Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng của hai yếu tố này đến hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT ĐỀ ÁN
Tên đề tài: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng của hai yếu tố này đến hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Nội dung tóm tắt: Đề án này nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng (RRTD), rủi ro thanh khoản (RRTK) và hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2015 đến 2025. Mục tiêu chính của nghiên cứu là định lượng mức độ ảnh hưởng của hai loại rủi ro này đến ROA đại diện cho hoạt động của các ngân hàng, từ đó xây dựng các giải pháp quản trị rủi ro hiệu quả. Đề án đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp lược khảo lý thuyết với phân tích định lượng dựa trên dữ liệu của 24 ngân hàng thương mại cổ phần, sử dụng phần mềm STATA 14.0 và các mô hình hồi quy như Pooled OLS, FEM, REM và FGLS.
Kết quả phân tích đã chỉ ra nhiều yếu tố có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các biến số như dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), trạng thái tiền mặt (ETA, CASH), tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) và quy mô ngân hàng (SIZE) đều có ảnh hưởng tích cực đến ROA. Ngược lại, nợ xấu (NPL), tăng trưởng kinh tế (GDP) và sở hữu nhà nước (STA) lại có tác động tiêu cực. Đáng chú ý, nghiên cứu phát hiện rủi ro tín dụng (đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu) tác động tích cực đến ROA, trong khi dự phòng rủi ro tín dụng lại tác động tiêu cực. Điều này cho thấy sự phức tạp trong mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận. Bên cạnh đó, các ngân hàng tư nhân có xu hướng hoạt động hiệu quả hơn so với ngân hàng có sở hữu nhà nước.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu, đề án đề xuất một số giải pháp chiến lược nhằm cải thiện quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các giải pháp này bao gồm việc tăng cường quy trình quản trị rủi ro tín dụng và thanh khoản thông qua việc thẩm định hồ sơ, giám sát chặt chẽ và đa dạng hóa nguồn vốn. Đồng thời, đề án cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng và cổ phần hóa, cải cách quản trị đối với các ngân hàng thương mại cổ phần có sở hữu nhà nước nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.
Từ khóa: Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, hiệu quả hoạt động, vĩ mô.
- ABSTRACT
Title: Credit risk, liquidity risk and the impact of these two factors on the performance of commercial joint-stock banks in Vietnam.
Summary: This project investigates the relationship between credit risk (CR), liquidity risk (LR) and the operational performance of commercial joint-stock banks (CJSCBs) in Vietnam during the period from 2015 to 2025. The main objective of the study is to quantify the impact of these two types of risks on ROA (Return on Assets), which represents the banks’ performance, and to propose effective risk management solutions. The project employed a mixed-methods approach, combining a theoretical literature review with quantitative analysis based on data from 24 CJSCBs, using STATA 14.0 software and regression models such as Pooled OLS, FEM, REM and FGLS. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
The analysis results revealed that various factors have a significant impact on bank performance. Variables such as loan loss reserves (LLR), cash status (ETA, CASH), loan-to-deposit ratio (LDR) and bank size (SIZE) all have a positive influence on ROA. Conversely, non-performing loans (NPL), economic growth (GDP) and state ownership (STA) have a negative impact. Notably, the study found that CR (measured by the NPL ratio) has a positive effect on ROA, while loan loss reserves have a negative effect, indicating a complex relationship between risk and return. Furthermore, privately-owned banks tend to perform more efficiently than state-owned banks.
Based on the research findings, the project proposes several strategic solutions to improve risk management and enhance operational performance. These solutions include strengthening credit and liquidity risk management processes through enhanced file appraisal, close monitoring, and diversification of funding sources. The project also highlights the importance of promoting digital transformation in banking operations and accelerating the equitization and governance reforms for state-owned CJSCBs to optimize operational efficiency.
Keywords: Credit risk, liquidity risk, operational efficiency, macroeconomic.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò trung gian tài chính thiết yếu là một trong những định chế quan trọng nhất đối với sự vận hành và phát triển của nền kinh tế. Với chức năng huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi, sau đó cung cấp lại cho các chủ thể cần vốn, NHTM đã tạo ra một cầu nối vững chắc, giúp dòng tiền được luân chuyển hiệu quả. Nhờ vậy, nguồn lực tài chính được phân bổ hợp lý, thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư, từ đó góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế, việc làm và nâng cao đời sống xã hội. Vai trò này không chỉ giới hạn ở việc cung cấp tín dụng mà còn bao gồm các dịch vụ thanh toán, quản lý tài sản và tư vấn tài chính, làm nền tảng cho sự ổn định và phát triển bền vững của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia. Hoạt động tín dụng được xem là trọng tâm của ngân hàng thương mại, đóng vai trò then chốt trong quá trình luân chuyển vốn của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro tín dụng (RRTD), rủi ro thanh khoản (RRTK) đây được xem là hai nguy cơ có thể ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến thu nhập và nguồn vốn tự có của ngân hàng. Do đó, việc quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản luôn được các ngân hàng thương mại đặc biệt chú trọng. Đây là yếu tố sống còn để đảm bảo sự ổn định tài chính, duy trì lợi nhuận và bảo vệ nguồn vốn của ngân hàng trước những biến động bất lợi từ thị trường và nền kinh tế.
Thông thường, rủi ro tín dụng được hiểu là khả năng các khách hàng của NHTM mất khả năng thanh toán và không thể trả được gốc lãi nợ vay như đã cam kết trên hợp đồng tín dụng, ngoài ra, rủi ro tín dụng còn được xem là loại rủi ro ảnh hưởng đáng kể nhất đến hoạt động của NHTM (Boffey và Robson, 1995). Còn rủi ro thanh khoản được hiểu là khả năng thanh toán của NHTM bị giảm sút với các khoản nợ đến hạn. Hay nói cách khác, rủi ro thanh khoản khiến cho danh tiếng của NHTM bị giảm sút (Jenkinson, 2009). Khách hàng mất lòng tin và nếu như tiền gửi không được thanh toán kịp thời sẽ đe dọa đến NHTM (Arif và Anees, 2013). Sự cố thanh khoản có thể là nguyên nhân của sự giảm cổ phiếu cũng như làm giảm giá trị của cổ đông (Mogusu và cộng sự, 2023). Do đó, hiểu được bản chất của hai loại rủi ro này được xem là nhiệm vụ tất yếu để có thể xây dựng các hoạt động quản trị cho các NHTM. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Giai đoạn 2022-2025, đặc biệt là nửa sau của giai đoạn, đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể của nợ xấu. Theo thống kê từ NHNN Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống có xu hướng tăng từ mức thấp sau đại dịch, và theo các chuyên gia, nợ xấu thực tế có thể cao hơn nhiều do các khoản nợ tiềm ẩn được cơ cấu lại. Nợ xấu tăng cao đã trực tiếp tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thông qua chi phí trích lập dự phòng. Báo cáo tài chính năm 2025 của các ngân hàng cho thấy, tổng mức trích lập dự phòng rủi ro cho vay của 27 ngân hàng niêm yết đã đạt 207.627 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2024. Một số NHTM lớn như BIDV dẫn đầu với mức trích lập lên tới 38.816 tỷ đồng. Chi phí này được ghi nhận vào chi phí hoạt động, làm giảm lợi nhuận trước thuế và là nguyên nhân chính khiến tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của nhiều ngân hàng chậm lại trong năm 2025. Mối quan hệ nghịch chiều giữa nợ xấu và các chỉ số sinh lời đã được thể hiện rõ. Tỷ suất sinh lời ROA và ROE của ngành ngân hàng đã giảm liên tiếp từ đầu năm 2024, sau khi đạt đỉnh vào cuối năm 2023. Điều này diễn ra song song với việc nợ xấu có dấu hiệu tăng trở lại, cho thấy khi chất lượng tài sản suy giảm, khả năng sinh lời của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng tiêu cực. rủi ro thanh khoản trong giai đoạn 2022-2025 diễn biến phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước thực hiện nhiều biện pháp điều hành chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Giai đoạn này, đặc biệt là trong năm 2023-2024, nhiều ngân hàng đã phải tham gia vào “cuộc đua” tăng lãi suất huy động để thu hút nguồn vốn, từ đó làm tăng chi phí vốn đầu vào. Lãi suất huy động của các ngân hàng tư nhân thường cao hơn ngân hàng quốc doanh để cạnh tranh nguồn vốn. Sự gia tăng chi phí vốn này đã trực tiếp làm thu hẹp biên lãi ròng (NIM), một chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Khi chi phí huy động tăng nhanh hơn thu nhập từ cho vay, NIM sẽ giảm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận. Do đó có thể thấy rủi ro tín dụng gia tăng đã khiến dòng tiền thu hồi nợ bị chậm, gây ra áp lực thanh khoản. Để bù đắp, các ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn mới với chi phí cao hơn, từ đó làm giảm NIM và lợi nhuận. Sự suy giảm lợi nhuận lại ảnh hưởng đến khả năng trích lập dự phòng và tích lũy vốn tự có để đối phó với rủi ro, tạo nên một vòng luẩn quẩn. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã tăng mạnh trong năm 2025, có lúc lãi suất qua đêm tăng từ 0,9% lên 3,25%, một phần do NHNN phát hành tín phiếu để hút thanh khoản, nhưng cũng phản ánh những khó khăn trong việc cân đối nguồn vốn của các ngân hàng. Việc siết chặt thanh khoản để ổn định tỷ giá đã vô tình tạo thêm áp lực lên hoạt động tín dụng, ảnh hưởng đến khả năng cho vay và tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy, việc nghiên cứu về sự ảnh hưởng của 2 yếu tố rủi ro này không chỉ giúp làm rõ các thách thức mà các ngân hàng Việt Nam đã và đang phải đối mặt, mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để đề xuất các giải pháp quản trị rủi ro tổng thể, hiệu quả hơn. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Xét về khía cảnh tổng quan các nghiên cứu khi xem xét về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hoạt động của ngân hàng, thì kết quả nhận được chính là rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực tiếp và tiêu cực đến sức khỏe tài chính và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng phát sinh từ việc phê duyệt khoản vay thiếu thận trọng, quy trình kiểm tra lỏng lẻo và danh mục đầu tư kém chất lượng (Bhattarai, 2017). Điều này dẫn đến sự gia tăng các khoản nợ xấu, làm suy yếu chất lượng tín dụng của ngân hàng (Nair và Fissha, 2011; Saeed và Zahid, 2017). Khi rủi ro tín dụng leo thang, hiệu quả tài chính của ngân hàng sụt giảm do phải tăng trích lập dự phòng, đối mặt với nhiều rủi ro hơn và có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng nếu không xử lý kịp thời. Tỷ lệ nợ xấu cao cũng làm suy giảm uy tín của ngân hàng với khách hàng (Bizuayehu, 2016). Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng khẳng định mối quan hệ nghịch chiều giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận. Nguyễn Kim Quốc Trung (2018) cho thấy quản trị rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến ROA của các ngân hàng quốc doanh. Gần đây hơn, Nguyễn Quốc Anh và Dương Nguyễn Thanh Phương (2022) cũng chỉ ra rằng khi rủi ro tín dụng tăng, khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam càng giảm sút. Do đó, vẫn nhận thấy sự tồn tại về các kết luận khác nhau về sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của các NHTM. Khi xem xét về rủi ro thanh khoản ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM thì quản lý thanh khoản của ngân hàng tiềm ẩn nhiều vấn đề. Một mặt, việc duy trì quá nhiều thanh khoản có thể dẫn đến việc sử dụng vốn kém hiệu quả, làm giảm khả năng sinh lời (Al-Ardah và Al-Okdeh, 2023). Mặt khác, các nghiên cứu về mối quan hệ này lại cho kết quả không thống nhất, có lúc mâu thuẫn (Alzorqan, 2015; Arif và Anees, 2013) và có lúc lại cho thấy ảnh hưởng tích cực (Barth và cộng sự, 2002; Berger, 1995). Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào các nền kinh tế phát triển và chủ yếu xem xét rủi ro thanh khoản từ phía nợ phải trả, ít chú ý đến rủi ro thanh khoản phát sinh từ phía tài sản của ngân hàng hoặc là tỷ trọng cho vay trên vốn huy động (Imbierowicz và Rauch, 2015; Roman và Şargu, 2015; Saeed, 2016).
Xuất phát từ các vấn đề cấp thiết từ thực tiễn và các vấn đề tồn tại trong tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài, nên tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng của 2 yếu tố này đến hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” nhằm đề xuất các hàm ý cho các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam có các hoạt động nhằm hạn chế được các rủi ro này và gia tăng hiệu quả hoạt động trong tương lai.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Nghiên cứu thực hiện nhằm đo lường chiều hướng ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Từ đó nhằm đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTM nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Một là đo lường chiều hướng ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến hoạt động của NHTM Việt Nam.
- Hai là đề xuất các hàm ý quản trị cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thứ nhất, chiều hướng ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam như thế nào?
- Thứ hai, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động trong tương lai?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng của hai rủi ro này đến hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Về không gian: Dữ liệu được thu thập từ 24 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Số lượng ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được lựa chọn chiếm trên 75% tổng thị phần hệ thống ngân hàng, do đó đủ điều kiện làm mẫu đại diện.
Về thời gian: Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2025. Khoảng thời gian này hệ thống NHTM Việt Nam tái cấu trúc 2015 – 2016 để lặp lại ổn định với hoạt động tín dụng. Sau đó, sự bão hòa của hệ thống ngân hàng, khó khăn kinh tế trong hai năm 2019 – 2020 và cao điểm là đại dịch Covid 19 từ năm 2021 – 2023 gây ra những ảnh hưởng rất xấu cho nền kinh tế, hệ thống ngân hàng.
Về dữ liệu nghiên cứu: Đề án sẽ thu thập dữ liệu từ các BCTC đã qua kiểm toán và báo cáo thường niên trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2025 của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Đối với dữ liệu vĩ mô thì đề án sẽ tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (World Bank).
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Hai phương pháp chính được sử dụng tại đề án này đó là định tính và định lượng. Trong đó, nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua việc tóm tắt các lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu liên quan và kết quả là xác định các khoảng trống nghiên cứu tạo điều kiện đề xuất mô hình nghiên cứu với bối cảnh các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Nghiên cứu định lượng thông qua việc thu thập số liệu liên quan đến các biến số của mô hình nghiên cứu, thiết kế dưới dạng bảng với giai đoạn từ 2015 – 2025. “Từ dữ liệu đó tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kết quả. Sau đó, đề án sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, thực hiện hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test để lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật và khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng.” Dựa vào đó để thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất hàm ý khả thi cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
1.6. Đóng góp của nghiên cứu Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Về mặt lý luận: Đề án xác định khoảng trống nghiên cứu thông qua tổng hợp nền tảng lý thuyết và các công trình lược khảo, làm cơ sở đề xuất phù hợp với bối cảnh các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Qua đó, khái quát ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần giai đoạn 2015–2025, đồng thời tạo nền tảng tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về quản trị rủi ro ngân hàng.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2015–2025, đồng thời đề xuất các hàm ý quản trị khả thi ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô nhằm hạn chế rủi ro, thúc đẩy hoạt động ngân hàng bền vững và tăng trưởng
1.7. Kết cấu của đề án
Đề án có kết cấu 5 chương
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu: Chương này tập trung vào việc lập luận lý do chọn đề tài, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Định hướng lựa chọn phạm vi và đối tượng nghiên cứu, từ đó xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải quyết vấn đề. Đồng thời xác định các đóng góp chính” của đề án.
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực nghiệm: Chương này“tổng hợp các cơ sở lý thuyết nền tảng liên quan đến rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, hiệu quả hoạt động của các NHTM và mối quan hệ ảnh hưởng giữa chúng. Đồng thời thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan để phát hiện các khoảng trống nghiên cứu và làm cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu tương ứng với bối cảnh ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu: Chương này tập trung vào việc đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Đồng thời, chương này sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu được áp dụng, bao gồm cách thức tiến hành lấy mẫu, quy trình thu thập số liệu, cùng với các phương pháp tính toán và xử lý số liệu liên quan.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Chương này sẽ tập trung vào việc trình bày kết quả xử lý số liệu thu thập từ các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2025. Các phân tích được thực hiện bao gồm thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan, hồi quy đa biến, và kiểm định tương ứng từ mô hình hồi quy đã lựa chọn. Sau khi khắc phục các hiện tượng (ví dụ: đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi), nghiên cứu sẽ kết luận các giả thuyết đã đề ra và thảo luận chi tiết về những kết quả này. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: Chương này sẽ kết luận những thành kết quả chính của nghiên cứu. Dựa trên các kết quả hồi quy đạt được, nghiên cứu sẽ đề xuất các hàm ý quản trị tương ứng với từng biến số trong mô hình. Những đề xuất này nhằm cung cấp hàm ý thiết thực cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong việc giảm thiểu rủi ro và gia tăng hiệu quả hoạt động trong tương lai.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 tập trung vào việc lập luận lý do chọn đề tài, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Định hướng lựa chọn phạm vi và đối tượng nghiên cứu, từ đó xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải quyết vấn đề. Đồng thời xác định các đóng góp chính của đề án.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Santomero (1997) và Howard và Meritt (1997) đều nhấn mạnh rằng rủi ro tín dụng phát sinh khi người vay không sẵn sàng hoặc không có khả năng thanh toán các khoản nợ gốc và lãi đúng hạn theo hợp đồng tín dụng.
Crouhy (2007) cũng đưa ra quan điểm tương tự, coi rủi ro tín dụng là mất khả năng hay năng lực tài chính của khách hàng trong việc hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, bất kể do không muốn hay không thể.
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro tổn thất tài sản khi một bên đối tác không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ hợp đồng với ngân hàng. Điều này bao gồm cả việc không thanh toán nợ gốc hay nợ lãi khi khoản vay đáo hạn. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Tóm lại, tại đề án này rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng bị tổn thất tài chính khi khách hàng vi phạm nguyên tắc hoàn trả, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
2.1.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Đây là một rủi ro đa chiều, phát sinh từ sự kết hợp của nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể được phân loại thành các nhóm chính: nguyên nhân khách quan từ môi trường vĩ mô và nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng cũng như khách hàng. Việc nhận diện và phân tích các nguyên nhân này là nền tảng cho công tác quản trị rủi ro hiệu quả.
Các nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng sâu rộng đến chất lượng tín dụng. Sự suy thoái kinh tế hay những cú sốc kinh tế bất ngờ có thể làm giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó làm suy yếu khả năng trả nợ. Ngoài ra, những thay đổi trong chính sách tiền tệ, như việc NHNN điều chỉnh lãi suất, cũng có thể làm tăng gánh nặng tài chính cho người đi vay, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng vốn vay lớn (Salas và Saurina, 2003). Tình trạng khủng hoảng trong một ngành kinh tế cụ thể, chẳng hạn như thị trường bất động sản đóng băng, có thể tạo ra hiệu ứng domino, khiến nợ xấu gia tăng trên diện rộng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát của từng ngân hàng đơn lẻ.
Bên cạnh đó, các nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm phát sinh rủi ro tín dụng. Việc thiếu chặt chẽ trong quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn, không đánh giá chính xác năng lực tài chính và mục đích sử dụng vốn của khách hàng, có thể dẫn đến những quyết định tín dụng sai lầm (Bhattarai, 2017). Áp lực tăng trưởng tín dụng và mục tiêu lợi nhuận đôi khi khiến các ngân hàng nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay, chấp nhận rủi ro cao hơn mức cho phép. Hơn nữa, việc giám sát sau vay lỏng lẻo cũng là một nguyên nhân phổ biến. Khi ngân hàng không kiểm soát được việc sử dụng vốn của khách hàng, khả năng sử dụng sai mục đích sẽ tăng lên, dẫn đến nguy cơ mất khả năng trả nợ.
Cuối cùng, nguyên nhân rủi ro tín dụng còn đến từ chính khách hàng vay. Một số khách hàng thiếu trung thực trong việc cung cấp thông tin tài chính hoặc sử dụng vốn vay sai mục đích đã cam kết. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng quản lý tài chính yếu kém cũng là một yếu tố then chốt. Việc kinh doanh không hiệu quả, không tạo ra đủ dòng tiền để trả nợ cho ngân hàng. Tình trạng này có thể trở nên tồi tệ hơn nếu khách hàng thiếu ý thức tuân thủ hợp đồng vay vốn, cố tình chây ỳ hoặc từ chối thanh toán các khoản nợ đã đến hạn (Santomero, 1997). Sự kết hợp của các nguyên nhân từ nhiều phía đã tạo nên một bức tranh phức tạp về rủi ro tín dụng, đòi hỏi ngân hàng phải có một chiến lược quản trị tổng thể, toàn diện và linh hoạt.
2.1.3. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
2.1.3.1. Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu (Non-Performing Loans – NPLs) là các khoản cấp tín dụng mà ngân hàng nhận định là không có khả năng sinh lời do khách hàng mất khả năng hoặc có nguy cơ vỡ nợ. Tỷ lệ nợ xấu được xem là một chỉ tiêu trọng yếu để phản ánh rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại (Salas và Saurina, 2003; Das và Ghosh, 2008; Chaibi và Ftiti, 2016).
Tại Việt Nam, nợ xấu được xác định dựa trên các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3, 4, 5 theo quy định tại Thông tư 11/2022/TT-NHNN, tức là các khoản nợ được đánh giá là khó hoặc không thể thu hồi. Khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng, ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro như suy giảm tài sản, giảm lợi nhuận và mất uy tín, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản tiền gửi của khách hàng. Công thức tính tỷ lệ nợ xấu được thể hiện như sau:
2.1.3.2. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro tín dụng là một khoản chi phí được trích lập nhằm bù đắp cho những tổn thất tiềm tàng từ các khoản vay không thể thu hồi (Ashour, 2012). Việc trích lập này phản ánh sự suy giảm giá trị tài sản và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Có hai hình thức dự phòng chính: dự phòng chung và dự phòng cụ thể. Theo IMF, dự phòng cụ thể được trích lập cho các khoản nợ có bằng chứng suy giảm rõ ràng, trong khi dự phòng chung được trích lập cho tổng dư nợ để đối phó với những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai. Tại Việt Nam, theo Quyết định 22/VBNN – NHNN, dự phòng cụ thể được áp dụng cho các khoản nợ xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải trích lập dự phòng cho các trái phiếu đặc biệt của VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) với tỷ lệ 20% mỗi năm. Trên bảng cân đối kế toán, dự phòng rủi ro tín dụng là một khoản điều chỉnh giảm tài sản, còn trên báo cáo kết quả kinh doanh, nó được ghi nhận là một khoản chi phí hoạt động, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Công thức tính tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng thường được thể hiện như sau:
2.2. Rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
2.2.1. Khái niệm rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại
Duttweiler (2010) định nghĩa rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng mất khả năng thanh toán tại một thời điểm nhất định. Khi gặp tình huống này, ngân hàng buộc phải chấp nhận trả chi phí cao để huy động vốn hoặc phải bán tài sản với giá thấp để có tiền mặt, gây tổn thất về tài chính.
Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (2009, 2011) cho rằng rủi ro thanh khoản phát sinh từ sự chênh lệch kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn. Cụ thể, việc ngân hàng sử dụng tiền gửi ngắn hạn cho các mục đích dài hạn, tức là chuyển đổi các khoản nợ ngắn hạn thành các khoản nợ dài hạn kém thanh khoản, sẽ tạo ra sự dễ bị tổn thương và phát sinh rủi ro.
Wang (2023) cho rằng rủi ro thanh khoản là việc ngân hàng không thể thanh toán kịp thời các khoản nợ với chi phí hợp lý hoặc không đáp ứng được các nhu cầu vốn khác trong hoạt động. Đây là rủi ro không thể thanh lý tài sản kịp thời với giá cả hợp lý, không đáp ứng được hiệu quả cả dòng tiền hiện tại lẫn các dòng tiền tương lai dự kiến và đột ngột (Sabir, 2022; Muranaga và Ohsawa, 2003).
Theo thông tư số 08/2018/TT-NHNN Việt Nam thì rủi ro thanh khoản là việc ngân hàng mất khả năng hoàn trả các khoản nợ khi đến hạn hoặc phải trả chi phí cao hơn để có được nguồn vốn. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hai hậu quả chính của rủi ro: mất khả năng thanh toán và tăng chi phí huy động vốn.
Nguyễn Thị Bích Thuận và Phạm Ánh Tuyết (2022) cho rằng rủi ro thanh khoản xuất hiện khi ngân hàng không thể nhanh chóng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt để chi trả cho các nghĩa vụ thanh toán. Tình trạng này có thể lan rộng ra toàn bộ hệ thống tài chính nếu không được kiểm soát.
Tóm lại, rủi ro thanh khoản trong đề án này được hiểu là khả năng NHTM không thể đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Tình trạng này phát sinh từ sự mất cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, khiến ngân hàng phải đối mặt với hai hậu quả chính: chấp nhận chi phí huy động vốn cao hơn mức hợp lý hoặc phải bán tài sản với giá thấp, gây tổn thất về tài chính, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả và sự ổn định ngân hàng.
2.2.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản (RRTK) trong hoạt động của NHTM phát sinh từ nhiều nguyên nhân phức tạp, có thể được phân loại thành các yếu tố khách quan từ môi trường vĩ mô, nguyên nhân chủ quan từ hoạt động nội bộ của ngân hàng và nguyên nhân từ phía khách hàng.
Các yếu tố vĩ mô có thể gây ra rủi ro thanh khoản trên diện rộng, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng. Sự suy thoái kinh tế là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Theo Rose (2003), khi nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp và cá nhân có thể gặp khó khăn trong việc trả nợ, dẫn đến các khoản vay bị thất thoát. Điều này làm giảm dòng tiền thu hồi của ngân hàng, gây ra tình trạng mất thanh khoản. Cùng với đó, sự suy giảm giá trị tài sản của ngân hàng cũng là một nguyên nhân quan trọng. Nếu giá trị các khoản đầu tư hoặc tài sản thế chấp giảm sút đột ngột, ngân hàng có thể không đủ tài sản để đáp ứng các yêu cầu chi trả của khách hàng (Rose, 2003). Ngoài ra, sự mất niềm tin của thị trường do tin đồn hoặc thông tin tiêu cực có thể kích hoạt làn sóng rút tiền ồ ạt từ người gửi, khiến ngân hàng gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc huy động vốn và duy trì khả năng thanh toán (Rose, 2003).
Các nguyên nhân chủ quan từ chính hoạt động của ngân hàng cũng là yếu tố chính gây ra rủi ro thanh khoản. Một trong những nguyên nhân phổ biến nhất là sự chênh lệch về kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Ngân hàng thường huy động nguồn vốn ngắn hạn nhưng lại sử dụng để tài trợ cho các khoản vay dài hạn (Oldfield và Santomero, 1997; Madhuwanthi và Morawakage, 2020). Sự mất cân bằng này khiến ngân hàng dễ bị tổn thương khi dòng tiền thu hồi không đủ để đáp ứng các khoản chi trả ngắn hạn. Hơn nữa, chính sách ngân hàng không hợp lý, chẳng hạn như việc chỉ tập trung huy động từ một số nguồn nhất định hoặc chỉ cho vay một nhóm đối tượng khách hàng cụ thể, cũng làm gia tăng rủi ro tập trung (Rose, 2003). Sự thiếu chắc chắn về các khoản tiền gửi và đáo hạn vay đã tạo ra sự nghi ngờ khi nền kinh tế có biến động, đặc biệt khi các kế hoạch quản lý thanh khoản của ngân hàng còn chưa đầy đủ (Rochet, 2009; Obi-Nwosu và cộng sự, 2018).
RRTK cũng có thể phát sinh từ hành vi của khách hàng. Sự gia tăng của nợ xấu là một ví dụ điển hình. Khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao, ngân hàng không thể thu hồi được các khoản nợ, gây ra tình trạng thiếu hụt tiền mặt và mất khả năng thanh toán (Lukorito và cộng sự, 2015; Rose, 2003). Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn, nơi rủi ro tín dụng chuyển hóa thành rủi ro thanh khoản. Bên cạnh đó, sự thay đổi trong hành vi của khách hàng do nhạy cảm với lãi suất cũng là một yếu tố. Khi lãi suất tăng, người gửi tiền có thể rút tiền để tìm kiếm các cơ hội đầu tư khác mang lại lợi nhuận cao hơn, làm giảm nguồn vốn huy động của ngân hàng. Mặt khác, những cam kết ngoại bảng như hạn mức tín dụng và các sản phẩm phái sinh cũng có thể tạo ra nhu cầu thanh khoản đột ngột trong bối cảnh thị trường bất ổn, gây khó khăn trong việc quản lý dòng tiền của ngân hàng (Rochet, 2009; Emefiele, 2016). Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
2.2.3. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại
Việc đo lường rủi ro thanh khoản là một thách thức đối với hoạt động ngân hàng do không có một chỉ số duy nhất được chấp nhận rộng rãi (Leykun, 2017). Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã phát triển nhiều phương pháp và chỉ số khác nhau để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng. Các chỉ số này bao gồm:
Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản (ETA): Chỉ số này phản ánh khả năng tự bảo vệ của ngân hàng trước các rủi ro. Tỷ lệ này càng cao, khả năng thanh khoản của ngân hàng càng được đảm bảo (Trần Huy Hoàng, 2012; Trương Quang Thông, 2014). Tại Việt Nam, theo thông tư 41/2017/TT-NHNN, NHNN yêu cầu các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ở mức 8%. Mặc dù tỷ lệ này không đồng nhất, nhưng nó gián tiếp cho thấy các ngân hàng phải có một lượng vốn tự có đủ lớn để đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn. Trong đó, tỷ lệ này vẫn có sự khác biệt giữa các nhóm ngân hàng:
Các NHTM Nhà nước: Do có quy mô lớn thường các ngân hàng này có thể duy trì tỷ lệ này thấp hơn, thường ở mức 6% – 8%.
Các ngân hàng thương mại cổ phần: Các ngân hàng này thường có tỷ lệ ETA cao hơn, có thể lên tới 8% – 10% hoặc hơn, do khả năng và áp lực phải tăng vốn điều lệ để cạnh tranh và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế như Basel. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này cao (trên 10%) cho thấy ngân hàng có khả năng chống đỡ rủi ro tốt và ít phụ thuộc vào nợ vay. Ngược lại, tỷ lệ ETA thấp có thể làm gia tăng rủi ro khi có biến động kinh tế, nhưng cũng có thể cho thấy ngân hàng đang sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả để tối đa hóa lợi nhuận.
Chỉ số trạng thái tiền mặt (CASH): Đo lường khả năng thanh toán của ngân hàng bằng cách so sánh lượng tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn với tổng tài sản. Chỉ số CASH thấp cho thấy ngân hàng có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ và cần tìm kiếm nguồn vốn bổ sung (Chen và Mahajan, 2011; Liu, 2012; Ngwu, 2007).
Chỉ số này thể hiện khả năng ngân hàng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán ngắn hạn bằng tài sản có tính thanh khoản cao nhất.
Trong bối cảnh hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, do cơ cấu tài sản thiên về tín dụng và đầu tư sinh lợi, tỷ trọng tài sản thanh khoản tuyệt đối thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng tài sản. Do đó, mức CASH trong khoảng 5–10% được xem là hợp lý và phản ánh trạng thái thanh khoản an toàn.
Cụ thể: Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
- CASH ≥ 10%: Vùng an toàn cao, cho thấy ngân hàng có dự trữ thanh khoản dồi dào và khả năng ứng phó tốt với rủi ro rút vốn đột ngột.
- 0,07 ≤ CASH < 0,10: Vùng an toàn – thận trọng, thanh khoản ổn định nhưng cần theo dõi biến động dòng tiền.
- 0,05 ≤ CASH < 0,07: Vùng cảnh báo nhẹ, ngân hàng có thể gặp áp lực thanh khoản nếu thị trường biến động mạnh.
- CASH < 0,05: Vùng rủi ro thanh khoản cao, cần điều chỉnh cấu trúc tài sản hoặc tăng dự trữ tiền mặt để đảm bảo khả năng thanh toán.
Chỉ số này giúp đánh giá mức độ chủ động của ngân hàng trong quản trị rủi ro thanh khoản và là cơ sở hữu ích để so sánh hiệu quả quản trị thanh khoản giữa các ngân hàng qua các giai đoạn.
Tỷ lệ cấp tín dụng so với tổng vốn huy động: Phản ánh khả năng sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay của ngân hàng. Một tỷ lệ LDR quá cao cho thấy ngân hàng có thể gặp rủi ro thanh khoản nếu khách hàng đồng loạt rút tiền, trong khi tỷ lệ quá thấp có thể cho thấy ngân hàng chưa tận dụng hết khả năng kinh doanh (Vodova, 2012; Mogusu và cộng sự, 2023).
Tại Việt Nam theo thông tư 36/2015/TT-NHNN và sau đó là Thông tư 22/2020/TT-NHNN đã quy định tỷ lệ LDR tối đa là 85% đối với các NHTM. Tuy nhiên, các quy định này đã được sửa đổi và hiện nay, tỷ lệ LDR không còn được áp dụng cho toàn bộ nguồn vốn huy động mà tập trung vào các tiêu chuẩn khác như tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Mặc dù vậy, tỷ lệ LDR vẫn là một chỉ số được các nhà phân tích sử dụng để đánh giá sức khỏe tài chính của từng ngân hàng. Cụ thể, các NHTM Nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần thường duy trì tỷ lệ này ở mức cao, có thể lên tới 80% – 82%. Trong khi đó, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thường có tỷ lệ thấp hơn, khoảng 40% – 50%.
- Tỷ lệ cấp tín dụng trong khoảng an toàn (ví dụ: 80% – 85%): Thể hiện ngân hàng đang sử dụng vốn hiệu quả để cho vay và tạo ra lợi nhuận, đồng thời vẫn duy trì đủ thanh khoản để đáp ứng nhu cầu rút tiền đột ngột.
- Tỷ lệ cấp tín dụng quá cao (trên 100%): Cho thấy ngân hàng đang cho vay nhiều hơn số tiền huy động được, phải sử dụng các nguồn vốn khác như vốn vay liên ngân hàng hoặc vốn tự có. Mặc dù có thể mang lại lợi nhuận cao, nhưng điều này làm tăng rủi ro thanh khoản nếu có biến động trên thị trường.
- Tỷ lệ LDR quá thấp: Cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động. Việc này có thể làm giảm khả năng sinh lời và bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh.
2.3. Hoạt động của ngân hàng thương mại Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
2.3.1. Khái niệm hoạt động của ngân hàng thương mại
Hoạt động của NHTM là một hệ thống các nghiệp vụ kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, đồng thời thực hiện vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế. Theo Mishkin (2014) thì NHTM là tổ chức tài chính nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức, sau đó sử dụng những khoản tiền này để cho vay. Hay nói cách khác chức năng cơ bản nhất của ngân hàng là nhận tiền gửi và cấp tín dụng, đồng thời xác định vị trí của ngân hàng trong hệ thống tài chính.
Tại Việt Nam, theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2025 (có hiệu lực từ năm 2026) thì hoạt động ngân hàng được quy định là việc kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Với quy định này thì có sự mở rộng hơn, xác định rõ hoạt động ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc thù, bao gồm cả các dịch vụ thanh toán.
Tóm lại, hoạt động của NHTM là một chuỗi các nghiệp vụ cốt lõi, bao gồm huy động vốn, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán, nhằm thực hiện vai trò trung gian tài chính và mang lại lợi nhuận cho tổ chức.
2.3.2. Vai trò của hoạt động ngân hàng thương mại Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Đối với doanh nghiệp: NHTM là đối tác tài chính không thể thiếu của các doanh nghiệp. Chúng cung cấp các nguồn vốn tín dụng đa dạng, giúp doanh nghiệp duy trì, mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư vào các dự án mới (MSB). Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế có những biến động, các chương trình hỗ trợ tín dụng của NHTM giúp doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vượt qua khó khăn tài chính, phục hồi và tăng trưởng (Nguyễn Kim Quốc Trung, 2018). Ngoài ra, NHTM còn cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế, bảo lãnh, và các công cụ phái sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia vào thương mại toàn cầu.
Đối với cá nhân và hộ gia đình: NHTM cung cấp một kênh an toàn và hiệu quả để quản lý tài sản và thực hiện các giao dịch tài chính. Ngân hàng nhận tiền gửi nhàn rỗi, giúp người dân bảo toàn và sinh lời từ khoản tiết kiệm của mình. Đồng thời, các khoản vay tiêu dùng, vay mua nhà, mua xe giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống. Các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ tín dụng, chuyển khoản online và ví điện tử cũng giúp các giao dịch hàng ngày trở nên nhanh chóng và tiện lợi hơn. Vai trò này góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội (Nguyễn Thùy Dương và Nguyễn Thị Thu Trang, 2021).
Đối với Chính phủ và nền kinh tế vĩ mô: Ở cấp độ vĩ mô, NHTM là công cụ hữu hiệu để Chính phủ và NHNN thực thi chính sách tiền tệ. Thông qua các nghiệp vụ của mình, NHTM giúp NHNN kiểm soát lượng tiền tệ lưu thông, điều chỉnh lãi suất, góp phần ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát. Hơn nữa, NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa dòng vốn, chuyển nguồn vốn từ những nơi dư thừa sang những nơi thiếu hụt, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Một hệ thống NHTM vững mạnh còn là trụ cột để duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, giúp nền kinh tế chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài (Nguyễn Văn Tiến, 2016).
2.3.3. Các chỉ tiêu đo lường hoạt động của ngân hàng thương mại
Để đánh giá hiệu quả hoạt động của một NHTM một cách toàn diện, cần phân tích hai nhóm chỉ tiêu chính đó là khả năng sinh lời và hiệu quả quản lý rủi ro. Sự kết hợp của hai nhóm này sẽ cung cấp rõ ràng về năng lực tài chính và khả năng phát triển bền vững của ngân hàng. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả kinh doanh cốt lõi của ngân hàng. Trong đó, ROA (Tỷ suất sinh lời trên tài sản) và ROE (Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) là hai chỉ số quan trọng nhất. ROA cho thấy khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản, phản ánh hiệu quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, ROE lại tập trung vào hiệu quả sinh lời cho các cổ đông, một yếu tố then chốt thu hút và giữ chân nhà đầu tư.
Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả quản lý rủi ro lại là yếu tố đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ số cảnh báo sớm về chất lượng tín dụng. NPLs thấp cho thấy quy trình thẩm định và quản lý khoản vay của ngân hàng đang hoạt động hiệu quả. Ngược lại, nợ xấu cao sẽ làm tăng chi phí trích lập dự phòng, trực tiếp bào mòn lợi nhuận. Bên cạnh đó, tỷ lệ an toàn vốn cho biết khả năng chống chịu của ngân hàng trước những cú sốc tài chính, đảm bảo sự an toàn cho cả hệ thống. Cuối cùng, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá rủi ro thanh khoản, giúp ngân hàng duy trì sự cân bằng giữa việc sử dụng vốn để sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn.
Tuy nhiên, tại đề án này thì chỉ tiêu về khả năng sinh lời được đại diện để phản ánh cho hoạt động của NHTM. Vì xét về bản chất thì các NHTM là cơ sở kinh doanh, do đó lợi nhuận vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu. Mặt khác, trong chỉ tiêu về hiệu quả quản lý cho nợ xấu hay tỷ lệ cấp tín dụng lại đang đại diện cho rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản để xem xét ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng vì thế sẽ không phù hợp.
2.3.3.1. Lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân
ROA là một chỉ tiêu tài chính cốt lõi, phản ánh khả năng sinh lời của một ngân hàng trên tổng tài sản mà nó quản lý (Ongore, 2014). Theo Khrawish (2012), chỉ số này đánh giá hiệu quả của ban quản trị trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập. Nói cách khác, ROA cho thấy mức độ hiệu quả của ngân hàng trong việc biến các nguồn lực thành lợi nhuận. Một chỉ số ROA cao hơn cho thấy ngân hàng đang hoạt động hiệu quả hơn trong việc sử dụng tài sản của mình (Wen, 2011)
2.3.3.2. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân
ROE là chỉ số tài chính liên quan đến lợi nhuận mà một doanh nghiệp tạo ra so với tổng số vốn cổ phần đã đầu tư (Ongore, 2014). Chỉ số này đặc biệt quan trọng với các cổ đông vì nó thể hiện lợi nhuận thu được từ số vốn mà họ đã đóng góp. Một doanh nghiệp có ROE cao thường có khả năng tạo ra tiền mặt nội bộ tốt, cho thấy hiệu quả trong việc sử dụng vốn của các cổ đông. Khrawish (2012) cũng khẳng định rằng ROE phản ánh mức độ hiệu quả của ban quản lý trong việc sử dụng vốn cổ đông để tạo ra lợi nhuận. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Mặc dù cả ROA và ROE đều là các chỉ tiêu sinh lời quan trọng, tuy nhiên tại đề án này thì tác giả sẽ lựa chọn ROA làm chỉ số đại diện cho hiệu quả hoạt động của NHTM, vì các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, ROA phản ánh hiệu quả quản lý tổng thể của ngân hàng. Ngân hàng là một định chế kinh doanh đặc thù, mà tài sản chính bao gồm các khoản cho vay, đầu tư và các tài sản có sinh lời khác. Chỉ số ROA đo lường khả năng của ban quản trị trong việc sử dụng toàn bộ tài sản này để tạo ra lợi nhuận (Khrawish, 2012; Ongore, 2014). Do đó, ROA phản ánh toàn diện và chính xác hơn về hiệu suất hoạt động cốt lõi của ngân hàng, không bị ảnh hưởng bởi cấu trúc vốn.
Thứ hai, ROA loại bỏ được sự sai lệch do đòn bẩy tài chính. Chỉ số ROE, mặc dù quan trọng với cổ đông, lại có thể bị phóng đại hóa khi ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức (tức là sử dụng nhiều vốn vay so với vốn chủ sở hữu). Một NHTM có ROE cao nhưng ROA thấp có thể tiềm ẩn rủi ro lớn, vì đang dựa vào nợ vay để gia tăng nhanh lợi nhuận. Khi nền kinh tế gặp khó khăn, rủi ro này có thể bộc lộ và gây ra tổn thất nghiêm trọng. Do đó, khi tập trung vào ROA có thể đánh giá hiệu quả hoạt động thực chất của ngân hàng, không bị ảnh hưởng bởi mức độ rủi ro đòn bẩy mà ngân hàng chấp nhận.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là chỉ số cốt lõi và toàn diện nhất để đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ nguồn lực của một ngân hàng thương mại. Chỉ số này phản ánh khả năng sinh lời được tạo ra từ tổng tài sản, bao gồm cả vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động (nợ) chiếm tỷ trọng chủ yếu. Trong bối cảnh ngành ngân hàng có đòn bẩy tài chính cao, việc tập trung vào ROA cho phép nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý đánh giá hiệu quả quản lý tài sản và năng lực tạo ra thu nhập từ các hoạt động cốt lõi như cấp tín dụng và đầu tư, thay vì chỉ tập trung vào cấu trúc tài trợ. Đây là một thước đo khách quan về năng lực tài chính cốt lõi và hiệu suất hoạt động, cho thấy mức độ thành công của ban lãnh đạo trong việc chuyển đổi tài sản thành lợi nhuận ròng. Do đó, ROA cung cấp cái nhìn sâu sắc về sức khỏe hoạt động và sự bền vững của mô hình kinh doanh ngân hàng, trở thành chỉ báo không thể thiếu để đo lường hiệu quả sử dụng nguồn lực trong toàn hệ thống.
Sự ưu tiên của ROA so với ROE càng được khẳng định dưới góc độ quản lý và giám sát của NHNN. Ưu điểm vượt trội của ROA là khả năng loại trừ ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, cho phép NHNN thực hiện việc so sánh hiệu suất thực chất giữa các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu khác nhau một cách công bằng. Trong khi ROE có thể bị thổi phồng bởi việc sử dụng đòn bẩy quá mức một hành vi tiềm ẩn rủi ro an toàn vốn ROA tập trung vào chất lượng sinh lời của tài sản, vốn là ưu tiên hàng đầu của cơ quan quản lý nhằm đảm bảo sự ổn định và an toàn tài chính hệ thống. Do không bị bóp méo bởi cấu trúc vốn nội tại, ROA được xem là chỉ số có tính đại diện cao hơn và cung cấp cơ sở vững chắc hơn về năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động bền vững của NHTM, từ đó giúp NHNN đưa ra các chính sách điều hành và giám sát hệ thống chính xác và hiệu quả hơn.
2.4. Các lý thuyết nền tảng Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
2.4.1. Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
2.4.1.1. Lý thuyết chu kì kinh tế
Lý thuyết chu kỳ kinh tế của Samuelson (1952) mô tả là sự dao động tổng thể của sản lượng, thu nhập và việc làm, có ảnh hưởng sâu sắc đến rủi ro tín dụng của các NHTM và qua đó, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chúng. Chu kỳ kinh tế bao gồm hai giai đoạn chính là mở rộng và suy thoái.
Trong giai đoạn mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, sản lượng quốc dân và việc làm tăng, lợi nhuận doanh nghiệp được cải thiện. Trong bối cảnh này, khả năng trả nợ của các khách hàng vay vốn được nâng cao, giúp giảm thiểu rủi ro vỡ nợ. Các NHTM khi đó hoạt động hiệu quả hơn, có thể đẩy mạnh hoạt động cho vay, tối ưu hóa việc tạo đòn bẩy và thu hẹp tỷ lệ nợ xấu. Điều này không chỉ củng cố chất lượng tín dụng mà còn góp phần gia tăng lợi nhuận, thúc đẩy hiệu quả hoạt động chung của ngân hàng.
Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng, và lợi nhuận doanh nghiệp sụt giảm nghiêm trọng. Khi đối mặt với những khó khăn này, khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đúng hạn, làm gia tăng nguy cơ nợ xấu. Sự suy giảm này buộc các NHTM phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro, làm bào mòn lợi nhuận và suy giảm hiệu quả hoạt động. Do đó, mối quan hệ giữa chu kỳ kinh tế và rủi ro tín dụng là nghịch biến: khi nền kinh tế tăng trưởng, rủi ro tín dụng có xu hướng giảm, và ngược lại.
Như vậy, chu kỳ kinh tế là một yếu tố vĩ mô quan trọng, quyết định chất lượng tín dụng và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời cũng như hiệu quả hoạt động của NHTM.
2.4.1.2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng được Akerlof (1970) trình bày qua “Lý thuyết thị trường quả chanh”, chỉ ra rằng sự chênh lệch thông tin giữa hai bên giao dịch có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng như lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Trong hoạt động cấp tín dụng của NHTM, tình trạng bất cân xứng thông tin xảy ra khi khách hàng vay vốn nắm giữ thông tin chi tiết hơn về năng lực tài chính, mục đích sử dụng vốn và khả năng trả nợ của bản thân so với ngân hàng. Ban đầu, khách hàng có thể tuân thủ các quy định để được giải ngân. Tuy nhiên, sau đó, việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn của họ trở nên khó khăn, dẫn đến rủi ro đạo đức. Khách hàng có thể sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư vào các dự án rủi ro cao hơn so với cam kết ban đầu, làm tăng khả năng vỡ nợ.
Để giảm thiểu rủi ro tín dụng phát sinh từ thông tin bất cân xứng, NHTM phải đầu tư chi phí lớn vào các hoạt động như thẩm định hồ sơ, giám sát sau vay và phân tích dữ liệu để hiểu rõ hơn về khách hàng. Việc này giúp ngân hàng thu hẹp khoảng cách thông tin, từ đó quản lý rủi ro tốt hơn và giảm thiểu nợ xấu, bảo vệ hiệu quả hoạt động chung.
2.4.1.3. Lý thuyết hiệu quả và chất lượng quản trị ngân hàng
Lý thuyết này cho rằng chất lượng quản trị của ngân hàng có mối liên hệ trực tiếp với rủi ro tín dụng. Berger và DeYoung (1997) lập luận rằng chi phí hoạt động thiếu hiệu quả là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu. Khi ban lãnh đạo không có năng lực quản lý chi phí và quy trình, hoạt động thẩm định và quản lý các khoản vay sẽ thiếu chặt chẽ. Điều này dẫn đến danh mục cho vay yếu kém, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Sự thiếu năng lực của ban lãnh đạo còn thể hiện ở việc đánh giá sai xếp hạng tín dụng, định giá tài sản đảm bảo không chính xác và giám sát khoản vay không hiệu quả. Khi nợ xấu phát sinh, ngân hàng phải chịu thêm các chi phí xử lý nợ. Để bù đắp, một số ngân hàng có thể đẩy mạnh cho vay, nhưng nếu không cải thiện được chất lượng quản trị, chu kỳ rủi ro sẽ lặp lại, khiến nợ xấu gia tăng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động.
Một khía cạnh khác là việc cắt giảm chi phí quá mức, đặc biệt trong các khâu thẩm định và giám sát. Mặc dù có thể gia tăng lợi nhuận trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài, việc này sẽ làm tăng rủi ro hệ thống, dẫn đến sự gia tăng nợ xấu không thể kiểm soát. Do đó, việc duy trì một chất lượng quản trị tốt, cân đối giữa chi phí và rủi ro được xem là yếu tố then chốt để quản lý rủi ro tín dụng và đảm bảo hiệu quả hoạt động bền vững của NHTM.
2.4.2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
2.4.2.1. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES – Efficient Structure) của Demsetz (1973) lập luận rằng hiệu quả của một tổ chức là yếu tố quyết định sự tồn tại và thành công của nó trên thị trường. Các doanh nghiệp không hiệu quả sẽ bị đào thải, nhường chỗ cho những đơn vị có khả năng quản lý chi phí và rủi ro tốt hơn. Lý thuyết này đặc biệt phù hợp để phân tích hoạt động của NHTM vì đây là một lĩnh vực có tính cạnh tranh cao.
Theo lý thuyết ES, một NHTM hiệu quả có khả năng kiểm soát chi phí hoạt động và đánh giá rủi ro tín dụng tốt hơn các đối thủ. Điều này tạo ra một lợi thế cạnh tranh đáng kể, cho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính với mức giá hấp dẫn hơn, từ đó thu hút và giữ chân khách hàng (Anyanwaokoro, 1996; Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga, 2019). Khi có được lượng khách hàng lớn, ngân hàng sẽ có nguồn vốn huy động dồi dào hơn, tăng cường thanh khoản và mở rộng hoạt động cho vay để gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, việc mở rộng cho vay cũng đi kèm với rủi ro. Do đó, khả năng đánh giá rủi ro trở thành yếu tố then chốt để duy trì hiệu quả và lợi nhuận. Một ngân hàng quản lý rủi ro kém có thể phải đối mặt với nợ xấu, làm suy giảm lợi nhuận và uy tín (Al-Muharrami và Matthews, 2010).
Garza-Garcia (2013) cho rằng lý thuyết ES là phù hợp với bối cảnh ngân hàng và phân loại thành hai biến thể đó là: Hiệu quả của ngân hàng phụ thuộc vào các yếu tố nội tại như quy mô, cấu trúc tổ chức và mức độ đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ. Hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi cấu trúc thị trường và mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ khác.
2.4.2.2. Lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP) nghiên cứu mối quan hệ cấu trúc thị trường sẽ ảnh hưởng đến hành vi của các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của ngành (Performance). Trong ngành ngân hàng, lý thuyết này được sử dụng để phân tích mức độ tập trung thị trường, các chiến lược cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các NHTM.
Phát triển từ SCP là lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP) của Demsetz (1973) đã nhấn mạnh rằng quyền lực thị trường và hiệu quả của một ngân hàng phụ thuộc vào vị thế và quy mô của nó so với các đối thủ. Gillian và cộng sự (1984) chỉ ra rằng những ngân hàng lớn, có mức độ tập trung cao có thể tận dụng lợi thế quyền lực để định giá dịch vụ và kiểm soát chi phí. Tuy nhiên, RMP cũng chỉ ra rằng việc chiếm ưu thế này không phải là tuyệt đối. Các ngân hàng có quyền lực thị trường cao phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ. Ngoài ra, danh tiếng và hình ảnh tốt của ngân hàng cũng là một lợi thế cạnh tranh quan trọng, giúp thu hút và giữ chân khách hàng (Berger, 1995).
Như vậy, cả hai lý thuyết SCP và RMP đều cho rằng cấu trúc thị trường và vị thế của từng ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động. Các ngân hàng có sức mạnh thị trường lớn hơn thường có lợi nhuận cao hơn (Leykun, 2017). Điều này khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa cấu trúc thị trường và khả năng sinh lời của NHTM (Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga, 2019).
2.4.2.3. Lý thuyết ưa thích thanh khoản
Lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes (1936) là một lý thuyết kinh tế vĩ mô quan trọng, giải thích tại sao các cá nhân và tổ chức lại có nhu cầu giữ tài sản dưới dạng tiền mặt hoặc các khoản đầu tư có tính thanh khoản cao. Lý thuyết này cho rằng các nhà đầu tư luôn phải cân nhắc giữa lợi nhuận và tính thanh khoản của tài sản. Theo Keynes (1936) các tài sản có tính thanh khoản cao (dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt) thường mang lại lợi suất thấp hơn so với các tài sản kém thanh khoản. Điều này là do các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận một mức lợi nhuận thấp hơn để đổi lấy sự an toàn và khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp, chẳng hạn như khủng hoảng tài chính (Leykun, 2017; Msuku, 2021; Musiega và cộng sự, 2018). Keynes (1936) đã chỉ ra ba động cơ chính thúc đẩy nhu cầu ưa thích thanh khoản:
- Động cơ giao dịch: Đây là nhu cầu giữ tiền mặt để đáp ứng các chi tiêu hàng ngày và các giao dịch ngắn hạn (Bibow, 2006; Tily, 2007).
- Động cơ dự phòng: Đây là nhu cầu giữ tiền mặt để đối phó với những rủi ro và tình huống bất ngờ trong tương lai, thể hiện nhu cầu thanh khoản trung hạn.
- Động cơ đầu cơ: Đây là nhu cầu giữ tiền mặt để chờ đợi cơ hội đầu tư dài hạn với lợi suất cao hơn, chẳng hạn như khi dự đoán lãi suất sẽ giảm trong tương lai (Bibow, 2006; Elgar, 1999).
2.4.3. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
2.4.3.1. Đối với rủi ro tín dụng
RRTD là rủi ro trọng yếu trong hoạt động của NHTM, có ảnh hưởng sâu sắc và tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh. Khi rủi ro tín dụng phát sinh, các khoản cho vay không được thu hồi đúng hạn, gây ra những hệ lụy trực tiếp đến tài chính và uy tín của ngân hàng.
Mối liên hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động được Petria và cộng sự (2016) khẳng định rõ rệt. rủi ro tín dụng ảnh hưởng tiêu cực đến các chỉ số sinh lời như ROA và ROE thông qua hai cơ chế chính:
Giảm sút doanh thu: Khi các khoản nợ không được thanh toán, thu nhập từ lãi vay của NHTM bị sụt giảm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền và lợi nhuận của ngân hàng.
Tăng chi phí: rủi ro tín dụng buộc ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu. Đồng thời, chi phí quản lý và xử lý nợ cũng gia tăng, làm bào mòn lợi nhuận. Sự tăng chi phí này khiến lợi nhuận thực tế thấp hơn so với kế hoạch đề ra.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng còn gây ra những hệ lụy nghiêm trọng hơn, đe dọa đến sự tồn tại của NHTM. Tỷ lệ nợ xấu gia tăng kéo dài sẽ làm suy yếu sức mạnh tài chính của ngân hàng, cản trở quá trình luân chuyển vốn và ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản. Mặc dù gặp khó khăn, NHTM vẫn phải cam kết hoàn trả tiền gửi cho khách hàng, khiến rủi ro mất khả năng thanh toán tăng cao. Theo Swinburne và cộng sự (2009), nếu việc quản trị rủi ro tín dụng lỏng lẻo, ngân hàng có thể đối mặt với nguy cơ phá sản. Nợ xấu không chỉ gây tổn thất tài sản và lợi nhuận mà còn làm suy giảm uy tín và điểm tín dụng của ngân hàng, dẫn đến khủng hoảng niềm tin và nguy cơ khách hàng rút tiền gửi hàng loạt. Do đó, rủi ro tín dụng được xem là nguồn gốc phát sinh nhiều rủi ro khác, là mối đe dọa hàng đầu đối với sự ổn định và hiệu quả hoạt động của NHTM.
2.4.3.2. Đối với rủi ro thanh khoản Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Theo lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes (1936), nhà đầu tư luôn muốn giữ tiền mặt để đảm bảo an toàn. Khi rủi ro thanh khoản gia tăng, để huy động vốn, các NHTM phải đưa ra lãi suất tiền gửi cao hơn, làm tăng đáng kể chi phí vốn. Đồng thời, ngân hàng có thể buộc phải bán các tài sản sinh lời với giá thấp để có tiền mặt, gây ra tổn thất. Tác động này đã được nhiều nghiên cứu thực nghiệm xác nhận. Chẳng hạn, Kosmidou và cộng sự (2013) đã chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có mối quan hệ tiêu cực với khả năng sinh lời của các ngân hàng. Điều này dẫn đến sự sụt giảm trực tiếp các chỉ số lợi nhuận cốt lõi như ROA và ROE.
RRTK là một tiêu chí quan trọng phản ánh về chất lượng quản trị của ngân hàng. Theo lý thuyết cấu trúc hiệu quả, một ngân hàng hiệu quả phải có khả năng kiểm soát chi phí và quản lý rủi ro tốt. Khi xảy ra rủi ro thanh khoản, điều này cho thấy ban lãnh đạo đã quản lý yếu kém sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn. Imbierowicz và Rauch (2015) đã chứng minh rằng việc quản trị rủi ro thanh khoản kém hiệu quả dẫn đến rủi ro vỡ nợ cao hơn, đặc biệt trong bối cảnh thị trường bất ổn.
Khi một NHTM gặp vấn đề về thanh khoản, thông tin này có thể gây ra hiệu ứng domino, làm mất niềm tin của khách hàng. Theo Swinburne và cộng sự (2009) điều này có thể dẫn đến làn sóng rút tiền gửi hàng loạt, đẩy ngân hàng vào bờ vực phá sản. Mogusu và cộng sự (2023) cũng khẳng định rằng, trong bối cảnh các ngân hàng ngày càng kết nối chặt chẽ, sự suy yếu thanh khoản của một ngân hàng có thể nhanh chóng lan rộng, đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.
2.5. Tình hình nghiên cứu
2.5.1. Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại
Đa số các nghiên cứu nước ngoài đều chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa rủi ro tín dụng và HQHĐ. Chẳng hạn tại châu Phi, các nghiên cứu của Serwadda (2019) tại Uganda, Gadzo và cộng sự (2020) và Kwashie và cộng sự (2023) tại Ghana đều thống nhất rằng tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ làm giảm các chỉ số sinh lời như ROA và ROE. Điều này được lý giải bởi việc nợ xấu làm giảm thu nhập lãi và buộc ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng, làm xói mòn lợi nhuận. Tương tự, tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ekinci và Poyraz (2020) đã chứng minh mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ nợ quá hạn và ROA, ROE, đồng thời chỉ ra các yếu tố như đòn bẩy tài chính và thanh khoản cũng có ảnh hưởng tiêu cực, trong khi quy mô ngân hàng lại có ảnh hưởng tích cực.
Một số nghiên cứu tổng quát hơn như của Abdelaziz và cộng sự (2023) trên các ngân hàng Bắc Mỹ cũng đã củng cố lập luận này. Kết quả của họ cho thấy cả rủi ro tín dụng (đo lường bằng nợ xấu) ảnh hưởng tiêu cực đến ROA và ROE, khẳng định rằng đây là một vấn đề mang tính toàn cầu. Đáng chú ý, Arrdelia và Lubis (2024) trong nghiên cứu tại Indonesia đã lồng ghép thêm biến giả cho đại dịch Covid 19 và kết quả cũng cho thấy nợ xấu có ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ đến ROA và NIM, đồng thời đại dịch cũng làm suy giảm lợi nhuận. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng có kết luận tương tự như Nguyễn Kim Quốc Trung (2022) đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng có mối quan hệ tiêu cực với ROE của các NHTM Việt Nam. Lê Tú (2018), Nguyễn Trần Thái Hà và Nguyễn Vĩnh Khương (2023) và Tăng Mỹ Sáng và Nguyễn Quốc Anh (2023) cũng đều tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ nghịch chiều giữa nợ xấu và các chỉ tiêu HQHĐ như ROA, ROE. Điều này nhấn mạnh rằng rủi ro tín dụng không chỉ là vấn đề của từng ngân hàng mà còn là một rủi ro mang tính hệ thống.
Tuy nhiên, một số ít nghiên cứu lại đưa ra kết quả trái ngược, như của Nguyễn Thành Đạt (2021) và Nguyễn Quốc Anh (2024). Cụ thể, các tác giả này tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động. Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi một số yếu tố. Ví dụ, trong một số trường hợp, việc tăng trưởng tín dụng nóng có thể làm tăng lợi nhuận trong ngắn hạn, đồng thời cũng làm phát sinh nợ xấu. Hoặc sự khác biệt trong phương pháp đo lường nợ xấu (tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ trích lập dự phòng) hay giai đoạn nghiên cứu cũng có thể dẫn đến những kết quả không đồng nhất. Dù vậy, phần lớn các bằng chứng thực nghiệm đều ủng hộ giả thuyết rằng rủi ro tín dụng là một trong những yếu tố chính gây suy giảm hiệu quả hoạt động của NHTM.
2.5.2. Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại
Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa thanh khoản và khả năng sinh lời. Alshatti (2016) và Lartey và cộng sự (2014) lập luận rằng một ngân hàng quản lý thanh khoản hiệu quả sẽ có lợi nhuận cao hơn. Điều này có thể được giải thích bằng việc ngân hàng đó có đủ tài sản thanh khoản để đáp ứng nhu cầu rút tiền đột ngột, giúp duy trì niềm tin của khách hàng và tránh được các chi phí huy động vốn khẩn cấp với lãi suất cao. Arif và Anees (2013) cũng ủng hộ quan điểm này khi cho rằng việc tăng tiền gửi sẽ làm tăng khả năng sinh lời, do giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn đắt đỏ từ ngân hàng trung ương. Các kết quả này cho thấy, khi được quản lý tốt, thanh khoản không chỉ là một yêu cầu về an toàn mà còn là một lợi thế cạnh tranh, giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Ngược lại, nhiều nghiên cứu khác lại chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động. Khalid và cộng sự (2020) đã chứng minh rằng rủi ro thanh khoản cao hơn thường đi kèm với hiệu suất hoạt động thấp hơn. Điều này được lý giải bởi chi phí cơ hội. Khi một ngân hàng giữ quá nhiều tài sản có tính thanh khoản cao (ví dụ: tiền mặt, chứng khoán chính phủ), những tài sản này thường mang lại lợi suất thấp hơn so với các khoản cho vay. Do đó, việc duy trì một lượng thanh khoản quá lớn để phòng ngừa rủi ro sẽ làm giảm lợi nhuận. Mustafa (2020) đã chỉ ra sự đối nghịch giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời, nhấn mạnh rằng các nhà quản lý phải tìm ra sự cân bằng hợp lý. Hơn nữa, Distinguin và cộng sự (2015) đã sử dụng chỉ số thanh khoản để dự đoán khó khăn tài chính, cho thấy rủi ro thanh khoản không chỉ làm giảm lợi nhuận mà còn có thể là dấu hiệu sớm của các vấn đề nghiêm trọng hơn.
Các nghiên cứu tại Việt Nam đã đưa ra nhiều kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động, tạo nên các kết quả đa chiều. Khi phân tích, có thể thấy các nghiên cứu này thường tập trung vào hai khía cạnh chính những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản và mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro thanh khoản và HQHĐ.
Trương Quang Thông (2014) và Đặng Văn Dân (2016) đã xác định các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản. Kết quả đều chỉ ra rằng lợi nhuận, tỷ lệ dư nợ cho vay và nợ xấu có mối liên hệ mật thiết với rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn hạn chế bởi việc sử dụng dữ liệu trong thời gian ngắn và chưa xem xét đến các yếu tố vĩ mô. Mặc dù vậy, các nghiên cứu này rõ hơn về các nguyên nhân bên trong dẫn đến rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam.
Sau đó, các nghiên cứu khác xem xét về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và HQHĐ, nhưng lại cho ra kết quả trái ngược. Đoàn Việt Hùng (2017), Trần Huy Hoàng và Trần Thị Bích Loan (2022), Trần Thị Thanh Nga (2019) đã chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động. Kết quả chung từ các nghiên cứu này rủi ro thanh khoản làm giảm lợi nhuận ròng, tăng chi phí vốn và thậm chí có thể làm tăng nợ xấu, tạo ra một vòng luẩn quẩn ảnh hưởng đến sức khỏe tài chính của ngân hàng. Đặc biệt, nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga (2019) mở rộng phạm vi ra cả khu vực Đông Nam Á và cũng khẳng định rủi ro thanh khoản có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động, cho thấy đây là một vấn đề mang tính khu vực.
Tuy nhiên, Tăng Mỹ Sang (2021) nhận định rằng quản trị thanh khoản có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời. Lập luận này dựa trên quan điểm rằng việc duy trì thanh khoản tốt sẽ giúp ngân hàng tăng khả năng thanh toán, củng cố niềm tin khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào một số ngân hàng lớn, do đó tính đại diện cho toàn bộ hệ thống còn hạn chế.
2.5.3. Nhận xét các nghiên cứu liên quan Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Các nghiên cứu đều tương đồng trong việc sử dụng ROA và ROE để đo lường hiệu quả hoạt động; tỷ lệ nợ xấu để đại diện cho rủi ro tín dụng; tỷ lệ cấp tín dụng và tỷ lệ vốn tự có đại diện cho rủi ro thanh khoản. Biến kiểm soát phổ biến nhất là quy mô ngân hàng bởi đây là yếu tố then chốt quyết định chiến lược và năng lực quản trị. Hầu hết các nghiên cứu này, cả trong và ngoài nước, đều khẳng định mối quan hệ nghịch chiều giữa rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động, phản ánh tác động tiêu cực của nợ xấu lên lợi nhuận. Mặc dù đa số kết luận mối quan hệ tiêu cực, một số nghiên cứu lại đưa ra kết quả trái chiều. Nguyễn Thành Đạt (2021) và Nguyễn Quốc Anh (2024) tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động, lập luận rằng rủi ro có thể thúc đẩy ngân hàng thay đổi chiến lược kinh doanh. Tương tự, mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và HQHĐ nhiều nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản ảnh hưởng tiêu cực, thì Tăng Mỹ Sang (2021) lại nhận định rằng quản trị thanh khoản hiệu quả có tác động tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng lớn.
Tuy nhiên, có một khoảng trống nghiên cứu quan trọng liên quan đến sở hữu Nhà nước tại các NHTM Việt Nam. Việt Nam có hai nhóm NHTM chiếm thị phần lớn là các ngân hàng có sở hữu Nhà nước và ngân hàng tư nhân. Hai nhóm này có những đặc thù riêng về cơ cấu tổ chức, định hướng chiến lược và khẩu vị rủi ro. Các ngân hàng có sở hữu Nhà nước thường có lợi thế về nguồn vốn, uy tín và được kỳ vọng thực hiện các chính sách vĩ mô của Chính phủ. Ngược lại, các ngân hàng tư nhân hoạt động linh hoạt hơn, hướng đến tối đa hóa lợi nhuận và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã lược khảo chưa tập trung sâu vào việc phân tích liệu yếu tố sở hữu Nhà nước có tác động khác biệt đến mối quan hệ giữa các rủi ro (đặc biệt là rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản) và hiệu quả hoạt động.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 tổng hợp các lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động tại các NHTM cũng như các cách đo lường các chỉ tiêu đó. Đồng thời, tại chương này tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động của NHTM. Chương 2 cũng tập hợp được công trình về sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và hiệu quả hoạt động tại các NHTM. Từ đó xác định các khoảng trống tạo cơ sở để chương sau lựa chọn các yếu tố xây dựng mô hình vào bối cảnh ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Luận văn: Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản ngân hàng

Pingback: Luận văn: KQNC Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản ngân hàng