Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh, hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu chính thức
3.1.1 Cỡ mẫu nghiên cứu chính thức
Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất. Sau 2 tháng tiến hành khảo sát, tổng số phát ra 250 bảng câu hỏi, số lượng phản hồi thu được là 220. Sau khi loại các phản hồi thiếu thông tin hoặc trả lời qua loa khi đánh giá giống nhau cho hầu hết các câu hỏi, kích thước mẫu chính thức cho nghiên cứu này là 184.
3.1.2 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu chính thức
Việt nam cao hơn số đáp viên nữ tham gia khảo sát (53% so với 47%). Về nhóm tuổi, nhóm có tỷ lệ cao nhất trong mẫu là 30-39 tuổi (55%), nhóm tuổi tiếp theo dưới 30 tuổi có tỷ lệ 28%, còn lại là các nhóm tuổi khác. Về trình độ học vấn, nhóm có trình độ học vấn đại học có tỷ lệ cao nhất (80%), kế đến là sau đại học 18%, còn lại là trình độ khác.
Xét về kinh nghiệm làm việc, nhóm có kinh nghiệm từ 6 năm – 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (55%), kế đến là nhóm có kinh nghiệm từ 11 năm – 15 năm chiếm 24%, trên 15 năm chiếm 16% và còn lại là nhóm có kinh nghiệm từ 5 năm trở xuống.
3.2. Đánh giá mô hình đo lường Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
Trong luận văn này, để đánh giá mô hình đo lường nghiên cứu chính thức tác giả sử dụng các hệ số tổng phương sai trích AVE, hệ số tin cậy tổng hợp CR, Cronbach’s alpha và hệ số tải nhân tố đơn lẻ (outer loading).
Trong kết quả chạy dữ liệu lần đầu cho thấy 2 biến quan sát (PG1, PG4) có hệ số tải nhân tố đơn lẻ < 0,7. Các biến này đã bị loại bỏ và tác giả tiến hành chạy lần hai. Bảng 3.2 thể hiện các chỉ số nhân tố đơn lẻ của các biến quan sát trong lần chạy thứ hai đều lớn hơn 0,7. Kết quả phân tích được trình bày trong Bảng 3.3 cho thấy các thang đo lường đều có hệ số Cronbach’s alpha và độ tin cậy tổng hợp cao (trên 0,7). Tổng phương sai trích của mỗi thang đo đều lớn hơn 0,5 và hệ số tải nhân tố của từng biến quan sát đều lớn hơn 0,7.
Từ kết quả các chỉ số được thể hiện trong bảng 3.2 và 3.3 có thể kết luận các thang đo cho các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu chính thức đều đạt yêu cầu giá trị hội tụ và về độ tin cậy.
Bảng 3.2. Hệ số tải ngoài của các nhân tố đơn lẻ outer loading
| GB | GI | GL | PG | PP | PS | |
| GB1 | 0,780 | |||||
| GB2 | 0,848 | |||||
| GB3 | 0,788 | |||||
| GB4 | 0,785 | |||||
| GB5 | 0,825 | |||||
| GI1 | 0,875 | |||||
| GI2 | 0,896 | |||||
| GI4 | 0,957 | |||||
| GL1 | 0,723 | |||||
| GL2 | 0,769 | |||||
| GL3 | 0,726 | |||||
| GL4 | 0,736 | |||||
| GL5 | 0,750 | |||||
| PG2 | 0,790 | |||||
| PG3 | 0,756 | |||||
| PG5 | 0,798 | |||||
| PG6 | 0,777 | |||||
| PG7 | 0,802 | |||||
| PG8 | 0,825 | |||||
| PP1 | 0,750 | |||||
| PP2 | 0,805 | |||||
| PP4 | 0,812 | |||||
| PP5 | 0,869 | |||||
| PS1 | 0,826 | |||||
| PS2 | 0,840 | |||||
| PS3 | 0,806 |
Bảng 3.3. Độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
|
Thang đo thành phần |
Cronbach’s Alpha | RhoA | Độ tin cậy tổng hợp CR | Phương sai trích (AVE) |
| Hành vi xanh của nhân viên | 0,865 | 0,871 | 0,902 | 0,649 |
| Hình ảnh thương hiệu xanh | 0,896 | 0,899 | 0,935 | 0,828 |
| Tín dụng xanh | 0,795 | 0,796 | 0,859 | 0,549 |
| Chính sách và mục tiêu về môi trường | 0,881 | 0,883 | 0,910 | 0,627 |
| Quy trình vận hành xanh | 0,824 | 0,830 | 0,884 | 0,656 |
| Sản phẩm và dịch vụ xanh | 0,767 | 0,773 | 0,864 | 0,679 |
Giá trị hệ số HTMT được thể hiện trong Bảng 3.4 đều nhỏ hơn 0,9 nên có thể kết luận các thang đo đều đạt giá trị phân biệt.
Bảng 3.4. Hệ số HTMT
| GB | GI | GL | PG | PP | PS | |
| GB | ||||||
| GI | 0.600 | |||||
| GL | 0.815 | 0.635 | ||||
| PG | 0.670 | 0.577 | 0,897 | |||
| PP | 0.865 | 0.648 | 0,837 | 0.762 | ||
| PS | 0.589 | 0.606 | 0.790 | 0.757 | 0.738 |
Bảng 3.5. Hệ số tải chéo (cross – loading)
| GB | GI | GL | PG | PP | PS | |
| GB1 | 0.780 | 0.420 | 0.581 | 0.506 | 0.659 | 0.438 |
| GB2 | 0.848 | 0.453 | 0.558 | 0.540 | 0.601 | 0.480 |
| GB3 | 0.788 | 0.373 | 0.528 | 0.454 | 0.545 | 0.300 |
| GB4 | 0.785 | 0.343 | 0.538 | 0.395 | 0.516 | 0.311 |
| GB5 | 0.825 | 0.551 | 0.522 | 0.474 | 0.624 | 0.450 |
| GI1 | 0.525 | 0.875 | 0.547 | 0.480 | 0.546 | 0.441 |
| GI2 | 0.444 | 0.896 | 0.436 | 0.432 | 0.484 | 0.464 |
| GI4 | 0.494 | 0.957 | 0.488 | 0.497 | 0.507 | 0.471 |
| GL1 | 0.500 | 0.383 | 0.723 | 0.482 | 0.594 | 0.383 |
| GL2 | 0.443 | 0.353 | 0.769 | 0.539 | 0.557 | 0.484 |
| GL3 | 0.479 | 0.313 | 0.726 | 0.550 | 0.528 | 0.424 |
| GL4 | 0.477 | 0.493 | 0.736 | 0.623 | 0.527 | 0.578 |
| GL5 | 0.603 | 0.455 | 0.750 | 0.624 | 0.611 | 0.466 |
| PG2 | 0.381 | 0.390 | 0.606 | 0.790 | 0.497 | 0.551 |
| PG3 | 0.403 | 0.338 | 0.583 | 0.756 | 0.458 | 0.461 |
| PG5 | 0.535 | 0.453 | 0.602 | 0.798 | 0.575 | 0.478 |
| PG6 | 0.449 | 0.374 | 0.593 | 0.777 | 0.458 | 0.449 |
| PG7 | 0.469 | 0.383 | 0.542 | 0.802 | 0.504 | 0.505 |
| PG8 | 0.561 | 0.507 | 0.692 | 0.825 | 0.610 | 0.575 |
| PG8 | 0.561 | 0.507 | 0.692 | 0.825 | 0.610 | 0.575 |
| PP1 | 0.555 | 0.333 | 0.595 | 0.482 | 0.750 | 0.350 |
| PP2 | 0.581 | 0.415 | 0.555 | 0.475 | 0.805 | 0.490 |
| PP4 | 0.558 | 0.509 | 0.642 | 0.624 | 0.812 | 0.604 |
| PP5 | 0.687 | 0.552 | 0.662 | 0.532 | 0.869 | 0.513 |
| PS1 | 0.350 | 0.422 | 0.438 | 0.470 | 0.396 | 0.826 |
| PS2 | 0.365 | 0.400 | 0.482 | 0.452 | 0.436 | 0.840 |
| PS3 | 0.495 | 0.420 | 0.616 | 0.624 | 0.637 | 0.806 |
Hệ số tải chéo (cross – loading): Bảng 3.5 cho thấy hệ số tải chéo của bất kỳ biến quan sát nào trong nhân tố chính cũng lớn hơn toàn bộ hệ số tải chéo của biến quan sát đó với các nhân tố khác trong mô hình, điều này phù hợp với quan điểm của Hair và cộng sự (2017).
Hình 3.1. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc
3.3 Đánh giá mô hình cấu trúc Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
3.3.1 Đánh giá hệ số xác định có điều chỉnh (R2 hiệu chỉnh)
Theo Hair và cộng sự (2017), giá trị này trong khoảng từ 0 đến l và ngưỡng giá trị chấp nhận được là 0,3. Giá trị R2 càng gần 1 khả năng phù hợp càng cao và càng gần 0 thì mức độ phù hợp càng thấp. Tuy nhiên, sử dụng R2 có sai lệch vốn có đặc biệt trong trường hợp mô hình cầu trúc có số lượng biến độc lập lớn. Do đó, để loại trừ sai lệch vốn có này, các nhà nghiên cứu sử dụng hệ số xác định có hiệu chính R2. Hệ số xác định hiệu chỉnh làm giảm giá trị của hệ số xác định căn cứ vào số lượng biến độc lập và kích thước mẫu.
Dựa vào kết quả nghiên cứu (bảng 3.6), đối với mô hình biến GI đóng vai trò là biến phụ thuộc thì hệ số R2 có giá trị 0,390, điều này cho thấy được mức độ phù hợp của dữ liệu với mô hình nằm trong ngưỡng chấp nhận được, bên cạnh đó hệ số R2 hiệu chỉnh cũng khác biệt không nhiều, R2 hiệu chỉnh = 0,384. Đối với biến GB đóng vai trò biến phụ thuộc, giá trị R2 = 0,521 nằm trong ngưỡng chấp nhận và hệ số R2 hiệu chỉnh là 0,519.
3.3.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng (f2)
Bên cạnh hệ số xác định của các biến phụ thuộc, thay đổi của hệ số xác định khi một biến độc lập bị loại bỏ khỏi mô hình có thể được sử dụng để đánh giá tác động của biến độc lập bị loại bỏ đến biến phụ thuộc. Hệ số đo lường này được gọi là hệ số tác động của quy mô (Hair và cộng sự, 2017).
Để xem xét mức độ tác động, kết luận tác động nhỏ nếu 0,02 < ƒ2 <0.15, trường hợp ƒ2 nằm trong khoảng 0.15 – 0.35 là tác động trung bình và tác động lớn nếu ƒ2 từ 0,35 trở lên (Hair và cộng sự (2017). Kết quả xử lý từ phần mềm trong bảng 4.7. Kết quả này cho thấy, tác động của thực hành ngân hàng xanh lên biến hình ảnh thương hiệu xanh với giá trị của hệ số f2 > 0,15 nằm trong ngưỡng tác động trung bình, với mô hình biến GB đóng vai trò phụ thuộc hệ số f2 > 0,35 chứng tỏ thực hành ngân hàng xanh có tác động mạnh tới hành vi xanh của nhân viên ngân hàng; với f2 > 0,02 chứng tỏ hành vi xanh của nhân viên có tác động lên hình ảnh thương hiệu xanh ở mức tác động nhỏ. Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
Bảng 3.7. Bảng mức độ tác độ (f2)
| Biến độc lập | Biến phụ thuộc | ||
| GB | GI | ||
| GB | 0,034 | ||
| PGB | 1,088 | 0,165 | |
3.4 Kiểm định Bootstrap
Để kiểm định mô hình cấu trúc, tác giả sử dụng Bootstrapping với N = 5.000, phương pháp này giúp tiết kiệm chi phí, và ước lượng các kết quả nghiên cứu. Nếu giá trị p-value nhỏ hơn 1%, 5%, và 10% thì khi đó các giả thuyết đã được đề xuất ở chương 1 sẽ có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy tương ứng lần lượt là 99%, 95% và 90%.
Bảng 3.8. Ước lượng hệ số đường dẫn và khoảng tin cậy
Bảng 3.8 cho thấy giá trị Bootstrapping có sự sai lệch so với trọng số gốc là không đáng kể. Hệ số đường dẫn có giá trị trong khoảng từ 2,5% đến 97,5%. Do đó, các ước lượng của phân tích thể hiện qua mẫu phân tích và ước lượng Bootstrapping rất đáng tin cậy.
Luận văn đã đề xuất 03 giả thuyết tác động trực tiếp và 01 giả thuyết tác động gián tiếp, dựa vào kết quả ở Bảng 3.9 cho thấy giá trị P-value từ kết quả ước lượng mô hình cấu trúc, kết quả kiểm định thì có 4 trong số 4 giả thuyết được chấp nhận (xem Bảng 3.9).
Bảng 3.9. Kết quả kiểm định giả thuyết
Từ bảng 3.9 cho thấy, kết quả tổng hợp phân tích từ nghiên cứu đi đến kết luận kiểm định các giả thuyết như sau:
Giả thuyết H1: Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy thực hành ngân hàng xanh (PGB) có tác động tích cực đến hành vi xanh (GB) của nhân viên. Mức độ tác động qua hệ số β = 0,722; p < 0,05; t = 18,885 > 1,96. Do đó, giả thuyết H1 được chấp nhận.
Giả thuyết H2: Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy PGB tác động tích cực đến đến hình ảnh thương hiệu xanh. Mức độ tác động qua hệ số β = 0,458; p < 0,05; t = 4,978 > 1,96 và giá trị t-value = lớn hơn 1,96; p-value < 0,05. Do đó, giả thuyết H2 được chấp nhận.
Giả thuyết H3: Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy GB tác động tích cực đến đến hình ảnh thương hiệu xanh. Mức độ tác động qua hệ số β = 0,207; p < 0,05; t = 2,152 > 1,96 và giá trị t-value = lớn hơn 1,96; p-value < 0,05. Do đó, giả thuyết H3 được chấp nhận.
Giả thuyết H3a: Hành vi xanh của nhân viên (GB) đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh (PGB) và hình ảnh thương hiệu xanh (GI). Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy GB đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh (PGB) và hình ảnh thương hiệu xanh (GI). Mức độ tác động qua hệ số β = 0,150; p < 0,05; t = 2,155 > 1,96.
Vì vậy, giả thuyết H3a được chấp nhận.
Tóm tắt chương 3
Chương 3 trình bày kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu. Kết quả kiểm định các thang đo đều đạt độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính SEM cho thấy mô hình lý thuyết là phù hợp. Thông qua đánh giá mô hình cấu trúc, kết quả đã chứng minh có mối quan hệ cùng chiều giữa PGB, GB tới hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng. Giả thuyết về vai trò trung gian của GB trong mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh (PGB) và hình ảnh thương hiệu xanh (GI) được chấp nhận.
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
Trên cơ sở tổng kết các lý thuyết và nghiên cứu liên quan, ở chương 1 tác giả đã nêu định nghĩa của các khái niệm (1) thực hành ngân hàng xanh (PGB), (2) hình ảnh thương hiệu xanh (GI) và (3) hành vi xanh của nhân viên (GB). Do các nghiên cứu về thực hành ngân hàng xanh chưa có nhiều tại Việt Nam nên quá trình nghiên cứu được bắt đầu bằng việc tổng kết lý thuyết, thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu đã được công bố trước đó cũng như tìm hiểu các lý thuyết nền cho phép hiểu rõ và phân tích xu hướng nghiên cứu thực hành xanh trong các tổ chức, từ đó tổng hợp và hình thành nên định hướng nghiên cứu của luận văn. Từ quá trình tổng hợp và so sánh, tác giả đã tiến hành thảo luận các định nghĩa đưa vào sử dụng trong luận văn này, đề xuất các thang đo và xây dựng mô hình nghiên cứu tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu chính thức sử dụng biến hình ảnh thương hiệu xanh làm biến biến phụ thuộc cuối cùng, kiểm định trên một mẫu 184 cán bộ nhân viên đang làm việc tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu bao gồm: (H1) kiểm định mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hành vi xanh của nhân viên ngân hàng; (H2) kiểm định mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng. (H3) kiểm định mối quan hệ giữa hành vi xanh của nhân viên và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng. (H3a) Hành vi xanh của nhân viên đóng vai trò trung gian giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng.
Các câu hỏi khảo sát được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 điểm cho mỗi lựa chọn, đáp viên trả lời dựa trên cảm nhận, đánh giá của bản thân. Sau khi thu thập dữ liệu, bảng câu hỏi được đánh giá sơ bộ qua các tiêu chí như đáp viên có trả lời đầy đủ các câu hỏi không, các câu trả lời có trả lời cùng một mức không, bước tiếp theo nhập liệu vào Excel, sàng lọc những bảng hỏi không đạt yêu cầu và phân tích bằng phần mềm Smart PLS.
Thang đo các khái niệm nghiên cứu chính thức được đánh giá thông qua các hệ số độ tin cậy tổng hợp (CR); Cronbach’s Alpha; phương sai trích bình quân (AVE) và hệ số tải.
4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu
4.2.1 Thảo luận về kết quả kiểm định
Trong luận văn tác giả đã trình bày ba khái niệm nghiên cứu là (1) thực hành ngân hàng xanh, (2) hành vi xanh của nhân viên và (3) hình ảnh thương hiệu xanh của ngân hàng.
- Kết quả kiểm định các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu:
Giả thuyết H1: Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy thực hành ngân hàng xanh (PGB) có tác động tích cực đến hành vi xanh (GB) của nhân viên. Mức độ tác động qua hệ số β = 0,722; p < 0,05; t = 18,885 > 1,96. Do đó, giả thuyết H1 được chấp nhận. Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
Giả thuyết H2: Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy PGB tác động tích cực đến đến hình ảnh thương hiệu xanh. Mức độ tác động qua hệ số β = 0,458; p < 0,05; t = 4,978 > 1,96 và giá trị t-value = lớn hơn 1,96; p-value < 0,05. Do đó, giả thuyết H2 được chấp nhận.
Giả thuyết H3: Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy GB tác động tích cực đến đến hình ảnh thương hiệu xanh. Mức độ tác động qua hệ số β = 0,207; p < 0,05; t = 2,152 > 1,96 và giá trị t-value = lớn hơn 1,96; p-value < 0,05. Do đó, giả thuyết H3 được chấp nhận.
Giả thuyết H3a: Hành vi xanh của nhân viên (GB) đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh (PGB) và hình ảnh thương hiệu xanh (GI). Kết quả ước lượng của mô hình SEM cho thấy GB đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa thực hành ngân hàng xanh (PGB) và hình ảnh thương hiệu xanh (GI). Mức độ tác động qua hệ số β = 0,150; p < 0,05; t = 2,155 > 1,96.
Vì vậy, giả thuyết H3a được chấp nhận.
4.2.2 Thảo luận về việc so sánh kết quả nghiên cứu này với các nghiên cứu trước đây
Giả thuyết H1: Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng môi trường làm việc có liên quan đáng tin cậy đến thái độ và hành vi của nhân viên (Kuenzi và Schminke, 2009). Điều đó có nghĩa là, tùy thuộc vào môi trường làm việc, nhân viên sẽ cư xử như thế nào. Các tổ chức có định hướng xanh sẽ có nhiều nhân viên chấp nhận thực hành ngân hàng xanh hơn và ngược lại. Hành vi xanh tại nơi làm việc của nhân viên được định nghĩa là một loạt các hành vi trong tổ chức có liên quan đến tính bền vững của môi trường hoặc đảm bảo tính bền vững của môi trường (Paillé và MejíaMorelos, 2014). Tuy nhiên nghiên cứu của Ramus và Steger (2000) lại cho rằng không nhất thiết phải luôn có mối quan hệ tích cực giữa các chính sách của tổ chức và hành vi của nhân viên.
Giả thuyết H2: Nghiên cứu của (Chen, 2010) ủng hộ giả thuyết cho rằng có quan hệ cùng chiều giữa thực hành ngân hàng xanh và hình ảnh thương hiệu ngân hàng xanh. Liên quan đến hình ảnh doanh nghiệp xanh, (Mayer và cộng sự, 2012) cũng tin rằng việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp xanh bị từ chối đòi hỏi phải có thái độ tích cực đối với các vấn đề môi trường vì điều này giúp tạo ra một hình ảnh thân thiện với môi trường. chẳng hạn như lập luận của (Grönroos,1984) cho rằng hình ảnh công ty chủ yếu được xây dựng bởi chất lượng kỹ thuật, tức là dịch vụ của khách hàng từ trải nghiệm dịch vụ và chất lượng chức năng, dịch vụ được cung cấp như thế nào. Thực hành ngân hàng xanh được coi là rất quan trọng đối với các ngân hàng, điều này là do khi các ngân hàng tuân thủ các chính sách ngân hàng xanh, điều này sẽ nâng cao danh tiếng của họ. Theo Sharmeen và cộng sự (2019), việc tuân thủ các chính sách ngân hàng xanh nâng cao uy tín về trách nhiệm giải trình và lợi nhuận của các ngân hàng. Truyền đạt các cam kết về môi trường đại diện cho hình ảnh xanh của bất kỳ công ty nào giúp cải thiện đáng kể hình ảnh tổng thể của công ty đó.
Giả thuyết H3 và H3a: Nghiên cứu của Norton và cộng sự (2014) cho rằng, một khi nhân viên công nhận một nơi làm việc thân thiện với môi trường, thì tiêu chuẩn hành vi của nhân viên đó sẽ cư xử theo cách tích cực đối với môi trường. Bên cạnh đó, nghiên cứu Iqbal và cộng sự (2018) cũng đồng ý quan điểm rằng, nếu nhân viên hành động vì môi trường thường làm việc để bảo tồn tính bền vững, tránh gây hại, ảnh hưởng đến người khác từ đó có thể giúp tăng hình ảnh xanh cho tổ chức. Nghiên cứu của Owino và Kwasira (2016) cũng cho rằng, hành vi xanh liên quan đến việc xác định thái độ có thể được sử dụng để phát triển các ý tưởng và sản phẩm sáng tạo xanh và yêu cầu các ngân hàng truyền bá nhận thức về môi trường cho nhân viên của họ để đảm bảo thực hiện các hoạt động liên quan một cách suôn sẻ.
4.3 Hàm ý quản trị Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
Sống xanh hiện nay đang trở thành một xu thế trong việc liên kết giữa sự phát triển bền vững và giá trị cốt lõi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt thì những hoạt động thực hành xanh nhằm tạo ra giá trị chung cho toàn xã hội sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và xây dựng uy tín, từ đó tăng cường lợi ích kinh doanh cho doanh nghiệp. Thực hành xanh đã trở thành một yêu cầu bắt buộc cho tất cả doanh nghiệp vì nó liên quan mật thiết với việc thực hiện trách nhiệm xã hội, nó không chỉ tác động đến vị thế doanh nghiệp trên thị trường mà còn đến ngay trong nội bộ tổ chức, góp phần tăng niềm tin, bản sắc tổ chức và hạnh phúc của nhân viên.
Từ kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy, mối quan hệ cùng chiều giữa thực hành ngân hàng xanh (PGB) và hành vi xanh của nhân viên cũng như hình ảnh thương hiệu xanh. Điều đó có nghĩa các nhà quản trị phải tìm cách phát triển các thực hành ngân hàng xanh cũng như khuyến khích các hành vi xanh của nhân viên. Để làm được điều này, các ngân hàng có thể cân nhắc thực hiện:
Thực thi các chính sách và mục tiêu về môi trường: Để đảm bảo tính hiệu quả của các hoạt động thực thi chính sách môi trường, ngân hàng cần phải đưa ra một kế hoạch hành động chi tiết và thực hiện nó một cách nghiêm túc. Ngoài ra, các chương trình và hoạt động liên quan đến môi trường cần được liên kết với các mục tiêu chiến lược và kinh doanh của ngân hàng để đảm bảo tính bền vững của chúng. Đưa ra các biện pháp cụ thể, được phân bổ thời gian và nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề xuất cũng như xác định người chịu trách nhiệm cho từng biện pháp và đảm bảo rằng họ có đầy đủ kiến thức và tài nguyên để thực hiện nhiệm vụ của mình. Đồng thời phải tạo sự cam kết của tất cả các bên liên quan để đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu trong kế hoạch hành động.
Phát triển tín dụng xanh: Để có thể xác định chính xác các chính sách khuyến khích và ưu đãi cho các dự án xanh, có tác động tích cực đến môi trường thì ngân hàng cần tổ chức các chương trình đào tạo và huấn luyện nhân viên về các vấn đề liên quan đến môi trường và tiết kiệm năng lượng, từ đó mới có thể đề xuất các đề án và giải pháp xanh cho các khách hàng và doanh nghiệp đối tác. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý đến công tác hậu kiểm, đánh giá và giám sát sự tuân thủ các quy định về môi trường của khách hàng trước và sau khi cho vay
Hướng đến các sản phẩm và dịch vụ xanh: Thúc đẩy ngân hàng điện tử và giao dịch trực tuyến nhằm tăng hiệu quả hoạt động giúp khách hàng tiết kiệm được thời gian di chuyển cũng đồng thời giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông và giảm thiểu khí thải ra từ các phương tiện giao thông góp phần bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy các hành vi xanh của nhân viên: Các ngân hàng có thể thúc đẩy hành vi tham gia các hoạt động xanh thông qua các chương trình đào tạo cho nhân viên kiến thức về bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên một cách bền vững. Các khóa đào tạo và huấn luyện về các chủ đề liên quan đến môi trường và tài nguyên bền vững, như quản lý năng lượng, quản lý chất thải, phát triển sản phẩm xanh và các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường; Tạo ra một môi trường làm việc khuyến khích nhân viên tham gia các hoạt động xanh và đóng góp ý tưởng để cải thiện công tác quản lý tài nguyên và môi trường; Đưa ra các chính sách và phúc lợi hấp dẫn để khuyến khích và thưởng cho nhân viên khi có đóng góp vào các hoạt động bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên một cách bền vững; Xây dựng các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức của nhân viên về các vấn đề môi trường. Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
Quy trình vận hành xanh: Khuyến khích những hoạt động giảm thiểu tác động đến môi trường và sử dụng tài nguyên một cách bền vững. Nó có thể bắt đầu từ những hành động nhỏ như xử lý rác thải điện tử; tòa nhà tiết kiệm năng lượng được thực hiện ngay từ khâu thiết kế, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng; giảm bớt thủ tục giấy tờ bằng cách sử dụng các phương tiện thay thế như email, internet, báo cáo điện tử, hệ thống phê duyệt trực tuyến,..
4.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Mặc dù đã cố gắng nhưng nghiên cứu này vẫn tồn tại một số hạn chế sau:
Hạn chế đầu tiên liên quan đến kết quả nghiên cứu từ khảo sát cắt ngang. Do đó các nghiên cứu trong tương lai có thể thực hiện với phương pháp khác để kết quả được khái quát hơn và đánh giá xem liệu mô hình hiện tại có phù hợp hay không hoặc liệu mô hình khác có phù hợp hơn không.
Hạn chế thứ hai của nghiên cứu là phạm vi địa lý của mẫu nghiên cứu. Trong các nghiên cứu tương lai, phạm vi chọn mẫu và cỡ mẫu có thể được tăng lên để có cái nhìn tổng quan hơn về thực hành ngân hàng xanh tại Việt Nam. Nghiên cứu có thể mở rộng sang thực hành xanh trong các lĩnh vực khác để có những sự so sánh và cái nhìn sâu sắc hơn.
Cuối cùng, thực hành xanh gồm nhiều yếu tố, điều này cho thấy rằng các yếu tố khác (không được thảo luận trong nghiên cứu này) cũng có thể quan trọng trong việc hoàn thiện khái niệm thực hành xanh. Để hiểu rõ hơn, nghiên cứu trong tương lai nên xem xét mở rộng các yếu tố chưa được đề cập trong nghiên cứu này.
Tóm tắt chương 4
Chương bốn đã tổng kết lại toàn bộ quá trình nghiên cứu từ nghiên cứu định tính đến nghiên cứu định lượng chính thức. Từ đó tóm tắt các kết quả đạt được cũng như những điểm còn hạn chế. Tác giả cũng trình bày những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn của đề tài. Cuối cùng, kết quả từ luận văn mang đến một số hàm ý quản trị và định hướng cho các nghiên cứu về chủ đề này trong tương lai. Luận văn: Kết quả nghiên cứu giữa thực hành ngân hàng xanh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

