trả lời bình thường; 1,5% trả lời không đạt.
Chỉ đạo điều hành, thực thi quản lý thông qua việc giám sát, kiểm tra, hướng dẫn thi hành còn hạn chế chưa thường xuyên, sát sao. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Ba là, sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong thực hiện nhiệm vụ quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp, hiệu quả hoạt động chưa cao. Phương thức hoạt động Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa phong phú, hoạt động chủ yếu theo đường mòn, lối cũ, một chiều từ trên xuống, thông tin từ dưới cơ sở lên ít, không có sự trao đổi thảo luận tháo gỡ vướng mắc khó khăn giữa các đơn vị chức năng để tìm ra một biện pháp quản lý hữu hiệu cho hoạt động Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Công tác kiểm tra, quán xuyến hoạt động còn chưa thường xuyên, chủ yếu giao cho cơ quan chức năng đảm nhiệm. Điều tra sự phối kết hợp giữa các lực lượng trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học phản ánh kết quả như sau: cán bộ có 11,7% trả lời tốt; 76,6% trả lời khá; 11,7% trả lời trung bình, giảng viên có 13,3% trả lời tốt; 71,7% trả lời khá; 15% trả lời trung bình.
Bốn là, chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học còn có mặt bất cập, đào tạo không đúng chuyên ngành tỷ lệ khá cao. Công tác lựa chọn, bồi dưỡng nguồn còn bị động, quyền tự chủ của đơn vị chưa được đề cao nên chưa thu hút được những cán bộ, nhân viên giỏi vào làm.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng khai thác, sử dụng có thời gian nhà trường chưa thực sự chủ động, việc kết hợp đa dạng các hình thức bồi dưỡng còn chưa linh hoạt, vai trò của cơ quan tham mưu đôi khi chưa được phát huy hết tính năng sáng tạo trong tham mưu đề xuất. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý còn chậm, thậm chí chưa phát huy hết tính năng hiệu quả của công nghệ thông tin đối với công tác quản lý.
Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo của các chủ thể còn chậm cũng là nguyên nhân quan trọng tác động đến hiệu quả quản lý. Chính vì vậy, tạo được sự thống nhất cao từ các cấp và trong hệ thống, giữ vững nguyên tắc trong khâu tổ chức, chỉ đạo.
Để khắc phục những hạn chế trên, thời gian tới cần nắm chắc các đặc điểm, nhân tố chi phối tới hoạt động quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học; xác định các nguyên nhân để có cách giải quyết, tháo gỡ phù hợp. Đồng thời, nhạy bén với những vấn đề thực tiễn đặt ra; duy trì và thực hiện tốt hoạt động quản lý như: Xây dựng kế hoạch, điều hành, chỉ đạo và kiểm tra của chủ thể quản lý bằng các hình thức, phương pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò, vị trí của hoạt động Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục- đào tạo của nhà trường.
2.3. Những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với việc quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng đào tạo theo tín chỉ Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Một là, Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặt ra yêu cầu cao đối với việc quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học ở nhà trường Đại học
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ thông tin và hội nhập quốc tế đã đem đến cho Việt Nam những kinh nghiệm và cơ hội quý trong đầu tư, phát triển giáo dục. Một trong những bài học lớn của các nước có nền giáo dục tiên tiến là đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học cho các nhà trường. Bởi vì muốn có chất lượng giáo dục tốt, chất lượng con người được đào tạo giỏi về kỹ năng nghề nghiệp thì đi cùng với nó là phải tăng cường đầu tư, phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học, đây là một thành tố không thể thiếu của quá trình dạy học hiện đại. Trước yêu cầu đặt ra trong tình hình mới theo xu thế phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, nhà trường cần có chủ trương, xây dựng kế hoạch quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Thứ nhất, xây dựng cơ chế tổ chức, điều hành của hệ thống trong quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học ở nhà trường. Cơ chế tổ chức, điều hành có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện, nếu cơ chế đúng, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, khai thác, sử dụng và bảo quản Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và ngược lại nó có thể gây hậu quả và ảnh hưởng không tốt.
Thứ hai, Xây dựng các nội quy, quy trình thực hiện và quy định trong phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Để sự phát triển được đúng hướng, đòi hỏi cần phải ban hành những nội quy, quy định rõ ràng theo đúng các văn bản quy định hướng dẫn của Nhà nước và Bộ GD-ĐT cho công tác đầu tư, mua sắm, trang bị theo đúng kế hoạch đã xác định, phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc phối hợp thực hiện. Phải có những nội quy, quy định mới làm căn cứ trong việc tổ chức thực hiện và tạo hướng mở trong việc khai thác các nguồn lực từ nhiều hướng khác nhau.
Thứ ba, Trình độ, năng lực của cán bộ, nhân viên trong quá trình quản lý, khai thác, sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Đội ngũ cán bộ, nhân viên quản lý có vai trò hết sức quan trọng trong việc sử dụng, phát huy hiệu quả của Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học hiện có của nhà trường. Vì vậy, đòi hỏi đủ về số lượng và trình độ khả năng làm tốt công tác này, nhất là khai thác, sử dụng các Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học mới. Phải hiểu rõ tính năng, tác dụng, đặc điểm và điều kiện hoạt động của phương tiện để có kế hoạch bố trí, sắp đặt và bảo quản đúng yêu cầu; trong quá trình khai thác phải tuân thủ đúng quy trình, đúng thao tác, góp phần phát huy hiệu quả của phương tiện và sử dụng lâu dài. Đầu tư Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, khả năng khai thác, sử dụng của cán bộ, giảng viên và nhân viên. Sử dụng và trang bị phải kết hợp chặt chẽ với nhau, có như vậy mới phát huy được hiệu quả đầu tư. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Thứ tư, Chỉ đạo điều hành của các cấp quản lý. Đây là nhân tố quan trọng đảm bảo cho quá trình quản lý đúng kế hoạch đã đề ra. Đòi hỏi các cấp quản lý phải nắm chắc các chế định, chế tài, các văn bản mang tính pháp lý để điều hành một cách khoa học, đạt hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Đồng thời phải nắm chắc nhu cầu, tổ chức chỉ đạo cho việc quản lý đúng trọng tâm, trọng điểm, quản lý chặt chẽ từng khâu, từng bước và cả quá trình.
Hai là, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT trong giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu cao đối với xây dựng, phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học ở trường Đại học
Đại hội XI của Đảng xác định “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”[3].
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo bao gồm đổi mới tư duy; đổi mới mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điều kiện bảo đảm, trong toàn hệ thống.
Do tầm quan trọng, quy mô, tính chất và nội dung rộng lớn đó, nên công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục không thể chỉ giao và là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục. Đây là sự nghiệp lớn lao của cả Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Vì vậy,cần có một Ban Chỉ đạo Trung ương (hay Ban Chỉ đạo Quốc gia) về đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, với sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Nhà nước, với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp và những người am hiểu sâu sắc về giáo dục,…trong đó ngành giáo dục là nòng cốt.
Để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục đặt ra yêu cầu đối với các trường đại học phải có kế hoạch, chiến lược phát triển đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục. Đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục là yêu cầu cấp bách đối với các nhà trường hiện nay. Cơ sở vật chất được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, để thực hiện kế hoạch đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Đầu tư cho phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học hiện đại đáp ứng với yêu cầu đổi mới GD-ĐT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường đại học.
Ba là, phải giải quyết tốt mâu thuẫn, phải tổ chức khoa học việc xây dựng, phát triển, sử dụng, bảo quản Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học với năng lực còn hạn chế của các chủ thể quản lý Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Thành quả của quá trình giáo dục- đào tạo và nghiên cứu khoa học luôn gắn liền với công tác phát triển, sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học. Thực tế cho thấy, kết quả nhiệm vụ đầu tư, phát triển cho Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học những năm qua đã khẳng định phương hướng chủ trương lãnh đạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của nhà trường và xu thế phát triển chung của Đảng, Nhà nước và Bộ GD-ĐT. Từ những đặc điểm Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học hiện nay, đòi hỏi công tác xây dựng, phát triển, sử dụng, bảo quản Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học cần được đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Do đó công tác quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học cần tập trung những nhiệm vụ chủ yếu sau: trường sở, giảng đường phục vụ cho học tập của sinh viên và nơi làm việc của cán bộ, giảng viên, công nhân viên cần phải quy hoạch, bố trí, sắp xếp hợp lý, xây dựng giảng đường có đủ chỗ ngồi cho sinh viên, phòng học đa dạng để đáp ứng cho chương trình đào tạo tín chỉ, xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu khoa học. Về Phương tiện kỹ thuật dạy học cần đầu tư đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng để đáp ứng được yêu cầu của người dạy, người học, có tập huấn, hướng dẫn việc sử dụng, bảo quản các thiết bị kỹ thuật cho cán bộ quản lý, giảng viên, công nhân viên trực tiếp quản lý để đảm bảo khai thác, sử dụng, bảo quản phương tiện kỹ thuật dạy học có hiệu quả. Thư viện xây dựng khang trang, bố trí sắp xếp khoa học, có nguồn tài liệu phong phú, có thư viện điện tử để tạo điều kiện cho người dùng có thể tìm kiếm tài liệu thuận lợi, dễ dàng. Cán bộ quản lý thư viện phải có trình độ, chuyên môn đúng chuyên ngành thư viện. Việc đầu tư xây dựng, nâng cấp sửa sang và trang bị những thiết bị trong phòng phải có kế hoạch, lập dự án đúng quy định, quy chế của Nhà nước, Bộ, ngành liên quan và phải được cấp trên phê duyệt.
Trước yêu cầu, thực trạng, nội dung, hình thức của Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học của nhà trường những năm qua và nhận thấy những hạn chế, bất cập và ảnh hưởng của nó tới chất lượng đào tạo. Đảng ủy, Ban Giám hiệu có những điều chỉnh, đổi mới, bước đầu đã tăng cường đầu tư cho Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Tuy vậy, do đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác chuyên môn chưa được đào tạo cơ bản nên trình độ về quản lý của cán bộ cơ quan chức năng, nhất là cán bộ đầu ngành còn nhiều bất cập, chưa sâu sát. Bên cạnh đó, trình độ cán bộ quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học chưa đồng đều, ngại đổi mới. Nguyên nhân đó dẫn đến sự yếu kém về năng lực tham mưu, kế hoạch, tổng hợp, tính dự báo, thẩm định công trình. Mặt khác, cán bộ quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học kiêm nhiệm tại các đơn vị, đơn vị có tính biến động cao, chưa áp dụng được công nghệ thông tin trong quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học.
Từ mâu thuẫn trên, muốn giải quyết tháo gỡ cần phải có sự đổi mới cả ở khâu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, khâu xây dựng kế hoạch. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của các chủ thể quản lý đối với việc xây dựng, phát triển, sử dụng Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
Bên cạnh đội ngũ giảng viên, để phát triển bền vững và nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo thì cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học có vai trò hết sức quan trọng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ, là yếu tố quan trọng trong kế hoạch phát triển của nhà trường. Vì vậy trong những năm qua, Trường Đại học Giao thông vận tải đã tập trung toàn lực, toàn hệ thống với quyết tâm chuyển đổi phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Đây là một hướng đi phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay và đã bước đầu đạt được những kết quả khả quan. Về điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học nhà trường đã có những sự đầu tư tương ứng với điều kiện tài chính của nhà trường như đầu tư xây dựng mới các phòng thí nghiệm hiện đại, sửa sang phòng học; không ngừng tăng cường học liệu và hiệu quả phục vụ của hệ thống Trung tâm thông tin thư viện; Cải tạo lại hệ thống giảng đường phục vụ công tác tổ chức lớp học theo hệ thống tín chỉ; trang bị máy tính, đèn chiếu phục vụ công tác giảng dạy; lắp đặt hệ thống mạng Internet.
- Mặc dù vậy, vẫn còn những bất cập trong quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học như:
Việc quản lý khai thác, đưa các thiết bị máy móc thí nghiệm hiện đại chưa hiệu quả và mới dừng lại ở bước phục vụ các nghiên cứu đề tài, lao động sản xuất, người học chưa có cơ hội được thực hành chuyên môn trên các máy móc thiết bị này.
Quản lý hệ thống thư viện Cơ sở dữ liệu trong hệ thống thông tin thư viện chưa thông suốt, chưa được cập nhật có tính hệ thống với quốc tế.
Quản lý và phân phòng còn bị chồng chéo, hệ thống phòng học chưa đáp ứng được yêu cầu của phương pháp dạy – học mới, dạy học tương tác, dạy học theo nhóm, thảo luận.
Các thiết bị máy tính, đèn chiếu chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng. Hệ thống mạng chưa đồng bộ, hoạt động chưa ổn định và chưa đến được với người học.
Để công tác quản lý Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học được hiệu quả thì công tác tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các khâu, các bước của chủ thể quản lý là hết sức quan trọng nhằm đảm bảo cho Cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học đáp ứng tốt cho đào tạo theo tín chỉ. Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật dạy học và đào tạo […]