Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về du lịch tỉnh Đắk Nông
2.1.1. Vị trí địa lí và tài nguyên du lịch
Tỉnh Đắk Nông được tái lập từ ngày 01/01/2012, theo Nghị quyết số 23/2011/QH11 ngày 26/11/2011 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk. Với diện tích tự nhiên là 6.514,38 km2, có 08 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã gồm: Cư Jut, Đăk Mil, Krông Nô, Đăk Song, Đăk Rlâp, Đăk Glong, Tuy Đức và thị xã Gia Nghĩa. Dân số trung bình toàn Tỉnh năm 2018 là 510.570 người, trong đó dân số đô thị chiếm 14,95%, dân số nông thôn 85,05%.
2.1.1.1. Vị trí địa lí
Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn; được xác định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045’ đến 12050’ vĩ độ Bắc, 107013’ đến 108010’ kinh độ Đông. Có độ cao trung bình từ 600 – 700m, có nơi lên đến 1.970m so với mực nước biển.
Đắk Nông là vùng đất cổ, nằm trên cao nguyên M’Nông, theo thư tịch của Pháp thường gọi là Cao Nguyên Trung tâm Nam Đông Dương, gọi tắt là Cao Nguyên Trung tâm Cplatteau Central. Có cách gọi như vậy là do Trung tâm này nằm ngay “Ngã ba ranh giới” của ba xứ Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên. Địa thế Cao nguyên M’Nông, nhìn chung như một mái nhà. Các nhà địa lý học gọi đây là “mái nhà cực Nam Đông Dương”, đường nóc là một cao nguyên dài và hẹp, rộng tương đương gần 4000km². Từ Cao nguyên này đổ xuống đường nóc chủ yếu là sườn dốc, với mạng lưới sông ngòi dày đặc, ở phía Bắc và phía Tây chảy xuống sông Sêrêpốk, sông Prêktê và sông PrêkClong đổ ra sông Mê Công, phía Đông Nam chảy xuống sông Đồng Nai, sông Bé rồi đổ ra Biển Đông.
Đắk Nông có quốc lộ 14 đi qua nối với các tỉnh vùng Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh về phía Nam, nối với Đăk Lắk và các tỉnh Bắc Tây Nguyên về phía Bắc; có quốc lộ 28 nối Đắk Nông với tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận. Trong tương lai, khi dự án khai thác và chế biến bauxit được triển khai thì tuyến đường sắt Đắk Nông – Lâm Đồng- Bình Thuận nối ra cảng Kê Gà sẽ được xây dựng, mở ra cơ hội lớn cho Đắk Nông đẩy mạnh khai thác các thế mạnh của Tỉnh. Mặt khác, Đắk Nông nằm trong vùng tam giác phát triển Campuchia- Lào-Việt Nam, đang được Chính phủ 3 nước quan tâm tích cực đầu tư xây dựng nhằm tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là phát triển giao thông đường bộ, tạo sự kết nối giữa các trung tâm, phát triển mạnh mối quan hệ kinh tế liên vùng thông qua các chương trình hợp tác. Cùng với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thông qua các chương trình và các quyết định phát triển kinh tế, xã hội trong vùng. Yếu tố này mở ra cho Đắk Nông có nhiều điều kiện khai thác và vận dụng các chính sách cho phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh.
Với vị trí địa lý như trên sẽ tạo điều kiện cho Đắk Nông có thể mở rộng giao lưu với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Duyên hải miền Trung và nước bạn Campuchia, là nguồn động lực để Đăk Nông thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, trong tương lai sẽ trở thành trung tâm phát triển kinh tế năng động của khu vực Tây Nguyên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.1.2. Tài nguyên du lịch Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
- Tài nguyên tự nhiên
Tài nguyên thiên nhiên của Đăk Nông vô cùng phong phú, có nhiều loại khoáng sản, tài nguyên rừng với diện tích rừng tự nhiên gần 300.000 ha, với hệ động thực vật đa dạng, phong phú, nhất là những cánh rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ quý và có giá trị kinh tế cao; nhiều loại động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ của nước ta và thế giới. Bên cạnh đó còn có nhiều dược liệu quý để chế thuốc chữa bệnh. Đặc biệt là các khu bảo tồn thiên nhiên như: Nâm Nung ( 25.000ha), Nâm Ka ( 19.000ha), Tà Đùng ( 28.000ha)…vừa có rừng nguyên sinh với nhiều loại động thực vật quý hiếm, vừa có thác nước đẹp, tạo nên một quần thể sinh thái đa dạng rất hấp dẫn có thể phục vụ tốt cho du lịch, thể thao, cưỡi ngựa, săn bắn, cắm trại,…
Khí hậu Đắk Nông tương đối thuận lợi để phát triển du lịch. Nơi đây nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng từ 22oC đến 24oC, độ ẩm trong không khí trung bình 85% rất thuận lợi để phát triển hệ sinh thái với những cảnh quan thiên nhiên đa dạng, đặc biệt rất phù hợp cho sức khỏe người già và trẻ em.
Mạng lưới song ngòi dày đặc, thuận lợi cho phát triển du lịch. Các hệ thống sông chính là sông Srêpốk, Đồng Nai, Krông Nô. Đặc điểm của hệ thống sông ở Đắk Nông là rất ngắn và có độ dốc lớn, hình thành nên các thác nước hung vĩ.
Hệ thống các thác nước ở đây khá nhiều và hầu hết còn hoang sơ, kì vĩ. Chính những đặc điểm riêng biệt đó sẽ thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
Đắk Nông không chỉ được thiên nhiên ban tặng cho nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú mà còn mang đậm dấu ấn của các tài nguyên nhân văn. Hệ thống các dãy thác đẹp hùng vĩ trải đều trên cao nguyên M’nông như:
Thác Trinh Nữ: với một cái tên rất hay nhưng lại gắn với câu chuyện rất buồn đã thu hút không ít sự tò mò của du khách. Thác nước nằm trên địa bàn thị trấn Ea T’Ling huyện Cư Jut, nó kể về câu chuyện một cô gái đang độ tuổi xuân thì do trắc trở trong chuyện tình duyên đã tìm đến ngọn thác mong gửi thân vào dòng nước bạc trắng xóa để quên đi nổi đau khổ. Và tên Trinh Nữ được đặt như một lời cảm thương cho cô gái xấu số kia. Thác nước này được tạo thành do dòng Krông Nô chảy qua các dãy đá lổm chổm, xếp chồng lên nhau. Thác có nhiều ghềnh đã Bazan dạng cột, tạo nên cảnh quan tuyệt đẹp không chỉ có giá trị về khoa học địa chất mà còn rất hấp dẫn đối với khách du lịch. Nơi đây đã được Cục Địa chất và Khoáng sản, Ủy ban UNESCO Việt Nam xác định là một trong 29 công viên địa chất toàn quốc, được bảo tồn dưới dạng di sản tự nhiên.
Thác Đray Sáp: hay còn gọi là Thác Khói. Đây là một trong những ngọn tháp đẹp nhất ở Tây Nguyên với hệ sinh thái đa dạng. Nó nằm trên địa phận xã Đắk Sôr, huyện Krông Nô. Nơi đay được thiên nhiên ưu đãi với cảnh đẹp của rừng cây, ngọn nước, cùng với sự huyền thoại về nguồn cội của thác nước…và dưới sự đầu tư tu bổ dưới bàn tay con người khiến cho Đray Sáp them hấp dẫn hơn. Những cơn mưa rừng, những tia nắng xuyên qua cây lá, những bột trắng xóa của dòng thác càng làm cho khung cảnh nơi đây mờ ảo, lung linh tạo cho du khách sự dễ chịu, thoải mái.
Thác Gia Long: Thác nước nằm trên địa phận xã Đắk Sôr, huyện Krông Nô; là thác nước thượng nguồn nằm trong hệ thống 3 thác: Gia Long, Đray Nur và Đray Sáp của dòng sông Srêpốk. Tên thác được đặt theo tên vị vua Gia Long và đặt gắn liền với sự tích vua Gia Long lên xứ này thưởng ngoạn và đã cho xẽ núi, phá rừng để tạo ra con đường mòn dẫn đến thác. Khu vực thác gắn liền với không gian cây rừng và hồ tắm tiên. Thắng cảnh nơi đây rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Thác Ba Tầng: Thác nước nằm cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa khoảng 8km theo quốc lộ 14, đi về hướng Buôn Ma Thuột, thuộc địa phận huyện Đắk Song. Sở dĩ thác có tên “ Ba Tầng” là vì thác này có nước suối chảy thành 3 tầng nối tiếp nhau với chiều cao khoảng 40m. Quanh thác có nhiều cây cổ thụ và có bãi đất rộng bằng phẳng, thoáng mát để du khách nghỉ ngơi, thư giãn.
Suối nước khoáng Đắk Mol: Nằm trên địa phận xã Đắk Mol, huyện Đắk Song. Nước ở đây chưa nhiều chất bicacbonat natri và muối cacbonat natri có tác dụng làm tăng khả năng đề kháng của cơ thể, chống viêm nhiễm và nhiều chứng bệnh khác. Trữ lượng khai thác nước khoáng ở đây lên đến 570m3/ngày, có thể phục vụ được 500-700 lượt khách/ngày, điều dưỡng và chữa bệnh khoảng 50-80 giường bệnh. Hiện nay nơi đây đang được đầu tư xây dựng và tương lai sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Và rất nhiều thác nước khác nằm rãi rác trên địa bàn các huyện thuộc tỉnh Đắk Nông.
- Tài nguyên nhân văn
Ngoài sự ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, các di tích lịch sữ văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông cũng rất đa dạng và phong phú như:
Di tích lịch sử Bon Choah: đây là một điểm du lịch mang đậm chứng tích lịch sử, di tích lịch sử cách mạng, lưu giữ các chứng tích về phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Đắk Nông, đặc biệt là về cuộc khởi nghĩa chống Pháp suốt 14 năm của đồng bào Tây Nguyên do N’Trang Gưh lãnh đạo.
Ngục Đắk Mil: Là nhà ngục được thực dân Pháp xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XX. Đây là khu di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng ở Đắk Nông, nơi đây đã từng giam giữ nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong những năm 1932 – 1954. Hiện tại di tích lịch sử ngục Đắk Mil đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Căn cứ cách mạng Nam Nung: Di tích lịch sử cách mạng này nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, với diện tích là 16.904ha, thuộc hai huyện Đắk G’Long và Đắk Song. Khu di tích lịch sử này lưu giữ những chứng tích cách mạng kiên cường của của quân và dân Đắk Nông trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ. Với lợi thế về tài nguyên du lịch, về hệ sinh thái rừng, thác nước và gắn liền với lịch sử đấu tranh bảo vệ tổ quốc, nơi này đã được quan tâm xây dựng để trở thành các khu du lịch trọng điểm của tỉnh. Một số tour du lịch chính đã được hình thành cho khách du lịch, bên cạnh đó nơi này còn là nơi để giáo dục nhân dân, nhất là giới trẻ nhớ đến công ơn của những người đã khuất.
- Địa điểm chiến thắng Đồi 722 – Đắk Sắk
Địa điểm ghi dấu nhiều trận đánh ác liệt của lực lượng bộ đội chủ lực ta và quân, dân địa phương trong suốt chặng đường lịch sử từ năm 1968 đến 1975 nhằm tiêu hao sinh lực địch, đánh phá hệ thống đồn bốt đang án ngữ phá hoại đường Hồ Chí Minh trên chiến trường nam Tây Nguyên. Địa điểm Đồi 722 – Đắk Sắk là một trại lực lượng đặc biệt Đức Lập (Camp Duc Lap) được Mỹ – Ngụy thiết lập năm 1965, cách trung tâm quận Đức Lập (tỉnh Quảng Đức cũ) khoảng 10 km về hướng đông (nay thuộc địa phận thôn Thổ Hoàng 4, xã Đắk Sắk, huyện Đắk Mil). Tại đây địch xây dựng các công sự kiên cố với 12 lớp hàng rào, bên trong là tường đất có ụ chiến đấu, hào sâu cắm chông, gài mìn. Lực lượng địch tại đây là 01 tiểu đoàn được trang bị quân trang vũ khí hiện đại. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Địa điểm chiến thắng đồi 722 – Đắk Sắk được Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia, theo Quyết định số 4063/QĐ-BVHTTDL ngày 24/10/2020.
Mạng lưới đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn các huyện Chư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Tuy Đức gồm các nhánh đường thuộc 2 điểm Đắk Mil và Bu Prăng với tổng chiều dài khoảng 140 km như: đường Hồ Chí Minh Đông Trường Sơn đoạn Đắk Mil – Đắk Song; đường ngang Đắk Mil đi Ô Ran (Campuchia) về Lộc Ninh (năm 1973-1974); nhánh đường Hồ Chí Minh Bu Prăng đi Lộc Ninh năm 1974 và trọng điểm đánh phá ác liệt, ngăn chặn của không quân và bộ binh Mỹ – Ngụy ở khu vực Núi Lửa; Khu tập kết lực lượng từ miền Bắc vào năm 1965 đến 1975 và Cụm kho dự trữ chiến lược cho B2.
Các di sản văn hóa như Đàn đá, Bộ cồng chiêng M’Nông, Chùa Pháp hoa…
Đàn đá: là một loại nhạc cụ cổ, gồm những tấm đá xít ( Schisto), đồng bào gọi là đá chàm, có trọng lượng khoảng 7 – 8 kg. Đàn đá cổ có niên đại trên 3.500 năm. Đây là một trong những hiện vật cổ học có giá trị, giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về phong tục, tạp quán của cộng đồng các dân tộc sống trên cao nguyên M’Nông. Đàn đá được đồng bào sử dụng trong các dịp lễ tết cảu tộc người mình.
Nó làm phong phú đời sống tinh thần của người dân nơi đây.
Bộ cồng chiêng M’Nông: đây là một trong những nét đặc sắc của văn hóa Tây Nguyên nói chung và của Đắk Nông nói riêng. Đối với người dân nơi đây cồng chiêng được coi như là sức mạnh vật chất, sự giàu có của người dân. Nó chính là cầu nối giữa người sống với thế giới thần linh. Do vậy không gian văn hóa cồng chiêng đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Phải đến, phải nghe, phải sống trong không gian văn hóa cồng chiêng khách du lịch mới hiểu hết được giá trị của di sản văn hóa này cũng như giá trị tâm hồn của người dân Tây Nguyên và hiểu rõ giá trị của Di sản văn hóa thế giới “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”.
Chùa Pháp Hoa: Ngôi chùa này được xây dựng vào năm 1957, với kiến trúc gồm hai phần là phần chính điện và tháp năm tầng, được mô phỏng theo kiến trúc nhà sàn Tây Nguyên và mang đậm nét đặc trưng văn hóa của vùng đất này.
Bộ sử thi “ Ot Ndrông” của đồng bào M’Nông ở buôn Bu Prăng huyện Đắk Song. Đây là bức tranh sinh động về lịch sử hình thành tộc người, lịch sử đấu tranh chinh phục tự nhiên, chống kẻ thù xâm lược; nó cũng là nơi gửi gắm những ước mơ của người Tây Nguyên. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Đắk Nông không chỉ có tài nguyên thiên nhiên phong phú, các giá trị về văn hóa lịch sử bản địa mà còn đậm bản sắc với nhiều lễ hội. Nghi lễ và lễ hội của đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông là sự tổng hợp các hoạt động văn hóa truyền thống của cộng đồng. Thông qua các lễ hội, con người nơi đây bày tỏ ước mơ, hoài bảo và sức mạnh của mình trong công cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên. Với tín ngưỡng đa thần, đồng bào ở đây luôn quan niệm mỗi một cây, một hòn đá hay con suối…đều có vị thần riêng. Do đó, trong cuộc đời của mỗi một con người đều phải trải qua, chứng kiến và tham gia rất nhiều nghi lễ. Vì vậy, khách du lịch đến Đắk Nông cũng như các địa phương khác của Tây Nguyên có thể tham dự các lễ hội tùy theo từng mùa trong năm. Một số lễ hội truyền thống cảu đồng bào Đắk Nông có thể kể đến như lễ phá rẫy, lễ ngâm tro, lễ xuống giống, lễ mừng lúa mới, lễ ăn cơm mới,…
Ngoài ra Ẩm thực, trang phục truyền thống hay nhà ở cũng mang đậm nét riêng của đồng bào dân tộc. Một số món ăn đặc biệt của đồng bào ở Đắk Nông đều được chế biến từ các loại rau, quả có vị đắng, cay, vì hầu hết các món ăn đều được sử dụng các gia vị nóng như ớt, tiêu, củ sả, củ nén… Món ăn được người dân và cả khách du lịch ưa thích nhất là Biếp Prung hay còn gọi là canh thụt, là một loại canh dùng lá bép và đọt mây nấu trong ống tre hoặc ống nứa, đặc biệt là món này rất cay. Trong lễ hội còn có các món ăn khác như cơm lam, rượu cần, thịt nướng…
2.1.2. Tình hình phát triển du lịch tỉnh Đắk Nông
Sau khi thành lập tỉnh năm 2012 đến nay, ngành Du lịch tỉnh Đắk Nông đã có những bước tiến đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Dưới sự quan tâm của các cấp ban ngành từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là sự chú trọng đầu tư về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật nhằm phục vụ cho ngành du lịch ngày một phát triển hơn. Bên cạnh đó, các chính sách mở rộng, định hướng ưu tiên phát triển các dịch vụ phục vụ cho du lịch, ưu đãi thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ, đặc biệt là tập trung vào hoạt động xúc tiến, công tác tuyên truyền quảng bá du lịch của Tỉnh. HĐND, UBND tỉnh Đắk Nông đã đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa ngành Du lịch Đắk Nông trở thành ngành kinh tế động lực, điểm đến hấp dẫn của vùng Duyên hải Miền Trung – Tây Nguyên, góp phần vào tăng trưởng kinh tế – xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng GDP du lịch, dịch vụ. Bên cạnh đó, ngành du lịch sẽ tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và cộng đồng dân cư, tăng nguồn thu ngân sách và góp phần hỗ trợ thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển.
2.1.2.1. Tình hình khách du lịch
Lượng khách du lịch đến tỉnh Đắk Nông có sự tăng trưởng rõ rệt. Nếu như tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2013 – 2018 chỉ đạt 8,65%, vì giai đoạn này là giai đoạn đầu khi Đắk Nông vừa được tách tỉnh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém. Thì đến giai đoạn tiếp theo, giai đoạn 2019-2023 tốc độ tăng trưởng bình quân về lượng khách du lịch đã có bước tiến vượt bậc, từ 138.000 lượt khách năm 2018 tăng lên 197.768 lượt khách năm 2023, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 7,46%/năm.
Hoạt động đón tiếp phục vụ khách trên địa bàn tỉnh Đắk Nông chủ yếu tại Khu du lịch cụm thác Dray Sáp – Gia Long thuộc huyện Krông Nô và điểm du lịch sinh tái thác Đắk G’Lun. Trong đó, khu du lịch cụm thác Dray Sáp – Gia Long chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu khách tham quan tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, chiếm khoảng 70%-80%, đón khoảng 100-150 khách/ngày. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Điểm du lịch sinh thái thác Đăk G’Lun chỉ đón được khoảng 20 khách/ngày.
Bảng 2.1. Kết quả tăng trưởng lượng khách du lịch đến Đắk Nông giai đoạn 2018-2023
Nhìn chung, khách du lịch nội địa chiếm tỷ trọng cao trong tổng cơ cấu khách, chiếm 92,3% – 96%. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đăk Nông thì lượng khách chiếm tỷ trọng cao nhất chủ yếu đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Nha Trang.
- Khách du lịch quốc tế
Cơ cấu khách du lịch quốc tế có sự biến động khá lớn trong giai đoạn 2018-2023. Lượng khách quốc tế năm 2019 tăng hơn 41% so với năm 2018, tương đương với 2.100 lượt khách. Tuy nhiên, giai đoạn từ 2019 – 2022 lượng khách quốc tế đến tỉnh Đăk Nông giảm đi rõ rệt, trung bình giảm từ 10% đến 20% so với năm 2019. Điều này được lý giải vì cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, hệ thống giao thông, đường xá còn khó khăn dẫn đến cản trở việc đi lại tham quan của khách du lịch. Hơn nữa, cơ sở vật chất phục vụ cho khách du lịch còn nghèo nàn, chưa đáp ứng hết được nhu cầu của khách.
Ngoài những nhu cầu thiết yếu như tham quan, thưởng thức văn hóa cồng chiêng và các món ăn truyền thống tại khu du lịch thì khách du lịch quốc tế đi du lịch với mục đích chính là nghỉ dưỡng, lưu trú tại điểm du lịch để tận hưởng không khí trong lành, hoang sơ tại các điểm du lịch. Tuy nhiên, hầu hết các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông chưa có cơ sở lưu trú cho khách du lịch, hoặc có một số nhà nghỉ nhưng cơ sở vật chất tồi tàn, không đủ tiêu chuẩn để phục vụ cho khách du lịch quốc tế.
Tính chất thời vụ của khách quốc tế tại Đắk Nông qua các tháng có mức chênh lệch không đáng kể. Thời điểm đón khách nhiều nhất là các tháng trước và sau Tết, tháng thấp điểm là tháng 3, tháng 4. Trong đó, khách quốc tế đến từ châu Âu chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng cơ cấu khách đến Đắk Nông, chủ yếu là từ các nước: Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Áo, Bỉ, Nga. Du khách đến từ Mỹ, Úc, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc chiếm tỷ trọng không đáng kể.
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Đắk Nông giai đoạn 2018-2023
- Khách du lịch nội địa Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Khách du lịch nội địa luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng cơ cấu khách du lịch của toàn Tỉnh. Lượng khách du lịch nội địa đến địa bàn tỉnh Đắk Nông tăng đều qua các năm, ngoại trừ năm 2019 lượng khách du lịch có giảm đi so với năm 2018 nhưng không đáng kể. Nhìn chung, sự chênh lệch về lượng khách du lịch giữa các năm không đáng kể, khoảng từ 10%-15%. Cụ thể như: Năm 2019 số lượng khách du lịch đến với Đắk Nông đạt 132.800 lượt khách, đến năm 2020 đạt 147.605 lượt khách, tăng hơn 11%, hay năm 2022 so với năm 2021 tăng 10,78%.
Theo điều tra của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh thì hầu hết đối tượng khách du lịch nội địa là khách du lịch tham quan thuần túy, bên cạnh đó còn có khách công vụ, học tập nghiên cứu…Đối tượng khách chủ yếu vẫn là học sinh, sinh viên trong Tỉnh và các tỉnh lân cận như Đak Lak, Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang…; các giáo viên, công chức, viên chức, khách công vụ và dự hội nghị , hội thảo tại Đắk Nông kết hợp đi tham quan.
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu khách du lịch nội địa đến Đắk Nông giai đoạn 2018-2023
Trên địa bàn toàn Tỉnh hiện chỉ có một vài khu du lịch có khả năng thu hút khách du lịch mạnh như Khu du lịch sinh thái Đray Sáp – Gia Long và điểm du lịch sinh thái thác Đăk G’Lun đang tổ chức bán vé tham quan, đón tiếp, phục vụ khách du lịch. Khu du lịch Dray Sáp – Gia Long chiếm 70 – 80% tổng cơ cấu khách tham quan tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn Tỉnh, đón khoảng 100 – 150 khách 1 ngày. Điểm du lịch sinh thái thác Đăk G’Lun đón khoảng 20 khách/ngày. Khách đến Đắk Nông chủ yếu khách tham quan nhưng lưu lại với thời gian ngắn ngày, chi tiêu của khách cũng hạn chế. Nguyên nhân là do các dịch vụ vui chơi giải trí quy mô nhỏ lẻ chưa tạo được ấn tượng, cũng như cơ sở vật chất còn nghèo nàn không thể kéo chân du khách, kéo dài thời gian lưu trú du khách, chất lượng dịch vụ chưa cao, các sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng phong phú do đó, chưa tạo được khả năng cạnh tranh với các địa phương khác.
2.1.2.2. Tổng thu từ du lịch
Tổng thu từ du lịch của tỉnh Đắk Nông còn khiêm tốn so với các tỉnh, thành khác trong khu vực cũng như trong cả nước và so với tiềm năng du lịch của Tỉnh. Tổng thu mà ngành du lịch mang lại trong giai đoạn 2019 – 2023 đạt 106.795 triệu đồng. Trong đó, năm 2023 đạt 23.295 triệu đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2022.
Tổng thu từ du lịch có được chủ yếu là từ doanh thu bán vé vào cổng, lưu trú. Tổng thu từ các dịch vụ khác chiếm tỷ trọng không đáng kể.
Bảng 2.2. Tổng thu từ du lịch giai đoạn 2019-2023
2.1.2.3. Tình hình phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và lực lượng lao động phục vụ cho du lịch
- Về cơ sở lưu trú, nhà hàng Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Bảng 2.3. Tình hình phát triển cơ sở lưu trú tại Đắk Nông giai đoạn 2018-2023
Trước khi thành lập tỉnh, Đắk Nông chỉ có vài nhà trọ, nhà nghỉ quy mô nhỏ lẻ, tự phát, chưa đủ tiêu chuẩn phục vụ khách. Nhưng từ năm 2014 đến nay, cùng với quá trình đô thị hoá trung tâm tỉnh lỵ Gia Nghĩa và một số thị trấn, thị tứ đã hình thành nhiều cơ sở lưu trú du lịch có quy mô và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của du khách.
Đến nay, có khoảng 174 cơ sở lưu trú, với tổng số phòng là 1.970 phòng. Các cơ sở kinh doanh du lịch từng bước được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách như: khách sạn Đắk Nông Logde Resort, khách sạn Sunrise, khách sạn Hoàng Điệp, khách sạn Palace, khách sạn Trường Giang. Hệ thống nhà hàng phát triển tương đối nhanh và quy mô ngày càng lớn với 26 nhà hàng có sức chứa từ 100 – 2.500 chỗ ngồi tiêu biểu như: Nhà hàng Sơn Mã, nhà hàng Thành Thái, nhà hàng Tây Nguyên, nhà hàng Lodge, nhà hàng 135, nhà hàng Sen Hồng…Nhiều cơ sở kinh doanh cà phê, karaoke, massage, hồ bơi, câu cá thư giãn, vui chơi giải trí, các sân thi đấu thể thao như Tennis, bóng bàn… cũng được đầu tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách khi đến tham quan, du lịch tại Đắk Nông.
Từ năm 2019 đến nay, hoạt động lữ hành: Hiện có 01 doanh nghiệp chuyên tổ chức kinh doanh lữ hành nội địa, tổ chức các tour du lịch xuyên Việt và khám phá các vùng miền cả nước và 01 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế có cán bộ phụ trách địa bàn tỉnh Đăk Nông. Ngoài ra còn có nhiều đơn vị kinh doanh lữ hành ngoài tỉnh: Đắk Lắk, Bình Phước, Lâm Đồng đến khảo sát mở tour du lịch tại Đắk Nông; tuy nhiên, do mới hoạt động, quy mô nhỏ, cơ sở vật chất, đội ngũ hướng dẫn viên còn hạn chế nên hiệu quả đạt được chưa cao.
- Nhân lực du lịch của Tỉnh
Hiện nay, lực lượng lao động trong ngành Du lịch có khoảng 955 người; trong đó tại cơ quan quản lý nhà nước có 17 người (cấp tỉnh 9 người, cấp huyện 08 người); lao động phục vụ tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú, nhà hàng khoảng 938 người. Tỷ lệ lao động có trình độ từ sơ cấp đến trung cấp và cao đẳng, đại học chiếm khoảng 27,5 %, tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn về du lịch chỉ chiếm khoảng 17 % trong tổng số lao động của Ngành. Phần lớn số lao động trong ngành Du lịch còn trẻ, có triển vọng, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển với tốc độ ngày càng nhanh của nền kinh tế và của ngành Du lịch. Số lao động có chuyên môn nghiệp vụ về du lịch còn thấp, số lao động trong các cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng ít được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng về du lịch, đây là một cản trở lớn đối với sự phát triển của ngành Du lịch Đắk Nông.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông cũng đã mở các lớp tập huấn chuyên ngành kêu gọi các doanh nghiệp tham gia. Mặc dù cũng có một số đơn vị có cử người tham gia tập huấn do Sở tổ chức như: Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân cho cán bộ làm công tác du lịch tại các huyện, thị và lễ tân tại các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch; lớp bồi dưỡng nâng cao kiến thức về du lịch. Tuy nhiên, một số lao động sau khi tập huấn làm được một thời gian ngắn lại nghỉ việc nên cũng ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Lao động du lịch trên địa bàn tỉnh Đăk Nông phần lớn tập trung tại các cơ sở kinh doanh lưu trú và một số khu, điểm du lịch, nhà hàng. Đội ngũ cán bộ phụ trách du lịch các huyện, thị còn thiếu về số lượng và trình độ chuyên môn du lịch còn hạn chế, tác động đến công tác quản lý, thống kê, hướng dẫn,…công tác quản lý du lịch tại cơ sở gặp nhiều khó khăn.
năng du lịch của Tỉnh. Trước tình hình đó, HĐND và UBND tỉnh Đăk Nông đã đưa ra kế hoạch phấn đấu đến năm 2020 toàn ngành Du lịch sẽ tạo công ăn việc làm cho 10.400-11.500 lao động. Bên cạnh đó, Tỉnh cũng phải đề ra các chính sách tuyển dụng mới, đào tạo lại và bồi dưỡng nguồn nhân lực trong du lịch có chất lượng cao, có trình độ ngoại ngữ, ưu tiên cho cư dân địa phương, làm sao đạt chuẩn về chất lượng và đủ về số lượng, phù hợp với quy hoạch du lịch của tỉnh giai đoạn 2016-2020.
2.1.2.4. Tình hình phát triển cơ sở vật chất hạ tầng xã hội
Hệ thống giao thông đường bộ: Nằm tại vị trí Tây Nam của cao nguyên Nam Trung Bộ, Đăk Nông có 3 tuyến quốc lộ chạy qua là tuyến 14, 14C và tuyến 28, trong đó tuyến 28 đi Di Linh, Lâm Đồng hiện đang được nâng cấp. Đây sẽ là điều kiện rất thuận tiện cho việc kết nối các tuyến du lịch của Đăk Nông với Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
Hệ thống đường bộ của Đăk Nông hiện bao gồm 3 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 311km, phần lớn đã được trải nhựa. Quốc lộ 14, đoạn chạy qua tỉnh dài 155km, tuyến đường này cắt hầu hết các huyện trong tỉnh và là tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh cũng đồng thời là tuyến giao thông đối ngoại quan trọng nhất của Đăk Nông. Phía Bắc giáp với tỉnh Đăk Lăk, cách thành phố Buôn Ma Thuột 15km, phía Nam tuyến nối với tỉnh Bình Phước, chạy qua địa danh nổi tiếng Sóc Bombo. Tuyến 14C là tuyến đường Hồ Chí Minh, đoạn qua Đăk Nông dài 98km, chạy qua các huyện Cư Jút, Đăk Mil, Đăk Song và Đăk R’lấp. Trước đây tuyến đường này chủ yếu phục vụ mục tiêu quốc phòng vì vậy chỉ là tuyến đường đất, cấp phối. Nay với dự án đường Hồ Chí Minh, tuyến đường này sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và du lịch của địa phương cũng như các tỉnh khác trên toàn tuyến. Quốc lộ 28 là tuyến quốc lộ nối Đăk Nông với Lâm Đồng, qua đó tới các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ. Đoạn quốc lộ 28 trên địa bàn Đăk Nông dài 58km. Là tuyến đường liên thông qua Đà Lạt. Chính vì vậy, đây là một trong những thuận lợi lớn nhằm khai thác thị trường khách du lịch của thành phố Đà Lạt, cũng như thu hút khách du lịch tới Đà Lạt đi tiếp sang Đăk Nông. Quốc lộ 28, đoạn từ Gia Nghĩa tới Đà Lạt cũng là chặng cuối của “Con đường xanh Tây Nguyên” – một sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn của Tây Nguyên cũng như của Việt Nam.
Bên cạnh đó còn có các tuyến tỉnh lộ, cụ thể: đường 681 nối thị trấn Kiến Đức với huyện Tuy Đức; đường 686 đoạn qua địa phận Đắk N’Rung, Nâm N’Jang nối tuyến hành lang với huyện Tuy Đức và huyện Đắk Glong. Đường 686 gặp đường 681 trên địa phận huyện Tuy đức và gặp đường 14C góp phần kết nối tuyến thị trấn Kiến Đức với đường 14C đi lên cửa khẩu Bu Prăng; đường lộ 682: Đức Mạnh – Đắk Song; Tỉnh lộ 683 kết nối Đắk Mil với Krông Nô; Tỉnh lộ 684: kết nối Gia Nghĩa với Cư Jút; Tỉnh lộ 685 kết nối Kiến Đức với Cây Chanh; Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Hệ thống các đường tỉnh lộ trong thời gian qua đã nhựa hoá với tỷ lệ 84% và tạo ra sự kết nối thuận lợi phục vụ cho quá trình giao thương, trao đổi kinh tế và đi lại của dân cư giữa các địa phương trong tuyến hành lang và giữa tuyến hành lang với các huyện khác trong tỉnh.
Hệ thống giao thông đường sông: Mặc dù có hệ thống sông ngòi tương đối dày đặc với hai hệ thống sông chính là Sêrêpốc và sông Đồng Nai, tuy nhiên do địa hình phức tạp, nhiều thác gềnh, nên không thuận tiện cho giao thông đường thủy
Hệ thống giao thông đường hàng không: Tỉnh Đắk Nông cách sân bay Buôn Ma Thuột và Liên Khương (Đà Lạt) với khoảng cách gần 200km, khách du lịch hiện có thể tới Đắk Nông bằng đường hàng không sau đó đi them một chặn xe ô tô nữa. Mặc dù khoảng cách từ sân bây đến trung tâm tỉnh lị tỉnh Đắk Nông khá xa, nhưng dọc đường đi du khách có thể ngắm cảnh núi non hùng vĩ dọc hai bên đường, các điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Đắk Nông cũng nằm trên địa bàn các huyện dọc tuyến quốc lộ. Chính vì vậy, khách du lịch có thể sử dụng phương tiện máy bay để di chuyển sẽ rất thuận tiện, tiết kiệm thời gian, công sức. Tuy nhiên, trong tương lai, sân bay Nhân Cơ có thể được cải tạo trở thành sân bay taxi, phục vụ các trường hợp khẩn cấp, hoặc để đón các đoàn khách cao cấp.
Giao thông đường sắt: Hiện nay chưa có tuyến đường sắt tới Đăk Nông, tuy nhiên với sự hình thành và phát triển của chương trình khai thác Bô-xít, tuyến đường sắt Gia Nghĩa – Thị Vải khi được xây dựng sẽ là một đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh.
Hệ thống bưu chính viễn thông: Đến nay, 100% số xã có điện thoại, số lượng thuê bao liên tục tăng qua các năm, đạt 13.703 (2012), bình quân 3,45 máy/100 dân. Sóng di động đã được phủ sóng tới hầu hết các khu vực trên địa bàn tỉnh. Hệ thống internet cũng được trãi đều trong toàn tỉnh, tuy nhiên để khai thác triệt để lợi ích của internet thì cần phải có thời gian. Dân số trên địa bàn tỉnh đa số là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn thấp vì vậy khả năng tiếp thu còn hạn chế.
2.2. Khảo sát hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
2.2.1. Bộ máy tổ chức hoạt động xúc tiến du lịch của Tỉnh
Tỉnh Đăk Nông được tái lập từ ngày 01/01/2012, theo Nghị quyết số 23/2011/QH11 ngày 26/11/2011 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk. Từ khi thành lập tỉnh đến năm 2016 HĐND, UBND tỉnh Đắk Nông tập trung ổn định bộ máy tổ chức, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật. Do đó, ngành du lịch cũng chỉ dừng ở giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất và ổn định tổ chức nên chưa chú trọng trong công tác xúc tiến du lịch của tỉnh. Năm 2016 UBND tỉnh đã ra quyết định thành lập Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Đắk Nông theo Quyết định số 888/QĐ-UBND ngày 08/7/2016 của UBND tỉnh Đắk Nông, là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc UBND tỉnh Đắk Nông, triển khai thực hiện công tác Xúc tiến đầu tư, Thương mại và Du lịch. Đến tháng 11 năm 2020, được chuyển giao nguyên trạng và đổi tên thành Trung tâm xúc tiến Đầu tư tại Quyết định số 1482/QĐ-UBND ngày 07/11/2020 của UBND tỉnh Đăk Nông, trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đăk Nông. Trung tâm xúc tiến đầu tư gồm có một giám đốc, một phó giám đốc và ba phòng ban quản lý ba lĩnh vực khác nhau: phòng Hành chính tổng hợp, phòng Xúc tiến đầu tư và phòng Hỗ trợ doanh nghiệp. Mỗi phòng ban có chức năng và nhiệm vụ chuyên môn riêng, trong đó hoạt động xúc tiến du lịch được giao cho phòng Xúc tiến đầu tư với chức năng chính là kêu gọi thu hút các nhà đầu tư vào các khu, điểm du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật; Tổ chức thu thập, tổng hợp, soạn thảo, xây dựng, phối hợp xuất bản, phát hành các thông tin, ấn phẩm, tư liệu tuyên truyền (dưới dạng tài liệu, sách, file, CD, DVD, Website…) về các thông tin của địa phương, đặc biệt là các thông tin quảng bá về tiềm năng đầu tư, sản phẩm hàng hóa; Tổ chức, phối hợp tổ chức, tham gia các sự kiện xúc tiến đầu tư và làm đầu mối liên hệ với các cơ quan xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước để cung cấp, quảng bá thông tin của tỉnh.
Giai đoạn này biên chế của Trung tâm còn khá hạn chế, gồm 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 3 trưởng phòng của 3 phòng ban và 8 chuyên viên ( phòng Hành chính tổng hợp 2 nhân viên; còn lại 6 nhân viên chia đều cho hai phòng còn lại).
Tuy nhiên, Trung tâm xúc tiến đầu tư chỉ quản lý hoạt động xúc tiến du lịch đến hết năm 2020. Năm 2021 hoạt động xúc tiến du lịch được chuyển qua cho Trung tâm Văn hóa quản lý theo Quyết định số 272 /QĐ-SVHTTDL ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đăk Nông về việc “Sửa đổi, bổ sung một số điều quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm văn hóa tỉnh Đắk Nông”. Hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh được giao cho hai phòng ban chính đó là Trung tâm văn hóa tỉnh và phòng Nghiệp vụ du lịch. Trung tâm văn hóa tỉnh có chức năng in ấn và phát hành các ấn phẩm, pa nô giới thiệu về du lịch tỉnh Đắk Nông, xây dựng website quảng bá về du lịch tỉnh. Phòng Nghiệp vụ du lịch có chức năng xây dựng và tổ chức các chương trình, sự kiện quảng bá du lịch tỉnh; phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí, đài phát thanh truyền hình xây dựng các thước phim quảng bá về danh lam thắng cảnh con người tỉnh Đắk Nông; điều tra, tổng hợp số liệu về khách du lịch và xây dựng các phương án xúc tiến.
2.2.2. Quy trình hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của Tỉnh Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Hoạt động xúc tiến du lịch của Tỉnh được xây dựng cho từng năm, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Nông xây dựng dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh theo định hướng xúc tiến du lịch của Quốc gia. Quy trình hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông trãi qua các bước sau:
Đầu tiên, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Nông xây dựng kế hoạch hoạt động và dự trù kinh phí cho xúc tiến du lịch của Tỉnh. Sau khi kế hoạch hoạt động xúc tiến được phê duyệt, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kinh phí cho hoạt động xúc tiến du lịch một cách cụ thể. Thông thường nguồn kinh phí dự trù cho hoạt động xúc tiến năm tiếp theo được xây dựng từ tháng 10 năm trước.
Sau khi được cấp kinh phí (thông thường nguồn kinh phí được phê duyệt bao giờ cũng thấp hơn so với dự toán ban đầu) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch hoạt động xúc tiến du lịch trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch cả năm.
UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể đối với từng nội dung công việc thực hiện.
Cuối cùng là báo cáo kết quả thực hiện bằng văn bản về cho UBND tỉnh.
Đối với nhiệm vụ phát sinh được giao: Sau khi nhận được văn bản (thư mời tham gia của các đơn vị tổ chức hay văn bản của UBND tỉnh giao tham mưu…). Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ trả lời bằng văn bản có tham gia hoặc không tham gia.
Nếu tham gia thì dự thảo kế hoạch, dự trù kinh phí trình UBND tỉnh cho chủ trương tham gia và cấp bổ sung kinh phí, sau khi UBND tỉnh có chủ trương và cấp kinh phí thì tiến hành thực hiện theo kế hoạch, báo cáo kết quả thực hiện về UBND tỉnh.
Nếu không tham gia được thì tham mưu UBND tỉnh bằng văn bản nêu rõ lý do không tham gia.
2.2.3. Nội dung hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông
HĐND và UBND tỉnh Đắk Nông đã xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng thứ 2 trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh. Chính vì vậy, công tác quảng bá, xúc tiến du lịch là yếu tố quan trọng góp phần đưa ngành du lịch trở thành một trong những bước đột phá trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Theo đó, tỉnh đã đẩy mạnh nhiều hoạt động phát triển du lịch thông qua các hình thức như tổ chức quảng bá, xúc tiến du lịch, đẩy mạnh hoạt động liên kết ngành vùng… Trong đó, nội dung của hoạt động xúc tiến du lịch của Tỉnh cũng tuân theo quy định của Luật Du lịch Việt Nam, gồm có 4 nội dung chính:
Thứ nhất, đây cũng là nội dung chính của hoạt động xúc tiến là tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đến với du khách trong và ngoài nước. Trong đó, nội dung xúc tiến không chỉ bao gồm việc giới thiệu các danh lam thắng cảnh, các khu di tích lịch sử, cách mạng của tỉnh mà còn giới thiệu cho du khách biết về con người, bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc tại địa phương qua hình ảnh về trang phục, ẩm thực, sinh hoạt hằng ngày của người dân…
Thứ hai, công tác xúc tiến của Tỉnh nhằm kêu gọi đồng bào dân tộc luôn nêu cao tình thần thân thiện, mến khách của địa phương mình, tạo sự thân thiện, hòa đồng giữa du khách và cư dân địa phương, giúp cho du khách cảm nhận được sự thân thiện, gần gủi với cư dân địa phương như đang ở nhà mình. Nội dung xúc tiến còn tuyên truyền, giáo dục cộng đồng địa phương cũng như du khách hưởng ứng phong trào “ du lịch xanh” tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, giao lưu học hỏi lẫn nhau để từ đó xây dựng và phát triển du lịch của địa phương một cách bền vững và an toàn.
Thứ ba, tài nguyên du lịch tỉnh Đắk Nông phong phú và đa dạng, để biến nguồn tài nguyên vốn có thành sản phẩm du lịch để phục vụ cho du khách, hoạt động xúc tiến là một công cụ hữu hiệu để thu hút nguồn đầu tư từ các nhà đầu tư. Chính vì vậy, trong nội dung của hoạt động xúc tiến không thể thiếu việc kêu gọi các nhà đầu tư vào địa phương. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông đã phối hợp với các phòng ban có liên quan tham gia vào các hội chợ thương mại,tổ chức các sự kiện văn hóa du lịch để quảng bá tiềm năng, thế mạnh của địa phương nhằm kêu gọi các nhà đầu tư. UBND tỉnh Đắk Nông cũng có các chính sách hỗ trợ các nhà đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng du lịch.
Thứ tư, nội dung cuối cùng trong hoạt động xúc tiến du lịch của Tỉnh đó là quá trình nghiên cứu thị trường tìm ra nhu cầu thị hiếu của khách du lịch. Từ đó, xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Hiện nay, hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp với quy hoạch chung của cả nước và hướng tới một môi trường du lịch lành mạnh. Đặc biệt nội dung xúc tiến xây dựng các sản phẩm du lịch chú trọng đến du lịch sinh thái, du lịch MICE, du lịch mạo hiểm, khám phá. Các loại hình du lịch này phù hợp với tài nguyên du lịch của địa phương và phù hợp với thị hiếu của khách du lịch.
2.2.4. Các hình thức hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Công tác xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông được triển khai với nhiều hình thức, bằng nhiều phương tiện khác nhau theo đúng nội dung được quy định trong Luật Du lịch; cụ thể như sau:
2.2.4.1. Tuyên truyền, quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng
Việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho hoạt động tuyên truyền quảng bá về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, cách mạng, bản sắc văn hóa của tỉnh Đắk Nông là một công cụ hữu hiệu nhất giúp cho khách du lịch có thể dễ dàng biết đến du lịch Đắk Nông. Các phương tiện được sử dụng cho hoạt động quảng bá, xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông cụ thể như:
Truyền hình: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông đã phối hợp với công ty Sài Gòn Tourist, Đài truyền hình Việt Nam kênh VTV4 và Đài kỹ thuật số SCTV12 quay phim quảng bá về du lịch tỉnh Đắk Nông. Bên cạnh đó, du lịch Đắk Nông còn được thường xuyên quảng bá trên các trang truyền hình địa phương Đài truyền hình tỉnh Đắk Nông PTD như trang “Nhịp sống Tây nguyên”.
Phát thanh: Các thông tin về hoạt động du lịch cũng như các dự án chủ yếu được phát sóng trên kênh phát thanh của địa phương. Vì nguồn kinh phí hạn chế nên chương trình xúc tiến đầu tư của tỉnh chưa ký kết hợp đồng quảng cáo trên các kênh phát thanh khác.
Báo, tạp chí: Ngành du lịch tỉnh Đắk Nông đã thường xuyên phối hợp với các báo, tạp chí đăng tải các bài viết, thông tin nổi bật các sự kiện văn hóa lễ hội, du lịch của tỉnh như tạp chí Đà Lạt Infor, báo Đắk Nông.
Trang web: Khách du lịch có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về du lịch Đắk Nông trên các trang thông tin điện tử, chỉ cần vào công cụ tìm kiếm google tìm về du lịch Đắk Nông sẽ xuất hiện list dài các trang điện tử khác nhau. Mặc dù Đắk Nông chưa xây dựng được website riêng cho du lịch của tỉnh nhưng chúng ta có thể tìm thấy những thông tin về các sản phẩm du lịch cũng như tài nguyên du lịch của tỉnh trên những trang điện tử như: Cổng thông tin điện tử Đắk Nông, Đắk Nông online, Trung tâm xúc tiến đầu tư www.ipcdaknong, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với tên miền http://svhttdl.daknong. Ngoài ra Trung tâm xúc tiến đầu tư tỉnh Đắk Nông còn đăng tải các dự án du lịch quảng cáo trên trang web của Báo Đầu tư online www.baodautu … Các trang web không chỉ cung cấp cho khách du lịch những hình ảnh sống động về các sản phẩm du lịch, các điểm du lịch mà còn cập nhật những thông tin mới nhất về các chính sách, đầu tư phát triển du lịch của địa từ. Cũng nhờ đó mà các nhà đầu tư dễ dàng nắm được những thông tin cần thiết để tìm kiếm cơ hội đầu tư vào Đắk Nông.
Đánh giá: Các phương tiện thông tin truyền thông là công cụ xúc tiến quảng bá nhanh và hiệu quả trong hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh. Tuy nhiên, kinh phí cho một lần quảng bá như thế này không phải là nhỏ, do đó hoạt động xúc tiến quảng bá của tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng còn khá ít. Thông qua kết quả điều tra về cách thức tiếp cận với du lịch Đắk Nông trên các kênh phương tiện thông tin đại chúng (phụ lục 1, 2) có thể thấy các hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh trên các phương tiện thông tin đại chúng còn ít người biết đến, chỉ chiếm 8% đối với khách du lịch trong nước và 5% đối với khách du lịch nước ngoài trong tổng số các công cụ được sử dụng cho hoạt động xúc tiến của Tỉnh. Hầu hết các chương trình được quảng bá trên các kênh truyền hình là sự hợp tác, hỗ trợ giữa UBND tỉnh và các cơ quan thông tấn, các hãng lữ hành đến tỉnh làm việc và xây dựng các thước phim quảng bá cho du lịch Đắk Nông. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Ngược lại với các kênh thông tin truyền thông, kênh thông tin mà khách hàng dễ dàng tiếp cận với du lịch tỉnh Đắk Nông nhất đó là thông qua internet. Theo kết quả điều tra ở phụ lục 1 và phụ lục 2 cho thấy khách du lịch tiếp cận với du lịch Đắk Nông thông qua internet đạt tỷ lệ khá cao, trong đó khách du lịch trong nước chiếm tỷ lệ 22%, khách du lịch nước ngoài chiếm 21%. Như vậy có thể thấy du khách có thể tìm kiếm tất cả các thông tin về du lịch Đắk Nông trên các trang web riêng của tỉnh hoặc có thể tìm kiếm trên nhiều trang mạng xã hội khác nói về du lịch tỉnh Đắk Nông. Điều này cho thấy ngày nay khoa học công nghệ phát triển vượt bậc thì việc quảng bá du lịch trên các trang mạng xã hội là hết sức hiệu quả. Khách du lịch có thể dễ dàng tìm kiếm các thông tin trên các trang web, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Hầu hết các trang web đều có hỗ trợ dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh và một số thứ tiếng khác, do đó rất thuận lợi cho khách du lịch nước ngoài tìm kiếm thông tin trước khi đến với điểm du lịch. Tuy nhiên ngành du lịch tỉnh Đắk Nông vẫn chưa xây dựng được cho mình trang web riêng của mình mà chỉ hoạt động trong trang web của các Sở. Do đó, hoạt động xúc tiến quảng bá của tỉnh cũng gặp nhiều cản trở.
2.2.4.2. Thông qua các sản phẩm truyền thống để xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch tỉnh Đắk Nông
Theo Thông tư 89/2016/TT-BVHTTDL, Sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch bao gồm tranh, ảnh, biển quảng cáo, sách, tờ rơi, tập gấp, bản đồ, băng đĩa hình, âm thanh, băng rôn, cờ phướng và đồ lưu niệm được sản xuất, phát hành nhằm tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam.
- Sách mỏng về du lịch: “Cẩm nang du lịch Đắk Nông” với số lượng: 200 cuốn, “Du lịch Đắk Nông – Hoang sơ và quyến rũ”, với 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Campuchia. Bản đồ du lịch Đăk nông song ngữ Việt – Anh, phát hành mỗi năm 1 lần với gần 3.000 bản/lần.
- Tờ rơi tập gấp: Phát hành 2 lần: tổng = 4.600 tờ.
- Băng rôn panô áp phíc: Bảng Pano khổ lớn ngoài trời: 02 bảng. Bảng chỉ dẫn đến các điểm du lịch: 03 bảng
- Băng đĩa: Năm 2022 Trung tâm văn hóa tỉnh Đắk Nông đã phát hành 3 lần với tổng số băng đĩa lên tới 1.850 đĩa với nội dung “Du lịch Đăk Nông – Tiềm năng và cơ hội đầu tư” (tiếng Việt). Phát hành đĩa DVD “Đắk Nông – Điểm đến huyền thoại”.
Năm 2023 Trung tâm văn hóa tỉnh Đắk Nông đã phát hành 2 lần với tổng số đĩa là 2.000 đĩa với nội dung “Du lịch Đăk Nông – Tiềm năng và cơ hội đầu tư” (tiếng Việt). Song song đó, Trung tâm văn hóa tỉnh cũng đã phát hành 2.000 đĩa song ngữ: Việt – Anh cũng với nội dung trên.
Đánh giá: Nhìn chung công tác tuyên truyền quảng bá du lịch của Tỉnh sử dụng chủ yếu các công cụ xúc tiến truyền thống để tuyên truyền quảng bá cho du lịch tỉnh nhà. Vì các phương tiện truyền thống tốn ít kinh phí hơn và số lượng nhiều hơn. Tuy nhiên việc sử dụng các công cụ này chưa thật sự mang lại hiệu quả cho hoạt động xúc tiến của tỉnh, chỉ 10% khách du lịch trong nước và 10% khách du lịch nước ngoài biết đến du lịch Đắk Nông thông qua các ấn phẩm( phụ lục 1, 2). Các ấn phẩm, tập gấp chủ yếu truyền được tới tay người tiêu dùng thông qua các hội chợ thương mại, triển lãm…do đó lượng khách hàng được tiếp cận với du lịch Đắk Nông còn hạn chế. Bên cạnh đó, hầu hết các nội dung quảng bá đều sử dụng tiếng Việt vì vậy khách du lịch nước ngoài cũng gặp khó khăn trong việc tìm hiểu về du lịch Đắk Nông.
2.2.4.3. Khảo sát điểm đến. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông đang phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương các huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Nông tiến hành khảo sát các tài nguyên du lịch có khả năng đưa vào khai thác du lịch như: trên địa bàn huyện Đắk Song có cụm du lịch Sinh thái – Văn hóa – Lịch sử Nâm Nung, khu du lịch sinh thái Tà Đùng thuộc xã Đắk Som, huyện Đắk G’Long, khu du lịch sinh thái văn hóa cụm thác Đray Sáp – Gia Long – Trinh Nữ nằm trên địa bàn huyện Cư Jut và huyện Krông Nô…
Đặc biệt, tháng 12/2022, các nhà khoa học Nhật Bản cùng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam công bố thông tin ban đầu về một số hang động núi lửa dài nhất Đông Nam Á tại huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Hiện nay, tỉnh Đắk Nông đang phối hợp với Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam triển khai đề án “ Điều tra, đánh giá di sản địa chất, xây dựng công viên địa chất khu vực Krông Nô, tỉnh Đắk Nông” để xây dựng công viên địa chất khu vực Krông Nô cấp quốc gia, hướng đến đề nghị UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu. Theo kết quả khảo sát, nghiên cứu sơ bộ của các nhà nghiên cứu, hang động ở đây phát triển thành một hệ thống có quy mô lớn nhất Đông Nam Á. Bên trong hang còn ẩn chứa nhiều điều bí mật về địa chất tạo thành đa dạng sinh học (không loại trừ cả khảo cổ…) đang cần được nghiên cứu khám phá. Điều thú vị cho du khách và gây sự chú ý đối với các nhà nghiên cứu là các hang này hình thành trong đá bazan chứ không phải trong đá carbonat (đá vôi) như đa số những hang động khác ở Việt Nam.
2.2.4.4. Công bố các sản phẩm du lịch mới.
Ngày 26/12/2022, tại Hà Nội, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam – Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hiệp hội hang động núi lửa Nhật Bản và Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông đã tổ chức họp báo công bố kết quả khảo sát về hệ thống hang động núi lửa thuộc lưu vực sông Sêrêpôk, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông đang phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền huyện Krông Nô triển khai các bước thuộc đề án xây dựng Công viên địa chất hang động núi lửa dọc sông Sêrêpốk thuộc huyện Krông Nô (tỉnh Đắk Nông) và dự kiến đến năm 2016, Công viên sẽ đi vào hoạt động và đón du khách trong, ngoài nước vào tham quan, du lịch.
Khu vực Krông Nô và kế cận có bối cảnh kiến tạo khá đặc biệt, có đặc điểm địa chất đa dạng, độc đáo là tiền đề tạo nên sự phong phú, đa dạng về tài nguyên di sản thiên nhiên và di sản văn hóa. Đây là khu vực có nhiều thắng cảnh đẹp gắn với các khu bảo tồn và rừng đặc dụng có hệ sinh thái đa dạng, phong phú, đặc hữu, nhiều động thực vật quý hiếm; là khu vực có bề dày lịch sử, giàu truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Cùng với sự đa dạng về địa chất, những phát hiện về hệ thống hang động núi lửa đã hội tụ đầy đủ theo các tiêu chí của UNESCO cho việc thành lập công viên địa chất quốc gia tiến tới công nhận công viên địa chất toàn cầu.
2.2.4.5. Tham gia, tổ chức và thực hiện các chương trình sự kiện hội chợ hội thảo triển lãm hoạt động thông tin du lịch trong nước của quốc gia khu vực và địa phương. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Tham gia các hội nghị, hội thảo, hội chợ xúc tiến du lịch như Hội chợ Thương mại, Nông nghiệp, Hội chợ xúc tiến du lịch Tp. Hồ Chí Minh. Tham gia Hội chợ thương mại và văn hoá du lịch năm 2019 tại Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tham gia triển lãm Du lịch quốc tế 2019 được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2020 Tham gia Hội chợ Quốc tế thương mại và du lịch hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2020; Năm 2021 tham gia chương trình “Ngày hội Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh 2021” và Hội chợ Du lịch quốc tế thành phố Hồ Chí Minh (ITE – HCMC 2021) tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2022 tham gia 03 sự kiện: “Ngày Hội du lịch Thành phố Hồ CHí Minh”, “Hội chợ du lịch quốc tế thành phố Hồ Chí Minh (ITE-HCMC)”, “Hội chợ Du lịch, Làng nghề và Thương mại – Đà Lạt 2022”. Năm 2023 tham gia 01 sự kiện “Hội chợ du lịch Tây Bắc 2023”.
Bên cạnh đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Nông đã phối hợp với các phòng ban có liên quan tổ chức các sự kiện đặc sắc nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch của tỉnh như: “Chinh phục đỉnh Nâm Nung lần thứ I và thứ II năm 2018, 2020″, Chương trình “Đêm Đray Sáp huyền thoại” năm 2021, Hội Xuân Nâm Nung, Hội xuân Nâm Nung các năm 2022, 2023, Tổ chức sự kiện du lịch hưởng ứng 10 năm thành lập tỉnh (Lễ hội Đray Sáp) năm 2021. Và một số sự kiện cụ thể qua các năm như:
Năm 2018 Trung tâm xúc tiến đầu tư tổ chức hội thảo Du lịch Đắk Nông tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Đắk Nông; Năm 2019 tổ chức Lễ ký kết hợp tác phát triển lĩnh vực xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch giai đoạn 2019 – 2023 giữa hai Trung tâm của hai tỉnh Đăk Nông và Lâm Đồng.
Ngoài ra để hưởng ứng Năm Du lịch quốc gia Tây Nguyên – Đà Lạt 2022, từ ngày 21 – 27/7/2022, tỉnh Đắk Nông tổ chức Tuần lễ Văn hóa – Du lịch với chủ đề “Khám phá cao nguyên M’Nông” nhằm giới thiệu, quảng bá tiềm năng du lịch sinh thái, văn hóa, tâm linh đến du khách trong và ngoài tỉnh.
Cũng tại tỉnh Đăk Nông, Ban chỉ đạo Tây Nguyên và Tổ chức Oxfam phối hợp tổ chức Ngày hội Khơi nguồn bản sắc các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Đây là lần đầu tiên một chương trình nghệ thuật đa dạng với sự góp mặt của nhiều nhóm dân tộc khác nhau do những nghệ sĩ không chuyên thể hiện với tất cả niềm đam mê của mình.
Đánh giá: Thông qua các sự kiện, hội chợ, triển lãm được tổ chức tại các thành phố lớn trong nước đã giúp du lịch Đắk Nông có cơ hội quảng bá du lịch Đắk Nông đến với khách du lịch. Có 12% khách du lịch nội địa và 19% khách du lịch quốc tế ( phụ lục 1, 2) biết đến du lịch Đắk Nông thông qua các sự kiện, hội chợ. Bên cạnh đó, qua các sự kiện được tổ chức tại địa phương đã một phần nào giúp cho người dân địa phương ý thức được những lợi ích mà du lịch mang tới. Từ đó, giúp người dân có ý thức hơn trong công tác duy trì, bảo tồn những giá trị truyền thống vốn có của dân tộc mình, đồng thời cũng giúp đồng bào dân tộc tại địa phương phối hợp với cơ quan chức năng để cùng xây dựng và phát triển du lịch tỉnh ngày một giàu mạnh hơn, bền vững hơn. Tuy nhiên, hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh đang còn hoạt động ở quy mô nhỏ, chỉ mang tính chất khu vực và các tỉnh lân cận mà chưa được mở rộng theo quy mô lãnh thổ quốc gia, do đó thị trường khách cũng chưa được mở rộng, chưa có cơ hội tham gia vào các sự kiện quảng bá du lịch lớn mang tầm vốc quốc tế như Hội chợ thương mại VITM được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội.
2.2.4.6. Hợp tác quốc tế v xúc tiến du lịch. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Tỉnh cũng đã ký kết chương trình hợp tác phát triển du lịch với Tp. Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, tỉnh Mondulkiri (Vương quốc Campuchia) để liên kết phát triển du lịch, tăng cường mối quan hệ hợp tác, quảng bá xúc tiến du lịch để thúc đẩy du lịch các địa phương cùng phát triển. Gắn kết triển khai Đề án “Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa Lễ hội – Hoa văn – Cồng chiêng và nhạc cụ của các dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2018-2023″ với tổ chức sự kiện, lễ hội như: Lễ cúng thần rừng, lễ sum họp cộng đồng, lễ cưới truyền thống của đồng bào M’nông, …Việc tổ chức lễ hội truyền thống tại các khu, điểm du lịch cũng đã thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.
2.2.5. Ngân sách cho hoạt động xúc tiến
Giai đoạn 2019 – 2023, kinh phí xúc tiến quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực phân bổ chung cho hoạt động du lịch của tỉnh là 2.830.000.000 đồng. Trong đó, năm 2019: 450 triệu, năm 2020: 500 triệu, năm 2021: 500 triệu, năm 2022: 660 triệu, năm 2023: 720 triệu đồng. Tuy nhiên, nguồn kinh phí hoạt động xúc tiến, quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực như trên vẫn còn hạn chế, chưa thể tham gia vào các hoạt động quảng bá mang tính quốc gia, quốc tế do các địa phương tổ chức để kết nối tour, quảng bá tiềm năng, thế mạnh du lịch tỉnh nhà đến du khách trong và ngoài nước.
2.2.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của Đắk Nông
Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch tỉnh Đắk Nông đã đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những nhân tố làm ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh cụ thể như sau:
Thứ nhất khung chính sách và quy định cho hoạt động quảng bá du lịch.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh tới hoạt động xúc tiến, quảng bá chính là khung chính sách và các quy định từ trung ương đến địa phương. Như vậy, trong hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông phải có sự phối hợp chặc chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các bộ, ban, ngành, truyền thông đại chúng từ trung ương đến địa phương và các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch trong công tác xúc tiến, quảng bá du lịch không những ở trong nước mà còn ở nước ngoài. Tuy nhiên, tỉnh Đắk Nông là một tỉnh mới được tái lập năm 2022 do đó bộ máy tổ chức nhà nước về hoạt động xúc tiến du lịch vẫn chưa được ổn đinh, trong vòng chưa tới 10 năm mà hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh đã thay đổi 3 lần. Chính điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến việc phối hợp giữa các cơ quan ban ngành để thự hiện quảng bá xúc tiến du lịch tỉnh.
Thứ hai, nguồn kinh phí cho hoạt động xúc tiến du lịch
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch muốn được thực hiện một cách hiệu quả đòi hỏi phải có nguồn kinh phí lớn. Những công cụ sử dụng cho hoạt động xúc tiến điểm đến mà du khách dễ dàng tiếp cận nhất là quảng cáo trên hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh, internet…Tuy nhiên, kinh phí cho hoạt động quảng bá trên các trang truyền hình lại rất cao nhưng nguồn kinh phí cho hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh còn rất hạn hẹp. Giai đoạn 2019 – 2023, kinh phí xúc tiến quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực phân bổ chung cho hoạt động du lịch của tỉnh là 2.830.000.000 đồng (Năm 2019: 450 triệu, năm 2020: 500 triệu, năm 2021: 500 triệu, năm 2022: 660 triệu, năm 2023: 720 triệu đồng). Như vậy, có thể thấy nguồn kinh phí hoạt động xúc tiến, quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực như trên vẫn còn rất hạn chế, chưa thể tham gia vào các hoạt động quảng bá mang tính quốc gia, quốc tế do các địa phương tổ chức để kết nối tour, quảng bá tiềm năng, thế mạnh du lịch tỉnh nhà đến du khách trong và ngoài nước. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Thứ ba, tổ chức bộ máy chuyên môn đội ngũ nhân lực triển khai hoạt động xúc tiến quảng bá.
Bộ máy quản lý hoạt động xúc tiến du lịch vẫn chưa ổn định từ khi thành lập tỉnh đến nay. Tỉnh Đắk Nông là một tỉnh mới thành lập nên điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo do đó chưa đủ kinh phí để thành lập trung tiếp xúc tiến riêng cho ngành du lịch như các tỉnh bạn. Nguồn nhân lực làm công tác xúc tiến còn yếu. Hiện nay hoạt động xúc tiến du lịch ở địa phương chủ yếu do Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch đảm nhiệm, nhưng đội ngũ cán bộ nhân viên còn thiếu kinh nghiệm. Nhân sự sử dụng cho hoạt động xúc tiến hầu hết là những nhan viên làm trái với chuyên môn mà họ đã được đào tạo, chưa được đào tạo làm công tác xúc tiến, tập huấn chuyên sâu về xúc tiến, quảng bá du lịch, marketing du lịch. Đào tạo mới chỉ dừng lại ở việc cử cán bộ đi học tập huấn kỹ năng xúc tiến du lịch ngắn hạn.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Nông chưa chú trọng đến công tác xúc tiến quảng bá. Thực tế là phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở địa phương chưa ý thức được vai trò, tác dụng của công việc này nên họ không đầu tư hoặc đầu tư rất ít về nhân lực cũng như kinh phí. Thậm chí có những đơn vị còn cho đó là việc không cần thiết, không phối hợp với cơ quan chuyên môn trong cung cấp thông tin. Tình trạng này nếu tiếp tục diễn ra sẽ gây ảnh hường xấu đến kết quả xúc tiến. Chỉ khi nào doanh nghiệp chủ động đầu tư để quảng bá hình ảnh, sản phẩm của chính mình thì mới thực sự hiệu quả.
Thứ tư Công tác nghiên cứu thị trường
Một hạn chế lớn phải kể đến là công tác nghiên cứu thị trường chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Các đợt khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thị trường du lịch được thực hiện với quy mô nhỏ và thiếu chuyên nghiệp. Hoạt động xúc tiến du lịch chưa có một chiến lược dài hạn, cụ thể cho từng thị trường khách du lịch. Chưa xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ xúc tiến quảng bá cho mỗi giai đoạn và đặc điểm thị trường khách để tổ chức các hoạt động quảng bá phù hợp đã phần nào làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác xúc tiến. Do vậy, việc xây dựng đề án hay chiến lược xúc tiến quảng bá du lịch cho một giai đoạn khoảng 10-20 năm là việc làm rất cần thiết và hữu dụng.
2.3. Nhận xét đánh giá chung về thực trạng quảng bá xúc tiến du lịch tỉnh Đắk Nông trong thời gian qua
2.3.1. Điểm mạnh Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Nhìn chung, hoạt động xúc tiến du lịch Đắk Nông trong giai đoạn 2018-2023 đã đạt được những kết quả nhất định như:
Xây dựng được hệ thống ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch khá đẹp và ấn tượng về thiết kế, hình ảnh và chất liệu in ấn.
Mặc dù chưa xây dựng được webside riêng cho ngành du lịch nhưng du khách dễ dàng tìm kiếm thông tin du lịch Đắk Nông thông qua các webside của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch http://svhttdl.daknong, hay trang web của Báo Đắk Nông http://www.baodaknong.,…
Tổ chức và tham gia một số sự kiện văn hóa, thể thao, hội thảo về du lịch trong nước. Bên cạnh đó, đã phối hợp với các Sở, ban, ngành, địa phương liên quan trong việc giới thiệu quảng bá sản phẩm, các điểm đến, sản phẩm du lịch Đắk Nông.
Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch còn được quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là đài truyền hình Việt Nam VTV4. Phối hợp với công ty Sài Gòn Tourist quay phim quảng bá về du lịch Đắk Nông. Bên cạnh đó, du lịch Đắk Nông còn được quảng bá thường xuyên trên trang truyền hình địa phương Đài truyền hình Đắk Nông PTD.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của Tỉnh đã đạt được những thành công nhất định nhưng vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn và hạn chế nhất định, cụ thể như sau:
Khó khăn đầu tiên và cũng là khó khăn lớn nhất tồn tại hiện nay là bộ máy tổ chức quản lý hoạt động xúc tiến du lịch vẫn chưa được hoàn thiện. Không được thuận lợi như các tỉnh bạn, tỉnh Đắk Nông là một tỉnh mới được tái lập năm 2012, để ổn định cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý nhà nước phải mất một thời gian dài. Do đó, hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh đã qua nhiều cấp quản lý từ khi thành lập tỉnh cho đến nay. Chính việc chưa ổn định tổ chức làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác điều hành, chỉ đạo thực hiện các chương trình xúc tiến của tỉnh. Điều này làm cho hoạt động xúc tiến chưa được triển khai kịp thời, trì truệ, chưa đưa ra các chương trình quảng bá đến khách du lịch kịp thời, đúng thời điểm.
Thứ hai, phải kể đến là nguồn kinh phí cho hoạt động xúc tiến còn quá hạn chế. Chính điều này làm cho việc lựa chọn các hình thức trong hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch của Tỉnh bị giới hạn. Vì hầu hết các hình thức sử dụng cho hoạt động xúc tiến cần phải có nguồn kinh phí lớn, đặc biệt là các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đây là hình thức quảng bá điểm đến du lịch giúp khách hàng trong cả nước cũng như trên thế giới dễ dàng tiếp cận với du lịch Đắk Nông nhất; thông qua các kênh truyền hình quốc gia như VTV1, VTV3, VTV6 hay kênh truyền hình quốc tế VTV4 khách hàng có thể biết them về du lịch Đắk Nông. Tuy nhiên vì nguồn kinh phí còn hạn chế nên ngành du lịch tỉnh Đắk Nông chưa thực hiện được các chương trình xúc tiến quảng bá du lịch địa phương trên các phương tiện này. Ngoài ra, số lượng các loại ấn phẩm quảng cáo, sách mỏng về du lịch cũng còn khá ít, chất lượng về nội dung cũng như tính thẩm mỹ cũng chưa đủ sức để thu hút du khách. Việc phân phát các ấn phẩm quảng cáo cũng chưa có kế hoạch cụ thể nên chưa truyền tải được thông tin đến thị trường khách mục tiêu. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Thứ ba, nguồn nhân lực trong quản lý nhà nước về du lịch còn thiếu về số lượng, chất lượng về trình độ chuyên môn còn yếu, chính điều này làm ảnh hưởng đến hoạt động xúc tiến của tỉnh. Chưa có đội ngủ chuyên viên làm công tác điều tra, nghiên cứu thị trường, tìm ra thị trường mục tiêu phù hợp với các sản phẩm du lịch của địa phương. Chưa tiến hành công tác điều tra, lấy ý kiến khách du lịch để có thể khắc phục được những nhược điểm và hoàn thiện hơn công tác phát triển du lịch. Bên cạnh đó, vì trình độ chuyên môn về du lịch còn hạn chế nên công tác thiết kế các ấn phẩm quảng cáo, nội dung quảng bá du lịch của tỉnh cũng chưa thật sự hấp dẫn đối với du khách.
Thứ tư, các chương trình xúc tiến du lịch chưa được xây dựng một cách bài bản, có kế hoạch mà chỉ thực hiện một cách manh mún, thiếu chuyên nghiệp. Hầu hết các hoạt động xúc tiến diễn ra một cách bị động, không có kế hoạch rõ ràng, như hoạt động xúc tiến theo kêu gọi của Tổng cục du lịch về năm du lịch quốc gia, hay bị động trong việc tham gia vào các hội chợ quảng bá xúc tiến tại các tỉnh thành lớn. Chưa chủ động trong việc tìm kiếm thông tin về các hội chợ thương mại lớn để đăng ký tham gia mà chỉ biết thông tin khi các nhà tổ chức gửi giấy mời… Chương trình xúc tiến cũng chưa được xây dựng cụ thể nguồn kinh phí bao nhiêu, các công cụ sử dụng cho hoạt động xúc tiến giai đoạn này là gì, hay nội dung quảng bá gồm những thông điệp gì và dành cho đối tượng khách du lịch nào, ở đâu.
Thứ năm, các công cụ được sử dụng cho hoạt động xúc tiến còn hạn chế, do đó những thông tin mà khách du lịch trong nước cũng như khách du lịch quốc tế tìm hiểu về du lịch Đắk Nông còn rất hạn chế. Qua điều tra cũng đã chỉ ra rõ, hầu hết các thông tin mà khách du lịch tìm kiếm được là qua bạn bè người thân ( đối với khách du lịch nội địa), qua các đại lý lữ hành ( đối với khách quốc tế). Điều này cho thấy hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông chưa tiếp cận được với thị trường khách mục tiêu.
Thứ sáu, ngành du lịch tỉnh Đắk Nông mới chỉ tham gia vào các hội chợ thương mại du lịch mang tầm vóc quốc gia, khu vực với quy mô nhỏ, các sản phẩm trưng bày quảng bá cho du lịch tỉnh tại các hội chợ còn hạn chế về cả số lượng và chất lượng. Gian hàng trưng bày nhỏ, thiết kế còn sơ sài thiếu sáng tạo cho nên chưa thu hút được nhiều khách hàng quan tâm.
Thứ bảy, ngành du lịch tỉnh Đắk Nông chưa chú trọng tới việc xúc tiến quảng bá du lịch thông qua các công ty lữ hành trong tỉnh cũng như các công ty lữ hành hay đưa khách đến Đắk Nông. Tỉnh Đắk Nông hiện tại chỉ có 3 công ty lữ hành, tuy nhiên các hoạt động quảng bá xúc tiến thông qua các công ty này còn yếu, chương có các chủ trương, chính sách hỗ trợ khuyến khích các công ty lữ hành chủ động hơn trong công tác quảng bá xúc tiến du lịch của tỉnh.
Thứ tám, công tác phối hợp giữa các sở ban ngành còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc phối hợp giữa ngành du lịch địa phương với các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước còn rất hạn chế. Hoạt động xúc tiến quảng bá về du lịch Đắk Nông trên các kênh thông tin truyền thông còn quá ít cả về số lần phát sóng và thời gian phát sóng. Vì vậy, việc tìm kiếm thông tin về du lịch Đắk Nông qua các kênh truyền thông còn gặp nhiều trở ngại.
Thứ chín, nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động xúc tiến du lịch đối với sự nghiệp phát triển du lịch tỉnh Đắk Nông của các cấp, các ngành và địa phương còn nhiều hạn chế. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
Cuối cùng là các sản phẩm du lịch, dịch vụ của Tỉnh còn nghèo nàn, đơn điệu, không có tính hấp dẫn thu hút khách du lịch. Sản phẩm du lịch của Đắk Nông chủ yếu là các thác nước nằm ở nhiều địa phương khác nhau, có đặc điểm giống nhau nên làm cho du khách cảm thấy nhàm chán. Ngành du lịch của từng địa phương chưa xây dựng cho mình một sản phẩm du lịch riêng, độc đáo, hấp dẫn, khác với những điểm du lịch khác nên chưa thu hút được khách du lịch. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của các nhà hàng khách sạn đã lạc hậu, xuống cấp; các dịch vụ vui chơi giải trí, ăn uống, mua sắm lớn hầu như không có. Chính những điều này làm cho nội dung trong sử dụng cho hoạt động xúc tiến du lịch tỉnh còn nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng tới khả năng thu hút khách du lịch trong nước cũng như khách du lịch quốc tế.
Từ những hạn chế trên cho thấy hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tỉnh Đắk Nông còn gặp phải quá nhiều khó khăn từ công tác quản lý cho tới khả năng triển khai, xây dựng và thực hiện hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh.
Những khó khăn đó bắt nguồn từ bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến cho tới các mối quan hệ công chúng, nguồn ngân sách cho hoạt động xúc tiến. Hơn nữa, đội ngũ nhân sự trong công tác xúc tiến thiếu trình độ chuyên môn, thiếu tính chuyên nghiệp dẫn tới việc triễn khai các chương trình xúc tiến còn chậm, chưa đúng thời gian và chưa đưa tới tay các khách hàng mục tiêu. Ngoài ra, ngành du lịch tỉnh Đắk Nông chưa liên kết, phối hợp với các doanh nghiệp, công ty lữ hành lớn trong nước cũng như quốc tế quảng bá về du lịch Đắk Nông. Việc xúc tiến quảng bá du lịch tỉnh trên internet cũng chưa đạt được hiệu quả như mong đợi.
Tiểu kết chương 2
Tác giả đã vận dụng cơ sở lý luận trong chương 1 kết hợp với việc điều tra, tìm kiếm thông tin sơ cấp tại các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và điều tra thứ cấp tại thực địa, trong chương 2 luận văn đã nêu ra những thuận lợi về điều kiện tài nguyên du lịch của địa phương, nêu ra thực trạng hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch tại địa phương trong giai đoạn 2018-2023. Từ thực trạng đó, tác giả đã phân tích, đánh giá khái quát kết quả hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn 2018-2023. Đặc biệt, trong chương 2 còn chỉ ra những điểm mạnh đồng thời chỉ ra được những khó khăn hạn chế trong công tác xúc tiến quảng bá du lịch của tỉnh. Dựa vào việc phân tích nguyên nhân của những khó khăn tồn tại đó để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp và kiến nghị ở chương 3. Luận văn: Thực trạng xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp xúc tiến điểm đến du lịch của tỉnh Đắk Nông
