Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa Luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2022 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cấp thiết của đề tài

Hiện nay cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đang ngày càng lan rộng và ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của tất cả các nước trên thế giới. Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh nhất của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2022 và đây cũng là nơi phát sinh ra cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lan rộng. Cho tới nay hầu hết mọi hệ thống ngân hàng trên thế giới đều chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính này, trong đó có không ít các ngân hàng tên tuổi trên thế giới phải đi đến phá sản như Washington Mutual, Lehman Brothers, Ameribank, Bear Stearns…Chính vì lý do đó hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng chịu tác động ít nhiều của cuộc khủng hoảng tài chính này cho dù Việt Nam được đánh giá là một trong những nước ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2022.

Tuy nhiên, cho đến nay người ra vẫn chưa đánh giá được mức độ tác động của cuộc khủng hoảng này đến Việt Nam là bao nhiêu, liệu Việt Nam có thể rơi vào cuộc khủng hoảng như các nền kinh tế khác trên thế giới hay không, liệu có thể xảy ra việc phá sản của hàng loạt các ngân hàng thương mại ở Việt Nam như các hệ thống ngân hàng khác trên thế giới hay không. Nhưng với tình hình cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng diễn ra sâu rộng như hiện nay thì theo các chuyên gia tài chính đã dự báo rằng Việt Nam cũng đã đang bước vào tình trạng suy thoái. Đây cũng là lời cảnh báo cho các ngân hàng TMCP tại Việt Nam với quy mô còn nhỏ, hiệu quả hoạt động chưa cao, cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động thì mới có thể đứng vững được trên thị trường và tránh được ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2022.

Hiện nay đã có các công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sỹ viết về vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP ở những góc độ và phạm vi khác nhau. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu, luận án nào viết về vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay. Chính vì thế, trong khoá luận này, tôi đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng, thông qua bài học kinh nghiệm từ hệ thống ngân hàng sụp đổ trên thế giới đưa ra cảnh báo cho các ngân hàng TMCP nhỏ và giải pháp để các ngân hàng TMCP nâng cao hiệu quả hoạt động tránh được nguy cơ phá sản, giúp tồn tại và phát triển ổn định trong giai đoạn khủng hoảng này. Do đó khoá luận không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2022.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Ngành Tài Chính Ngân Hàng

2. Mục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng và nêu ra một số bài học kinh nghiệm từ sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trên thế giới, khoá luận đưa ra cảnh báo đối với các ngân hàng TMCP đặc biệt là đối với một số ngân hàng TMCP vừa và nhỏ đang có nguy cơ khủng hoảng và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng TMCP tại Việt Nam để đối phó tốt với cuộc khủng hoảng tài chính đang tiếp tục lan sâu trên toàn thế giới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng và cách thức phòng ngừa đối với cuộc khủng hoảng này.

Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận chủ yếu đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP trong giai đoạn khủng hoảng tài chính từ cuối năm 2021 cho đến cuối năm 2022, so sánh với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP trong giai đoạn trước khủng hoảng để từ đó thấy được mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng.

4. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Khi đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, khoá luận chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế của ngân hàng. Sử dụng các phương pháp so sánh, phương pháp chỉ tiêu, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu, và luận giải để nêu bật vấn đề mà khoá luận nghiên cứu.

5. Kết cấu của khoá luận

Khoá luận gồm có lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, biểu đồ, bảng số liệu, nội dung của khoá luận được trình bày trong 3 chương:

  • Chương I: Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2022 và tác động đến hệ thống ngân hàng thế giới
  • Chương II: Hoạt động của hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2022.
  • Chương III: Bài học kinh nghiệm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2022.

CHƯƠNG I: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2022 VÀ TÁC ĐỘNG TỚI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

I: DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG

Thị trường nhà ở của Mỹ bắt đầu bùng nổ vào năm 2015 sau sự kiện dot-com. Sau khi đã lên đến đỉnh điểm năm 2019, thị trường bắt đầu điều chỉnh vào năm 2019-2020. Giá nhà giảm mạnh khiến các ngân hàng bắt đầu chuyển động sang động thái phòng ngừa rủi ro, xiết chặt tín dụng và thu hồi các khoản vay. Hàng loạt các chủ sở hữu nhà không có khả năng thanh toán các khoản nợ cầm cố và cũng không thể bán nhà khi giá nhà bị giảm. Tỷ lệ tịch thu nhà gán nợ trong năm 2020 – 2021 do các chủ sở hữu nhà không có khả năng thanh toán các khoản nợ cầm cố ngày càng gia tăng. Một số tổ chức cho vay cầm cố khi không thu hồi được các khoản nợ cũng lâm vào tình trạng thiếu thanh khoản và mất khả năng thanh toán. Tình trạng trên tiếp tục lan rộng ra các tổ chức tín dụng và ngân hàng khác trên toàn nước Mỹ gây nên cuộc khủng hoảng trên diện rộng hồi tháng 8/2021 đồng loạt trên các thị trường cho vay cầm cố, thị trường tín dụng và toàn bộ hệ thống tài chính của Mỹ. Cuộc khủng hoảng cũng nhanh chóng lây lan tới các nước khác trên thế giới. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Sau đây là một số mốc diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính Tháng 6-2021: Ngân hàng đầu tư Bear Stearns của New York đứng trên bờ vực phá sản vì lượng tiền đầu tư vào chứng khoán có thể chấp là quá lớn. Tháng 9/2021: Ngân hàng Northern Rock của Anh bị bao vây bởi nỗi lo lắng của các khách hàng đang gửi tiết kiệm tại đây.

Tháng 10/2021: Lợi nhuận của Citigroup cũng giảm rõ rệt. Qũy tiền tệ quốc tế IMF đã phải đánh giá lại dự đoán mức tăng trưởng của đồng euro trong năm 2022 từ 2,5% xuống còn 2,1%, nguyên nhân một phần là do ảnh hưởng kéo theo từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ và thị trường tín dụng nước này.

Tháng 12/2021: Ông Bush tuyên bố kế hoạch giúp đỡ cho thêm 1,2 triệu chủ sở hữu bất động sản trong việc thanh toán các khoản nợ tại ngân hàng.

Tháng 1/2022: Ngân hàng khổng lồ của Thụy Sỹ UBS thông báo cắt giảm 18 tỉ USD vào thị trường bất động sản Mỹ.

Còn tại Mỹ, ngân hàng Mỹ (Bank of American) tiến hành mua lại Countrywide Financial, ngân hàng cho vay có thế chấp lớn nhất nước này.

Trong 3 quý liên tiếp, Cục dự trữ liên bang (Fed) đã phải giảm mức lãi suất

Tháng 2/2022: Fannie Mae rót tiền nhiều vào các khoản vay bất động sản do đó chỉ trong quý 4 của năm 2021, đã thông báo thua lỗ 3,35 tỉ USD, khoản thua lỗ cao gấp 3 so với dự đoán. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Tháng 3/2022: Bear Stearns buộc phải chấp nhận bị mua lại bởi ngân hàng đầu tư Mỹ JP Morgan Chase. Số tiền dành cho thương vụ này lên tới 30 tỉ USD sẽ dùng để chi trả cho các khoản nợ mà ngân hàng này đã vay của Fed.

Tại Đức, Ngân hàng Đức thông báo thua lỗ 141 triệu euro trong quý 1 năm 2022, đây là lần đầu tiên ngân hàng này làm ăn thua lỗ trong 5 năm liên tiếp. Fed nhắm tới sự hợp tác giữa các ngân hàng trung tâm thế giới nhằm bình ổn nền kinh tế toàn cầu đã thông báo rót 200 tỉ USD tiền mặt vào các thị trường đang khủng hoảng.

Nước Mỹ cũng phải rót 200 tỉ USD nhằm cứu vãn Fannie Mae và Freddie Mac thoát khỏi khó khăn.

Tháng 4/2022: IMF thông báo đã chịu thua lỗ 945 tỉ USD cho cuộc khủng hoảng tài chính. Bộ trưởng các nước G7 họp bàn đưa ra các giải pháp để chống lại cuộc khủng hoảng đang ngày càng lan rộng.

Tháng 7/2022: Ngân hàng cho vay thế chấp tại bang California (Mỹ) tuyên bố phá sản. Những khó khăn của Fannie Mae và Freddie Mac ngày càng nhiều. Kho bạc và Cục dự trữ liên bang Mỹ buộc phải đứng ra đảm bảo cho các khoản nợ của Fannie và Freddie.

Ngày 7/9/2022: Chính phủ Mỹ nắm quyền kiểm soát Fannie và Freddie sau khi chi 200 tỉ USD để cứu 2 ngân hàng thoát khỏi tình trạng phá sản.

Ngày 15/9/2022: Ngân hàng đầu tư Lehman Brothers tuyên bố phá sản.

Merrill Lynch bị mua lại bởi ngân hàng Mỹ (Bank of America).

Ngày 17/9/2022: Mỹ rót 85 tỉ USD giúp hãng bảo hiểm khổng lồ AIG thoát khỏi khó khăn.

Ngày 19/9/2023: Nhà Trắng yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ thông qua kế hoạch chi 700 tỉ USD giúp đỡ tất cả các công ty tài chính tránh được cuộc khủng hoảng. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Ngày 22/9/2022: Morgan Stanley và Goldman Sachs, hai ngân hàng đầu tư danh tiếng cuối cùng, chuyển đổi sang mô hình tập đoàn ngân hàng.

Ngày 26/9/2022: Ngân hàng Washington Mutual tuyên bố phá sản, đây được coi là một trong những vụ sụp đổ ngân hàng lớn nhất nước Mỹ.

Ngày 29/9/2022: Kế hoạch hỗ trợ từ Chính phủ đối với các ngân hàng chủ chốt tại Anh (ngân hàng Benelux) và tại Đức, cũng như tiếp quản một ngân hàng tại Aixơlen.

Ngày 30/9/2022: Ngân hàng Wachovia chao đảo bên bờ vực phá sản bắt đầu tiến hành đàm phán với Citigroup để trao quyền kiểm soát lại cho Citigroup.

Ngày 1/10/2022: Thượng nghị viện Mỹ thông qua kế hoạch rót tiền cho thị trường tài chính đang khủng hoảng.

Ngày 2/10/2022: Tổng thống Bush đã ký đạo luật giải cứu thị trường tài chính lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Cho đến nay, cuộc khủng hoảng vẫn đang tiếp diễn chưa có dấu hiệu chấm dứt.

II: NGUYÊN NHÂN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Nguyên nhân sâu xa:

Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ một phần khởi nguồn từ chính sách lãi suất thấp của ông Alan Greenspan nhằm đối phó với sự suy giảm kinh tế sau sự kiện 11/9 cũng như sự sụp đổ của đợt bong bóng kinh tế. Chính sách này đã bơm một lượng thanh khoản khổng lồ vào hệ thống tiền tệ toàn cầu, dẫn đến lãi suất cho vay mua bất động sản của ngân hàng giảm. Tuy lãi suất cho vay mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của FED nhưng do lãi suất cơ bản của FED cắt giảm từ 6%/năm vào năm 2014 xuống còn 1%/năm vào năm 2017 nên trong giai đoạn 2014 – 2017, lãi suất của các khoản vay cầm cố thời hạn 30 năm đã giảm xuống chỉ còn 2.5% so với mức 8% trước đó. Mức lãi suất này hiển nhiên làm giảm chi phí đi vay và kích thích nhu cầu mua sắm nhà ở của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là những người có thu nhập thấp muốn được sở hữu căn nhà của riêng mình. Cùng với đó thì chính sách lãi suất thấp cũng làm cho giá nhà đất tăng nhanh chóng nên ngày càng có nhiều người mua nhà để đầu cơ kiếm lợi nhuận. Ngoài ra chính phủ lúc bấy giờ còn thực thi chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân nghèo và các nhóm người dân da màu được vay tiền dễ dàng từ các định chế tài chính để mua nhà ở với lãi suất thấp. Do đó tín dụng bất động sản đã có sự tăng trưởng mạnh, trong đó phần lớn là tín dụng dưới chuẩn. Và đặc biệt phải kể đến nguyên nhân mầm mống của khủng hoảng tài chính này là do sự thay thế Đạo luật bức tường lửa Glass-Steagall bởi Đạo luật Glamm-Leach-Bliley, cho phép các ngân hàng thương mại được tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh mạo hiểm như nghiệp vụ chứng khoán hóa và bán các khoản vay bất động sản khiến nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay bất động sản dưới chuẩn, nhằm thu về những khoản lợi lớn.

Nguyên nhân chủ quan:

Cho vay dưới chuẩn: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Hoạt động cho vay cầm cố dưới chuẩn của các ngân hàng gia tăng mạnh mẽ chỉ khi có sự bùng nổ thị trường nhà đất ở Mỹ cùng với việc giảm lãi suất xuống mức thấp kỷ lục của Cục dự trữ liên bang Mỹ từ 6,5% xuống còn 1,75% vào năm 2015. Trên thực tế các ngân hàng đều hiểu rõ hoạt động cho vay cầm cố dưới chuẩn có rủi ro rất cao nhưng lợi nhuận béo bở từ khoản cho vay này đã khiến cho các ngân hàng lỏng lẻo trong việc đánh giá và xét duyệt khoản vay. Để tăng cường cạnh tranh và giữ khách, nhiều tổ chức cho vay của Mỹ đã hạ thấp tiêu chuẩn cho vay. Trong nhiều trường hợp, các cá nhân đã được vay tiền mà không phải trình các tài liệu chứng minh thu nhập và bản thân những người đi vay cũng tự đặt mình vào rủi ro không có khả năng thanh toán khi lãi suất tăng do họ đã chấp nhận các khoản vay với lãi suất thả nổi trong một thời hạn dài. Bên cạnh đó thì ngân hàng cảm thấy yên tâm khi cho rằng giá nhà luôn tăng cao, nếu người vay không trả được nợ thì ngân hàng có thể dễ dàng bán được căn nhà đã thế chấp để thu hồi vốn và đồng thời cũng có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty biến chúng thành chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS). Chính vì thế, các ngân hàng thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay.

Tốc độ đổi mới và phát triển của các công cụ tài chính

Tốc độ đổi mới và phát triển nhanh chóng của các công cụ tài chính trong vòng 10 năm qua khiến các khoản tín dụng kém tính thanh khoản trở nên dễ dàng được thanh khoản hoá và được tính vào danh mục đầu tư. Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính. Về bản chất, chứng khoán hóa là quá trình phát hành chứng khoán nợ trên cơ sở đảm bảo bởi dòng tiền mặt tương lai sẽ thu được từ một nhóm tài sản tài chính sẵn có. Như vậy người cho vay không nhất thiết phải nắm giữ rủi ro tín dụng mà có thể chuyển hóa sang cho người khác một cách dễ dàng thông qua việc phát hành chứng khoán nợ lấy danh mục tín dụng làm tài sản đảm bảo. Các ngân hàng có các khoản vay đều có thể sử dụng kỹ thuật này để chứng khoán hóa các khoản tín dụng của chính mình. Do các khoản tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro dễ thanh khoản hơn làm cho các ngân hàng giám sát người đi vay trễ nải hơn. Điều này làm cho những người đi vay có khả năng tài chính kém cũng dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng. Điều đặc biệt ở chỗ, khi các khoản vay cầm cố đã được chuyển thành các sản phẩm phái sinh dưới hình thức là các nghĩa vụ trả nợ được thế chấp hóa thì nó đã trở thành một hàng hóa cụ thể, có tính thanh khoản cao và dễ dàng chuyển nhượng nên được các tổ chức và cá nhân mua bán với nhau làm cho rủi ro của các khoản vay cầm cố dưới tiêu chuẩn được khuyếch đại lên và kết quả là rủi ro đó lan rộng ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống.

Sự yếu kém trong giám sát tài chính Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Sự rối loạn trên thị trường tài chính hiện nay về cơ bản là do chính phủ Mỹ đã không giám sát chặt chẽ đối với việc tự đưa ra ngày càng nhiều những công cụ tài chính phức tạp, không minh bạch của các ngân hàng. Thậm chí việc các tổ chức tín dụng cấp các khoản tín dụng tràn lan với tiêu chuẩn thấp hơn quy định cũng được bỏ qua. Hơn thế nữa chính sách quản lý buông lỏng của chính phủ Mỹ thể hiện khá rõ khi để cho các tổ chức cho vay cầm cố không được cấp phép hoạt động tiến hành cấp số lượng lớn các khoản tín dụng dưới chuẩn.

Đánh giá tín nhiệm thiếu chuẩn xác

Một phần trách nhiệm của cuộc khủng hoảng này thuộc về các tổ chức đánh giá, xếp loại tín dụng. Họ đã góp phần hợp thức hóa một sản phẩm tài chính phái sinh có độ rủi ro cao để đưa nó vào mua bán trên thị trường tài chính. Chính các ngân hàng đầu tư và các công ty đứng ra tổ chức bán các sản phẩm cổ phiếu lại là người đứng ra trả tiền cho các tổ chức đánh giá tín nhiệm. Do đó họ đã dựa vào các tổ chức đánh giá xếp loại tín dụng để “tô hồng” các khoản vay dưới tiêu chuẩn đưa nó vào diện đáng được đầu tư. Mặc khác, ngân hàng đầu tư còn lập ra chi nhánh là các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp để mua và bán các sản phẩm phái sinh là các nghĩa vụ nợ đã được thế chấp hóa. Từ đó, ngân hàng đầu tư làm trong sạch bảng cân đối tài sản của mình và đẩy các rủi ro của khoản vay sang các tổ chức và cá nhân khác. Do các nhà đầu tư đã lạc quan thái quá trước những dự báo về lợi nhuận và đánh giá điểm tín nhiệm các tổ chức tài chính cao hơn thực tế nên các nhà đầu tư đã đầu tư nhiều hơn vào các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản cầm cố dưới chuẩn (subprime mortgage) khiến thị trường nhà ở của Mỹ bùng nổ.

Hoạt động cho vay đòn bẩy (leverage) một cách thái quá Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Đây mới chính là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ. Đòn bẩy tài chính là quá trình công ty sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài sản, được tính bằng tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu. 2ở các ngân hàng thương mại, tỷ lệ này thường bị khống chế ở mức 12 lần, nhưng ở các ngân hàng đầu tư, tỷ lệ này cao hơn rất nhiều và thường trên 20 lần. Từ năm 1975, các ngân hàng đầu tư không được phép có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao hơn 15 lần. Tuy nhiên, từ năm 2018, ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) đã bãi bỏ quy định này đối với 5 “đại gia” phố Wall (Goldman Sachs, Merrill Lynch, Lehman Brothers, Bear Stearns và Morgan Stanley). Khi thị trường bất động sản hưng phấn, chứng khoán bất động sản là một loại tài sản đem lại lợi nhuận rất lớn. lãi suất từ loại chứng khoán này thường cao hơn rất nhiều so với lãi suất đi vay trên thị trường tiền tệ. Chính điều đó đã thôi thúc các tổ chức tài chính, các ngân hàng đặc biệt là ngân hàng đầu tư, ngân hàng bất động sản chạy đua vay trên thị trường tiền tệ để mua chứng khoán bất động sản và hưởng chênh lệch lãi suất. Để vay được, các tổ chức này phải thế chấp bằng các tài sản, thường chính lại là chứng khoán bất động sản. Do không bị kiểm soát số lượng tiền được phép vay nên khi thị trường bất động sản ổn định, các tổ chức tài chính liên tục vay tiền, mua chứng khoán bất động sản, thế chấp bằng chứng khoán bất động sản rồi lại vay tiền để mua chứng khoán bất động sản. Việc quay vòng quá trình trên được diễn ra liên tục và không hạn chế số lượng đã tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ cho các tổ chức tài chính. Tuy nhiên khi thị trường bất động sản có vấn đề, chứng khoán bất động sản bị giảm giá, nhà đầu tư bắt đầu lo lắng cho số tiền cho vay của mình vì tài sản đặt cọc bị giảm giá. Họ thường yêu cầu công ty tài chính trả lại tiền hoặc tăng tài sản thế chấp (margin calls). Do thị trường tiền tệ bị khép chặt, các công ty tài chính này buộc phải bán chứng khoán bất động sản với giá thấp để trả lại tiền cho các nhà đầu tư, gây ra một khoản lỗ lớn.

Với một tỉ lệ đòn bẩy cao trung bình 30%, giá trị tài sản chỉ cần giảm 3,3% thì toàn bộ vốn của ngân hàng này đã bị bốc hơi dẫn đến mất khả năng thanh toán, phá sản. Như vậy, đòn bẩy tài chính được coi là nhân tố đem lại vinh quang cho các ngân hàng đầu tư, cũng chính là nhân tố kích hoạt nền kinh tế Mỹ nhưng khi bị lạm dụng, vượt khỏi tầm kiểm soát, cũng chính là nhân tố gây ra cuộc khủng hoảng sâu rộng này và phần nhiều do lỗi của Chính phủ Mỹ trong việc xóa bỏ quy định về hạn chế đòn bẩy tài chính năm 2018, cho phép các tổ chức tài chính phi ngân hàng hoạt động với tỷ lệ vay quá lớn.

Và rồi khi biến cố xảy ra, thị trường nhà đất đổi chiều, lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ tăng cao để đối phó với lạm phát xảy ra ở Mỹ thì những nguyên nhân gây nên rủi ro trên mới bắt đầu hé lộ. Cuộc khủng hoảng trên thị trường nhà đất đã xuất hiện và lan nhanh làm cho hàng loạt công ty bất động sản rơi vào phá sản, nợ xấu của ngân hàng gia tăng cao, tính thanh khoản của ngân hàng bị đe doạ nặng nề. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Tại sao cuộc khủng hoảng lại nhanh chóng lan rộng trên phạm vi toàn cầu chỉ trong vòng 9 tháng? Điều đó cũng đã nói lên được bản chất cơ bản của cuộc khủng hoảng tài chính này và chính bản chất của cuộc khủng hoảng này đã khuyếch đại cuộc khủng hoảng nhanh chóng trên quy mô rộng

Thứ nhất, Việc lạm dụng các công cụ phái sinh trong kinh doanh mà mục đích chính để đầu cơ đã khuyếch đại giá trị của các tài sản gốc mà không thực sự sở hữu nó. Tiêu biểu là việc sử dụng các công cụ CDOs trong việc đầu cơ chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản dưới chuẩn. Giá trị các khoản vay được chính thức hoá không có khả năng bù lại những rủi ro mà nó gây ra.

Thứ hai, Tính dễ chuyển đổi của các khoản vay cầm cố cùng với tham vọng của nhà đầu tư và tổ chức tín dụng

Do tính dễ chuyển đổi của các khoản vay cầm cố thành các công cụ phái sinh nên ngày càng có nhiều người tham gia vào mua bán các công cụ này để kiếm lời. Không chỉ có các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính mà còn có nhiều nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới tham gia mua bán để kiếm lời. Do đó khi có rủi ro xảy ra thì nó lan nhanh trên diện rộng.

Thứ ba, Tính nhạy cảm cố hữu với biến động của ngành công nghiệp tài chính và rủi ro liên kết giữa các ngân hàng các ngân hàng có mối liên kết ràng buộc với nhau rất chặt chẽ do đó khi một ngân hàng trong hệ thống sụp đổ sẽ dẫn đến khủng hoảng niềm tin của công chúng đối với toàn hệ thống và gây nên hiệu ứng domino trong toàn hệ thống. Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, quy mô hoạt động tài chính ngân hàng đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Các tập đoàn tài chính – ngân hàng hoạt động và phát triển trong sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau trên phạm vi toàn cầu.

Bảng 1: Một số biểu hiện, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và phản ứng chính sách của chính phủ mỹ chống lại cuộc khủng hoảng

III: MỐI LIÊN HỆ GIỮA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2022 VỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐÃ DIỄN RA Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Thế giới đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế trong lịch sử. Các cuộc khủng hoảng này xảy ra trên quy mô ngày càng lớn, tốc độ lan truyền nhanh và khó dự đoán chính bởi vì do tính phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc giữa các nền kinh tế trong một thế giới toàn cầu hoá cao. Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lần này đã là bằng chứng cho điều đó. So với cuộc đại suy thoái lớn nhất nửa đầu thế kỷ 20 (1929-1933) thì cả hai cuộc đều bùng nổ tại Mỹ ở lĩnh vực “nhạy cảm” nhất là thị trường chứng khoán, tài chính tiền tệ và đều có nguyên nhân giống nhau là những sự bất ổn trong sự vận hành của hệ thống tài chính – tiền tệ, cho vay bừa bãi với những nguyên nhân sâu sa hơn là chính sách tài chính dễ dãi kéo dài đưa tới tình trạng “xài quá cái làm ra”. Diễn biến của cả hai cuộc đều khởi đầu từ hệ thống tài chính – ngân hàng rung chuyển, gây tắc nghẽn đối với dòng vốn đầu tư, kéo theo sự suy giảm sản xuất, tiêu dùng, xuất – nhập khẩu, làm cho hàng triệu người thất nghiệp, đưa tới những xáo động chính trị – xã hội. Tuy nhiên sự khác biệt của cuộc khủng hoảng kinh tế lần này là nó đã diễn ra với xu thế toàn cầu hoá và bùng nổ công nghệ thông tin, một lượng khổng lồ các phi vụ giao dịch tài chính được thực hiện qua mạng toàn cầu với tốc độ cực nhanh, tạo nên đồng tiền ảo có giá trị gấp trăm ngàn lần giá trị đồng tiền thật và không một ai có thể kiểm soát nổi do đó cuộc khủng hoảng trở nên lan nhanh hơn và khó dự đoán hơn. Điều đó nhắc nhở cho tất cả các nước trên thế giới cần phải theo dõi sát sao, quản lý chặt chẽ hệ thống tài chính – ngân hàng, thị trường chứng khoán; không xài quá cái làm ra và không để nền kinh tế phát triển quá nóng; khi xuất hiện những biểu hiện bất ổn cần tính ngay tới tác động dây chuyền và xử lý đồng bộ chứ không thể xử lý từng khâu riêng lẻ; cần thường xuyên theo dõi diễn biến trong nền kinh tế thế giới, nhất là các nền kinh tế lớn, đặc biệt là kinh tế Mỹ.

VI: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

1, Tác động đến hệ thống ngân hàng thế giới

1.1. Tác động đến nền kinh tế thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2021 đã lan nhanh và ảnh hưởng sâu rộng, trở thành cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ thời kỳ đại suy thoái 1929 – 1933. Các tác động của cuộc khủng hoảng này đã lan trên diện rộng không chỉ trên lĩnh vực tài chính ngân hàng tại Mỹ mà tất cả các nền kinh tế, các thị trường đều bước vào suy thoái nghiêm trọng.

Tác động đầu tiên và mạnh nhất là Hệ thống tài chính toàn cầu bị đổ vỡ hàng loạt với số lượng các ngân hàng chủ yếu ở Hoa Kỳ, Châu Âu bị phá sản, sáp nhập, giải thể hoặc quốc hữu hoá tăng lên nhanh chóng.

Thứ hai là, Thị trường chứng khoán thế giới rơi vào khủng hoảng và trì trệ. Chỉ số chứng khoán của hầu hết các nền kinh tế phát triển và đang phát triển đều giảm nghiêm trọng khoảng 30-60% trong vòng 1 năm kể từ khi khủng hoảng tài chính chính thức bắt đầu. Mức thiệt hại đã lên tới khoảng 16-20 ngàn tỷ USD. Các kênh tín dụng ngưng trệ vì không có niềm tin của cả bên cho vay lẫn bên vay; các dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp đều giảm sút làm cho thị trường chứng khoán càng giảm mạnh hơn. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Thứ ba là, Thị trường nhà đất tiếp tục sụt giảm và chưa có dấu hiệu phục hồi. Tình trạng trên diễn ra ở Mỹ và các nước Châu Âu. Tốc độ sụt giảm nhà đất ở Anh, Ireland và Tây Ban Nha thấp hơn ở Mỹ. Nguyên nhân là do các nhà đầu tư mất niềm tin và đem bán nhà đồng thời các ngân hàng đẩy mạnh bán nhà để thu hối khoản nợ không có khả năng trả nợ của người vay tiền. Mặt khác, ngân hàng ngày càng thắt chặt tín dụng cho vay. Số lượng nhà giao bán tăng do có nhiều người không có khả năng thanh toán khiến các ngân hàng bán ra mạnh hơn, tăng từ 15-90%.

Thứ tư là, Lạm phát và thiểu phát, hai trạng thái giá cả xuất hiện trong cùng một năm.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, lạm phát liên tục tăng mạnh lên đến mức kỷ lục mới ở nhiều quốc gia như tại Nga 13,9%; Philippines 7,6%; Thái Lan 6,3%; Malaysia 3,7%; Trung Quốc 7,9%. Trái lại từ tháng 7, do các nền kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đều lâm vào suy thoái làm cho giá cả các mặt hàng chủ yếu (dầu, gạo, thép, phân bón) giảm mạnh do đó lạm phát ở nhiều nước giảm mạnh đặc biệt vào tháng 10, lạm phát tại Mỹ chỉ ở mức 3,7% so với mức 5% vào tháng 6/2022; khu vực đồng Euro là 3,2% so với mức 4% vào tháng 6/2022); Nhật Bản 1,7% so với mức 2,3% vào tháng 6/2022; Nga ở mức 11,6% so với mức 14,6% vào tháng 6/2022.

Thứ năm là, Cán cân thương mại ngày càng thâm hụt. Do các nước phát triển vốn là thị trường xuất khẩu lớn nhất rơi vào khủng hoảng, phải giảm nhập khẩu nên những nước vốn xuất siêu như Trung Quốc và một số nước Châu Á sẽ đứng trước nguy cơ xuất siêu giảm. Nếu tình trạng giảm xuất siêu quá lớn sẽ làm cho nền kinh tế các nước này rơi vào tình trạng thu hẹp sản xuất xuất khẩu đặc biệt là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và một số nước khác trong đó có Việt Nam.

Thứ sáu là, Tỷ giá biến động phức tạp. Tháng 2 năm 2022, USD mất giá mạnh so với Euro (tỷ giá lên trên 1,5 USD/ EUR). Nguyên nhân là do sự suy yếu của nền kinh tế Mỹ và việc Fed liên tục cắt giảm lãi suất USD đã khiến cho giá trị của đồng USD giảm mạnh so với nhiều đồng tiền khác như Euro, Yên và Won. Tuy nhiên, từ tháng 8, USD lại bắt đầu lên giá so với đồng Euro, tháng 10 – 11 chỉ còn mức 1,2 – 1,3 USD/ Euro. Nguyên nhân khiến đồng USD lên giá trở lại trong những tháng cuối năm là do khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến nhu cầu bằng USD của ngân hàng trên toàn thế giới tăng đột biến, đẩy đồng USD tăng mạnh giá so với các đồng khác. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Thứ bảy là, Lãi suất biến động mạnh trong năm 2022. Trong 9 tháng đầu năm 2022, các nước có mức tăng trưởng kinh tế suy giảm từ cuối năm 2021 hoặc từ đầu năm 2022 do tác động của cuộc khủng hoảng nhà đất Mỹ đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua việc cắt giảm lãi suất chẳng hạn như Fed đã cắt giảm lãi suất từ 4,25% vào tháng 12/2021 xuống còn 2% trong tháng 4/2022, ngân hàng Trung ương Anh giảm lãi suất từ 5,25% xuống còn 5% vào tháng 4/2022. Từ tháng 9/2022, thị trường tài chính toàn cầu đã bước vào giai đoạn khủng hoảng với quy mô rộng khiến nhiều nền kinh tế rơi vào suy thoái. Trước bối cảnh đó, hầu hết các nước đã thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua việc đồng loạt cắt giảm lãi suất. Fed cắt giảm xuống 1% trong tháng 10 và tiếp tục giảm xuống còn 0-0,25% trong tháng 12/2022; Anh cắt giảm mạnh từ 4,5% ( tháng 10) xuống còn 2% (tháng 12)…Sau những động thái cắt giảm mạnh lãi suất của các ngân hàng Trung ương trên thế giới đã làm cho lãi suất liên ngân hàng LIBOR và SIBOR giảm mạnh. Lãi suất biến động rất mạnh từ ngày 12/9 dến hết tháng 10, có thời điểm lãi suất LIBOR và SIBOR lên tới 6-7%/năm.

Bên cạnh các tác động dễ nhận thấy ở trên thì cuộc khủng hoảng hiện nay đang lan rộng sang các lĩnh vực kinh tế khác như ngành công nghiệp ô tô, xây dựng, các ngành công nghiệp chế biến khác lần lượt rơi vào suy thoái. Các tập đoàn tại Châu Âu sẽ chịu tác động rất lớn do họ phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng nhiều hơn doanh nghiệp Mỹ. Sự thắt chặt tín dụng toàn cầu sẽ hạn chế khả năng của họ trong việc sản xuất, thuê nhân công, đầu tư. Do đó ngày càng nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, có nguy cơ phá sản.

Các nền kinh tế ngày càng có tốc độ tăng trưởng xấu đi. Nguy cơ thiểu phát và lạm phát luôn rình rập các nền kinh tế. Thất nghiệp gia tăng, doanh số bán lẻ giảm; thu nhập thực tế giảm; số lượng khách du lịch sụt giảm và niềm tin của các nhà đầu tư sụt giảm mạnh.

Với các tác động đó thì cuộc khủng hoảng đã nhấn chìm nhiều nước Châu Âu đầu tiên là Iceland, rồi đến Ucraina, Thổ Nhĩ Kỳ, Rumani, Hunggary…Các nền kinh tế như Đức, Anh, Pháp và ý cũng không tránh khỏi suy thoái. Trong năm 2022, tốc độ tăng trưởng kinh tế của khối sử dụng đồng tiền chung euro chỉ còn đạt 1,2%; tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển cũng chậm đi đáng kể chỉ đạt 6,25%.

1.2. Tác động đến hệ thống ngân hàng thế giới Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

1.2.1. Tác động đến hệ thống ngân hàng Mỹ

Nước Mỹ là tâm điểm của cuộc khủng hoảng, là nơi diễn ra nhiều vụ đổ vỡ nhất trong ngành tài chính – ngân hàng.

Cuộc khủng hoảng thực sự nghiêm trọng khi Fannie Mae và Freddie Mac, hai công ty chủ chốt trong việc vận hành thị trường nhà đất ở Mỹ với chức năng bảo lãnh các khoản cho vay cầm cố đối với những người có thu nhập thấp trung bình, mua lại những khoản cho vay cầm cố từ các tổ chức tài chính khác, nhằm tạo thêm tín dụng cho vay cầm cố, gặp rắc rối với khoản tín dụng cầm cố khi thị trường bất dộng sản sụt giảm. Trước tình hình đó chính phủ Bush đã đưa ra một khoản trợ cấp tỷ USD vào hồi tháng ba cho hai công ty này nhưng đến đầu tháng chín chính phủ đã phải quốc hữu hoá hai công ty này vì chúng đã mất khả năng thanh khoản. Thế nhưng nước Mỹ và toàn bộ thế giới đã rung chuyển với những tin tức về sự sụp đổ của những định chế toàn cầu hàng đầu và lâu đời trên thế giới. Đó là American International Group (AIG) một tập đoàn bảo hiểm quốc tế hàng đầu thế giới, Lehman Brothers một ngân hàng đầu tư toàn cầu chuyên cung cấp vốn cho các công ty, các chính phủ, các khách hàng thể chế và các cá nhân; tiếp đến là Merrill Lynch một quỹ đầu tư hàng đầu thế giới được hình thành từ năm 1914 với tài sản khoảng 1,6 nghìn tỷ USD. Chính những biến cố này đã tạo ra một gánh nặng quá sức chịu đựng của nền tài chính Mỹ và thế giới. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Sự đổ vỡ của các ngân hàng này đã ảnh hưởng mạnh đến tâm lý của người dân không chỉ ở nước này mà còn ở các quốc gia khác trên thế giới, làm khủng hoảng lan truyền trên khắp thế giới.

Trước tình hình đó, để cứu vãn hệ thống ngân hàng Mỹ khỏi bị phá sản, chính phủ Mỹ đã phải ra tay cứu giúp các ngân hàng sụp đổ, điển hình là việc phủ nước này đã phải tiếp quản hai tập đoàn tài chính nhà đất khổng lồ Fannie Mae và Freddie Mac, ngân hàng Citigroup.

Bên cạnh đó chính phủ Mỹ cũng đã đưa ra kế hoạch giải cứu có quy mô lớn: kế hoạch 700 tỷ USD dành cho ngành tài chính, kế hoạch 800 tỷ USD để phá băng trên thị trường tín dụng, kế hoạch mua thương phiếu để tăng tính thanh khoản cho các doanh nghiệp không thuộc ngành ngân hàng, kế hoạch cứu các con nợ địa ốc khỏi mất nhà…để giúp cho hệ thống ngân hàng hồi phục. Ngoài ra chính phủ Mỹ đã thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, cụ thể và tập trung nhất, liên tục cắt giảm lãi suất cơ bản nhằm tăng tính thanh khoản cho các ngân hàng thông qua việc hạ thấp mặt bằng lãi suất và cho vay với lãi suất thấp. Fed đã thực hiện việc cắt giảm liên tục lãi suất chủ đạo của đồng USD từ 2% xuống còn 1.5%/ năm. Đến ngày 30/10/2022, Fed tiếp tục cắt giảm lãi suất cơ bản của đồng USD lần thứ 8 xuống còn 1%/ năm.

Tuy nhiên trong năm 2022 hệ thống ngân hàng liên tục phải chống đỡ với những tổn thất nặng nề và hàng loạt vụ giải thể trong lĩnh vực ngân hàng thương mại của Mỹ đã diễn ra. Tháng 8/2022, tập đoàn bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC) cho biết có 117 ngân hàng Mỹ có vấn đề trong quý 2 tăng 30% so với cùng kỳ năm 2021. Tính đến 15/12/2022, số ngân hàng thương mại của Mỹ phải đóng cửa lên đến tới 25 ngân hàng, so với con số 3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong năm 2021. Trong số này phải kể tới những tên tuổi lớn như Washington Mutual, Wachovia, IndyMac… Và đồng thời phải kể đến sự biến mất của mô hình ngân hàng đầu tư ở Mỹ. Cả 5 ngân hàng đầu tư độc lập của Mỹ đều phải trải qua những bước ngoặt số phận trong năm 2022 Lehman Brothers phá sản, Bear Stearns và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs phải chuyển đổi mô hình ngân hàng tổng hợp.

Bảng 2: Danh sách một số ngân hàng sụp đổ của Mỹ tính từ 25/1/2022  đến 24/10/2022

Đến cuối năm 2022, tuy khủng hoảng thanh khoản đã qua đi (lãi suất liên ngân hàng Mỹ và quốc tế đã giảm mạnh từ hơn 6% xuống còn 1,5%/ năm), nhưng cuộc khủng hoảng nợ xấu vẫn còn tiếp tục đe doạ sự tồn tại của nhiều ngân hàng thương mại Mỹ.

Sang năm 2023, con số ngân hàng phá sản tại Mỹ vẫn không ngừng tăng lên và chưa biết đến khi nào chấm dứt.

1.2.2. Tác động đến hệ thống ngân hàng Châu Âu Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Tại Châu Âu, các ngân hàng Châu Âu cũng bị ảnh hưởng nặng nề do đầu tư nhiều vào các khoản chứng khoán hoá tại các ngân hàng thương mại tại Mỹ.

Nhiều ngân hàng đứng trước nguy cơ phá sản.

Anh khoảng mười ngày sau vụ Lehman Brothers phá sản có tới tám ngân hàng lớn nhất ở Anh bị rơi vào tình trạng có thể bị phá sản. Cổ phiếu của những ngân hàng này bị suy sụp liên tiếp ba phiên liền, buộc chính phủ Anh phải nghĩ tới việc quốc hữu hoá cả tám ngân hàng lớn nhất này để tránh cuộc khủng hoảng tồi tệ cho cả nền kinh tế. Vào ngày 29/9/2022, hai tên nổi tiếng nhất trong số đó là Bradford & Bingley (B&B) phải phá sản và thu hẹp hoạt động, đồng thời bị quốc hữu hoá cùng với ngân hàng HBOC.

Châu Âu ngày 25 tháng chín bắt đầu có tin đồn về sự sụp đổ của ngân hàng Fortis là một ngân hàng lớn nhất của Bỉ, Đức, Pháp phải ra tay hỗ trợ khẩn cấp. Ngân hàng này đã phải bán hầu hết các hoạt động của mình ở Bỉ, Hà Lan và Lucxembourg. Ngay cả nền chính trị của Bỉ cũng rối ren vì vụ này khi mà chính phủ Bỉ hiện đang phải đệ đơn từ chức. Bởi vì toà án tối cao Bỉ tìm ra những bằng chứng cho thấy chính phủ này đã tìm cách tạo ra ảnh hưởng lên toà án khi toà đưa ra những phán quyết đối với ngân hàng này. Cuối cùng ngân hàng này được giải cứu nhờ khoản trợ cấp lên tới 11,2 tỷ euro do các nước Đức, Bỉ, Lucxembourg đồng tài trợ. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Trong lúc đó, ngân hàng cho vay bất động sản hàng đầu của Đức là Hypo Real Estate cũng có nguy cơ phá sản trong vòng vài ngày nếu không được trợ giúp khi mà các nhà lãnh đạo của Châu Âu bác bỏ kế hoạch giải cứu 35 tỷ euro (48 tỷ đô la). Tổng vốn tín dụng cho bất động sản của ngân hàng này ước tính lên tới 30 tỷ euro (43 tỷ đôla). Và đến ngày 29/9/2022 ngân hàng Trung ương Đức (Bundesbank) đã ra tuyên bố là sẽ chi một khoản trợ cấp đủ để giải cứu Hypo.

Chính phủ các nước Châu Âu đã nhanh chóng can thiệp, cứu trợ các ngân hàng tránh sự đổ vỡ dây chuyền. Các nước đã đưa ra gói cứu trợ kinh tế và quốc hữu hoá các ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ. Các nứơc sử dụng chung đồng tiền Euro đi tới kế hoạch giải cứu tập thể cho ngành ngân hàng; chính phủ Anh cũng tung ra gói cứu trợ trị giá 85 tỷ USD cho hệ thống ngân hàng Anh; chính phủ Bỉ và Hà Lan quyết định chi 16 tỷ USD để quốc hữu hoá một phần ngân hàng Trung ương Fortis; Chính phủ Đức cam kết chi 35 tỷ euro để bảo lãnh cho tập đoàn tín dụng bất động sản Hypo Real Estate Holdings AG hiện cổ phiếu sụt giảm tới hơn 60% và đồng thời bộ tài chính Đức còn cam kết tất cả các khoản tiền gửi ngân hàng tại Đức sẽ được bảo hiểm không có giới hạn.

Bên cạnh đó chính phủ các nước Châu Âu cũng thực hiện biện pháp hỗ trợ ngân hàng thông qua việc cắt giảm lãi suất. Ngân hàng trung ương Canada cắt giảm từ 3% xuống còn 2,5%/năm. Đầu tháng 1/2023, ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cắt giảm lãi suất cơ bản xuống còn 2%, lãi suất tiền gửi xuống còn 1% và lãi suất chiết khấu còn 3%. Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) cắt giảm lãi suất 5%/ năm xuống còn 4,5%/năm, ngày 7/11/2022, BOE tiếp tục cắt giảm xuống còn 3%/năm.; các ngân hàng trung ương trong khu vực sử dụng đồng tiền euro cắt giảm lãi suất từ 4,25% xuống còn 3,75%/ năm và từ ngày 7/11/2022 cắt xuống còn 3,25%/năm; ngân hàng trung ương Thuỵ Sỹ cắt giảm từ 2,75% xuống còn 2,25%/năm và đến ngày 7/11/2022 giảm xuống còn 2%/ năm; ngân hàng Thuỵ Điển cắt giảm từ 5% xuống còn 4,25%/ năm; ngân hàng Na Uy giảm mức lãi suất cơ bản xuống còn 4,75%/năm. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Danh sách các ngân hàng được các nhà chức trách can thiệp cũng tương đối dài. Nhiều ngân  hàng lớn đã  bị  quốc hữu hoá  một  phần hoặc toàn  bộ như Northern Rock và Braddfor &Bingley của Anh, Fortis và Dexia của Bỉ, Hypo Real Estate của Đức, Kaupthing, Landsbanki và Glitnir của Iceland…

1.2.3. Tác động đến hệ thống ngân hàng Châu Á

Châu Á được coi là an toàn trước cuộc khủng hoảng tài chính này vì hầu hết các ngân hàng ở Châu Á ít bị dính líu đến những món nợ cho vay cầm cố dưới chuẩn ở Mỹ. Do đó, hầu như không có ngân hàng nào bị đóng cửa trong năm qua.

Tuy nhiên cuộc đổ vỡ của các ngân hàng ở Mỹ, Châu Âu đã ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng. Tâm lý hoang mang lo sợ với các khoản tiền gửi đã diễn ra tại tất cả các ngân hàng trên thế giới. Châu Á cũng đã xảy ra tình trạng đó tại Hồng Kông. Vào cuối tháng 9, do tin đồn thất thiệt, người dân Hồng Kông đổ xô đi rút tiền gửi ở ngân hàng Bank of East Asia (BAE) đã ảnh hưởng trầm trọng đến tính thanh khoản của ngân hàng này.

Ngay cả Nhật Bản được coi là an toàn nhưng cũng cảm nhận được áp lực mạnh mẽ từ sự sụp đổ của Lehman Brothers. Trước tháng chín, các ngân hàng Nhật Bản ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và họ còn dư dật vốn cung ứng cho thị trường Mỹ và Châu Âu. Nhưng sau sự sụp đổ của Lehman Brothers, các trái phiếu công ty ít được ngân hàng Nhật Bản mua vì sợ rủi ro. Do đó, các công ty đổ xô đến vay ngân hàng. Ngân hàng thì không thể tăng cho vay đột ngột được và họ phải chọn lọc khách hàng. Tình trạng này làm cho tình trạng khan hiếm tín dụng cũng trở nên tồi tệ.

Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, các ngân hàng cũng trong tình trạng khó khăn. Để hỗ trợ cho các ngân hàng tránh được cuộc khủng hoảng thì các ngân hàng trung ương các nước cũng liên tục cắt giảm lãi suất để tăng tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Điển hình là ngân hàng Trung ương Nhật Bản(BOJ) đã nhiều lần cắt giảm lãi suất cơ bản trong năm 2022 và hiện tháng 1/2023 đang được giữ ở mức 0,1% (gần như bằng 0%). ở Trung Quốc, trong 2 tháng (9 và 10/2022), Trung Quốc đã cắt giảm lãi suất 3 lần. Ngân hàng úc cắt giảm lãi suất từ 7%/ năm xuống còn 6%/năm, rồi xuống 5,25%/ năm. Đặc biệt là Hồng Kông đã cắt giảm lãi suất từ 3,5% xuống còn 2,5%/năm. Ngày 7/11/2022 ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) tiếp tục cắt giảm 0,25% lãi suất xuống còn 4%/ năm và trong gần một tháng đã cắt giảm ít nhất 3 lần.

Ngoài ra, các quốc gia dầu mỏ ở Trung Đông, Nam Mỹ và Nga cũng phải đối mặt với hệ thống tài chính ốm yếu.

1.2.4. Nhận xét chung Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Hệ thống ngân hàng thế giới đều bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Bị ảnh hưởng nặng nề nhất là hệ thống ngân hàng Mỹ, hệ thống ngân hàng Châu Âu và một số ngân hàng ở các nước Châu Á – Thái Bình Dương. Nguyên nhân là vì hệ thông ngân hàng Châu Âu lại chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính này? Lý do là vì các ngân hàng Châu Âu tham gia vào đầu tư và nắm giữ các khoản chứng khoán hóa của các ngân hàng Mỹ rất lớn. Bên cạnh đó một số ngân hàng Châu Á cũng tham gia vào nắm giữ các khoản chứng khoán nên cũng chịu ảnh hưởng nặng nề.

Mặc dù các nước đã rất nỗ lực đưa ra các chính sách giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ và kinh tế nhưng thực tế cho thấy, những biện pháp khẩn cấp này chỉ giải quyết được rất ít khó khăn của các tổ chức tài chính, và chủ yếu hạn chế được những mối đe doạ trước mắt đối với sự ổn định tài chính còn căn nguyên của cuộc khủng hoảng vẫn chưa được giải quyết. Chính vì thế cuộc khủng hoảng tài chính này vẫn tiếp tục lan rộng và chưa đoán trước được thời điểm phục hồi.

Vậy liệu hệ thống ngân hàng Việt Nam có chịu tác động từ cuộc khủng hoảng này như các ngân hàng Châu Âu và Châu Á – Thái Bình Dương hay không.

2. Tác động đến hệ thống ngân hàng Việt Nam Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

2.1. Tác động đến nền kinh tế Việt Nam

Với nền kinh tế hướng ngoại (khoảng gần 70% GDP của Việt Nam là phục vụ xuất khẩu), thị trường nội địa kém phát triển, lệ thuộc nhiều vào yếu tố nước ngoài như vốn, nguyên vật liệu… dưới sự tác động kép từ yếu tố nội tại cũng như tác động từ bên ngoài ( khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn cầu), nền kinh tế Việt Nam năm 2022 trở nên mỏng manh hơn và đang phải chịu những hậu quả nặng nề.

Khủng hoảng giá – Đầu năm nóng, cuối năm lạnh

Trong năm 2022, tác động cộng hưởng của khủng hoảng thị trường tài chính, giá dầu, giá hàng hoá tăng mạnh và sự đóng băng của thị trường nhà đất ở nhiều quốc gia đang gây tác động bất lợi tới tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và đẩy lạm phát tăng cao ở quy mô toàn cầu. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã khiến cho giá nhiên liệu, lương thực và nguyên liệu cơ bản tăng cao dẫn đến tình trạng lạm phát tăng cao trên khắp thế giới vào đầu năm 2022. Do các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu nhiên liệu, nguyên liệu và hàng hoá để sản xuất nên dẫn đến giá cả hàng hoá trong nước tăng cao cộng hưởng với những yếu tố nội tại làm cho lạm phát của Việt Nam tăng lên 2 con số trong nửa đầu năm 2022. Yêú tố nội tại này xuất phát từ việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng cao, kéo theo việc gia tăng tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tốc độ tăng dư nợ tín dụng, làm cho tốc độ này cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP. Không chỉ lạm phát cao, thâm hụt cán cân thương mại ở Việt Nam cũng tăng cao. Năm 2021 là 14,12 tỷ USD (bình quân 1 tháng là 1,2 tỷ USD, riêng 2 tháng cuối năm còn lớn hơn nhiều), năm 2022 khoảng 20 tỷ USD, 6 tháng đầu năm con số tương ứng này là 2,6 tỷ USD, 6 tháng cuối năm con số tương ứng này là khoảng trên 500 triệu USD). Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Cuộc khủng hoảng địa ốc và cho vay dưới chuẩn ở Mỹ thực sự bùng phát vào giữa tháng 9, đã ngày càng lan nhanh sang các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế, lao động việc làm và ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ đến các nền kinh tế trong đó có Việt Nam. Do đó 6 tháng cuối năm trong bối cảnh kinh tế thế giới đình đốn, giảm phát diễn ra ở hầu hết các nước khiến Việt Nam cũng đứng trước nguy cơ giảm phát và tác động của cuộc khủng hoảng tới nền kinh tế Việt Nam ngày càng rõ nét và nghiêm trọng hơn. Xuất khẩu có tình trạng tháng sau thấp hơn tháng trước; tăng trưởng công nghiệp liên tục giảm sút kể từ tháng 7; số lượng khách du lịch quôc tế và chi tiêu bình quân/ khách kể từ tháng 9 tới nay cũng thấp đi; chỉ số VN – Index liên tục xuyên thủng hết đáy này sang đáy khác, trở về điểm xuất phát cách đây 4 – 5 năm.

Xuất và nhập khẩu đều giảm:

Xuất khẩu là lĩnh vực gặp khó khăn trực tiếp, đầu tiên và lớn nhất. Do kinh tế Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản suy thoái mà đây cũng chính là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam nên xuất khẩu của Việt Nam vào các nước này cũng sẽ gặp khó khăn lớn. Thứ nhất là do người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu; thứ hai là giá xuất khẩu bị sụt giảm rất mạnh; thứ ba là do các doanh nghiệp nhập khẩu của các nước này bị siết chặt việc mở L/C nên khó khăn trong việc thanh toán nhập khẩu; thứ tư là sự cạnh tranh gay gắt hơn của hàng nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Hàn Quốc…đặc biệt là các mặt hàng tương đồng như giày dép…Điều này đó và đang làm nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản cũng như làm cho

Tình trạng thất nghiệp tăng lên nhanh chóng. Những bất ổn xã hội đang là nguy cơ, thách thức đối với quyết tâm duy trì sự phát triển ổn định của xã hội và nền kinh tế.

Nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất xuất khẩu giảm còn là do khó khăn về thị trường, vốn, lãi suất,… các doanh nghiệp và người dân cũng sẽ tiết kiệm hơn trong sản xuất, tiêu dùng. Do vậy, khả năng nhập khẩu hàng hoá với số lượng lớn để đầu cơ giá lên như trong năm 2022 đối với mặt hàng sắt thép, phôi thép, phân bón… nhiều khả năng sẽ được hạn chế.

Đầu tư gián tiếp nước ngoài giảm (FDI) Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Kinh tế Mỹ chững lại đã kéo theo sự suy giảm kinh tế toàn cầu, trong đó khu vực bị ảnh hưởng lớn chính là các nước Đông Á, hiện đang chiếm tới 60 -70% tổng đầu tư vào Việt Nam. Do nguồn tín dụng trên thị trường tài chính quốc tế bị thu hẹp do các nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn về tài chính và có sự thân trọng hơn khi ra quyết định đầu tư đặc biệt là đầu tư tại các thị trường non trẻ như Việt Nam trong lĩnh vực có hệ số rủi ro cao như thị trường chứng khoán hay bất động sản. Do đó một phần dòng vốn của các nhà đầu tư sẽ chuyển sang các kênh đầu tư khác hoặc được rút khỏi Việt Nam. Bên cạnh đó cuộc khủng hoảng đã làm giảm sút mạnh nguồn kiều hối từ Mỹ và cả từ các nước khác có chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng này do phần đông Việt kiều sinh sống ở Mỹ, EU bị giảm thu nhập. Bên cạnh đó, Vốn FDI cũng là mối lo ngại đối với Việt Nam. Trong tổng số hơn 64 tỷ USD vốn FDI đăng ký mà Việt Nam có được trong 2022 thì 50% trong số đó tập trung vào lĩnh vực bất động sản. Điều này dẫn đến rủi ro nếu không quy hoạch tốt, việc đầu tư nhiều vào bất động sản có thể sẽ phá vỡ sự phát triển bền vững lâu dài, có thể sẽ gây lạm phát giá bất động sản, và nếu quả bóng bất động sản vỡ, lại được xử lý không khéo sẽ gây hệ luỵ nặng nề về tài chính và kinh tế vĩ mô.

Thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh. Diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam luôn theo sát diễn biến của thị trường chứng khoán thế giới. Nguyên nhân là do thị trường chứng khoán Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ từ thông tin của khủng hoảng tài chính thế giới làm cho nhà đầu tư hoang mang rút khỏi thị trường đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài hiện nắm khoảng 20-30% cổ phần của doanh nghiệp. Do đó trong năm 2022, chỉ số chứng khoán cả hai sàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều giảm giá mạnh và mất tới gần 70% giá trị so với cuối năm 2021. Chỉ số VN – Index liên tục xuyên thủng hết đáy này sang đáy khác, trở về điểm xuất phát cách đây 4 – 5 năm.

Du lịch là ngành chịu tác động sớm và gay gắt nhất của khủng hoảng kinh tế thế giới. Từ khi khủng hoảng tài chính lên cao trào, lượng du khách vào Việt Nam đã giàm rõ rệt, theo tỷ lệ 12% trong tháng 10, rồi 22% trong tháng 11.

Bên cạnh đó cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến cho các công ty nước ngoài thu hẹp sản xuất và sa thải công nhân nhất là người nước ngoài. Vì thế một số lao động Việt Nam phải về nước trước thời hạn vì ít việc và lương thấp đặc biệt trong những tháng cuối năm. Nhiều hợp đồng xuất khẩu lao động bị thu hẹp về số lượng tuyển dụng, xuất khẩu lao động vào những thị trường truyền thống như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia hay những thị trưòng mới, thu nhập cao như Cộng Hoà Séc, Mỹ, Canada cũng sa sút. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Ngoài ra giá vàng, lãi suất, tỷ giá đều chịu tác động của những biến động trên thị trường thế giới và đi theo xu hướng biến động của thị trường thế giới. Do đó khủng hoảng kinh tế Mỹ đã tác động gián tiếp đến nhiều lĩnh vực tại Việt Nam.

2.2. Tác động đến hệ thống ngân hàng Việt Nam

Do chức năng của ngân hàng là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế nên nó chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng trên thế giối và gián tiếp từ những biến động kinh tế thế giới. Với chức năng cung cấp vốn cho nền kinh tế nên nó chịu tác động bởi các yếu tố kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp và thị trường nên nó chịu tác động từ phía khách hàng, đồng thời là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế nên chịu ảnh hưởng bởi các chính sách điều tiết của ngân hàng nhà nước.

Do đó để xem xét những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ được xem xét trên 4 khía cạnh

Thứ nhất, Mối quan hệ với các tổ chức tín dụng quốc tế

Do mối liên hệ trực tiếp của hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính thế giới còn hạn chế nên mức độ ảnh hưởng trực tiếp không lớn. Tác động tới khu vực ngân hàng có vẻ như khó nhận thấy hơn tuy nhiên tác động gián tiếp của cuộc khủng hoảng tới hệ thống ngân hàng Việt Nam tương đối mạnh. Đặc biệt trong tình hình kinh tế thế giới ngày càng xấu đi, suy thoái kinh tế diễn ra trên quy mô rộng như hiện nay thì những tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ thể hiện rõ ràng hơn. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Vì hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu quan hệ với các ngân hàng Mỹ và quốc tế trên 3 lĩnh vực: quan hệ tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu. Tất cả những mối quan hệ này đều sẽ bị ảnh hưởng nên các ngân hàng nói chung đều có sự chuẩn bị và dự kiến những kịch bản khác nhau. Chủ yếu, đối với tiền gửi, nếu chỗ nào không an toàn thì các ngân hàng rút về ngay, đối với tài trợ xuất nhập khẩu phải xác định danh mục đối tượng để ứng xử trên nguyên tắc đảm bảo an toàn…

Thứ hai, Chịu ảnh hưởng gián tiếp những biến động kinh tế thế giới thông qua những biến động kinh tế trong nước.

Ngân hàng là ngành có mối liên hệ mật thiết với các biến động của nền kinh tế và là ngành chịu ảnh hưởng đầu tiên khi nền kinh tế gặp khó khăn nhưng cũng là ngành hồi phục trước tiên để tạo điều kiện cho nền kinh tế phục hồi và đi vào ổn định. Do đó khi hoạt động kinh tế đi xuống sẽ làm tăng tính dễ bị tổn thương của các ngân hàng. Chính vì vậy trong giai đoạn khủng hoảng tài chính diễn ra, nền kinh tế Việt Nam đã phải chịu những ảnh hưởng không nhỏ từ cuộc khủng hoảng này. Những ảnh hưởng đó gây ra những bất ổn trong nền kinh tế như lạm phát tăng cao, xuất khẩu sụt giảm, lãi suất và tỷ giá biến động bất thường, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản đều sụt giảm mạnh… đã tác động không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Thứ ba, Chịu tác động từ chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà Nước

Ngân hàng hoạt động với chức năng là công cụ để ngân hàng Nhà Nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế nên khi nền kinh tế chịu ảnh hưởng từ các nền kinh tế trên thế giới thì ngân hàng Nhà Nước sẽ thực thi các chính sách nhằm điều tiết nền kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững. Do đó hoạt động của các ngân hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà Nước. Điều đó có thể thấy rõ trong thời gian qua. Để giúp nền kinh tế Mỹ hồi phục và củng cố hệ thống ngân hàng, Fed đã liên tục cắt giảm lãi suất và duy trì chính sách đồng đô USD yếu. Do đó đã ảnh hưởng đến lãi suất và tỷ giá USD/VND làm cho thị trường tài chính, tiền tệ trong nước có nhiều biến động. Trước sự biến động bất thường này, ngân hàng Nhà Nước đã thực hiện chính sách điều tiết để bình ổn thị trường trong nước. Tuy nhiên những chính sách đó đã ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam làm cho ngân hàng bộc lộ những yếu kém trong việc bảo đảm tính thanh khoản, huy động và cho vay; vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại thiếu, ở một số thời điểm đã để xảy ra tình trạng chạy đua lãi suất trên thị trường. Cơ cấu vốn của các ngân hàng còn chưa phù hợp, tỉ lệ sử dụng vốn vay ngắn hạn để cho vay dài hạn quá lớn, khá phổ biến ở các ngân hàng TMCP nhưng chậm được kiểm soát chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt thanh khoản ở các ngân hàng thương mại đặc biệt là các ngân hàng TMCP nhỏ.

Chịu ảnh hưởng từ phía khách hàng Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Do có biến động tình hình kinh tế trong nước và thế giới làm cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên không có đủ khả năng trả nợ các khoản vay ngân hàng trước đây dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của ngân hàng tăng cao làm tăng rủi ro hoạt động trong hệ thống ngân hàng. Rủi ro của ngân hàng ngày càng tăng và đang đứng ở mức độ báo động khi các khoản nợ xấu liên quan đến cho vay thế chấp bất động sản ngày càng tăng lên đặc biệt là khi giá bất động sản ở Việt Nam cũng như thế giới ngày càng giảm. Những khoản nợ xấu dự kiến sẽ ngày càng tăng lên trong tình trạng giá bất động sản và cổ phiếu giảm, lãi suất tăng và kinh tế tăng trưởng chậm tiếp tục diễn ra ở Việt Nam.

Tóm lại, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đến các ngân hàng Việt Nam ở mức độ gián tiếp, khác hẳn với các nước đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên những tác động gián tiếp này lại làm cho các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro; nợ xấu gia tăng, mục tiêu lợi nhuận của phần lớn ngân hàng ( nhất là các ngân hàng có quy mô trung bình và nhỏ) không đạt, liên tục có các ngân hàng tuyên bố giảm chỉ tiêu lợi nhuận.

Sau đây là một số dự đoán vĩ mô và hệ thống ngân hàng trong 2023

Dự đoán vĩ mô và hệ thống ngân hàng 2023

  • Lạm phát cuối năm 2023 ( so với đầu năm) khoảng 13%
  • Tăng trưởng kinh tế : 5 – 6%
  • Chính sách tiền tệ được nới lỏng dần
  • Chính sách tài khoá, chi tiêu đầu tư công tiếp tục được thắt chặt
  • Lãi suất thị trường giảm
  • Tỷ giá VND có thể được phá giá thêm khoảng 3 – 5 % để cải thiện xuất khẩu. Tỷ gía chính thức khoảng 17000 -17350đ/USD
  • Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng tăng cao
  • Một vài ngân hàng nhỏ, yếu có thể đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc bị sáp nhập, mua lại bởi ngân hàng khác.

Đánh giá các ngành và lĩnh vực

Kết luận chương I:

Qua việc tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2022 và những tác động của nó đến hệ thống ngân hàng trên thế giới nói chung cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, chúng ta có thể thấy được những nguyên nhân khách quan nào gây ảnh hưởng mạnh nhất đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế diển ra. Để từ đó các ngân hàng thương mại có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả. tránh được những ảnh hưởng tiêu cực đem đến từ cuộc khủng hoảng này. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537