Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Tác giả tiến hành thực hiện thống kê mô tả mẫu nghiên cứu nhằm mục đích hiểu được đặc điểm thống kê phân phối của các biến trong mô hình. Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát được thể hiện trong bảng dưới đây:
- Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát
Dựa trên kết quả mô tả số liệu, biến SR (tỷ suất sinh lời cổ phiếu) có trung bình số liệu là 17,652% và độ lệch chuẩn 55,601% cùng độ biến thiên từ -94,325% đến 269,042%. Độ lệch chuẩn khá lớn cho thấy tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết khá phân tán, có thể thấy được trong giai đoạn nghiên cứu thì biến SR biến động tương đối mạnh.
Đối với biến DPR (tỷ lệ chi trả cổ tức) có giá trị bình quân là 17,605%; Độ lệch chuẩn 45,130% và biến thiên từ 0 đến 344,331%. Giá trị này cho thấy tình trạng phổ biến của các ngân hàng trong việc giữ lại lợi nhuận thay vì chi trả cổ tức, trong khi một số ngân hàng khác có tỷ lệ chi trả rất cao. Đồng thời mức biến thiên rộng cho thấy sự khác biệt đáng kể về Chính sách cổ tức giữa các ngân hàng.
Biến EPS (thu nhập trên mỗi cổ phiếu) có giá trị trung bình 1.146,773 đồng và độ lệch chuẩn 1.202,384 đồng với mức biến thiên từ -8.394 đồng đến 5.351 đồng. Điều này phản ánh sự khác biệt nhất định về khả năng sinh lời trên mỗi cổ phiếu giữa các ngân hàng.
Biến ROE (tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) có giá trị trung bình 12,416%; Độ lệch chuẩn là 10,879% với biên độ dao động từ -91,690% đến 30,330%. Mức độ phân tán lớn của dữ liệu cho thấy giữa các ngân hàng có hiệu quả sử dụng vốn chênh lệch đáng kể.
Biến F (tỷ lệ lạm phát) có giá trị bình quân là 2,919%, độ biến thiên 0,779% và dao động từ 0,631% đến 3,621% cho thấy mức biến động trung bình của điều kiện kinh tế vĩ mô của Việt Nam ở giai đoạn nghiên cứu.
Biến GDP (tốc độ tăng trưởng kinh tế) có giá trị trung bình 5,925%, độ lệch chuẩn 2,102% và biến động từ 2,554% đến 8,538%, sự thay đổi tương đối lớn của tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các năm được phản ánh rõ ràng qua chỉ tiêu này.
4.2. Phân tích sự tương quan của các biến độc lập trong mô hình Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
4.2.1 Phân tích hệ số tương quan Pearson
Mối liên hệ giữa các biến trong mô hình được xem xét thông qua ma trận tương quan. Ma trận này giúp nghiên cứu xác định được mối quan hệ tuyến tính và mức độ tương tác của các biến theo cặp trong mô hình nghiên cứu. Trong đó, hệ số tương quan nằm trong khoảng từ -1 đến 1, phản ánh mức độ và chiều hướng tác động giữa từng cặp biến.
Kết quả kiểm định bằng hệ số tương quan Pearson được tổng hợp trong bảng dưới đây, qua đó cho thấy mức độ và chiều hướng mối liên kết giữa các biến số trong nghiên cứu, bao gồm biến phụ thuộc và biến độc lập như sau:
- Bảng 4.2: Phân tích tương quan của các biến độc lập và phụ thuộc trong mô hình
Kết quả phân tích ma trận tương quan cho thấy mối quan hệ khá rõ ràng giữa các biến. Tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR) có mối quan hệ tương quan dương với EPS (0,180) và DPR (0,121), ý nghĩa rằng khi lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và tỷ lệ chi trả cổ tức tăng thì suất sinh lợi cũng có xu hướng tăng. Ngược lại, SR có tương quan âm với F (-0,303) và GDP (-0,466). Kết quả này cho thấy được trong bối cảnh lạm phát tăng hoặc nền kinh tế tăng trưởng mạnh, suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán có thể bị điều chỉnh giảm do chi phí vốn hoặc kỳ vọng thị trường. Về mặt kinh tế, lạm phát cao làm chi phí vốn tăng, giảm sức mua và ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, EPS và ROE có mối tương quan rất mạnh (0,770), cho thấy lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu liên kết mạnh mẽ với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Đây là bằng chứng cho thấy các chỉ tiêu tài chính nội tại có mối liên hệ mật thiết và cùng phản ánh hiệu quả hoạt động của Ngân hàng niêm yết. Ngoài ra, F và GDP có tương quan dương (0,321), cho thấy được rằng khi nền kinh tế tăng trưởng, lạm phát cũng có xu hướng tăng. Tuy nhiên, mối quan hệ này lại đi kèm với tác động tiêu cực đến SR, cho thấy sự phức tạp trong cách yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
Phân tích hệ số tương quan Pearson cho thấy tất cả các giá trị đều dưới mức 0,8. Điều này chứng tỏ giữa các biến độc lập không có đa cộng tuyến đáng kể, giúp đảm bảo độ tin cậy cho mô hình hồi quy.
4.2.2 Phân tích hệ số phóng đại phương sai VIF Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Kết quả kiểm định VIF cho thấy rằng mô hình không có dấu hiệu xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tất cả các biến đều có giá trị VIF nhỏ hơn giá trị ngưỡng là 10, trong đó biến EPS có VIF cao nhất bằng 2,510 nhưng vẫn nằm trong giới hạn có thể chấp nhận. Các biến còn lại đều có giá trị VIF dưới 2,5, mức độ tương quan tuyến tính giữa các biến độc thấp được cho thấy là thấp, cho thấy hầu như không có hiện tượng đa cộng tuyến đáng kể. Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến được thể hiện trong bảng dưới đây:
- Bảng 4.3: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
Ngoài ra, giá trị VIF trung bình là 1,700 cho thấy rằng mô hình hồi quy không bị ảnh hưởng đáng kể bởi hiện tượng đa cộng tuyến, đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng và cho phép phân tích mà không cần loại bỏ hay điều chỉnh biến độc lập nào.
4.3. Phân tích kết quả hồi quy
4.3.1 Kết quả hồi quy của các mô hình
Sau khi thực hiện thống kê mô tả mẫu và phân tích tương quan giữa các biến. Pooled OLS, FEM và REM được sử dụng để hồi quy dữ liệu, kết quả được thể hiện cụ thể ở bảng sau:
- Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả hồi quy Pooled OLS, FEM và REM
Kết quả hồi quy cho thấy biến tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR) có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5% trong cả ba mô hình. Điều này cho thấy hàm ý rằng tỷ lệ chi trả cổ tức cao có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR), phù hợp với kỳ vọng ban đầu rằng việc chi trả cổ tức cao sẽ tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, biến thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) cũng có hệ số dương và rất có ý nghĩa thống kê (1%), phản ánh rằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu càng cao thì tỷ suất sinh lời cổ phiếu càng tăng, cho thấy ngân hàng hoạt động càng tốt thì thị trường đánh giá càng cao.
Ngược lại, biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) lại mang hệ số âm. Trong Pooled OLS và REM, ROE có ý nghĩa ở mức 5%, còn trong FEM chỉ đạt mức 10%. Kết quả này trái ngược với kỳ vọng thông thường, điều này hàm ý rằng trong mẫu dữ liệu, Ngân hàng niêm yết có ROE cao chưa chắc được thị trường phản ứng tích cực, điều này có thể do khi ROE càng cao thì rủi ro hoặc biến động lớn đi kèm.
Biến tỷ lệ lạm phát (F) cũng có hệ số âm và có ý nghĩa ở mức 5% trong cả ba mô hình, cho thấy khi lạm phát tăng cao thì tỷ suất sinh lời cổ phiếu giảm. Đáng chú ý, biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có hệ số âm và rất có ý nghĩa trong mô hình với mức ý nghĩa 1% trong cả ba mô hình, chứng tỏ rằng tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nghiên cứu lại gắn với việc giảm tỷ suất sinh lời cổ phiếu, điều này có thể phản ánh đặc thù ngành hoặc thị trường trong giai đoạn nghiên cứu.
R² của Pooled OLS là 0,310, trong khi FEM đạt 0,335 (within) và REM đạt 0,310 (overall). Việc sử dụng R² within cho mô hình FEM do FEM chỉ khai thác biến động nội nhóm. Đối với mô hình REM, tác giả sử dụng R² overall để phản ánh mức độ giải thích tổng thể, tương tự mô hình Pooled OLS.
4.3.2 So sánh sự phù hợp giữa mô hình hồi quy gộp Pooled OLS và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên REM Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Để xác định mô hình hồi quy phù hợp, tác giả đã tiến hành kiểm định LM-test nhằm so sánh giữa Pooled OLS và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Kết quả kiểm định này giúp đưa ra lựa chọn chính xác về mô hình sử dụng trong nghiên cứu trong hai mô hình này.
Bảng 4.5 thể hiện kết quả kiểm định LM-test có giá trị Prob > chibar2 = 1,000 > 5%, do đó ta bác bỏ giả thuyết H1 và chấp nhận giả thuyết H0. Qua kiểm định, không phát hiện bằng chứng thống kê nào về sự tồn tại của hiệu ứng ngẫu nhiên. Điều này hàm ý rằng mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS) mang lại kết quả có mức đáng tin cậy hơn so với mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) trong bối cảnh của nghiên cứu.
- Bảng 4.5: Kết quả kiểm định LM-test
4.3.3 So sánh sự phù hợp giữa mô hinh hồi quy gộp Pooled OLS và mô hình tác động cố định FEM
Quá trình phân tích nhằm xác định mô hình hồi quy phù hợp giữa Pooled OLS và FEM được thực hiện thông qua kiểm định F-test. Kết quả kiểm định này được tổng hợp và trình bày chi tiết trong bảng sau:
- Bảng 4.6: Kết quả kiểm định F-test
Bảng 4.6 thể hiện kết quả kiểm định F-test ở giá trị F(26, 165) = 0,610, P-value = 0,934> 5%, ta bác bỏ giả thuyết H1, đồng nghĩa với việc mô hình hồi quy gộp Pooled OLS là phù hợp hơn so với mô hình hiệu ứng cố định FEM. Vì vậy mô hình hồi quy gộp Pooled OLS sẽ được sử dụng làm mô hình chính trong phân tích dữ liệu bảng của nghiên cứu.
4.3.4 Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Để kiểm tra giả định về phương sai không đổi trong mô hình hồi quy Pooled OLS, nghiên cứu sử dụng kiểm định Breusch–Pagan. Kết quả kiểm định như sau:
- Bảng 4.7: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi
Bảng 4.7 thể hiện kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi với Prob > chi2 = 0,0002 < 5%, ta bác bỏ giả thuyết H0 rằng phương sai của sai số là không đổi. Điều này cho thấy có tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình, điều này có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của sai số chuẩn và kiểm định thống kê.
4.3.5 Kiểm định tự tương quan Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Kiểm định Wooldridge tiến hành nhằm hỗ trợ kiểm tra giả định về sự tồn tại của hiện tượng tự tương quan bậc nhất trong sai số của mô hình dữ liệu bảng. Đây là bước quan trọng để đảm bảo ước lượng hồi quy có độ tin cậy cao.
- Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tự tương quan
Bảng 4.8 cho thấy kiểm định Wooldridge đạt giá trị thống kê F(1,26) đạt 5,711 với mức ý nghĩa p-value là 0,224. Vì p-value vượt ngưỡng 5%, giả thuyết H₀ về việc không tồn tại tự tương quan trong sai số không bị bác bỏ. Điều này đồng nghĩa với việc có phát hiện bằng chứng thống kê về hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Cho thấy mô hình tồn tại hiện tượng tự tương quan bậc nhất trong sai số của dữ liệu bảng.
Việc tồn tại của tự tương quan cùng với phương sai thay đổi làm vi phạm các giả định của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển, điều này có thể dẫn đến sai lệch trong ước lượng sai số chuẩn.
4.3.6 Khắc phục khuyết tật mô hình bằng mô hình hồi quy với sai số chuẩn mạnh (Robust Standard Errors Model)
Như đã trình bày ở trên, nghiên cứu tiến hành các kiểm định chẩn đoán nhằm đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy. Kết quả kiểm định Breusch–Pagan cho thấy p-value = 0,0002 nhỏ hơn mức ý nghĩa 5%, cho thấy mô hình tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi.
Bên cạnh đó, kiểm định Wooldridge cho dữ liệu bảng cho kết quả p-value = 0,0244 nhỏ hơn mức ý nghĩa 5%, do đó điều này chứng tỏ mô hình tồn tại hiện tượng tự tương quan trong phần sai số. Sự tồn tại đồng thời của phương sai thay đổi và tự tương quan làm vi phạm các giả định của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển, có thể dẫn đến sai số chuẩn bị chệch và làm cho các kiểm định thống kê kém tin cậy.
Để khắc phục vấn đề này, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy với sai số chuẩn mạnh (Robust Standard Errors) nhằm xử lý đồng thời hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan trong từng đơn vị quan sát.
- Bảng 4.9: Kết quả ước lượng mô hình Pooled OLS sau khi khắc phục khuyết tật bằng phương pháp ước lượng sai số chuẩn mạnh (Robust Standard Errors Model)
Kết quả hồi quy sau điều chỉnh cho thấy các biến DPR, EPS, ROE, F và GDP vẫn duy trì ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%, chứng tỏ kết quả nghiên cứu có tính ổn định và độ tin cậy cao. Phương trình hồi quy được viết như sau:
- SRit = 0,190×DPRit + 0.015×EPSit – 1,034×ROEit – 11,179×Ft – 11,120×GDPt
4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
4.4.1 Kết quả nghiên cứu
Kết quả của mô hình hồi quy gộp sau khi đã khắc phục khuyết tật được thể hiện ở bảng bên dưới:
- Bảng 4.10: Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Như đã nêu ở trên, sau khi thực hiện kiểm định bằng các phương pháp Pooled OLS, FEM và REM. Thông qua kiểm định lựa chọn mô hình bằng phương pháp LM-test và F-test, kết quả cho thấy mô hình Pooled OLS là mô hình phù hợp nhất trong ba mô hình. Do đó, tác giả tiến hành phân tích kết quả thực nghiệm thông qua kết quả từ mô hình Pooled OLS. Tiếp đó, tác giả tiến hành xác định khuyết tật sau khi hồi quy thông qua kiểm định Breusch–Pagan và Wooldridge. Kết quả cho thấy có xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan trong mô hình, điều này cần có biện pháp điều chỉnh để các ước lượng được đảm bảo độ tin cậy.
Nhằm mục đích khắc phục các khuyết tật này, tác giả tiến hành kiểm định ước lượng sai số chuẩn mạnh (Robust Standard Errors Model). Kết quả phân tích minh chứng rằng các biến độc lập trong mô hình phản ánh ảnh hưởng phù hợp với lý thuyết và kỳ vọng ở các mức ý nghĩa khác nhau, ngoại trừ biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE) và tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có kết quả trái với kỳ vọng nghiên cứu ban đầu.
Biến tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR) có chiều tác động đồng biến với mức ý nghĩa thống kê 5% đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR), Điều này hàm ý rằng khi tỷ lệ chi trả cổ tức cao, tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết trong mẫu nghiên cứu có xu hướng gia tăng tương ứng. Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu rằng Chính sách cổ tức có thể cho thấy được tín hiệu tích cực về triển vọng tài chính khả quan của ngân hàng và qua đó góp phần làm tăng độ tin cậy từ dưới góc nhìn của các nhà đầu tư. Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Bên cạnh đó, biến thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) có tác động thuận chiều đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR) với mức ý nghĩa 1%. Kết quả này phản ánh rằng khi mức độ sinh lời và hiệu quả sử dụng vốn của các Ngân hàng niêm yết trong mẫu nghiên cứu càng tăng thì tỷ suất sinh lời cổ phiếu càng cao. EPS là một trong hai biến có ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ nhất trong mô hình. Điều này cho thấy lợi nhuận trên mỗi cổ phần là một trong các yếu tố quan trọng quyết định lợi suất cổ phiếu.
Ngược lại, biến tỷ lệ lạm phát (F) có tác động ngược hướng đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR) với mức ý nghĩa 5%, kết quả này hàm ý rằng trong môi trường lạm phát gia tăng có thể làm giảm tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết trong mẫu nghiên cứu. Nguyên nhân có thể do chi phí vốn tăng, lãi suất cao hơn, và kỳ vọng lợi nhuận thực giảm, khiến nhà đầu tư yêu cầu lợi suất thấp hơn.
Đặc biệt, biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) có tác động nghịch chiều đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR) lần lượt với mức ý nghĩa 5% và 1%, kết quả này trái với kỳ vọng giả thuyết nghiên cứu ban đầu. Tăng trưởng kinh tế và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao lại gắn với lợi suất cổ phiếu thấp. Có thể lý giải rằng trong giai đoạn nghiên cứu tăng trưởng kinh tế cao đi kèm với lạm phát hoặc chính sách thắt chặt tiền tệ, làm giảm lợi suất cổ phiếu. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao trong một số trường hợp phản ánh việc công ty sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức, làm tăng rủi ro và khiến nhà đầu tư e ngại.
4.4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu
- Đối với biến độc lập
Kết quả cho thấy biến tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR) có tác động cùng chiều với hệ số ước lượng dương (0,190) với mức ý nghĩa 5%. Điều này đồng nghĩa với việc khi Ngân hàng niêm yết chi trả cổ tức cao có tác động đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR). Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu rằng Chính sách cổ tức đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
Về mặt lý thuyết, cổ tức được xem như tín hiệu về sức khỏe tài chính và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Khi công ty duy trì hoặc tăng tỷ lệ chi trả cổ tức, nhà đầu tư thường diễn giải đây là dấu hiệu cho thấy dòng tiền ổn định và triển vọng kinh doanh khả quan, từ đó làm gia tăng niềm tin vào giá trị cổ phiếu. Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Kết quả này nhất quán với các nghiên cứu trước đó (Võ Xuân Vinh, 2014; Đặng Thị Quỳnh Anh và Phạm Thị Yến Nhi, 2015; Nguyễn Thanh Hiếu và cộng sự, 2020; Nguyễn Thị Bích Phượng, 2025). Do đó, tác giả chấp nhận giả thuyết H1.
Tuy nhiên, Chính sách cổ tức không phải lúc nào cũng hoàn toàn do các Ngân hàng niêm yết quyết định. Trong một số giai đoạn đặc thù, đối với ngành ngân hàng, Chính sách cổ tức có thể chịu sự chi phối chặt chẽ và trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô. Khi đó, tỷ lệ chi trả cổ tức không thể phản ánh hoàn toàn tình hình kinh doanh hay chiến lược của doanh nghiệp, mà đây là kết quả của việc điều tiết chính sách. Điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, bới tác động tích cực của DPR lên tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong trường hợp này không chỉ xuất phát từ quyết định nội bộ của Ngân hàng niêm yết mà còn từ định hướng quản lý vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước.
Do đó, khi phân tích tỷ lệ chi trả cổ tức, cần đặt trong bối cảnh cụ thể trong từng giai đoạn và diễn giải một cách thận trọng. Nếu cổ tức do Ngân hàng Nhà nước quyết định, tác động của DPR sẽ phản ánh về yếu tố chính sách hơn là hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngược lại, trong giai đoạn mà doanh nghiệp tự chủ về Chính sách cổ tức, DPR sẽ là tín hiệu rõ ràng hơn về sức khỏe tài chính và khả năng sinh lời.
Bên cạnh đó, mức ý nghĩa thống kê chỉ đạt 5% cho thấy tác động của DPR đến SR tuy có nhưng không quá mạnh mẽ như EPS hay GDP. Điều này có thể lý giải rằng nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến Chính sách cổ tức mà còn cân nhắc nhiều yếu tố khác như lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu và tình hình kinh tế vĩ mô, hay rủi ro tài chính.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, việc chi trả cổ tức quá cao có thể khiến doanh nghiệp giảm nguồn vốn tái đầu tư, từ đó hạn chế tăng trưởng dài hạn. Vì vậy, tác động của DPR đến SR mang tính tích cực nhưng vẫn cần được xem xét trong mối quan hệ với các biến khác.
- Đối với biến kiểm soát
Các biến thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lạm phát (F) và tốc độ tăng trưởng kinh tế (F) đóng vai trò giúp làm rõ mối quan hệ giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và biến động tỷ suất sinh lời cổ phiếu thông qua việc kiểm soát ảnh hưởng của đặc điểm nội tại doanh nghiệp và bối cảnh vĩ mô.
- Đối với biến thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) có hệ số dương (0,015) và có ý nghĩa thống kê rất mạnh ở mức 1%. Điều này khẳng định rằng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu có tác động tích cực và đáng kể đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR). Khi thu nhập trên mỗi cổ phiếu gia tăng, điều này hàm ý rằng khả năng sinh lời của mỗi cổ phiếu tăng, điều này làm tỷ suất sinh lời cổ phiếu tăng theo.
Dưới góc độ kinh tế, EPS cao thường được xem là tín hiệu cho thấy doanh nghiệp có khả năng tạo ra lợi nhuận ổn định và phân bổ hiệu quả nguồn vốn. Nhà đầu tư thường đánh giá cao các công ty có EPS tăng trưởng đều đặn, bởi điều này gắn liền với triển vọng cổ tức cao hơn trong tương lai và khả năng gia tăng giá trị cổ phiếu.
Kết quả này phù hợp với kỳ vọng và nhiều nghiên cứu trước đây (Masum, 2014; Adesina và cộng sự, 2017; Singh và Tandon, 2019; Hồ Thị Lam và Hồ Thuỷ Phương Trâm, 2020; Đặng Ngọc Hùng và cộng sự, 2019). Do đó, tác giả chấp nhận giả thuyết H2.
- Đối với với biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Kết quả hồi quy cho thấy biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) có hệ số âm (-1,034) và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Kết quả này hàm ý rằng khi tỷ suất sinh lời cổ phiếu của Ngân hàng niêm yết trong mẫu nghiên cứu tăng thì tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết trong mẫu nghiên cứu có xu hướng tăng giảm. Điều này trái ngược với giả thuyết ban đầu rằng ROE cao sẽ làm tăng tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR). Thay vì tác động tích cực, ROE lại cho thấy mối quan hệ tiêu cực với SR trong giai đoạn nghiên cứu, phản ánh rằng khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao là tín hiệu tích cực về hiệu quả hoạt động tài chính, từ đó làm nhà đầu tư gia tăng niềm tin vào giá trị cổ phiếu trên thị trường.
ROE thường được xem là chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. ROE cao thường đồng nghĩa với khả năng sinh lời tốt, từ đó kỳ vọng sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy ROE cao lại gắn với tỷ suất sinh lời cổ phiếu thấp. Điều này có thể do ROE cao không xuất phát từ hiệu quả kinh doanh bền vững mà từ việc các Ngân hàng niêm yết sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức. Khi vốn chủ sở hữu nhỏ nhưng lợi nhuận vẫn được duy trì, ROE có thể tăng mạnh, song điều này đi kèm với rủi ro tài chính cao. Nhà đầu tư có thể nhận thấy rủi ro này và phản ứng bằng cách yêu cầu mức lợi suất thấp hơn, khiến tỷ suất sinh lời cổ phiếu giảm.
Kết quả này trái ngược với kỳ vọng và nhiều nghiên cứu trước đây. Do đó, tác giả bác bỏ giả thuyết H3.
- Đối với biến tỷ lệ lạm phát (F) Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Tỷ lệ lạm phát (F) có hệ số âm (-11,179) và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, kết quả này cho thấy được mối quan hệ ngược chiều với tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR). Khi lạm phát gia tăng, chi phí vốn của doanh nghiệp tăng theo, đồng thời lãi suất thường được điều chỉnh lên cao để kiềm chế lạm phát. Hệ quả là lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp giảm, giá trị cổ phiếu bị ảnh hưởng tiêu cực và lợi suất cổ phiếu giảm xuống.
Từ góc độ nhà đầu tư, lạm phát tăng cao làm giảm sức mua của dòng tiền trong tương lai, khiến nhà đầu tư có xu hướng yêu cầu mức tỷ suất sinh lời cổ phiếu cao hơn nhằm bù đắp rủi ro, nhưng trên thực tế tỷ suất sinh lời cổ phiếu lại giảm, dẫn đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu thấp hơn.
Kết quả này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu trước đây (Đặng Ngọc Hùng và cộng sự, 2019). Do đó, tác giả chấp nhận giả thuyết H4.
- Đối với biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
Cuối cùng, kết quả hồi quy cho thấy biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có hệ số âm (-11,120) và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, minh chứng cho mối quan hệ nghịch chiều giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết trong mẫu nghiên cứu có xu hướng giảm. Điều này trái ngược với giả thuyết ban đầu rằng tăng trưởng GDP cao sẽ làm tăng tỷ suất sinh lời cổ phiếu (SR). Thay vì tác động tích cực, GDP lại cho thấy mối quan hệ tiêu cực với SR trong giai đoạn nghiên cứu.
Kết quả này có thể được lý giải bởi đặc thù của ngành ngân hàng tại Việt Nam, khi tăng trưởng kinh tế mạnh đôi khi đi kèm với áp lực cạnh tranh cao, yêu cầu dự phòng rủi ro lớn và biên lợi nhuận lãi thuần bị thu hẹp, dẫn đến lợi suất cổ phiếu không tăng theo kỳ vọng. Ngoài ra, tăng trưởng GDP cao đi kèm với áp lực lạm phát và chính sách tiền tệ thắt chặt. Khi Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát, chi phí vốn của doanh nghiệp tăng lên, dòng tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán bị hạn chế, khiến tỷ suất sinh lời cổ phiếu giảm. Như vậy, tác động tiêu cực của GDP đến SR có thể phản ánh sự kết hợp giữa yếu tố vĩ mô và chính sách điều tiết.
Vì vậy, biến GDP tác động tiêu cực đến lợi suất cổ phiếu trong nghiên cứu này.
- Do đó, tác giả bác bỏ giả thuyết H5.
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Trong chương 4, tác giả đã trình bày kết quả phân tích hồi quy nhằm đánh giá tác động của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam, thông qua ba mô hình: Pooled OLS, FEM và REM. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành đối chiếu kết quả nghiên cứu với các tài liệu trước đó để kiểm định các giả thuyết đặt ra, đồng thời làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng kết luận và đề xuất hàm ý chính sách trong chương 5.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
5.1. Kết luận
CSCT giữ vai trò then chốt trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp, chính sách này phản ảnh sự dung hòa giữa lợi ích ngắn hạn của cổ đông cùng mục tiêu phát triển phát triển lâu dài và ổn định của các Ngân hàng niêm yết. Trước tình hình hiện tại, quá trình lớn mạnh của thị trường tài chính Việt Nam ngày càng gia tăng, Chính sách cổ tức không chỉ thể hiện sự cam kết của ngân hàng đối với cổ đông mà còn thể hiện được vai trò quan trọng trong việc hình thành và điều tiết giá cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết.
Nghiên cứu đã xem xét và xử lý dữ liệu từ 27 Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2015 – 2024 với mục đích đo lường mức độ tác động của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam. Qua đó, các hàm ý chính sách được tác giả đề xuất cho các Ngân hàng niêm yết trong việc duy trì tỷ suất sinh lời cổ phiếu ổn định nhờ điều hành các Chính sách cổ tức phù hợp. Thông qua việc triển khai các mô hình Pooled OLS, FEM và REM, cùng với các kiểm định thống kê như LM-test, F-test, Wooldrige, Breusch–Pagan và Robust SE, mô hình hồi quy gộp Pooled OLS đã được xem là lựa chọn tối ưu để giải thích mối quan hệ giữa các biến tài chính và tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
Phân tích hồi quy minh chứng rằng tỷ lệ chi trả cổ tức, thu nhập trên mỗi cổ phiếu có tác động đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, tỷ suất sinh lời cổ phiếu chịu tác động nghịch chiều từ tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Kết quả nhìn chung cho thấy yếu tố tài chính nội tại của ngân hàng có tác động thuận chiều và mạnh mẽ đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu, trong khi đó các yếu tố vĩ mô thể hiện tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
Việc tác động của các yếu tố tài chính được hiểu rõ, đặc biệt là Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu sẽ góp phần xây dựng một chiến lược tài chính hiệu quả, giúp ngân hàng nâng cao giá trị, đồng thời giúp thu hút nhà đầu tư và duy trì tăng trưởng bền vững về lâu dài. Do đó, các Ngân hàng niêm yết cần xem xét một cách thận trọng để đưa ra chính sách đúng đắn nhằm đảm bảo tính cân bằng và hài hòa giữa các yếu tố.
5.2. Hàm ý chính sách Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
- Đối với chính sách cổ tức
Thứ nhất, từ góc độ quản lý tài chính, việc xây dựng một Chính sách cổ tức một cách hợp lý sẽ không chỉ hỗ trợ các Ngân hàng niêm yết duy trì lòng tin của các nhà đầu tư, mà còn góp phần ổn định tỷ suất sinh cổ phiếu trên thị trường và bằng nguồn lợi nhuận giữ lại sẽ giúp phát triển thêm hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, Chính sách cổ tức cần được thiết kế dựa trên sự cân bằng giữa hai mục tiêu là trì niềm tin và có sức hút với giới đầu tư quan tâm dựa trên việc chia cổ tức đều đặn và đảm bảo nguồn vốn từ phần lợi nhuận giữ lại để tiếp tục các hoạt động đầu tư, mở rộng hiệu quả hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Việc chi trả cổ tức quá cao có thể khiến các ngân hàng thiếu hụt nguồn vốn tự có, ngược lại nếu tỷ lệ chi trả quá thấp có thể khiến ngân hàng bị mất đi niềm tin của cổ đông và dễ dẫn đến những phản ứng tiêu cực. Một tỷ lệ chi trả quá cao có thể làm giảm nguồn vốn giữ lại, chi phối khả năng tăng trưởng dài hạn của ngân hàng. Ngược lại, tỷ lệ chi trả quá thấp có thể khiến cổ đông mất niềm tin, dẫn đến phản ứng tiêu cực trên thị trường chứng khoán. Do đó, mối quan hệ giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ suất sinh lời cổ phiếu nhiều khả năng không hoàn toàn tuyến tính, mà có thể là dạng đường cong parabol ngược, trong đó tồn tại một mức chi trả cổ tức tối ưu giúp tối đa hóa tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Điều này gợi ý rằng các Ngân hàng niêm yết cần xây dựng chiến lược cổ tức hợp lý, cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn để tạo niềm tin cho nhà đầu tư, nâng cao giá trị cổ phiếu và lợi ích dài hạn nhằm duy trì nguồn vốn tái đầu tư. Đồng thời, kết hợp với chính sách đầu tư và chính sách tài trợ nhằm mục đích cuối cùng là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong một số giai đoạn, Ngân hàng Nhà nước có thể can thiệp và quy định mức chi trả cổ tức nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chính. Khi đó, Chính sách cổ tức không chỉ phản ánh quyết định nội bộ của doanh nghiệp mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô.
Bên cạnh đó, Chính sách cổ tức cần điều chỉnh linh hoạt theo chu kỳ kinh tế và tình hình tài chính nội tại của từng ngân hàng. Trong giai đoạn tăng trưởng các ngân hàng nên xem xét ưu tiên giữ lại lợi nhuận để mở rộng đầu tư, trong khi đó ở giai đoạn ổn định, việc tăng tỷ lệ chi trả cổ tức là công cụ hiệu quả và vững chắc để lôi cuốn sự quan tâm của nhà đầu tư và cải thiện hình ảnh của ngân hàng. Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Thứ hai, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng mạnh từ yếu tố tâm lý, đa số nhà đầu tư có xu hướng nghiêng về lựa chọn nguồn lợi nhuận ổn định, chắc chắn và ngắn hạn thay vì mạo hiểm kỳ vọng vào lợi ích dài hạn thông qua việc tăng giá cổ phiếu. Do đó, các Ngân hàng niêm yết nên xem xét thay đổi hình thức chi trả thành nhiều đợt chi trả (hằng quý, bán niên) nhằm giúp các nhà đầu tư nhận được dòng tiền đều dặn, giúp củng cố niềm tin với các nhà đầu tư và thể hiện được sự cam kết của ngân hàng trong việc chia sẻ lợi nhuận với cổ đông một cách bền vững và ổn định.
Thứ ba, với sự vận động và phát triển của thị trường tài chính theo xu thế chuyên nghiệp tại Việt Nam, các Ngân hàng niêm yết cần chú trọng việc công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin liên quan đến Chính sách cổ tức (kế hoạch chi trả, tỷ lệ chi trả dự kiến, thời điểm chi trả và hình thức chi trả bằng tiền mặt, cổ phiếu hay hình thức khác) thông qua các chiến lược truyền thông rõ ràng. Việc minh bạch trong Chính sách cổ tức giúp nâng cao mức độ tin cậy và uy tín của các Ngân hàng niêm yết trên thi trường và góp phần giảm thiếu tình trạng bất đối xứng thông tin giữa các Ngân hàng niêm yết và các nhà đầu tư. Có thể xem vấn đề này như một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến giá cổ phiếu dao động bất thường trên thị trường. Khi thông tin được truyền tải một cách đầy đủ và minh bạch, các nhà đầu tư sẽ có cơ sở vững chắc hơn trong việc ra việc ra quyết định đầu tư dài hạn, điều này giúp ổn định tỷ suất sinh lời cổ phiếu và tạo ra lợi ích bền vững cho cả các Ngân hàng niêm yết và các nhà đầu tư.
- Đối với thu nhập trên mỗi cổ phiếu
Kết quả cho thấy thu nhập trên mỗi cổ phiếu có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam. Điều này khẳng định rằng thu nhập trên mỗi cổ phiếu là chỉ số quan trọng được các nhà đầu tư dành sự chú ý đặc biệt đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng và tiềm năng tăng trưởng của tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Do đó, các Ngân hàng niêm yết cần có chiến lược toàn diện nhằm duy trì và cải thiện EPS qua đó làm củng cố độ tin cậy của các nhà đầu tư và nâng cao giá trị của doanh nghiệp.
Thứ nhất, các Ngân hàng niêm yết cần tăng cường hiệu quả khai thác vốn chủ sở hữu, điều chỉnh cơ cấu vốn một cách tối ưu và cân đối hợp lý giữa vốn tự có và vốn huy động sẽ giúp doanh nghiệp tốn ít chi phí vốn hơn và gia tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu. ngân hàng nên đảm bảo hệ số an toàn vốn ở mức hợp lý, tuân thủ quy định và tối ưu hóa mức độ dùng vốn hiệu quả.
Thứ hai, Ngân hàng niêm yết nên chú trọng tăng trưởng trong lợi nhuận với kiểm soát pha loãng cổ phiếu và cần có kế hoạch cụ thể trong quá trình phân bổ nguồn vốn huy động được dùng để đảm bảo lợi nhuận tăng trưởng, tránh làm giảm EPS. Bên cạnh đó, việc xây dựng Chính sách cổ tức hợp lý nhằm cân bằng giữa nhu cầu tái đầu tư và lợi ích cổ đông, điều này cũng góp phần duy trì EPS ổn định trong dài hạn. Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Thứ ba, để tạo ra EPS bền vững, ngân hàng cần đẩy mạnh đổi mới kinh doanh trong mô hình theo hướng gia tăng sự phong phú của sản phẩm và tối ưu hóa dịch vụ khách hàng. Các dịch vụ và tiện ích được cung cấp thông qua nền tảng ngân hàng số, tài chính cá nhân, thẻ tín dụng, bảo hiểm liên kết và quản lý tài sản là những mảng có biên lợi nhuận cao và tăng trưởng ổn định, giúp cải thiện lợi nhuận ròng và qua đó nâng EPS. Cùng với đó, việc hoàn thiện dịch vụ, phát triển công tác chăm sóc khách hàng cá nhân hóa và tăng tính gắn kết thương hiệu sẽ hỗ trợ ngân hàng trong việc mở rộng phạm vi thị trường, duy trì mức doanh thu bền vững.
- Đối với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
ROE là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng sinh lời trên mỗi đồng vón chủ sỡ hữu, qua đó thể hiện được hiệu quả sử dụng vốn. Do đó, các Ngân hàng niêm yết nên tập trung làm cho vốn chủ sở hữu sinh lời tốt hơn thông qua các biện pháp quản trị hiệu quả, bao gồm:
Thứ nhất, các ngân hàng cần chú trọng nâng cao chất lượng lợi nhuận thay vì chỉ tập trung vào việc cải thiện chỉ tiêu ROE trong ngắn hạn. ROE nên được cải thiện thông qua tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và kiểm soát chi phí, thay vì gia tăng đòn bẩy tài chính quá mức.
Thứ hai, hiệu quả hoạt động kinh doanh cần được tăng cường cùng với việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đầu tư vào việc nghiên cứu phát triển (R&D) nhằm tạo ra giá trị mới, đồng thời chiến lược tiếp thị nên được xây dựng hợp lý để đạt hiệu quả nhằm mở rộng thị trường và tăng trưởng doanh thu thực chất.
Thứ hai, việc cân đối vốn chủ sở hữu và vốn vay cũng không kém phần quan trọng trong việc nâng cao tỷ suất suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu một các bền vững. Ngoài ra, các Ngân hàng niêm yết cần duy trì việc quản lý rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh một cách hợp lý nhằm nhằm đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính và hạn chế rủi ro hệ thống.
Cuối cùng, gắn ROE với chiến lược phát triển dài hạn. Có nghĩa là thay vì chạy theo ROE ngắn hạn, các ngân hàng nên tích hợp ROE vào chiến lược phát triển bền vững, từ đó tạo nền tảng ổn định cho tỷ suất sinh lời cổ phiếu trong dài hạn.
- Đối với tỷ lệ lạm phát Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Một trong những nguyên nhân gây đe dọa đến sự vững chắc của nền kinh tế là lạm phát, chỉ tiêu này phản ánh mức tăng giá chung của hàng hóa và dịch vụ trong một giai đoạn nhất định. Lạm phát tăng cao làm chi phí đầu vào tăng dẫn đến biên lợi nhuận thu hẹp và giá trị thực dòng tiền giảm theo, niềm tin của nhà đầu tư bị lung lay và cản trở sự phát triển. Trước tác động tiêu cực của lạm phát, các Ngân hàng niêm yết cần chủ động xây dựng chiến lược quản trị hợp lý nhằm hạn chế rủi ro và ổn định tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Để đạt được mục tiêu này, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp như:
Thứ nhất, nguy cơ liên quan đến lãi suất và khả năng thanh khoản cần được tăng cường quản trị hợp lý, cơ cấu tài sản – nguồn vốn cần được điều chỉnh phù hợp dựa trên việc thường xuyên theo dõi và dự báo xu hướng lạm phát.
Thứ hai, trong bối cảnh lạm phát gia tăng, các Ngân hàng niêm yết nên duy trì mức dự phòng rủi ro hợp ý và chính sách sử dụng thận trọng hơn nhằm bảo vệ chất lượng tài sản.
Cuối cùng, các Ngân hàng niêm yết cần phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ một các linh hoạt và ổn định, đi kèm với Chính sách cổ tức ổn định, vừa đảm bảo lợi ích của cổ đông vừa giữ lại nguồn vốn để tăng cường khả năng tài chính. Khi các Ngân hàng niêm yết thể hiện khả năng kiểm soát tốt rủi ro và duy trì lợi nhuận ổn định ngay cả trong giai đoạn lạm phát tăng cao sẽ góp phần củng cố niềm tin thị trường, giữ vững và nâng cao trong dài hạn đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
- Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh sức khỏe của nền kinh tế và chỉ tiêu này có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng niêm yết. Khi kinh tế phát triển vững chắc, nhu cầu tín dụng và đầu tư cũng nhiều hơn, điều này giúp ngân hàng mở rộng thêm hoạt động, cải thiện lợi nhuận và nâng cao giá trị cổ phiếu. Ngược lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại thường kèm theo rủi ro tín dụng tăng và lợi nhuận sụt giảm cùng tâm lý tiêu cực từ thị trường. Do đó, việc nhận diện và thích ứng một cách linh hoạt với biến động của tăng trưởng kinh tế là vấn đề quan trọng trong quản trị ngân hàng.
Trước hết, các Ngân hàng niêm yết cần xây dựng một hệ thống theo dõi và dự báo kinh tế vĩ mô, đặc biệt là đối với các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất và tỷ lệ thất nghiệp. Việc chủ động nắm bắt và cập nhập kịp thời những chỉ báo này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng có những biện pháp điều chỉnh cơ cấu tín dụng, chính sách huy động vốn cùng kế hoạch đầu tư sao cho phù hợp với xu hướng của nền kinh tế. Đồng thời, việc kết hợp với đội ngũ chuyên gia trong việc phân tích vĩ mô một cách chuyên sâu có khả năng đưa ra các dự đoán chắc chắn, từ đó hỗ trợ ban lãnh đạo trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh. Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng mạnh, các Ngân hàng niêm yết nên tận dụng các cơ hội để mở rộng hoạt động tín dụng, ưu tiên cho các lĩnh vực với mức rủi ro thấp nhưng có tiềm năng sinh lợi vượt trội. Bên cạnh đó, việc làm giàu danh mục sản phẩm, mở rộng hợp tác trong và ngoài nước, đầu tư công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ giúp ngân hàng gia tăng thị phần, hoạt động hiệu quả hơn để củng cố lòng tin của nhà đầu tư. Ngược lại, khi mức tăng trưởng kinh tế chững lại, ngân hàng nên chuyển trọng tâm sang quản trị rủi ro tín dụng cùng song song với đảm bảo an toàn vốn. Việc kiểm soát chi phí, cơ cấu lại danh mục cho vay, duy trì thanh khoản an toàn và quản lý chất lượng tín dụng là các giải pháp then chốt nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực từ những yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến ngân hàng. Ngoài ra, các ngân hàng nên chú trọng việc đào tạo nhân lực và nâng cao chất lượng quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu pháp triển.
Cuối cùng, trong chiến lược phát triển dài hạn, các Ngân hàng niêm yết cần gắn chiến lược kinh doanh với những mục tiêu giúp phát triển lâu dài và chú trọng yếu tố ESG trong hoạt động (bộ ba tiêu chuẩn môi trường – xã hội – quản trị). Việc tăng cường đầu tư vào các dự án tài chính xanh, tín dụng xanh và sản phẩm không gây hại cho môi trường, tạo động lực cho quá trình phát triển bền vững. Đây cũng là cơ hội để các Ngân hàng niêm yết khẳng định hình ảnh doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp nâng cao hình ảnh hơn và thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
5.3.1 Hạn chế của đề tài
Mặc dù nghiên cứu đã có một số kết quả nhất định từ việc phân tích ảnh hưởng của Chính sách cổ tức đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết tại Việt Nam, những vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau:
- Nghiên cứu chỉ tập trung các Ngân hàng niêm yết trong giai đoạn từ 2015 – 2024. Phạm vi nghiên cứu này tuy phản ánh được xu hướng thị trường gần đây, những có thể chưa đủ bao quát các biến trong dài hạn hoặc chưa phản ánh hết đặc điểm của các ngân hàng chưa niêm yết.
- Nghiên cứu chủ yếu xem xét các biến độc lập như tỷ lệ chi trả cổ tức, tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu, thu nhập trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu chưa được xem xét.
- Nghiên cứu chưa đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm ngân hàng có quy mô, hình thức sở hữu hoặc chiến lược kinh doanh khác nhau.
- Nghiên cứu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính và các nguồn dữ liệu công khai và các trang thông tin chính chức, điều này có thể dẫn đến sự thiếu chính xác và đồng bộ trong số liệu.
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
Trong những nghiên cứu tiếp theo, tác giả xin đề xuất một số hướng như sau:
- Triển khai nghiên cứu trên toàn diện phạm vi hệ thống ngân hàng và kéo dài khoảng thời gian nghiên cứu, xác định bài học kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam.
- Bổ sung thêm các biến độc lập để phản ánh toàn diện hơn những gì tác động đến tỷ suất sinh lời cổ phiếu.
- Ứng dụng thêm các mô hình hồi quy nhằm phản ánh tốt hơn mối quan hệ nhân quả và giảm thiểu hiện tượng nội sinh.
- Thu thập thêm dữ liệu một cách đầu đủ nhằm phân tích chính xác thực trạng thị trường của cổ phiếu của các Ngân hàng niêm yết Việt Nam.
TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Trong chương 5, tác giả đã đưa ra các hàm ý chính sách cụ thể cho từng biến tài chính nhằm hỗ trợ các Ngân hàng niêm yết trong việc hoạch định các chính sách tài chính hiệu quả, góp phần nâng cao tỷ suất sinh lời cổ phiếu và giúp các Ngân hàng niêm yết có các chiến lược phát triển bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động. Ngoài ra, chương 5 cũng đã chỉ ra một số hạn chế của nghiên cứu, từ đó đề xuất một số hướng đi cho các nghiên cứu tiếp theo. Luận văn: KQNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Yếu tố chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH

Pingback: Luận văn: PPNC chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu của NH