Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập hiện nay thì du lịch là một trong những ngành kinh tế trọng điểm trong việc phát triển kinh tế của đất nước nói chung; và cũng là một lĩnh vực kinh tế quan trọng của Đăk Nông nói riêng. Theo tinh thần Nghị quyết số 30/2018/NQ-HĐND, ngày 23/12/2018, của HĐND tỉnh Đắk Nông thông qua “Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2018 – 2023 tỉnh Đắk Nông” thì mục tiêu phát triển du lịch Đắk Nông đến năm 2020 là đưa du lịch trở thành ngành kinh tế động lực, góp phần vào tăng trưởng kinh tế – xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng GDP du lịch, dịch vụ, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và cộng đồng dân cư, tăng nguồn thu ngân sách; hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển.

Du lịch không chỉ góp phần vào tăng trưởng kinh tế, mở rộng mối quan hệ giao lưu hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới, giữa các địa phương với nhau; mà còn là cầu nối giữa các nền văn hóa với nhau. Để sự giao lưu đó được thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả cần phải quảng bá về hình ảnh đất nước bằng nhiều kênh thông tin khác nhau. Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch là một hoạt động vô cùng quan trọng và có ý nghĩa đối với quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam nói chung và hình ảnh Đắk Nông nói riêng. Xúc tiến là công cụ để thu hút khách du lịch đến với điểm du lịch.

Chính vì vậy, việc đẩy mạnh công tác xúc tiến điểm đến du lịch được coi là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của du lịch Việt Nam nói chung và của tỉnh Đắk Nông nói riêng.

Đắk Nông là một vùng đất được thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều thắng cảnh hùng vĩ, hữu tình. Đặc biệt, tháng 12/2022, các nhà khoa học Nhật Bản cùng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam công bố thông tin ban đầu về một số hang động núi lửa dài nhất Đông Nam Á tại huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Mặc dù được tạo hóa ban cho những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, song lượng khách du lịch đến với địa bàn tỉnh Đắk Nông còn rất ít. Thực tế đó một phần do các sản phẩm du lịch của Đắk Nông còn nghèo nàn, không có tính hấp dẫn lôi cuốn du khách; nhưng nguyên nhân chính và quan trọng nhất là do công tác quảng bá xúc tiến về hình ảnh du lịch Đăk Nông còn yếu, mờ nhạt.

Nhiều người dân tại các địa phương khác còn không biết địa danh Đăk Nông. Bên cạnh đó, nhu cầu của khách du lịch thường rất đa dạng, phong phú; và  thường không trung thành với bất kỳ một sản phẩm du lịch nào. Vì vậy, việc xúc tiến du lịch là hết sức cần thiết, phải luôn nhạy bén, linh hoạt theo vòng xoay của nhu cầu du lịch.

Từ những nguyên nhân cơ bản trên cho thấy việc nghiên cứu ” Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông” là việc làm cần thiết, nhằm làm rõ những nguyên nhân và đề ra các giải pháp phù hợp giúp tăng cường hoạt đông xúc tiến điểm đến trên địa bàn Tỉnh trong thời gian tới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Lịch sử nghiên cứu

Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết trong và ngoài nước đề cập và liên quan đến hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch. Một số công trình nghiên cứu về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch ở nước ngoài như Lawton và Weaver (2013) “ Tourism management”, Stven Pike (2016) “ Destination marketing”, Simon Hudson (2016) “ Tourism Hospitality Marketing”  Philip Kotler, Bowen và Markens (2011) “ Marketing for hospitality and Tourism”. Hầu hết các công trình nghiên cứu của các tác giả trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các hoạt động Marketing trong du lịch, các tác giả đã đưa ra các luận điểm về du lịch, điểm đến du lịch và các chiến lược Marketing. Các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu nghiên cứu về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của một quốc gia hay một địa phương cụ thể.

Ở Việt Nam, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu cũng như những tài liệu nghiên cứu liên quan đến hoạt động xúc tiến du lịch như: Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Đào Thị Ngọc Lan ( 2019 ) “ Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2013-2018”. Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả cũng đã hệ thống hóa được các khái niệm về điểm đến du lịch và xúc tiến điểm đến du lịch, tuy nhiên trong luận văn này tác giả chỉ chủ yếu nghiên cứu về các hoạt động Marketing dưới gốc độ của một doanh nghiệp;

Bùi Văn Mạnh ( 2018) “ Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Ninh Bình”; cũng như các tác giả khác, trong công trình nghiên cứu của mình tác giả cũng đã đưa ra các cơ sở lý luận cụ thể về điểm đến du lịch và xúc tiến điểm đến du lịch. Bên cạnh đó tác giả còn nêu ra vai trò và nhiệm vụ của tổ chức xúc tiến điểm đến du lịch địa phương. Công trình nghiên cứu này cũng đã tập trung nghiên cứu hoạt hoạt động Marketing với các hoạt động xúc tiến cụ thể theo định hướng chiến lược xúc tiến hỗn hợp của một doanh nghiệp.

Lê Thành Công ( 2018) “ Hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc, Thực trạng và giải pháp”; Trần Thị Thủy ( 2019) “ Hoạt động xúc tiến điểm đến cấp tỉnh ở Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An”; Phan Minh Châu ( 2021) “ Định hướng xúc tiến quảng bá du lịch của huyện đảo Phú Quốc, Kiên Giang”. Các luận văn trên cũng đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về điểm đến du lịch và xúc tiến điểm đến du lịch, đồng thời cũng tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến ở một số điểm đến du lịch. Cách tiếp cận chung của các luận văn là hệ thống các vấn đề lý thuyết về điểm đến và xúc tiến điểm đến để làm cơ sở phục vụ nghiên cứu thực trạng hoạt động xúc tiến tại các điểm đến du lịch. Các công trình trên tập trung vào một phân đoạn thị trường cụ thể nhằm xây dựng các chiến lược cụ thể cho hoạt động xúc tiến của mình.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu và đề cập đến các vấn đề về maketing và tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch, tạo tiền đề lý thuyết và thực tế cho tác giả nghiên cứu về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Đắk Nông. Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu nghiên cứu các hoạt động Marketing dưới góc độ của một doanh nghiệp hoặc theo các nội dung xúc tiến điểm đến theo các tài liệu quốc tế mà chưa đi sâu nghiên cứu dưới gốc độ của một nhà quản lý nhà nước thực hiện hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch dựa theo Luật Du lịch Việt Nam.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tail “ Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông” là đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến của du lịch tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

  • Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về xúc tiến điểm đến du lịch.
  • Nghiên cứu thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của du lịch Đắk Nông.
  • Làm rõ những mặt mạnh cũng như những yếu kém của hoạt đồng xúc tiến điểm đến du lịch tại địa phương.
  • Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch của Đắk Nông trong thời gian tới.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu các hoạt động xúc tiến điểm đến của ngành du lịch tỉnh Đắk Nông.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch do cơ quan quản lý, xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông thực hiện.
  • Về thời gian: Số liệu thống kê và các vấn đề liên quan được sử dụng trong giai đoạn 2018-2023. Các giải pháp đến năm 2020.
  • Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

5. Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp thu thập số liệu: 

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các thông tin dữ liệu về hoạt động du lịch của tỉnh Đắk Nông từ nguồn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông, Cục Thống kê, Trung tâm Văn hóa, Trung tâm Xúc tiến thương mại, Sở Kế hoạch và Đầu tư. Ngoài ra, các dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ các nguồn sách, báo, tạp chí, các giáo trình trong nước và nước ngoài, các trang Web của du lịch thế giới, Việt Nam và cơ quan quản lý du lịch địa phương, các báo cáo, các đề tài nghiên cứu khoa học về hoạt động xúc tiến điểm đến, …Các thông tin và số liệu chủ yếu được thu thập từ năm 2018 đến năm 2023 phục vụ cho việc phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến ở Chương 2.

Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

  • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Thông qua phỏng vấn trực tiếp từ cán bộ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm xúc tiến thương mại, Trung tâm văn hóa, các cơ quan quản lý du lịch tại các điểm đến du lịch địa phương.

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Khảo sát khách du lịch trong nước và quốc tế tại các điểm đến du lịch, các khách sạn, nhà nghỉ về cách thức tiếp cận thông tin, hình ảnh du lịch Đắk Nông thông qua các kênh thông tin quảng bá xúc tiến nào, cảm nhận của du khách về hình ảnh thực và quảng cáo như thế nào, có để lại được ấn tượng nào trong lòng du khách hay không.

Thời gian tiến hành điều tra từ 09/2023 đến 03/2016. Tổng số bảng hỏi khách du lịch được tiến hành điều tra tại các điểm du lịch là 192, trong đó khách du lịch trong nước là 100, khách du lịch quốc tế là 92. Thời gian tiến hành điều tra được chia làm 3 đợt, đợt 1 tiến hành điều tra tại các điểm du lịch nổi tiếng, đợt 2 tiến hành điều tra tại các cơ sở lưu trú và đợt 3 tiến hành điều tra tại các cơ sở ăn uống.

  • Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn các cán bộ quản lý du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông, các cơ quan quản lý khu, điểm du lịch và các hướng dẫn viên du lịch.

5.2 Phương pháp xử lý số liệu: 

Tổng hợp, phân tích các thông tin số liệu bằng phương pháp thống kê, quy nạp… để từ đó tổng hợp lại, rút ra những kết luận, đánh giá về hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch Đắk Nông.

6. Những đóng góp chính của luận văn

Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch không phải là một chủ đề mới, tuy nhiên đối với du lịch tỉnh Đắk Nông đề tài “ Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông” là một đề tài có một số đóng góp mới cho hoạt động du lịch tỉnh Đắk Nông nói chung và hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông nói riêng. Cụ thể như sau:

  • Tổng hợp có chọn lọc một số vấn đề lý luận về xúc tiến điểm đến du lịch, và vận dụng vào thực tiễn tại tỉnh Đắk Nông.
  • Đề tài đã phân tích chỉ ra những mặt hạn chế và tích cực của hoạt động xúc tiến điểm đến của du lịch Đắk Nông. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.
  • Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch trong thời gian tới.

7. Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn này gồm 3 chương :

  • Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về xúc tiến điểm đến du lịch
  • Chương 2. Thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
  • Chương 3. Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông .

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỂN VỀ XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Một số khái niệm 

1.1.1.1. Du lịch Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Hiện nay, khái niệm du lịch rất phổ biến và đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm riêng của mình. Đúng như Giáo sư, Tiến sỹ Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định: “ Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”[6. Tr 6]. Trên thực tế, mỗi quốc gia cũng có quan niệm và định nghĩa khác nhau về du lịch. Theo Luật Du lịch Việt Nam thì “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[15. Tr 6]. Tuy nhiên, đây chỉ là một khái niệm chung chung, khách quan về hoạt động du lịch. Thực tế, hiện nay, có thể thấy du lịch là một hiện tượng kinh tế – xã hội phức tạp. Do đó, khái niệm của Luật Du lịch Việt Nam là chưa bao hàm hết các ý. Để đưa ra được định nghĩa vừa mang tính chất bao quát, vừa mang tính chất lý luận và thực tiễn thì đòi hỏi khái niệm du lịch phải được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau như:

Tiếp cận trên góc độ người đi du lịch, Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị. Với họ du lịch như một cơ hội để tìm kiếm những kinh nghiệm sống và sự thỏa mãn một số các nhu cầu về vật chất và tinh thần của mình.

Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch, Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du lịch. Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như là một cơ hội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách, đồng thời thông qua đó đạt được mục đích số một của mình là tối đa hóa lợi nhuận.

Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương, Du lịch được hiểu là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đở việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể. Du lịch chính là cơ hội để bán các sản phẩm của địa phương…từ đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cư dân địa phương.

Tiếp cận ở góc độ cộng đồng dân cư sở tại, Du lịch là một hiện tượng kinh tế – xã hội. Du lịch không chỉ đem lại cho cư dân địa phương cơ hội để tìm hiểu về nền văn hóa và phong cách của những địa phương khác, của người nước ngoài; mà còn là cơ hội để tìm kiếm việc làm, phát huy truyền thống vốn có của địa phương mình.

Nhìn chung, du lịch là một hiện tượng kinh tế – xã hội. Du lịch không chỉ là sự di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác với nhiều mục đích khác nhau, ngoài mục đích kiếm tiền, mà du lịch còn là một ngành kinh tế mang lại doanh thu cho các nhà kinh doanh du lịch nói riêng và các nhà kinh doanh các ngành kinh tế có liên quan. Bên cạnh đó, hoạt đông du lịch còn đem lại lợi ích về chính trị – xã hội cho quốc gia làm du lịch, cho cộng đồng dân cư địa phương và  cho bản thân doanh nghiệp.

Như vậy, có thể thấy đi du lịch không chỉ là cách để con người có thể thỏa mãn những nhu cầu cá nhân của mình, mà còn là hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa mang đặc điểm của một ngành kinh tế, vừa mang đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội nói chung của một quốc gia.

1.1.1.2. Điểm đến du lịch Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Khái niệm điểm đến du lịch bắt nguồn từ khái niệm điểm du lịch. Theo khoản 8, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”. Điểm du lịch được phân ra hai loại: Điểm du lịch quốc gia và Điểm du lịch địa phương. Để được công nhận điểm du lịch của một Quốc gia hay một địa phương cần phải đảm bảo các quy định theo điều 7 và 9, chương III  về “khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch”của Nghị định số 92/2015/NĐ-CP  – Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn.

  • Có khả năng bảo đảm phục vụ tối thiểu một trăm nghìn lượt khách du lịch một năm đối với Điểm du lịch quốc gia và tối thiểu mười nghìn lượt khách du lịch một năm đối với Điểm du lịch địa phương.
  • Có đường giao thông thuận tiện đến điểm du lịch, có các dịch vụ: bãi đỗ xe, có khu vệ sinh công cộng, phòng cháy chữa cháy, cấp, thoát nước, thông tin liên lạc và các dịch vụ khác đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch.
  • Đáp ứng các điều kiện về bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật.

Từ khái niệm điểm du lịch và những quy định trên ta có thể thấy định nghĩa về điểm đến du lịch có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO: “Một điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm. Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường. Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”[32.Tr 12]. Hay theo Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa: “Điểm đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý đường biên giới về chính trị, hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của du khách”[18.tr.341]. Trong tập bài giảng môn Marketing điểm đến của PGS.TS. Trần Thị Minh Hòa (2020) thì: “Điểm đến du lịch (Destination) là những điểm có tài nguyên du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững”.

 Dựa vào quan điểm trên ta có thể thấy rằng điểm đến du lịch là không gian của một vùng hay một lãnh thổ có tài nguyên du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch. Vậy, điểm đến du lịch có thể là một không gian rộng như một quốc gia, lục địa… hay chỉ là một tỉnh, thành phố hoặc nhỏ hơn nó chỉ là một làng hay một khách sạn…

1.1.2. Xúc tiến điểm đến du lịch Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

1.1.2.1. Khái niệm

Thuật ngữ “xúc tiến” không còn quá xa lạ đối với chúng ta, nói đến xúc tiến nhiều người sẽ hiểu đó là hoạt động tuyên truyền quảng bá, đưa hình ảnh một sản phẩm nào đó đến với người tiêu dùng.

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động xúc tiến du lịch. Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm xúc tiến du lịch theo Khoản 17, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam, “Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch”. Khái niệm này đã chỉ ra rõ hoạt động xúc tiến đó là hoạt động tuyên truyền quảng bá nhằm thúc đẩy cơ hội phát triển cho du lịch. Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến du lịch còn là công cụ để kêu gọi cư dân địa phương đồng thuận trong cả nhận thức và cả hành động để quảng bá du lịch đến khách du lịch. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch không chỉ là hoạt động đưa hình ảnh sản phẩm du lịch của địa phương đến du khách, mà còn là sợi dây liên kết giữa cư dân địa phương và sản phẩm du lịch; giúp cư dân địa phương nhận thức được giá trị tài nguyên của địa phương và khai thác chúng một cách hợp lí.

Ngoài ra còn có rất nhiều khái niệm về xúc tiến du lịch của nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài. Những quan điểm này nêu rõ mục đích chính của hoạt động xúc tiến là gì, và đối tượng mà hoạt động xúc tiến nhắm đến là ai. Tiêu biểu như quan niệm về xúc tiến du lịch của Lawton và Weaver: “ Xúc tiến du lịch là cố gắng làm gia tăng nhu cầu bằng truyền tải một hình ảnh tích cực về một sản phẩm tới các khách hàng tiềm năng thông qua những đòi hỏi, nhu cầu, thị hiếu, giá trị và thái độ đã biết của thị trường hoặc một phân đoạn thị trường mục tiêu nào đó”[33, tr. 14]. Hay quan niệm về xúc tiến du lịch của Simon Hudson, “ Xúc tiến du lịch là một thành phần trong marketing du lịch hỗn hợp, nó có vai trò thuyết phục khách hàng tiềm năng về những lợi ích của việc hoặc sử dụng các sản phẩm du lịch hoặc dịch vụ của một tổ chức nào đó”[34, tr. 255]. Tuy nhiên, những quan điểm này chỉ giới hạn ở mục đích chính của hoạt động xúc tiến là hướng đến khách hàng mục tiêu, làm sao để khách hàng chọn và sử dụng sản phẩm du lịch của địa phương mình.

Bên cạnh đó, quan điểm quản trị điểm đến theo lý thuyết Marketing thì “ Xúc tiến du lịch là việc thu hút khách hàng trả tiền bằng cách thuyết phục họ rằng điểm đến với các dịch vụ hiện hữu, các điểm du lịch hấp dẫn và các lợi ích tương ứng phù hợp với những gì họ mong muốn hơn so với tất cả các điểm đến khác”[31, tr. 12].

1.1.2.2. Quy trình của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch

Hoạt động xúc tiến du lịch của một quốc gia hay địa phương đều phải tuân thủ theo những quy định cụ thể của Chính phủ. Việc thực hiện hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch được nhà nước quy định trong cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và địa phương với các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch.

Theo Điều 81, Luật Du lịch quy định quy trình hoạt động xúc tiến du lịch đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương, cụ thể như sau: Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch quốc gia; chủ trì, phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, có sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài; điều phối các hoạt động xúc tiến du lịch liên vùng, liên địa phương.
  2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch của địa phương; tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến du lịch tại địa phương; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương và ở địa phương khác trong hoạt động xúc tiến du lịch.

1.1.2.3. Nội dung xúc tiến điểm đến du lịch

Xúc tiến du lịch là một thành phần trong marketing du lịch hỗn hợp ( promotion). Do đó, mỗi địa phương có thể chọn cho mình những công cụ xúc tiến phù hợp với địa phương mình. Tuy nhiên, Luật Du Lịch Việt Nam đã hướng dẫn cụ thể các hoạt động xúc tiến du lịch với 4 nội dung chính sau:

  • Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về điểm đến

Đây là nội dung chính và quan trọng nhất trong hoạt động nhằm thu hút khách du lịch đến với một địa bàn. Mỗi địa phương có thể chọn cho mình các công cụ xúc tiến khác nhau để tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước, con người, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di tích văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hóa dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế;

  • Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh  lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc;

Song song với công tác tuyên truyền giới thiệu về tài nguyên du lịch của địa phương là việc kêu gọi cư dân địa phương cùng với khách du lịch nâng cao nhận thức về các lợi ích xã hội mà du lịch mang lại. Bên cạnh đó, địa phương cần phải áp dụng các chính sách phát triển điểm đến du lịch để xây dựng một môi trường du lịch văn minh, lành mạnh và an toàn đối với cả khách du lịch và cư dân địa phương. Và một điều quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hài lòng của khách du lịch đó chính là tinh thần mến khách, thân thiện. Chính vì vậy, tích cực phát huy truyền thống mến khách của dân tộc là một việc làm hết sức cần thiết đối với cư dân địa phương. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

  • Huy động các nguồn lực

Để biến tài nguyên thành một điểm đến du lịch cần phải có các chính sách đầu tư xây dựng, cải tạo chất lượng của điểm đến du lịch. Chính vì vậy, việc huy động các nguồn lực khác nhau cả trong nước và nước ngoài là một việc hết sức cần thiết và cấp bách. Từ đó, các nhà đầu tư sẽ đầu tư cho phát triển các đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch đa dạng, độc đáo, có chất lượng cao nhưng vẫn phải đảm bảo mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc trong cả nước, từng vùng và từng địa phương; phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch;

  • Nghiên cứu thị trường, xây dựng sản phẩm du lịch

Để phù hợp với thị hiếu khách du lịch, thì việc nghiên cứu thị trường là một việc làm hết sức cần thiết của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, từ đó xây dựng nên các sản phẩm du lịch sao cho đáp ứng được nhu cầu của khách. Tuy nhiên, để sản phẩm du lịch đến được với khách hàng thì phải sử dụng các công cụ khác nhau, đặc biệt là thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, giới thiệu, nhằm đưa các sản phẩm du lịch đến với khách hàng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.

1.1.2.4. Các hình thức xúc tiến du lịch

Các hình thức xúc tiến điểm đến du lịch được lựa chọn phù hợp với nội dung của hoạt động xúc tiến du lịch theo quy định của Luật Du lịch Việt Nam. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Trong đó, các hình thức xúc tiến du lịch được quy định rõ theo Nghi định 92/2015/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch, có tám hình thức xúc tiến du lịch cụ thể như sau:

 Một là, tuyên truyền, quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và nước ngoài.

Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng là một hình thức được sử dụng rộng rãi trong hoạt động xúc tiến của một quốc gia hay một địa phương nhằm tuyên truyền, quảng bá về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hoá dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế;

Quảng cáo là một khái niệm mà có rất nhiều quan niệm về nó tùy từng mục đích, động cơ, hoàn cảnh mà người ta lựa chọn cho mình một khái niệm nhất định. Trong marketing du lịch, quảng cáo là một nghệ thuật giới thiệu hàng hóa hay dịch vụ nhằm tới những thị trường mục tiêu nhất định được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông và phải trả tiền. Theo Simon Hudson, quảng cáo có thể được xem là một hình thức truyền thông giới thiệu các ý tưởng, hàng hóa hoặc dịch vụ, do một tổ chức hoặc cá nhân nào đó đứng ra trả tiền thực hiện bằng cách sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để thuyết phục hoặc ảnh hưởng tới một nhóm công chúng mục tiêu. Quảng cáo điểm đến du lịch là hoạt động của các cá nhân và tổ chức phải trả tiền để sử dụng các phương tiện, kênh truyền thông khác nhau để giới thiệu đến các thị trường khách về điểm đến, sản phẩm, dịch vụ nhất định làm gia tăng số lượng khách từ các thị trường này đối với điểm đến.

Với mục đích làm sao để đưa hình ảnh các sản phẩm du lịch đến với khách hàng một cách nhanh chóng, hấp dẫn, lôi cuốn, dễ hiểu… từ đó làm cho khách hàng hiểu hơn về sản phẩm, tò mò và muốn sử dụng sản phẩm.

Hiện nay, mô hình AIDA là mô hình quảng cáo trong du lịch được sửu dụng rộng rãi nhất. Theo mô hình này, điều quan trọng đầu tiên là quảng cáo phải tạo ra được sự chú ý của người xem ( Attention); tiếp đến là thu hút được sự quan tâm, thích thú của kháng giả ( Interest); sau đó khích thích được ham muốn khát khao ( Desire); và cuối cùng là thúc đẩy hành động mua tiêu dùng của sản phẩm của công chúng. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Bằng việc sử dụng nhiều phương tiện thông tin truyền thông khác nhau một cách hợp lý không chỉ giúp cho quảng cáo nhanh chóng đạt được mục tiêu của mình mà còn tiết kiệm được chi phí. Thông qua các phương tiện truyền thông như:

  • Báo chí là một công cụ quảng cáo được sử dụng nhiều nhất vào thập niên 90, là một kênh thông tin rất dễ tiếp cận, được xuất bản thường xuyên với giá bình dân, do đó mọi thành phần trong xã hội đều có thể tiếp cận được. Tuy nhiên, báo lại có thời gian lưu hành ngắn, chất lượng thấp cũng là những bất lợi của hình thức quảng cáo trên báo chí.
  • Phát thanh là kênh thông tin lôi cuốn người nghe bằng giọng nói, nó có tình linh hoạt cao và đặc biệt là chi phí thấp.
  • Truyền hình là một hình thức quảng cáo vô cùng hấp dẫn đối với kháng giả, nó kích thích cả 3 giác quan của con người: khứu giác, thính giác và cả vị giác, Do đó hình thức quảng cáo này thu hút được rất nhiều người, tuy nhiên chi phí rất đắt và không được linh hoạt.
  • Tạp chí mặc dù được xuất bản theo định kỳ và giá cũng đắt hơn so với báo chí nên số lượng công chúng được tiếp cận với tạp chí bị hạn chế nhưng tạp chí là một công cụ quảng cáo hấp dẫn, có hình ảnh đẹp, chất lượng tốt nên công chúng có thể lưu trữ lại và cũng dễ dàng mang theo khi đi du lịch.
  • Tập gấp, brochure là một sứ giả quang trọng trong việc truyền thông điệp đến với người tiêu dùng. Với lợi thế nhỏ gọn, thiết kế đẹp mắt, lai dễ dàng mang theo nên được khách du lịch rất ưa chuộng.
  • Trang web là hình thức quảng cáo được ra đời sau so với các hình thức quảng cáo khác nhưng nó nhanh chóng khẳng định lợi thế của mình. Hiện nay, quảng cáo trên các trang web được sử dụng rộng rãi, thông tin được lan truyền nhanh đến chóng mặt, và công chúng có thể xem các thông tin quảng cáo ở bất kỳ đâu, vào mọi thời điểm. Tuy nhiên cúng có một bất lợi đó là sự phục thuộc vào công nghệ do đó những nơi không có điện sẽ không thể tiếp cận được.

Hai là, xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch.

Theo Thông tư 89/2016/TT-BVHTTDL, Sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch bao gồm tranh, ảnh, biển quảng cáo, sách, tờ rơi, tập gấp, bản đồ, băng đĩa hình, âm thanh, băng rôn, cờ phướn và đồ lưu niệm được sản xuất, phát hành nhằm tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam.

Với công nghệ hiện đại như ngày nay, thì việc phát hành các ấn phẩm, tài liệu hấp dẫn đẹp mắt với kinh phí thấp không còn quá xa lạ. Đối với hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch, có thể chia ra làm hai loại: tài liệu được thiết kế và in trên giấy và tài liệu thiết kế trên vật phẩm điện tử. Một số sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch tiêu biểu như:

  • Sách mỏng về du lịch: đây là một loại ấn phẩm có thiết kế nhỏ gọn như một cuốn sách mini, du khách có thể bỏ túi mang theo khi đi du lịch. Ưu điểm của loại ấn phẩm này là rất tiện dụng, cung cấp thông tin chi tiết về điểm đến và đặc biệt là thời gian lưu trữ lâu nên rất thuận lợi cho công tác xúc tiến.
  • Tờ rơi tập gấp: là một loại ấn phẩm với nội dung phong phú cả về hình ảnh và thông tin chi tiết về điểm đến. Loại ấn phẩm này còn tiện lợi hơn cả sách mỏng về du lịch, nó rất mỏng và nhỏ gọn.  
  • Băng đĩa: là loại ấn phẩm mới xuất hiện sau này, là một loại ấn phẩm truyền thông hiện đại với hình ảnh và âm thanh sống động. Nó không chỉ tuyên truyền quảng bá về tài nguyên tự nhiên của điểm đến mà còn cho du khách hiểu được phong tục tập quán, cũng như những nét văn hóa đặc trưng của điểm đến.

Nội dung được sử dụng trong các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch phải phù hợp với cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia đã được công bố và phù hợp với các quy định của pháp luật chuyên ngành về quảng cáo, xuất bản phẩm.

Bên cạnh đó tiêu đề, biểu tượng sử dụng cho hoạt động xúc tiến trong các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch do Tổng cục Du lịch quy định. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Ba là, công bố các sản phẩm du lịch mới.

Để có được một sản phẩm du lịch mới, các nhà quản lý về du lịch kết hợp với các nhà kinh doanh du lịch phải tiến hành nghiên cứu thị trường và xây dựng sản phẩm du lịch sao cho phù hợp với tài nguyên của địa phương, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của khách du lịch. Từ đó mới xây dựng nên một sản phẩm du lịch mới phù hợp với quy hoạch du lịch của cả nước nói chung, và của địa phương nói riêng.

Tuy nhiên, một sản phẩm du lịch mới muốn đến được tay khách hàng đòi hỏi các nhà quản lý cũng như các nhà làm du lịch phải công bố sản phẩm bằng nhiều hình thức để quảng bá rộng rãi hình ảnh sản phẩm đến với người tiêu dùng.

Một số hình thức có thể sử dụng cho hoạt động xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch mới như tổ chức một cuộc hội thảo, một lễ công bố tới các doanh nghiệp, các cơ quan thông tấn báo chí…

Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch mới còn được giới thiệu tại các sự kiện, hội chợ, triển lãm được tổ chức tại địa phương hay các tỉnh thành trong cả nước; trong nước hay quốc tế.

Ngoài ra, các sản phẩm du lịch mới còn phải được công bố rộng rãi đến người dân bản địa bằng nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau như thông qua trang phát thanh truyền hình địa phương, báo chí…Trong đó, nội dung tuyên truyền quảng bá về sản phẩm du lịch mới phải giúp người dân hiểu được tầm quan trọng của du lịch đối với nền kinh tế nói chung và của người dân nói riêng.

Từ đó, nâng cao nhận thức xã hội về du lịch của cộng đồng dân cư sở tại, tạo được một môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn. Phát huy tối đa truyền thống mến khách của dân tộc.

Bốn là, khảo sát điểm đến.

Chương trình khảo sát điểm đến được tổ chức cho các cơ quan thông tấn báo chí, hãng lữ hành, nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nhằm mục đích tuyên truyền, quảng bá và tìm kiếm cơ hội thúc đẩy phát triển du lịch Việt Nam.

Tổng cục Du lịch, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch trực tiếp tổ chức hoặc chỉ định đơn vị tổ chức chương trình khảo sát điểm đến; lựa chọn đối tượng tham gia chương trình khảo sát điểm đến phù hợp với kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; theo dõi kết quả phản hồi sau chuyến khảo sát.

Trách nhiệm của đơn vị tổ chức chương trình khảo sát điểm đến:

  • Xây dựng chương trình khảo sát phù hợp với mục tiêu, chiến lược, kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch;
  • Triển khai các nội dung chương trình khảo sát theo quy định của pháp luật hiện hành;
  • Gửi báo cáo kết quả chuyến khảo sát tới cơ quan chỉ định thực hiện chậm nhất mười ngày sau khi kết thúc chương trình khảo sát. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Các doanh nghiệp du lịch, các địa phương liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn khảo sát.

Năm là tổ chức và thực hiện các chương trình  sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm, hoạt động thông tin du lịch (ở trong nước và nước ngoài) của quốc gia, khu vực và địa phương.

Hội chợ, triển lãm du lịch là hình thức xúc tiến điểm đến du lịch được sử dụng hầu hết ngay cả trong nước lẫn quốc tế. Đây là một kênh thông tin giúp người có nhu cầu tiếp cận trực tiếp với thông tin, và cũng là một phương tiện để tiếp cận nhu cầu ở đại lý du lịch. Là nơi địa phương giới thiệu về các sản phẩm du lịch của địa phương mình, và cũng là nơi các nhà điều hành du lịch tìm đến để mua các chương trình du lịch mới cung cấp cho khách hàng của họ.

Hội chợ, triển lãm còn là nơi gặp gỡ, giao thương, trao đổi của những nhà kinh doanh du lịch chuyên nghiệp ( các công ty lữ hành). Mục đích chính của hội chợ, triển lãm là tạo điều kiện thuận lợi cho cung cầu gặp nhau và thực hiện giao dịch.

Bên cạnh đó, đây không những là nơi thu hút các nhà đầu tư tới địa phương mình, mà còn là môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp giao lưu học hỏi lẫn nhau; và còn là nơi tìm hiểu chiến lược kinh doanh của đối thủ.

Sáu là, hợp tác quốc tế về xúc tiến du lịch. 

Hoạt động xúc tiến du lịch không chỉ gói gọn trong khuông khổ một quốc gia mà cần phải có sự hợp tác quốc tế về công tác xúc tiến du lịch thì ngành du lịch của một quốc gia nói chung hay của một địa phương nói riêng mới có thể phát triển được.

Hợp tác quốc tế là một môi trường thuận lợi để giao lưu học hỏi kinh nghiệm, các nhà quản lý du lịch có cơ hội thảo luận, trao đổi chính sách quản lý và phát triển du lịch, chia sẻ kinh nghiệm và bàn biện pháp thúc đẩy liên kết xây dựng, quảng bá các sản phẩm du lịch mới, các tuyến du lịch liên quốc gia, nhằm góp phần nâng cao chất lượng du lịch, quảng bá liên vùng thành một điểm đến chung hấp dẫn.

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế còn là nơi để các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị thiết thực của doanh nghiệp nói chung và cư dân địa phương nói riêng về cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, những biện pháp khả thi nhằm tăng cường hợp tác du lịch giữa các quốc gia với nhau.

Hơn nữa, môi trường hợp tác quốc tế là môi trường thuận lợi để huy động các nguồn lực nước ngoài hợp tác, bắt tay đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật du lịch, đa dạng hóa các loại hình, sản phẩm du lịch, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch theo tiêu chuẩn quốc tế. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Bảy là, lập văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài.

Thực hiện công tác xúc tiến du lịch dưới hình thức đặt Văn phòng hay Đại diện du lịch ở nước ngoài để làm công tác xúc tiến, quảng bá, nghiên cứu thị trường thu hút khách vào nước mình, coi đây là phương tiện quan trọng xúc tiến quốc tế hữu hiệu nhất.

Một quốc gia muốn phát triển du lịch cần phải có các đại diện du lịch của mình ở nước ngoài, là nơi có thị trường trọng điểm để xúc tiến thu hút khách du lịch quốc tế đến với quốc gia mình. Các văn phòng đại diện không chỉ có nhiệm vụ là cung cấp thông tin cho khách hàng mà còn là đơn vị được giao nhiệm vụ nghiên cứu nhu cầu thị hiếu khách du lịch nước sở tại, xác định được đối tượng khách hàng mục tiêu. Bên cạnh đó, văn phòng đại diện còn là đơn vị xác định đối thủ cạnh tranh từ đó đưa ra các chiến lược phát triển phù hợp.

Thông qua các văn phòng đại diện ở nước ngoài, khách du lịch quốc tế có thể biết đến du lịch của các quốc gia khác một cách dễ dàng, đồng thời việc tìm kiếm thông tin về các điểm du lịch cũng thuận lợi hơn. Ngoài ra, thông qua các văn phòng đại diện khách du lịch có thể an tâm tham khảo và mua các tour du lịch chất lượng mà không cần phải tốn nhiều thời gian để tìm kiếm thông tin, tiết kiệm chi phí đi lại.

Tám là, các hình thức xúc tiến du lịch khác.

Ngoài các hình thức xúc tiến du lịch trên hoạt động xúc tiến du lịch cũng có thể tiến hành bằng các hình thức xúc tiến khác sao cho phù hợp với nội dung và quy định của Luật Du lịch.

1.2. Kinh nghiệm thực tiễn. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

1.2.1. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Những thành công trong hoạt động xúc tiến du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh:

Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học quan trọng, đồng thời là một đầu mối giao lưu và hội nhập của cả nước. Với lợi thế và tiềm năng phong phú, trong nhiều năm qua, du lịch luôn được TP. HCM xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp hiệu quả cho sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố và cả nước. Nhằm quảng bá hình ảnh “Thành phố Hồ Chí Minh – điểm đến thân thiện, hấp dẫn, an toàn” đến du khách, TP. HCM đã tập trung đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch ở cả trong và ngoài nước với những thành quả đáng ghi nhận.

Theo đó, TP. HCM đã tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong nước thông qua việc tổ chức các sự kiện du lịch thường niên tại Thành phố như: lễ đón đoàn khách du lịch quốc tế đầu tiên đến TP. HCM năm 2023; lễ hội áo dài; ngày hội du lịch Thành phố Hồ Chí Minh; liên hoan ẩm thực đất phương Nam; lễ hội trái cây Nam bộ; Hội chợ Du lịch quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh (ITE-HCMC); liên hoan món ngon các nước.

Cũng tại các sự kiện, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. HCM đã phối hợp với Hiệp hội Du lịch TP. HCM và các hãng hàng không tổ chức các chương trình kích cầu du lịch nhằm thu hút khách du lịch đến Thành phố cũng như khuyến khích người dân Thành phố đi du lịch các địa phương khác. Ngoài ra, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. HCM cũng đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để giới thiệu, quảng bá điểm đến, sản phẩm du lịch đến các quốc gia trong khối ASEAN và các thị trường trọng điểm khác.

Bên cạnh đó, TP. HCM cũng đã tham gia nhiều sự kiện du lịch tiêu biểu tại một số địa phương trong nước như: Hội chợ Du lịch quốc tế – VITM (Hà Nội); lễ hội Dừa tỉnh Bến Tre; ngày hội du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; lễ hội bánh dân gian Nam bộ và Tuần lễ du lịch xanh Đồng bằng sông Cửu Long (TP. Cần Thơ); lễ hội “Lái Thiêu mùa trái chín” (Bình Dương); lễ hội văn hóa ẩm thực festival biển (Khánh Hòa); hội nghị liên kết xúc tiến du lịch thành phố Hải Phòng – Hà Nội – Quảng Ninh với Đà Nẵng – TP. HCM và Cần Thơ. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Cùng với các hoạt động xúc tiến trong nước, năm 2023, UBND TP. HCM đã phối hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch tại nước ngoài thông qua việc tham dự một số sự kiện du lịch lớn như: Diễn đàn du lịch ASEAN (ATF) và hội chợ triển lãm Ho Chi Minh City Expo tại Myanmar; Hội chợ Du lịch AIME tại Melbourne (Úc); hội chợ GES và roadshow tại Ấn Độ; hội nghị xúc tiến thương mại – du lịch tại Liên bang Nga; Diễn đàn Tổ chức Xúc tiến du lịch của các thành phố châu Á – Thái Bình Dương (TPO)…  nhằm giới thiệu và quảng bá hình ảnh du lịch Thành phố đến du khách quốc tế.

Ngoài các hình thức xúc tiến, quảng bá truyền thống, TP. HCM cũng đã tiến hành quảng bá du lịch qua các phương tiện truyền thông đại chúng như: đưa vào hoạt động website chính thức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP. HCM; công bố vận động thử nghiệm Tổng đài thông tin du lịch 1087 nhằm ghi nhận kịp thời những thông tin phản ánh của khách du lịch, người tiêu dùng du lịch; xây dựng đề án tổ chức Kênh Du lịch trên HTV Co.op, một chương trình truyền thông giới thiệu sản phẩm dịch vụ cho ngành Du lịch; ban hành Quyết định phê duyệt Đề án thành lập Phòng Thông tin và hỗ trợ khách du lịch thuộc Trung tâm Xúc tiến du lịch TP. HCM có chức năng cung cấp các thông tin có liên quan đến lĩnh vực du lịch của Thành phố và cả nước, tiếp nhận và xử lý các thông tin phản hồi từ khách du lịch.

Có được những thành công đó nhờ đội ngũ cán bộ Trung tâm năng động, bước đầu đã phối hợp chặt chẽ với các Phòng, Ban của Sở hình thành và kết nối được nhóm đối tác chiến lược về truyền thông, hàng không, lữ hành, khách sạn, vận chuyển rất tích cực hỗ trợ cho các hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch của TPHCM.

Những hạn chế trong hoạt động xúc tiến đầu tư trong thời gian qua của TP. HCM:

Bên cạnh những thành tựu đạt được thì hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của TP.HCM cũng không tránh khỏi những trở ngại, cụ thể như:

Công tác tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động xúc tiến đầu tư chưa thật sự thành công trong toàn bộ hoạt động xúc tiến đầu tư của thành phố. Đây được coi như là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng không tốt cho hoạt động đầu tư, nhất là đầu tư cho sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có liên quan mật thiết tới hoạt động du lịch như giao thông và bảo vệ môi trường.

Hoạt động xúc tiến đầu tư còn thiếu tính chuyên nghiệp, việc triển khai các hoạt động xúc tiến đầu tư còn gặp nhiều lung túng. Do vậy hiệu qủa của hoạt động xúc tiến đầu tư phát triển du lịch chưa được như mong muốn.

Kinh phí dành cho các hoạt động xúc tiến đầu tư còn hạn hẹp, chủ yếu là các nguồn tự huy động. Được biết nguồn kinh phí ngân sách thành phố cấp cho hoạt động xúc tiến khá hạn hẹp, do vậy phần lớn nhu cầu còn lại được đáp ứng từ nguồn xã hội hóa, vốn có tính ổn định không cao. Đây cũng là một khó khăn cho việc triển khai các hoạt động xúc tiến đầu tư phát triển du lịch thành phố.

Việc xây dựng chính sách và cách phối thức xúc tiến chưa rõ ràng, do vậy hiệu quả hoạt động xúc tiến chưa cao.

Việc triển khai các dự án đầu tư các cơ sở hạ tầng kỹ thuật có liên quan còn chậm, gây giảm lòng tin cho các nhà đầu tư và các tổ chức tài trợ. Điều này không những làm giảm chất lượng các sản phẩm du lịch, mà còn gây ảnh hưởng chung cho hoạt động xúc tiến đầu tư phát triển của ngành.

1.2.2. Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Bình Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Những thành công trong hoạt động xúc tiến du lịch ở Ninh Bình

Các hoạt động xúc tiến du lịch với các thị trường khách du lịch đến Ninh Bình đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc tuyên truyền quảng bá giới thiệu hình ảnh điểm đến du lịch của Tỉnh trên thị trường du lịch trong nước và quốc tế. Lượng khách du lịch đến Ninh Bình có tốc độ tăng nhanh từ 739.671 lượt khách năm 2011 lên 4.044.357 lượt khách năm 2021, trong đó số lượng khách quốc tế là 395.680 và số lượng khách nội địa là 3.416.696 lượt khách. Như vậy, lượng khách nội địa vẫn là thị trường khách chính của tỉnh Ninh Bình. Kết quả trên cho thấy, công tác xúc tiến quảng bá du lịch của Tỉnh rất phong phú, đa dạng và có hiệu quả. Số lượng khách du lịch đến Ninh Bình tăng bình quân hàng năm 21,5%.

Cách thức tìm kiếm thông tin du lịch của khách du lịch trong nước và quốc tế khi tới Ninh Bình chủ yếu là qua các kênh thông tin như: Các ấn phẩm quảng cáo du lịch Ninh Bình và Du lịch Việt Nam; các trang Web du lịch Ninh Bình và Du lịch Việt Nam; báo, truyền thanh, truyền hình tỉnh Ninh Bình; hội chợ, triển lãm ở trong nước; văn phòng du lịch, đại lý lữ hành và người thân bạn bè.

Trong số các công ty du lịch, lữ hành thường xuyên đưa khách đến du lịch chủ yếu là qua hoạt động, chương trình xúc tiến du lịch của Tỉnh. Điều này cho thấy việc hoạt động xúc tiến du lịch của Tỉnh đã đến được các nhà trung gian, các kênh phân phối và hoạt động du lịch. Các hình thức và hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Ninh Bình được các công ty du lịch, lữ hành biết đến chủ yếu là các ấn phẩm quảng cáo du lịch Ninh Bình; trang Web, lễ hội và hội chợ triễn lãm xúc tiến du lịch trong nước tại Ninh Bình; đài truyền hình, truyền thanh, báo và Tạp chí Du lịch Việt Nam.

Nhìn chung, hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Ninh Bình đã có những bước đi phù hợp, mang tính chuyên nghiệp và hiệu quả. Hình ảnh, thương hiệu du lịch Ninh Bình đã được tạo dựng và có mặt ở nhiều thị trường trong và ngoài nước với nhiều điểm đến du lịch nổi tiếng, độc đáo và hấp dẫn của Tỉnh như: Tam Cốc – Bích Động, Cố đô Hoa Lư, rừng nguyên sinh Cúc Phương…

Tỉnh Ninh Bình đã thành lập được đơn vị xúc tiến du lịch đảm nhiệm nhiệm vụ hoạt động xúc tiến du lịch chuyên nghiệp.

Thiết lập và phát triển hệ thống trang thông tin điện tử tổng hợp du lịch với nhiều ngôn ngữ khác nhau (Anh, Pháp, Việt).

Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch của Tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng từ trung ương đến địa phương đã được thực hiện khá tốt.

Tổ chức nhiều sự kiện, lễ hội quang trọng như: Tuần văn hóa du lịch Ninh Bình, lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư…Thông qua các sự kiện này hình ảnh du lịch của Tỉnh cũng đã được quảng bá rộng rãi trên báo, đài phát thanh, truyền hình của Tỉnh và trung ương. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Những hạn chế trong hoạt động xúc tiến đầu tư trong thời gian qua

Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt được, hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Ninh Bình vẫn còn những khó khăn, hạn chế đó là:

Chương trình xúc tiến du lịch của Tỉnh chưa được thiết lập một cách bài bản, chủ yếu là những chương trình, hoạt động xúc tiến du lịch riêng lẻ, manh mún, thiếu định hướng, ví dụ như: Xúc tiến quảng bá hình ảnh, thông điệp cho ai, hoạt động xúc tiến là gì, kinh phí phục vụ cho xúc tiến bao nhiêu…

Thực tế thông tin về du lịch tỉnh Ninh Bình đến được các thị trường mục tiêu chưa nhiều, phần lớn là các thông tin tự tìm kiếm trên internet, sách hướng dẫn du lịch của nước ngoài.

Nội dung, hình thức của các ấn phẩm, trang web quảng bá du lịch của Tỉnh chưa phong phú, đa dang, thiếu tính thống nhất về nội dung và mang tính thẩm mỹ chưa cao.

Các hoạt động xúc tiến du lịch của Tỉnh chưa quan tâm đúng mức đến các công ty du lịch, hãng lư hành lớn trong nước, chưa có chính sách, chương trình khuyến mại, hỗ trợ cho các công ty du lịch, lữ hành thường xuyên đưa khách đến với Ninh Bình.

1.2.3. Kinh nghiệm của tỉnh thánh    

Khánh Hòa được du khách trong nước cũng như quốc tế biết đến với một hình ảnh đẹp đó là Thiên đường du lịch biển đảo. Tỉnh Khánh Hòa là một địa danh có thể xem như hòn ngọc bên bờ biển Đông, nơi diễn ra Festival Biển được tổ chức định kỳ 2 năm một lần.

Thời gian qua Tỉnh đã làm tốt công tác xúc tiến du lịch bằng nhiều hình thức khác nhau rất thành công. Năm 2022 Nha Trang đã thu hút được 3.598.685 lượt khách, trong đó khách du lịch quốc tế là 855.803 lượt khách và khách nội địa là 2.742.882 lượt khách, tăng 19,95% so với cùng kỳ năm 2021 và vượt kế hoạch đề ra 5,84%, mang lại một nguồn thu đáng kể cho Tỉnh.

Bên cạnh đó, Festival là một sự kiện văn hóa du lịch điển hình của Tỉnh. Tiêu biểu như Festaval biển năm 2023, lễ hội lần thứ 7 được diễn ra với chủ đề “ Hòa bình và sáng tạo” được tổ chức với hàng chục hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch đặc sắc. Tại Festival du khách và người dân được tham gia vào các hoạt động như: lễ hội trứng bùn, Hội chợ ẩm thực,  Liên hoan ẩm thực và pha chế cocktail; Lễ hội Lân Sư Rồng đường phố; Thả diều nghệ thuật; Giải Dù lượn Khánh Hòa mở rộng; Giải thuyền buồm toàn quốc; Lễ hội bia; Giải vô địch bóng chuyền bãi biển toàn quốc 2023; Trình diễn thời trang biển,…cùng rất nhiều hội thảo, triển lãm nghệ thuật phong phú khác. Các chương trình được tạo đựng bởi  các đoàn nghệ thuật trong nước kết hợp với các đoàn nghệ thuật quốc tế được mời đến từ Nhật Bản, Anh, Pháp,…Du khách thực sự cảm thấy hài lòng với các hoạt động sôi nổi, phong phú mang đậm nét văn hóa biển. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa, trong 4 ngày chính thức của fetsival biển, Nha Trang đón hơn 150.000 lượt khách trong và ngoài nước, tăng 15% so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy Festival biển đã trở thành một thương hiệu, một điểm nhấn, một sự kiện quan trọng để níu chân khách du lịch khi đến với thành phố biển xinh đẹp này. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Có thể nhận thấy rằng hoạt động xúc tiến của Khánh Hòa đạt được nhiều thành công. Với lợi thế là tỉnh có nguồn tài nguyên biển phong phú, Khánh Hòa xác định rõ sản phẩm du lịch của Tỉnh, từ đó phát triển, mở rộng sản phẩm du lịch thu hút du khách. Theo Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến du lịch, thương mại và đầu tư, tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước…Những hoạt động này góp phần thu hút đầu tư, cũng như tạo ra năng lực cạnh tranh cho Khánh Hòa. Xác định rõ thị trường khách, từ đó Tỉnh chú trọng đến việc phát triển sản phẩm du lịch biển đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách du lịch.

Một thành công nữa trong xúc tiến du lịch Khánh Hòa đó là việc áp dụng các công cụ xúc tiến phù hợp với loại hình du lịch đặc trưng của mình đó là du lịch biển Nha Trang.

Những hạn chế trong hoạt động xúc tiến của Tỉnh

Bên cạnh những thành công nêu trên, hoạt động xúc tiến của Khánh Hòa còn một số hạn chế sau:

Hoạt động xúc tiến còn thiếu sự phối hợp hoạt động giữa các ngành chức năng.

Nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lịch vẫn chưa ý thức được vai trò của hoạt động xúc tiến, họ thường quá chú trọng đến lợi ích kinh tế mà làm ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của thành phố biển, Nha Trang – Khánh Hòa.

Kinh phí cho các hoạt động xúc tiến còn hạn chế, các nguồn thu kinh phí còn bị bó hẹp và dễ dàng nhận thấy đây là khó khăn chung của các tỉnh, thành trong cả nước.

1.2.4. Bài học cho hoạt động xúc tiến điểm đến của tỉnh Đắk Nông Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

Dựa vào kinh nghiệm xúc tiến du lịch của một số tỉnh thành tiêu biểu đã phân tích ở trên, du lịch Đắk Nông cần rút ra những bài học kinh nghiệm để có thể đẩy mạnh hoạt động xúc tiến của Tỉnh ngày càng hiệu quả hơn, thu hút được nhiều khách du lịch, cụ thể là:

  • Là một Tỉnh mới được thành lập, mặc dù tài nguyên du lịch phong phú nhưng chưa được khai thác đúng mức. Do đó, Đắk Nông phải sử dụng các chính sách khuyến khích thu hút các nhà đầu tư không chỉ tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong du lịch mà còn kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực đào tạo trong du lịch.
  • Tăng cường phối hợp giữa các ngành chức năng với nhau về vấn đề đầu tư tổng thể kinh tế – xã hội nói chung và của ngành du lịch nói riêng.
  • Tăng nguồn kinh phí cho hoạt động xúc tiến bằng nhiều hình thức khác nhau, có thể từ nguồn ngân sách hoặc là nguồn huy động từ các tổ chức du lịch trong nước và quốc tế.
  • Việc xây dựng các chính sách hỗ trợ cho hoạt động xúc tiến cần rõ ràng, nhanh chóng kịp thời.
  • Nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu cho ngành du lịch của tỉnh để xây dựng chiến lược quảng bá cho phù hợp;
  • Chú trọng vào những nét đặc trưng riêng về hình ảnh du lịch Đắk Nông để tạo ra cho mình một sản phẩm du lịch đặc sắc, độc đáo, dễ dàng thu hút du khách;
  • Áp dụng các công cụ xúc tiến đa dạng linh hoạt, tổ chức tham gia nhiều hội chợ, hội thảo về du lịch, đặc biệt là các hội chợ du lịch quốc tế như VITM.
  • Mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư của các đối tác, đặc biệt đầu tư nước ngoài.
  • Xây dựng, thiết kế ấn phẩm du lịch, vật phẩm du lịch với nội dung phong phú, hấp dẫn, thông tin đầy đủ chính xác.

Tiểu kết chương 1 

Trong chương 1, tác giả đã tổng hợp và đưa ra một số vấn đề lý luận cơ bản về du lịch, điểm đến du lịch, xúc tiến điểm đến du lịch, nội dung và các hình thức xúc tiến điểm đến du lịch. Bên cạnh đó, tác giả cũng dựa vào các cơ sở thực tiễn về hoạt động xúc tiến điểm đến của một số tỉnh thành trong cả nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho địa phương nghiên cứu.

Các cơ sở lý luận về xúc tiến điểm đến du lịch và những bài học kinh nghiệm của các tỉnh như đã nêu điển hình ở trên đã làm cơ sở quan trọng, làm căn cứ cho việc xác định, lựa chọn các đối tượng nghiên cứu, chương trình và hoạt động xúc tiến điểm đến của một địa phương. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các kết quả nghiên cứu ở chương 1 để nhìn nhận và đánh giá về thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông, từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của Tỉnh trong những chương tiếp theo. Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông

One thought on “Luận văn: Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *