Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một chủ trương lớn đã được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đảng và được Nhà nước thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Thực tiễn của hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua cho thấy, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng là xu thế tất yếu, mang tính quy luật khách quan của quá trình đi lên Chủ nghĩa xã hội. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, trong đó có nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, công khai, dân chủ và là cơ sở bảo đảm cho các cơ quan hành pháp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền là phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện. Chính vì vậy, ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020, trong đó có đề ra mục tiêu:

“Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò của hiệu lực pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế… [30].

Mong muốn có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, trong thời gian qua Nhà nước đã không ngừng đề ra giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng, ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Do đó, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp trong những năm gần đây có chuyển biến tích cực, chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật của những cơ quan này ban hành ngày càng được nâng cao.

Tuy vậy, trong thực tế, vẫn còn tồn tại tình trạng văn bản mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, không phù hợp với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật đã phát huy khá tốt vai trò, ý nghĩa của mình trong việc làm sạch hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật, tạo lập được lòng tin của nhân dân với Nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm tra, rất nhiều văn bản Quy phạm pháp luật có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo không phù hợp với nội dung văn bản Quy phạm pháp luật cấp trên; ban hành trái thẩm quyền, vi phạm thủ tục… đã bị phát hiện, xử lý. Dưới góc độ quản lý nhà nước, có thể khẳng định hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời những văn bản trái pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước một cách hiệu quả. Với ý nghĩa đó, pháp luật hiện hành đã quy định khá cụ thể về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật là nhiệm vụ mới được chuyển giao từ Viện kiểm sát nhân dân sang hệ thống cơ quan hành pháp theo quy định tại Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân không còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với văn bản Quy phạm pháp luật của cấp Bộ và chính quyền địa phương ban hành. Nhiệm vụ này đã được chuyển giao hoàn toàn cho các cơ quan hành chính nhà nước. Cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước tiến hành hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản là Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2002 và được thay thế bởi Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) năm 2004. Trên cơ sở quy định của những văn bản nêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, tiếp đến là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Đến nay, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 là căn cứ pháp lý chủ yếu để kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do bộ, ngành và địa phương ban hành. Đây là một bước chuyển trong công tác kiểm tra văn bản bởi nếu không kịp thời đưa ra các quy định để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành sẽ khó có thể hạn chế những khiếm khuyết, thiệt hại do văn bản trái luật gây ra và mục đích đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản Quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cũng sẽ khó thực hiện hơn. Thực tế cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật của chúng ta chưa thực sự hoàn chỉnh, còn chồng chéo, mâu thuẫn. Công tác lập quy nhằm cụ thể hóa và triển khai thực hiện luật chưa nhanh chóng, hiệu quả. Nghị định của Chính phủ chưa cụ thể để chấp hành, vẫn tồn tại hiện tượng chờ văn bản hướng dẫn. Trước nhu cầu quản lý, số lượng văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, nhất là cấp tỉnh ban hành ngày càng nhiều, do đó khả năng tồn tại những văn bản của địa phương mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, thậm chí vi phạm pháp luật là khó tránh khỏi.

Trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian trước đây (trước khi mở rộng địa giới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội) công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành gần như bị bỏ ngỏ, không được thực hiện thường xuyên, liên tục, hiệu quả của công tác này rất thấp, các quy định của pháp luật về kiểm tra, tự kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được thực hiện một cách chiếu lệ, thiếu nghiêm túc và thiếu sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương. Trong những năm gần đây (sau khi mở rộng địa giới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc Hội), công tác kiểm tra và xử lý văn bản ngày càng được chú trọng và đã đạt được kết quả nhất định, góp phần đẩy mạnh công tác xây dựng và thực thi pháp luật trên địa bàn thành phố. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật vẫn còn một số nhược điểm như: nghiệp vụ kiểm tra còn yếu kém, điều kiện đảm bảo cho công tác kiểm tra còn chưa được quan tâm đúng mức; việc kiểm tra, tự kiểm tra văn ban chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục dẫn đến tình trạng văn bản có dấu hiệu trái luật còn chưa được phát hiện và xử lý kịp thời, hoặc còn có biểu hiện né tránh, ngại đụng chạm. Điều đó chứng tỏ công tác kiểm tra văn bản hiện nay còn nhiều bất cập. Do đó, việc tiến hành nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội là một vấn đề mang tính chất cấp thiết.

Xuất phát từ những điểm đã phân tích trên đây, tác giả cho rằng việc nghiên cứu đề tài: “Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành hiện nay” trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là hoàn toàn cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước trên địa bàn thành phố hiện nay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, những năm gần đây khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thì các đề tài nghiên cứu về vai trò, tầm quan trọng cũng như nghiên cứu về công tác văn bản nói chung đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau như: Luật học, hành chính học, xã hội học… ở những góc độ và phạm vi, đối tượng nghiên cứu khác nhau. Liên quan đến vấn đề xây dựng và kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, đáng chú ý có một số công trình nghiên cứu, bài viết và tài liệu tiêu biểu sau đây:

Đề tài cấp Bộ: Pháp chế XHCN trong hoạt động ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở nước ta hiện nay. Chủ nhiệm đề tài: TS. Đỗ Ngọc Hải.

Đề tài khoa học cấp Bộ, “Hoàn thiện dự thảo Luật ban hành VBQPPL của HĐND, Ủy ban nhân dân”. Đề tài do Vụ Pháp luật Hình sự- Hành chính, Bộ Tư pháp thực hiện. Đề tài tập trung nghiên cứu hoàn thiện Luật Ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; trong đó đề xuất phương án sáp nhập hai văn bản luật về ban hành VBQPPL của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Đề tài khoa học cấp Bộ, “Cơ chế kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật thực trạng và giải pháp hoàn thiện”. Đề tài do Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thực hiện. Đề tài đã nghiên cứu khá sâu sắc về khái niệm kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, phân biệt kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật với một số khái niệm tương tự để khẳng định tính đặc thù của công tác kiểm tra văn bản.

Đề tài nghiên cứu khoa học của Sở Tư pháp Hà Nội về “Đổi mới và nâng cao công tác văn bản ở Hà Nội“;

Bài viết của Thạc sĩ Trương Thị Hồng Hà – Khoa Nhà nước – pháp luật, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương” đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/2005;

Bài viết của PGS.TS Vũ Thư: “Tính hợp pháp và hợp lý của văn bản pháp luật và các biện pháp xử lý các khiếm khuyết của nó“, đăng trên Tạp chí nhà nước và pháp luật số 1, năm 2003.

Bài viết của ThS. Bùi Thị Đào: “Giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp; “Văn bản quy phạm pháp luật và xử lý văn bản quy phạm trái pháp luật”, Tạp chí Luật học 10/2007.

Bài “Văn bản quy phạm pháp luật: Hiểu như thế nào cho đúng” của TS. Nguyễn Anh Sơn – Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Công nghiệp và TS. Lê Thị Thu Thủy – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5 (75), tháng 5/2006.

Bài viết của GS.TS. Phạm Hồng Thái: “Văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật” đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7(232), năm 2011. Trong bài viết đã chỉ ra những bất cập về văn bản Quy phạm pháp luật, là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật và chất lượng hệ thống pháp luật.

Nhìn chung, các công trình trên đã nghiên cứu khá sâu sắc về công tác văn bản nói chung, trên cơ sở đó đã đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những khiếm khuyết, hạn chế trong việc xây dựng, ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền các cấp, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu về kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trong thực tiễn hiện nay theo các quy định hiện hành, đặc biệt là nghiên cứu về hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương thì chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống, toàn diện về vấn đề này. Trong điều kiện mới và tư duy mới, trước xu thế cải cách hành chính và vai trò của chính quyền địa phương ngày càng được đề cao, được phân cấp, phân quyền nhiều hơn, vì vậy chất lượng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành càng cần được quan tâm nghiên cứu. Do đó, đã phát sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đối với công tác này cần nghiên cứu tổng kết sâu sắc, cụ thể hơn, nhằm làm rõ về cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác Kiểm tra và xử lý văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất các kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra và xử lý văn bản nói chung và kiểm tra xử lý văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động “Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành hiện nay” là thực sự cần thiết.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận về văn bản Quy phạm pháp luật và kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.

Kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là đề tài nghiên cứu có nội dung rất rộng, khá phức tạp. Do đó, trong giới hạn của luận văn thạc sỹ đề tài tập trung nghiên cứu với phạm vi sau đây:

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và tổng hợp các quy định của pháp luật thực định về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trong phạm vi thời gian từ năm 2002 đến nay nói chung (khi chuyển giao từ Viện kiểm sát nhân dân sang cơ quan hành chính đảm nhận chức năng kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật) và hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nói riêng.

Nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành, cụ thể là đi sâu tìm hiểu thực trạng công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội.

4. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn: Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Mục tiêu luận văn:

Nghiên cứu và làm sáng tỏ những quy định pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật và thực tiễn triển khai thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay nhằm đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản nói chung và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.

Nhiệm vụ của Luận văn

Để đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật cần phải thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Phân tích cơ sở lý luận của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, nghiên cứu và nắm bắt được một số vấn đề lý luận về văn bản Quy phạm pháp luật nói chung và văn bản Quy phạm pháp luật do chính Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành nói riêng để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đối tượng của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản;

Nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật để có nhận thức đúng đắn về công tác kiểm tra; nghiên cứu và nắm bắt được những cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản trên địa bàn thành phố Hà Nội để đưa ra đánh giá chính xác những mặt đạt và chưa đạt trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật;

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật tại địa phương.

5. Nội dung và phương pháp nghiên cứu chính của luận văn

Nội dung nghiên cứu Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Trên cơ sở các nhiệm vụ đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản sau:

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về kiểm tra và cơ chế kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật như: khái niệm kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, phân biệt kiểm tra và một số hoạt động tương tự, chủ thể và đối tượng của hoạt động kiểm tra, nội dung kiểm tra văn bản để tùy từng trường hợp sẽ đưa ra hướng xử lý văn bản cho phù hợp;

Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra và xử lý văn bản để đề xuất hướng hoàn thiện các văn bản nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong thực tiễn;

Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể là đánh giá thực trạng công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành; đồng thời xem xét về tổ chức bộ máy, nhân sự hoạt động trong lĩnh vực kiểm tra văn bản. Từ đó, đề ra một số giải pháp nhằm xây dựng bộ máy, củng cố đội ngũ làm công tác kiểm tra văn bản;

Nghiên cứu phương thức, trình tự, thủ tục kiểm tra, các điều kiện bảo đảm phục vụ cho hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng), tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học khác, như của luật học so sánh, lý thuyết hệ thống, thống kê, điều tra xã hội học,…Các phương pháp trên được sử dụng cụ thể như sau:

Luận văn sử dụng đồng thời các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-xít để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, trong đó Chương 1 chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp; Chương 2 và Chương 3 chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, lịch sử cụ thể.

Các phương pháp của bộ môn xã hội học, luật học so sánh, thống kê được sử dụng chủ yếu ở Chương 2, trực tiếp là sử dụng để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội để bảo đảm tính toàn diện, khách quan trong các đánh giá. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Phương pháp của lý thuyết hệ thống được sử dụng trong luận văn để bảo đảm việc nghiên cứu các vấn đề được toàn diện, bảo đảm tính nhất quán, liên thông giữa các nội dung, các chương và các tiết của luận văn.

Bên cạnh đó, nội dung của Luận văn được trình bày trên cơ sở tự nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn của giáo viên hướng dẫn, các đồng nghiệp và của bản thân trong quá trình làm việc ở lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật tại địa phương, với sự tham khảo các văn bản pháp luật, tài liệu của một số tác giả.

6. Tính mới và những đóng góp của đề tài

Là công trình nghiên cứu độc lập dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn phân tích một cách tương đối toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế và thực tiễn công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. Những điểm sau đây là đóng góp mới về luận cứ khoa học và thực tiễn của Luận văn:

Luận văn nghiên cứu và phân tích làm sáng tỏ thêm khái niệm văn bản Quy phạm pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, phân biệt kiểm tra và một số hoạt động tương tự, chủ thể và đối tượng của hoạt động kiểm tra, nội dung kiểm tra văn bản để tùy từng trường hợp sẽ đưa ra hướng xử lý văn bản cho phù hợp;

Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành trên địa bàn thành phố Hà Nội; đồng thời xem xét về tổ chức bộ máy, nhân sự hoạt động trong lĩnh vực kiểm tra văn bản. Từ đó, đề ra một số giải pháp nhằm xây dựng bộ máy, củng cố đội ngũ làm công tác kiểm tra văn bản;

Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra và xử lý văn bản để đề xuất hướng hoàn thiện các văn bản nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong thực tiễn; Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Với những kết quả mà luận văn đạt được, hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta nói chung, cũng như công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và làm phong phú thêm lý luận về kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Ngoài ra, Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ, công chức tham gia công tác kiểm tra, tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật ở địa phương như Sở Tư pháp, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cán bộ pháp chế các sở, ban, ngành thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, cán bộ phòng tư pháp và các phòng ban thuộc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện…Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong hệ thống các trường chính trị, các trường đại học chuyên luật hoặc không chuyên.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân CÁC CẤP BAN HÀNH

1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành

Thực tiễn của hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua cho thấy, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng là xu thế tất yếu, mang tính quy luật khách quan của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và xã hội, một trong những tiêu chí quan trọng mà Nhà nước pháp quyền đòi hỏi là phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện. Pháp luật do Nhà nước ban hành được tồn tại dưới hình thức nhất định, trong đó, văn bản Quy phạm pháp luật được coi là hình thức pháp luật cơ bản và tiến bộ nhất. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm văn bản Quy phạm pháp luật vẫn chưa được xác định rõ ràng và không được hiểu một cách thống nhất. Vì vậy, việc nghiên cứu để hiểu rõ khái niệm, vai trò, ý nghĩa của văn bản Quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, đặc biệt là trong quá trình kiểm tra, xử lý nhằm hoàn thiện chúng.

Theo Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008, văn bản Quy phạm pháp luật được hiểu như sau:

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội [73].

Từ khái niệm trên, căn cứ vào tính chất pháp lý, văn bản quản lý nhà nước có thể chia thành ba loại: Văn bản Quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt (hay còn gọi là văn bản áp dụng pháp luật) và văn bản hành chính thông thường. Tiêu chí phân loại các văn bản này dựa trên tính chất, đặc điểm của từng loại văn bản, mục đích ban hành văn bản cũng như khái niệm văn bản.

Đối với văn bản Quy phạm pháp luật, đặc tính cơ bản cần chú ý đó là có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc chung, đối tượng áp dụng không phải là một đối tượng hay nhóm đối tượng cụ thể, được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định;

Văn bản cá biệt (đôi khi được gọi là văn bản áp dụng pháp luật) được ban hành dựa trên cơ sở văn bản Quy phạm pháp luật, áp dụng văn bản Quy phạm pháp luật để giải quyết những việc cụ thể, đối với đối tượng cụ thể, trong lĩnh vực cụ thể, như: Quyết định xử phạt phạm hành chính, Quyết định khen thưởng, kỷ luật,…

Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thông tin điều hành nhằm triển khai thực hiện các văn bản Quy phạm pháp luật hoặc dùng để giải quyết các tác nghiệp cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc… của các cơ quan hành chính nhà nước. Văn bản hành chính thông thường có các hình thức cũng như nội dung phong phú, đa dạng, có thể liệt kê ra một số loại chủ yếu như: công văn hành chính (là công cụ giao dịch chính thức giữa các cơ quan như mời họp, đề xuất hoặc trả lời các yêu cầu, câu hỏi, chất vấn hoặc kiến nghị… hoặc dùng để đôn đốc, nhắc nhở cấp dưới triển khai thi hành công việc theo kế hoạch hay theo thẩm quyền quy định của pháp luật); thông cáo, thông báo, điện báo, biên bản, giấy đi đường, giấy giới thiệu… Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Việc phân biệt ba loại văn bản trên có ý nghĩa trong công tác ban hành cũng như kiểm tra, xử lý văn bản. Vì hiện nay, có một số cơ quan, đơn vị còn có sự nhận thức chưa đúng và đầy đủ về văn bản Quy phạm pháp luật, không phân biệt được văn bản Quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác, dẫn đến ban hành và quản lý văn bản sai.

Ở địa phương, do tính đặc thù, việc soạn thảo và ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân lại theo cơ sở pháp lý riêng, đó là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Luật được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004, có hiệu lực từ ngày 01/4/2005. Theo đó, văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương), được hiểu như sau:

Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa [20, Điều 1].

Văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương phải là văn bản do Hội đồng nhân dân ban hành theo hình thức Nghị quyết và Ủy ban nhân dân ban hành theo hình thức Quyết định, Chỉ thị.

Định nghĩa của Luật đã nêu được những đặc trưng của văn bản Quy phạm pháp luật như: do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành; hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật; có nội dung là quy tắc xử sự chung; có hiệu lực bắt buộc chung và được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Từ những đặc trưng của văn bản Quy phạm pháp luật nêu trên, cần đưa ra tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành:

1.1.1. Các tiêu chí đánh giá chất lượng nội dung văn bản Quy phạm pháp luật

Một là, văn bản Quy phạm pháp luật phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Tính hợp hiến là tiêu chí hàng đầu bảo đảm cho sự thống nhất của toàn bộ hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật và bảo đảm cho chất lượng của từng văn bản Quy phạm pháp luật cụ thể do chính quyền địa phương ban hành. Tính hợp hiến đòi hỏi các văn bản Quy phạm pháp luật khi được ban hành không được trái hoặc mâu thuẫn với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản. Các văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành nếu trái với Hiến pháp sẽ bị bãi bỏ. Tính hợp hiến không chỉ được xác định trên cơ sở những lời văn, những quy định cụ thể mà còn trên cơ sở tinh thần, tư tưởng, nguyên tắc của Hiến pháp. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Về tính hợp pháp, thuật ngữ này khi được sử dụng cùng với thuật ngữ “tính hợp hiến” không chỉ bao hàm ý nghĩa về sự phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung trong đó có Hiến pháp mà còn đề cập đến sự phù hợp với các quy định của các đạo luật và văn bản dưới luật như: luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Theo nghĩa như vậy, để bảo đảm tính hợp pháp, văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành phải đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định; hình thức văn bản phù hợp với quy định về kỹ thuật văn bản; nội dung văn bản phải phù hợp với nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, nếu văn bản Quy phạm pháp luật được ban hành với vai trò nội luật hoá các điều ước quốc tế thì tính hợp pháp về nội dung của văn bản Quy phạm pháp luật đó còn phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Về tính thống nhất của văn bản Quy phạm pháp luật. Đây là phạm trù có liên hệ mật thiết với hai phạm trù được trình bày trên, là tính hợp hiến và tính hợp pháp, bởi lẽ, khi một văn bản Quy phạm pháp luật đã bảo đảm tính hợp hiến và hợp pháp thì giữa chúng đã đạt được tính thống nhất cả về nội dung và hình thức. Có thể nói, tính thống nhất là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng một văn bản Quy phạm pháp luật. Tiêu chí này chủ yếu là để đánh giá mối liên hệ gắn bó nội tại giữa các yếu tố nội dung của văn bản Quy phạm pháp luật đó với toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật nói chung. Ngoài ra tính thống nhất của văn bản Quy phạm pháp luật cũng bao hàm cả tính thống nhất về mặt hình thức văn bản. Tuy nhiên, tính thống nhất về mặt nội dung luôn giữ vai trò quyết định.

Khi xem xét tính thống nhất của văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành, cần phải nghiên cứu cả hai khía cạnh: tính thống nhất trong chính văn bản Quy phạm pháp luật và tính thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật. Đối với một văn bản Quy phạm pháp luật, tính đồng bộ, thống nhất thể hiện ngay trong cơ cấu của nó. Cơ cấu của văn bản Quy phạm pháp luật phải thể hiện được mối liên hệ lôgic giữa các phần, mục, chương, điều, khoản, điểm, với cách trình bày, cách đánh số thứ tự thống nhất. Mỗi phần, chương, mục, điều, khoản, điểm đều có nội dung thể hiện chủ đề chính của văn bản, hướng tới mục tiêu chung của văn bản. Vì vậy các phần cần được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý, phải thể hiện rõ được phần chung, phần cụ thể, những đặc thù của văn bản nhìn từ khía cạnh lôgic hình thức. Tính thống nhất trong cơ cấu còn thể hiện ở việc các quy định trong cùng một văn bản phải tương quan với nhau, không mâu thuẫn, chồng chéo. Bởi vậy, việc xem xét về tính thống nhất của văn bản Quy phạm pháp luật đòi hỏi phải có cách nhìn bao quát, toàn diện ở nhiều góc độ, cấp độ khác nhau. Tính thống nhất trong văn bản Quy phạm pháp luật phải loại bỏ mâu thuẫn, trùng lặp hay chồng chéo ngay trong bản thân mỗi văn bản Quy phạm pháp luật, giữa các Quy phạm pháp luật với nhau. Nếu các văn bản Quy phạm pháp luật không có sự thống nhất nội tại thì không thể tạo ra sự điều chỉnh một cách toàn diện, đồng bộ và hiệu quả.

Như vậy, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương là một tiêu chí hết sức quan trọng, một yêu cầu khách quan, tất yếu đánh giá chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật nói chung, văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành nói riêng. Không những thế, đây còn là tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của các văn bản Quy phạm pháp luật đó. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Hai là, văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành phải đúng thẩm quyền

Thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật được hiểu là giới hạn quyền lực do pháp luật quy định cho chủ thể ban hành văn bản Quy phạm pháp luật để giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Ở nước ta, khái niệm “chính quyền địa phương” chỉ hai loại cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Hội đồng nhân dân và UBND được tổ chức ở 3 cấp đơn vị hành chính sau đây:

  1. Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
  2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);
  3. Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) [24, Điều 4]

HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên [24, Điều 1]. Quyền lực của Hội đồng nhân dân được giới hạn trong phạm vi đơn vị hành chính – lãnh thổ. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương.

UBND với tư cách là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước tại địa phương. Ủy ban nhân dân là cơ quan quản lý có thẩm quyền chung, thực hiện chức năng quản lý toàn diện theo lãnh thổ đối với mọi ngành, lĩnh vực thuộc địa phương, đảm bảo thi hành pháp luật, các quy định của cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát thi hành pháp luật đối với các cơ quan đóng tại địa bàn trong phạm vi thẩm quyền về những vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý theo lãnh thổ. Ủy ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định được ban hành các quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản này.

Điều đó có nghĩa là ngoài những hình thức nêu trên, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân không được ban hành văn bản có chứa đựng Quy phạm pháp luật dưới bất kỳ một hình thức nào khác.

Ba là, sự phù hợp của văn bản Quy phạm pháp luật với đường lối, chủ trương, của Đảng. Xét về mặt chính trị, văn bản Quy phạm pháp luật vừa là phương tiện, vừa là biện pháp để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền. Văn bản Quy phạm pháp luật là phương tiện thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, làm cho đường lối, chủ trương đó có hiệu lực thực thi và có tính bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội. Văn bản Quy phạm pháp luật còn là phương tiện để Đảng kiểm tra, đánh giá đường lối, chủ trương của mình trong thực tiễn, là phương tiện để Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Vai trò như vậy của văn bản Quy phạm pháp luật đòi hỏi Đảng phải có đường lối đúng đắn, mặt khác đối với Nhà nước phải bảo đảm chất lượng cao của việc thể chế hoá đường lối. Mọi sai lầm về đường lối và sự thể chế hoá đường lối đều dẫn đến hậu quả khôn lường mà xã hội phải gánh chịu. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Bốn là, bảo đảm tính khả thi của văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành. Mức độ và tính chính xác trong việc thể hiện ý chí, nguyện vọng, các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế – xã hội mà nhân dân địa phương đặt ra, được phản ánh trong các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp. Những văn bản Quy phạm pháp luật đó được ban hành phải hợp với lòng dân, có tính khả thi, bảo đảm thực quyền, vị trí, vai trò cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản.

Bên cạnh đó, văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành có nội dung phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội sẽ đem lại hiệu quả tác động tích cực trong quá trình triển khai thực hiện. Nội dung của văn bản Quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương sẽ bảo đảm tính khả thi của văn bản đó. Xem xét tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành luôn cần thiết đối với các nhà hoạch định chính sách và cả với người thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

Văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành còn phải bảo đảm được tính dân chủ, công khai, minh bạch và tôn trọng quy trình soạn thảo. Đó là động lực, là yếu tố quyết định chất lượng của văn bản Quy phạm pháp luật.

Bản chất dân chủ, công khai, minh bạch trong văn bản Quy phạm pháp luật phải được thể hiện toàn diện trong tất cả nội dung của văn bản đó. Cụ thể, mọi văn bản Quy phạm pháp luật đều vì lợi ích của nhân dân địa phương, đều hướng tới mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân, các ngành, các cấp ở địa phương. Muốn đạt được mục tiêu là phản ánh chính xác ý chí, nguyện vọng, lợi ích, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trong từng giai đoạn cụ thể thì nội dung văn bản Quy phạm pháp luật phải bảo đảm tôn trọng quy luật khách quan, đòi hỏi loại bỏ sự lồng ghép ý chí chủ quan, lợi ích cục bộ của địa phương, đơn vị, ngành của các chủ thể khác. Bảo đảm tính khách quan là bảo đảm yếu tố cơ bản quyết định tính khả thi và vai trò tích cực của văn bản.

Để bảo đảm tính khách quan của văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành đòi hỏi nội dung của văn bản phải bảo đảm tính khoa học, tính dự báo, tránh giáo điều, kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết thực tiễn từ đó hoạch định chính sách, chủ trương, các giải pháp trong các văn bản Quy phạm pháp luật, xử lý đúng các nhu cầu lợi ích xã hội.

1.1.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Thứ nhất, văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành phải có căn cứ pháp lý phù hợp. Căn cứ pháp lý này có thể hiểu cả ở bình diện nội dung và hình thức. Về mặt hình thức, căn cứ pháp lý là việc trích dẫn các nguồn pháp luật, nguồn dữ kiện ở phần đầu (ngay dưới tên văn bản Quy phạm pháp luật). Đó là các văn bản Quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn – tạo tiền đề cho việc ban hành văn bản Quy phạm pháp luật. Về mặt nội dung, đó là các căn cứ pháp lý và các căn cứ thực tế – dựa vào đó mà văn bản Quy phạm pháp luật được ban hành.

Căn cứ ban hành sẽ phản ánh trực tiếp tính minh bạch của một văn bản Quy phạm pháp luật. Tính minh bạch đó thể hiện ở chỗ văn bản phải được ban hành có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn; các cơ sở đó dễ dàng nhìn thấy trong nội dung văn bản. Dựa vào các căn cứ đó, người dân có thể tìm ra nguồn gốc hợp pháp của văn bản Quy phạm pháp luật.

Việc xác định căn cứ ban hành cũng có ý nghĩa minh bạch hóa trách nhiệm cơ quan ban hành văn bản, tránh khả năng áp dụng tùy tiện, không bảo đảm tính khả thi, tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản.

Các tiêu chí cụ thể liên quan đến tính minh bạch trong căn cứ của văn bản QPPL bao gồm:

Văn bản Quy phạm pháp luật đó được ban hành có trích dẫn dựa trên văn bản pháp luật nào không? Nếu có, các văn bản đó liệu đang có hiệu lực hay hết hiệu lực? Các văn bản đó liệu có phải là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong số các văn bản cùng lĩnh vực điều chỉnh? Hoặc có phải là văn bản mới hơn nếu đang tồn tại nhiều văn bản cùng ở cấp độ hiệu lực pháp lý như nhau điều chỉnh cùng lĩnh vực? Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Thứ hai, văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành phải đúng thể thức kỹ thuật trình bày. Hiện nay, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27/12/2011 hướng dẫn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch. Hai Thông tư này thay thế một phần Thông tư liên tịch số 55/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản. Tuy nhiên, về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp vẫn được áp dụng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 55/TTLT-BNV-VPCP, bao gồm tiêu đề (tiêu ngữ, quốc hiệu); tên cơ quan ban hành văn bản; số và ký hiệu văn bản (ghi năm ban hành giữa số và ký hiệu); địa danh, ngày, tháng, năm ban hành văn bản; tên loại văn bản; trích yếu; nội dung; nơi nhận và chữ ký; đóng dấu và cách trình bày; phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng kỹ thuật văn bản Quy phạm pháp luật, được thể hiện trước hết ở ngôn ngữ, cách diễn đạt trong văn bản. Thông qua ngôn ngữ, các chính sách được thể chế hóa và có khả năng tác động đến mọi đối tượng để thực hiện. Ngôn ngữ là phương tiện thông tin về nội dung của các văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành. Do đó ngôn ngữ trong văn bản phải chính xác, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh tùy tiện chủ quan.

Thứ ba, văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành phải tuân thủ đầy đủ quy định về thủ tục, trình tự xây dựng và ban hành văn bản. Văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành là nhóm văn bản có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh ở địa phương mình. Vì vậy, việc bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản Quy phạm pháp luật là cần thiết. Theo Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, việc ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được quy định tương đối rõ ràng các bước ban hành, từ giai đoạn sáng kiến ban hành, tổ chức soạn thảo dự thảo, lấy ý kiến đóng góp, ý kiến thẩm định đến việc thảo luận, biểu quyết thông qua, công bố văn bản. Việc tuân thủ trình tự, thủ tục trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản Quy phạm pháp luật sẽ góp phần nâng cao chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật, bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, bảo đảm tính ổn định và tính cụ thể của các văn bản Quy phạm pháp luật. Các văn bản Quy phạm pháp luật nếu thường xuyên sẽ làm xáo trộn các quan hệ kinh tế – xã hội ở địa phương, do đó phải đảm bảo tính ổn định. Muốn đạt được mục đích đó thì văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành phải phát huy được tính sáng tạo, tính kế thừa, phải phù hợp với thực tiễn của địa phương, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi cao, được thực hiện theo một quy trình pháp luật chặt chẽ.

1.2. Kiểm tra bản quy phạm pháp luật Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

1.2.1. Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật

Kiểm tra với nghĩa chung nhất được hiểu “Xem xét thực chất, thực tế”[8], hoặc là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”[13]. Theo nghĩa này, hoạt động kiểm tra được hiểu rất rộng. Đó là việc xem xét, đánh giá của toàn xã hội (cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân) đối với tình hình thực tế của quản lý nhà nước. Đây chính là cách thức để Nhà nước nhận được sự phản biện của toàn xã hội đối với hoạt động quản lý với mục đích đảm bảo xã hội ngày càng dân chủ, văn minh và tiến bộ hơn. Theo nghĩa hẹp, dưới góc độ pháp lý hoạt động kiểm tra được hiểu “xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét”[14]. Bên cạnh đó, kiểm tra còn được hiểu “Xem xét sự phù hợp của một quyết định, một tình trạng, một xử sự… với một chuẩn mực (tiêu chuẩn, qui phạm); là hoạt động nhằm kiểm tra xem một cơ quan công quyền, một cá nhân hay một văn bản có tôn trọng hay không tôn trọng yêu cầu về chức năng, nhiệm vụ hoặc các qui tắc được đặt ra” [15].

Như vậy, khi các chủ thể được Nhà nước giao nhiệm vụ kiểm tra, luôn phải dựa trên những tiêu chí nhất định để xem xét, đánh giá và đối chiếu. Có nghĩa là phải có những tiêu chuẩn, chuẩn mực là cơ sở nền tảng để xem xét, đánh giá. Đó có thể là chuẩn mực pháp luật hoặc là chuẩn mực về khoa học để xem xét tính đúng đắn của hành vi, của văn bản cũng như sự hợp lý của chúng. Đối với hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật thì hoạt động này ý nghĩa phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Bởi vì, kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật có mục đích là phát hiện những khiếm khuyết của văn bản như: nội dung trái pháp luật, ban hành trái thẩm quyền, hình thức không đúng, nội dung không phù hợp với thực tế khách quan… Từ việc phát hiện những khiếm khuyết trên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kịp thời đình chỉ thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung các văn bản khiếm khuyết nhằm đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và tính thống nhất của hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Đồng thời, kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật là cơ chế hữu hiệu để tìm ra nguyên nhân và điều kiện dẫn tới những khiếm khuyết của văn bản Quy phạm pháp luật, từ đó có giải pháp khắc phục phù hợp, kịp thời.

Hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật còn là cơ chế đảm bảo dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức – đối tượng chịu sự tác động của văn bản khiếm khuyết. Mặt khác, hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật còn góp phần tích cực, tạo tiền đề quan trọng cho công tác rà soát, tập hợp hóa, hệ thống hóa và pháp điển hóa pháp luật.

Ngoài ra, hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật còn bảo đảm tính kỷ luật trong công tác xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật, đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực của văn bản đó.

Hiện nay, trong những văn bản pháp luật cũng như khoa học pháp lý, có khá nhiều thuật ngữ liên quan đến hoạt động kiểm tra đó là: kiểm sát, rà soát, kiểm tra trước (thẩm định, thẩm tra). Các hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm sát, rà soát, thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật đều là những hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhằm thực hiện quyền lực Nhà nước, chúng có chung mục tiêu là bảo đảm sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Trước hết, chúng ta so sánh hoạt động kiểm tra với hoạt động thẩm định, thẩm tra (kiểm tra trước). Bản chất của hoạt động thẩm định là kiểm tra trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những điểm sai trái có thể có trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật [11]. Thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với hoạt động kiểm tra mà điểm chung giữa chúng là hướng tới việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, hai hoạt động này lại có sự khác nhau cơ bản về đối tượng, thời điểm, giá trị pháp lý của kết quả thực hiện. Về đối tượng, thẩm định, thẩm tra được áp dụng đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật còn hoạt động kiểm tra được thực hiện đối với văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành (kể cả văn bản có chứa quy phạm pháp luật). Về thời điểm thực hiện, thẩm định, thẩm tra được thực hiện trước khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành còn kiểm tra được tiến hành sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Về bản chất, ý kiến thẩm định, thẩm tra không có giá trị pháp lý bắt buộc mà chỉ mang tính chất tham mưu, tư vấn cho chủ thể trước khi quyết định thông qua một dự thảo văn bản quy phạm pháp luật [10]. Vì vậy, cơ quan thẩm định, thẩm tra được khuyến khích đánh giá về tất cả các vấn đề liên quan đến nội dung, hình thức văn bản. những ý kiến phản biện, thậm chí là sự phủ nhận hoàn toàn của cơ quan thẩm định, thẩm tra không là cơ sở để xác định trách nhiệm đối với người soạn thảo. Trong khi đó, cơ quan kiểm tra khi kết luận về sự sai trái, không phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật có quyền xử lý hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành xử lý thậm chí làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bản đó.

Nếu như việc thiết lập cơ chế kiểm tra trước văn bản quy phạm pháp luật thông qua hoạt động thẩm định, thẩm tra thì cơ chế kiểm tra sau văn bản được thiết lập qua các công đoạn giám sát, kiểm tra, kiểm sát và rà soát. Kiểm sát là “kiểm tra và giám sát” [8 ], còn rà soát là “thao tác kỹ thuật nghiệp vụ nhằm soát, xét lại các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong một thời gian nhất định…, phát hiện những quy định của văn bản dưới luật có mâu thuẫn, chồng chéo, trái với quy định của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên”[5 ] Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Như vậy, điểm chung giữa các thuật ngữ này đều là việc xem xét, đánh giá về tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, tìm hiểu sâu hơn, giữa chúng lại có sự khác biệt nhất định. Điểm khác biệt đầu tiên là chủ thể thực hiện. Kiểm tra giao cho cơ quan hành chính thực hiện (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân); kiểm sát giao cho Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện (trước khi Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban hành); còn rà soát được giao cho mọi cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật thực hiện.

Giữa hoạt động kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật tuy đều có chung mục đích là phát hiện những quy định mâu thuẫn, trái pháp luật, sự không hợp lý của văn bản, nhưng rà soát còn soát xét một cách kỹ lưỡng cả về hiệu lực pháp lý của văn bản đó làm cơ sở để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tập hợp hoá và cao hơn là pháp điển hoá. Có thể thấy rõ tính mục đích của hoạt động rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật là giúp cho việc tìm hiểu, sử dụng, áp dụng dễ dàng, thuận tiện các văn bản quy phạm pháp luật. Còn hoạt động kiểm tra chỉ có mục đích phát hiện sai trái, khiếm khuyết của văn bản để kịp thời có biện pháp xử lý nhằm nâng cao chất lượng chính văn bản đó cũng như chất lượng hệ thống pháp luật hiện hành. Ngoài ra, chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra rộng hơn, không chỉ thuộc về chính cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà còn thuộc về Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp (giúp Chính phủ và Uỷ ban nhân dân là Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp – Hộ tịch xã, phường), nhưng chủ thể tiến hành rà soát chỉ thuộc về chính cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó.

Từ những phân tích trên đây, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xem xét, đánh giá về tính hợp pháp và hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật, phát hiện những sai trái, không phù hợp, tạo cơ sở để chủ thể có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ nhằm nâng cao chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật.

Như vậy, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có những đặc điểm sau:

1.2.1.1 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động có tính tổ chức chặt chẽ. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Tính tổ chức chặt chẽ của hoạt động kiểm tra được thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền kiểm tra cũng như các chủ thể tự kiểm tra đều tiến hành một cách bài bản theo đúng quy trình mà pháp luật quy định. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, mọi cơ quan đều hình thành bộ máy giúp việc có vai trò làm đầu mối tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Đối với những cơ quan tiến hành tự kiểm tra, bộ phận có trách nhiệm kiểm tra văn bản thường là Vụ pháp chế, Phòng pháp chế; hoặc ở địa phương có thể thuộc về cán bộ chuyên trách của cơ quan Tư pháp…Đối với hoạt động kiểm tra theo thẩm quyền, hiện nay Quốc hội giao cho Chính phủ đảm nhiệm. Đầu mối giúp Chính phủ quản lý công tác này thuộc về Bộ Tư pháp trong đó Cục Kiểm tra văn bản, ở địa phương thuộc về Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp – Hộ tịch xã phường. Khi nhận được văn bản quy phạm pháp luật, những chủ thể trên đây được phân công tiến hành kiểm tra theo đúng quy trình mà pháp luật quy định. Từ khâu nhận văn bản, giao nhiệm vụ cho cấp dưới, tiến hành xem xét, đối chiếu nội dung, hình thức cho đến trao đổi, thông báo về kết quả kiểm tra, tất cả diễn ra khá chặt chẽ, tỉ mỉ và dựa trên những tiêu chí rõ ràng. Đặc biệt, trong trường hợp kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật Nhà nước, tính tổ chức chặt chẽ trong quá trình kiểm tra càng được thể hiện rõ nét hơn, đó là phải thành lập đoàn kiểm tra liên ngành và “chỉ có những cán bộ có thẩm quyền (hoặc được ủy quyền) theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước mới được trực tiếp nghiên cứu, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước.” (khoản 2 Điều 8 Nghị định số 40/2009/NĐ-CP về kiểm tra văn bản có nội dung thuộc bí mật Nhà nước)

1.2.1.2. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục

Với mục đích xem xét, đánh giá để phát hiện kịp thời những sai trái hoặc không phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để chủ thể có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, nên các cơ quan nhà nước thường xuyên tiến hành kiểm tra. Tính thường xuyên, liên tục của hoạt động kiểm tra được thể hiện trong việc bất cứ khi nào có văn bản quy phạm pháp luật được ban hành thì hoạt động kiểm tra được thực hiện. Điều này cho thấy, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là khâu quan trọng, không thể thiếu trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật. Về nguyên tắc, mọi văn bản quy phạm pháp luật đều được kiểm tra, cho nên các chủ thể thực hiện thường xuyên chưa đủ mà còn cần đảm bảo tính liên tục. Tính liên tục của hoạt động kiểm tra đảm bảo không bị bỏ lọt văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành. Nếu một văn bản quy phạm pháp luật không qua hoạt động kiểm tra sau, sẽ có thể văn bản đó ẩn chứa những dấu hiệu sai trái và bất hợp lý, khi triển khai thực hiện mới bộc lộ, từ đó ảnh hưởng lớn đến cá nhân, tổ chức là đối tượng thi hành văn bản và rộng hơn là ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Nhà nước. Chính vì vậy, một trong những cách thức để đảm bảo cho mọi văn bản đều được cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra, pháp luật quy định cơ quan ban hành văn bản phải có trách nhiệm gửi văn bản đến cơ quan kiểm tra trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký ban hành [4].

1.2.1.3. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ cao. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Có thể nói, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động được tiến hành rất cụ thể, chi tiết, đòi hỏi người kiểm tra phải có trình độ chuyên môn sâu. Dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá tính hợp pháp và hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật, người có trách nhiệm kiểm tra xem xét, đối chiếu để phát hiện những sai trái, bất hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật. Mục đích của hoạt động kiểm tra là bảo đảm tính hợp Hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật, do vậy việc phát hiện các văn bản sai trái, không phù hợp đòi hỏi có sự đầu tư một cách nghiêm túc và có kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn sâu để đi đến kết luận về tính đúng đắn, tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra. Những yêu cầu tối thiểu đối với cán bộ thực hiện công tác kiểm tra là: Có trình độ cử nhân luật hoặc tương đương trở lên; có chứng chỉ qua bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra văn bản, có thời gian trải qua công tác pháp luật nhất định. Bên cạnh đó, những người thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật còn phải có kiến thức chuyên môn sâu trong từng lĩnh vực kiểm tra được phân công.

1.1.1.4. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động mang tính phòng ngừa

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động được các cơ quan nhà nước tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm kịp thời phát hiện những sai trái, không hợp lý của văn bản để chủ thể có thẩm quyền tiến hành sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ, từ đó phòng ngừa không để xảy ra những hậu quả xấu phát sinh từ khiếm khuyết của văn bản. Vì vậy, ngay cả khi chưa biết văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật hoặc không phù hợp, cơ quan có trách nhiệm kiểm tra vẫn phải thực hiện nhiệm vụ này theo đúng quy định của pháp luật

1.2.2. Vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hoạt động có vị trí quan trọng, không thể thiếu trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật; có vai trò to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành nói chung và nâng cao chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật nói riêng, biểu hiện cụ thể như sau:

Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp của hệ thống pháp luật. Thông qua hoạt động kiểm tra, những quy định mâu thuẫn, chồng chéo được loại bỏ làm cho hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch. Việc đặt ra nhiệm vụ kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật trong khi văn bản đó đã được thẩm định, thẩm tra trước khi ban hành là vì: Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật giúp phát hiện những qui định mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật của văn bản mà các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, thẩm tra có thể không hoặc chưa phát hiện được hết. Hơn nữa hoạt động thẩm định, thẩm tra chỉ mang tính chất khuyến nghị nên không thể xử lý triệt để những mâu thuẫn, chồng chéo trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có thể phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời những văn bản khiếm khuyết vì hoạt động này được tiến hành thường xuyên ngay sau khi văn bản được ban hành và có sự tham gia của nhiều chủ thể

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần thực hiện nhiệm vụ đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản. Vì thông qua việc xem xét, đánh giá văn bản, chủ thể tiến hành sẽ chỉ ra được những thiếu sót, chưa hoàn chỉnh trong quy trình ban hành, đồng thời có những kiến nghị nhằm đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đối với hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản, thông qua việc kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền sẽ phát hiện sai sót trong quy trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành điển hình như: Ban hành không đúng thẩm quyền; không tuân theo trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định, thẩm tra còn mang tính hành thức…Khi phát hiện và kiến nghị để xử lý về những sai sót, hoạt động kiểm tra văn bản cũng đồng thời góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm cho cơ quan soạn thảo, ban hành văn bản.

Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cũng góp phần tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, lành mạnh, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế. Các nhà đầu tư và các đối tác nước ngoài luôn quan tâm tới những rủi ro có thể xảy ra từ chính sách pháp luật. Muốn giảm thiểu những rủi ro trước hết các cơ quan nhà nước cần tiến hành tốt hoạt động kiểm tra để loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật, không còn phù hợp với thực tế của văn bản quy phạm pháp luật.

Hoạt động kiểm tra văn bản còn có ý nghĩa trong việc duy trì trật tự quản lý nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Thực tế cho thấy, một số văn bản quy phạm pháp luật sai trái được ban hành đã xâm phạm đến trật tự quản lý, làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thông qua hoạt động kiểm tra văn bản, các cơ quan nhà nước đã kịp thời phát hiện, đề xuất chủ thể có thẩm quyền xử lý, khắc phục sai sót, điều này cũng có nghĩa phần nào bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tạo lập lòng tin của người dân đối với Nhà nước.

Hoạt động kiểm tra phát huy vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.

Việc bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng, giúp cho những quy định trong văn bản được áp dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn theo đúng định hướng mà Nhà nước mong muốn. Pháp luật hiện hành đã quy định cơ chế tự kiểm tra văn bản mà một trong những nội dung quan trọng của cơ chế này là cơ quan có thẩm quyền khi soạn thảo, ban hành văn bản phải cân nhắc, tính toán đầy đủ về tính khả thi của quy định do mình ban hành. Yêu cầu này một lần nữa lại được xem xét trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm tra sau khi văn bản được ban hành.

1.2.3. Nguyên tắc kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Nguyên tắc là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Các nguyên tắc này có thể rút ra từ các quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm:

  1. Việc kiểm tra văn bản, xử lý văn bản trái pháp luật được tiến hành thường xuyên, toàn diện, kịp thời; khách quan, công khai, minh bạch; đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; kết hợp giữa việc kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền với việc tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản, bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan.
  2. Nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân lợi dụng việc kiểm tra văn bản vì mục đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động bình thường của cơ quan, người đã ban hành văn bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật.
  3. Sau khi kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản phải có kết luận về việc kiểm tra và thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản được kiểm tra theo quy định của pháp luật.
  4. Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản chịu trách nhiệm về kết luận kiểm tra, xử lý của mình; nếu quyết định xử lý trái pháp luật thì phải khắc phục hậu quả pháp lý do quyết định đó gây ra.

1.2.4. Phương thức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản, việc kiểm tra văn bản được tiến hành bằng các phương thức sau đây:

1.2.4.1. Phương thức tự kiểm tra Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Tự kiểm tra văn bản là hoạt động kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản đối với chính văn bản do mình ban hành ra. Đối với văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương thì bản thân chính quyền địa phương phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành. Theo quy định thì Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành. Đầu mối giúp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản là: Trưởng Ban pháp chế của Hội đồng nhân dân, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng Ban Tư pháp cấp xã [11, Điều 10].

Mục đích của hoạt động tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật là nhằm đề cao trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, đóng vai trò quan trọng cho việc tạo lập một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch và công khai làm cơ sở cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật.

1.2.4.2. Phương thức kiểm tra văn bản theo thẩm quyền

Là việc kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra theo nhiệm vụ được phân công. Kiểm tra theo thẩm quyền bao gồm:

Kiểm tra văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản gửi đến;

Kiểm tra khi nhận được yêu cầu, kiến nghị đối với văn bản có chứa Quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật và văn bản có chứa Quy phạm pháp luật nhưng do cơ quan nhà nước không có thẩm quyền ban hành;

Tổ chức đoàn kiểm tra theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực. Thông qua sự phân công rõ ràng nhiệm vụ kiểm tra theo từng lĩnh vực chuyên môn, từng cấp đã xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan trong công tác kiểm tra để tránh chồng chéo. Ví dụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện kiểm tra văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành. Trên thực tế, việc tranh chấp thẩm quyền rất có thể xảy ra. Nếu có tranh chấp thẩm quyền thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với từng trường hợp cụ thể.

1.2.4.3. Phương thức kiểm tra khi nhận được yêu cầu (kiểm tra đột xuất)

Khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền kiểm tra phải tiến hành hoạt động kiểm tra để kịp thời sửa đổi, thay thế hoặc hủy bỏ.

1.2.5. Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Khi tiến hành hoạt động kiểm tra, người kiểm tra phải đối chiếu, xem xét văn bản được kiểm tra với văn bản làm cơ sở pháp lý về từng nội dung kiểm tra bao gồm: Căn cứ pháp lý ban hành, thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung; nội dung phù hợp với quy định của pháp luật; thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản; tuân thủ đầy đủ các quy định về thủ tục xây dựng, ban hành và đăng Công báo, đưa tin hoặc công bố văn bản, từ đó xem xét, kết luận về tính hợp pháp của văn bản. Ngoài ra, để hoạt động kiểm tra đạt hiệu quả cao, các chủ thể tiến hành còn dựa trên những tiêu chí mang tính khoa học để đánh giá về chất lượng của văn bản Quy phạm pháp luật như: sự phù hợp về nội dung của văn bản với đường lối, chính sách của Đảng, với lợi ích chính đáng của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp hay với tình hình thực tiễn…

Từ góc độ lý luận, khi tiến hành kiểm tra, người kiểm tra xem xét về tính hợp pháp và hợp lý của văn bản Quy phạm pháp luật với những nội dung sau:

Kiểm tra căn cứ pháp lý của văn bản Quy phạm pháp luật

Văn bản được ban hành phải dựa trên các căn cứ pháp lý và căn cứ pháp lý đó phải đang có hiệu lực pháp luật vào thời điểm ban hành; cơ quan, thủ trưởng đơn vị trình dự thảo văn bản phải có thẩm quyền trình theo quy định của pháp luật và những đề nghị ban hành văn bản là hợp pháp. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Kiểm tra về thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật

Cơ quan kiểm tra tiến hành xem xét, đánh giá về thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật bao gồm đúng tên loại văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và có nội dung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước ban hành văn bản Quy phạm pháp luật đó.

Kiểm tra tính hợp pháp về nội dung của văn bản Quy phạm pháp luật

Văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải phù hợp với Hiến pháp, Luật và văn bản Quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, văn bản Quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân còn phải phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Việc quy định như vậy nhằm bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật. Nếu nội dung văn bản có liên quan đến điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập thì nội dung văn bản còn phải phù hợp với điều ước quốc tế đó.

Kiểm tra về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định của pháp luật

Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản Quy phạm pháp luật thuộc phạm vi kiểm tra bao gồm các yếu tố như: tiêu đề (tiêu ngữ, quốc hiệu); tên cơ quan, tổ chức ban hành; số và ký hiệu của văn bản (ghi năm ở giữa số và ký hiệu); địa danh, ngày, tháng, năm ban hành; tên loại văn bản và trích yếu nội dung của văn bản; nội dung văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp tiếng việt và văn phong pháp luật; nơi nhận; chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; đóng dấu của cơ quan, tổ chức. Hiện nay, các yếu tố trên đã được quy định rất cụ thể tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, Thông tư số 25/2011/TT-BTP ngày 27/12/20011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản Quy phạm pháp luật.

Kiểm tra về thủ tục, trình tự xây dựng, ban hành văn bản Quy phạm pháp luật

Đối với văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành, thủ tục xây dựng, ban hành, công bố văn bản phải tuân theo quy định của Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này. Các nội dung trên sẽ được kiểm tra khi phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền.

Ngoài những nội dung trên, khi tiến hành hoạt động kiểm tra, người kiểm tra cần tiến hành kiểm tra sự phù hợp của nội dung văn bản Quy phạm pháp luật với đường lối, chính sách của Đảng, đánh giá về sự phù hợp của nội dung văn bản với thực tiễn và sự phù hợp của nội dung văn bản Quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác như: đạo đức, tôn giáo, tập quán… để bảo đảm tính khả thi của văn bản đó khi triển khai trên thực tế.

1.2.6. Thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Nếu như hoạt động giám sát văn bản Quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp thì hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của cơ quan hành pháp. Thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được xác định cụ thể như sau:

  • Chính phủ có thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật; giúp Thủ tướng Chính phủ trong việc kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
  • Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền kiểm tra các văn bản Quy phạm pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.

Ngoài các chủ thể được pháp luật trao thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật nêu trên, hoạt động này còn được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật tự kiểm tra văn bản của mình.

1.2.7. Quy trình kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật

Quy trình kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng. Quy trình mà hợp lý sẽ giúp người kiểm tra thực hiện việc kiểm tra nhanh chóng và đạt chất lượng cao. Theo Nghị định số 40/20010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, quy trình kiểm tra văn bản QPPO được tiến hành như sau:

  • a) Quy trình tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Gửi văn bản kiểm tra. Văn bản Quy phạm pháp luật khi được cơ quan, người có thẩm quyền ký ban hành, đơn vị phát hành văn bản có trách nhiệm đồng thời gửi văn bản cho đơn vị được phân công kiểm tra văn bản đó để thực hiện việc tự kiểm tra.

Nhận văn bản tự kiểm tra. Cơ quan, đơn vị được phân công nhiệm vụ kiểm tra khi nhận được văn bản phải vào “sổ văn bản đến”. Việc lập sổ văn bản đến giúp người quản lý theo dõi, kiểm tra chính xác số văn bản, đồng thời cũng theo dõi được thời gian kiểm tra đối với văn bản đó.

Giao nhiệm vụ để thực hiện việc tự kiểm tra. Khi nhận được văn bản, lãnh đạo cơ quan, đơn vị được giao thực hiện hoạt động kiểm tra có trách nhiệm phân công cán bộ đảm nhiệm việc tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật.

Tiến hành tự kiểm tra. Cán bộ được giao thực hiện việc tự kiểm tra. Sau khi kiểm tra, cán bộ đó phải kư tên vào góc trên văn bản để theo dõi. Trường hợp không phát hiện dấu hiệu trái pháp luật hoặc bất hợp lý của văn bản thì cán bộ kiểm tra nộp kết luận văn bản không trái pháp luật về bộ phận lưu trữ kết quả. Trường hợp văn bản có dấu hiệu bất hợp pháp hoặc bất hợp lý, cán bộ kiểm tra tiến hành các bước sau:

Bước 1: Lập phiếu kiểm tra văn bản (có đề xuất hướng xử lý văn bản)

Bước 2: Cán bộ kiểm tra lập và hoàn thiện hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp luật trình lãnh đạo, cơ quan được giao đầu mối tự kiểm tra.

Bước 3: Lãnh đạo cơ quan được giao nhiệm vụ tự kiểm tra có trách nhiệm xem xét nội dung trái pháp luật và thông báo ngay cho đơn vị tham mưu, trình văn bản, đồng thời tổ chức cuộc họp trao đổi, thảo luận với cơ quan, người ban hành văn bản thống nhất cách thức xử lý. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Bước 4: Lãnh đạo cơ quan được giao nhiệm vụ tự kiểm tra báo cáo với cơ quan có thẩm quyền kiểm tra về kết quả kiểm tra và kiến nghị xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật.

Kiến nghị xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật hoặc không hợp lý.

Kiến nghị xử lý đối với cơ quan, người tham mưu soạn thảo và cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật (trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự)

  • b) Quy trình kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo thẩm quyền

Gửi văn bản kiểm tra. Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật ghi rõ trong mục “Nơi nhận” của văn bản tên cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản do mình ban hành. Trong thời hạn chậm nhất 03 ngày kể từ ngày ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành phải gửi văn bản đến cơ quan kiểm tra văn bản.

Nhận văn bản kiểm tra.

Giao nhiệm vụ cho cấp dưới kiểm tra. Lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền kiểm tra (Cục Kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, Phòng xây dựng và kiểm tra văn bản thuộc Sở Tư pháp tỉnh, Phòng Tư pháp huyện) phân công cán bộ kiểm tra tiến hành kiểm tra văn bản. Cán bộ này là người chịu trách nhiệm toàn bộ các vấn đề liên quan đến văn bản được kiểm tra.

Tiến hành hoạt động kiểm tra. Sau khi kiểm tra, cán bộ kiểm tra ký tên vào góc trên của văn bản để xác nhận đã thực hiện việc kiểm tra và để tiện theo dõi, quản lý. Trường hợp văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, lãnh đạo cơ quan kiểm tra quyết định tổ chức thảo luận, trao đổi về nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản được kiểm tra. Sau khi trao đổi, thảo luận, cơ quan kiểm tra thông báo để cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản tiến hành xử lý trong thời hạn 30 ngày theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ.

1.3. Xử lý văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

1.3.1. Khái niệm xử lý văn bản Quy phạm pháp luật

Hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó hoạt động kiểm tra luôn là tiền đề để tiến hành hoạt động xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Ngược lại, hoạt động xử lý có tác dụng nâng cao giá trị của hoạt động kiểm tra từ đó đạt được mục tiêu chung là nâng cao chất lượng của văn bản Quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, việc xử lý chỉ được thực hiện khi văn bản Quy phạm pháp luật được ban hành bất hợp pháp, bất hợp lý như trái thẩm quyền, vi phạm thủ tục ban hành hoặc nội dung không phù hợp với thực tiễn, không đáp ứng nhiệm vụ về chính trị… Xử lý văn bản thực chất là kết quả của hoạt động kiểm tra văn bản, thể hiện của hoạt động này. Đối với văn bản Quy phạm pháp luật qua kiểm tra đã hợp pháp thì không có giai đoạn xử lý này.

Nếu như qua hoạt động kiểm tra, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đã xem xét, đánh giá và kết luận được về tính không hợp pháp của văn bản, nhưng chỉ dừng lại ở đó thì không đạt được mục đích của hoạt động này, mà trên cơ sở kết luận của kiểm tra văn bản, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý thi hành các biện pháp xử lý như: đình chỉ việc thi hành (đây chỉ là biện pháp mang tính thủ tục), sửa đổi, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ văn bản, đồng thời kiến nghị về trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật.

Như vậy, có thể hiểu: Xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành giải quyết đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý, theo thủ tục, nguyên tắc pháp luật quy định nhằm đình chỉ thi hành, huỷ bỏ, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, đính chính, thay thế một phần hoặc toàn bộ đối với văn bản Quy phạm pháp luật, đồng thời xem xét, xử lý trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể ban hành, tham mưu soạn thảo văn bản Quy phạm pháp luật đó.

Từ khái niệm này, chúng ta có thể nhận thấy xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là hoạt động do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện.

Thứ hai, hoạt động xử lý chỉ được tiến hành đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý.

Thứ ba, kết quả của hoạt động xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là áp dụng biện pháp bất lợi để áp dụng đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý và với chủ thể ban hành văn bản đó.

1.3.2. Thẩm quyền xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

  • Cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý tự xử lý

Thông qua hoạt động tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền, cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý tiến hành tự xử lý. Theo đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền tự xử lý nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý.

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp tự xử lý nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp mình có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý.

  • Cơ quan nhà nước hoặc thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền xử lý đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành

Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền bãi bỏ văn bản Quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, luật và các văn bản Quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ thi hành việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản Quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hoặc của Bộ, cơ quan ngang Bộ về ngành, lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang Bộ phụ trách; đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản Quy phạm pháp luật về ngành, lĩnh vực mình phụ trách. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

HĐND cấp tỉnh có quyền bãi bỏ quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và nghị quyết quy phạm pháp luật của HDDND cấp huyện.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền đình chỉ việc thi hành và bãi bỏ những quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đình chỉ việc thi hành nghị quyết bất hợp pháp, bất hợp lý của Hội đồng nhân dân cấp huyện và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bãi bỏ.

HĐND cấp huyện có thẩm quyền bãi bỏ quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền đình chỉ việc thi hành và bãi bỏ những quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp xã, đình chỉ việc thi hành nghị quyết bất hợp pháp, bất hợp lý của Hội đồng nhân dân cấp xã và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp huyện bãi bỏ.

1.3.3. Các hình thức xử lý trong hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì có 2 hình thức xử lý, đó là xử lý đối với văn bản trái pháp luật và xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó.

Thứ nhất, xử lý đối với văn bản Quy phạm pháp luật trái pháp luật có các hình thức là: Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản, đính chính, thay thế đối với văn bản Quy phạm pháp luật đó. Khi áp dụng biện pháp xử lý, người kiểm tra văn bản cần phải phân biệt rõ về mặt khái niệm, hậu quả pháp lý của từng hình thức xử lý trên để áp dụng đúng trong thực tiễn.

Hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản. Đây là biện pháp mang tính thủ tục trước mắt, áp dụng trong trường hợp nội dung văn bản trái pháp luật đó nếu chưa được sửa đổi, bãi bỏ, huỷ bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Biện pháp đình chỉ việc thi hành có hai hình thức, có thể là đình chỉ tạm thời để xem xét xử lý hoặc đình chỉ vĩnh viễn.

Hình thức sửa đổi được áp dụng trong trường hợp văn bản được ban hành đúng thẩm quyền nhưng có một phần nội dung không phù hợp với nội dung văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội và cần phải có quy định khác thay thế nội dung đó. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản trong trường hợp nội dung đó trái với nội dung của văn bản mới ban hành là cơ sở pháp lý của văn bản được kiểm tra mà không thuộc trường hợp cần đề xuất sửa đổi.

Hình thức huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản trong trường hợp toàn bộ hoặc một phần văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật ngay từ thời điểm ban hành văn bản đó.

Hình thức huỷ bỏ cũng được áp dụng đối với các văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có chứa Quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật ban hành.

Đính chính văn bản. Trong quá trình kiểm tra phát hiện văn bản chỉ sai về căn cứ pháp lý được viện dẫn, thể thức, kỹ thuật trình bày còn nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp thì đính chính đối với những sai sót đó.

Thay thế là biện xử lý được áp dụng đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu như: nội dung văn bản không phù hợp với thực tiễn, không còn phù hợp với quyền và lợi ích chính đáng của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản… Thẩm quyền thay thế văn bản Quy phạm pháp luật thuộc về cơ quan đã ban hành văn bản đó.

Thứ hai, biện pháp xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật.

Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật đã có những quy định khá rõ ràng, cụ thể về việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý. Có thể nói đây là những quy định rất quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra và xử lý, bảo đảm quá trình kiểm tra và xử lý công khai, minh bạch, khách quan và đúng quy định pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm trong hoạt động xử lý văn bản Quy phạm pháp luật mà người có thẩm quyền xử lý bị truy cứu trách nhiệm hình sự và kỷ luật và phải khắc phục hậu quả pháp lý do văn bản Quy phạm pháp luật đó gây ra (trách nhiệm dân sự). Bên cạnh việc xem xét hành vi vi phạm trong quá trình xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành cũng như tham mưu ban hành văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Căn cứ vào nội dung trái pháp luật và mức độ thiệt hại trên thực tế do văn bản trái pháp luật gây ra, người kiểm tra văn bản kiến nghị cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật phải kịp thời áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành và thực hiện văn bản trái pháp luật gây ra. Trong trường hợp huỷ bỏ văn bản sai trái, người kiểm tra văn bản kiến nghị cơ quan, người đã ban hành văn bản khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi có văn bản đó. Đồng thời kiến nghị cơ quan, người có thẩm về hình thức, mức độ xử lý theo quy định của pháp luật về trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự đối với cơ quan, người đã ban hành và cả người đã tham mưu, đề xuất nội dung trái pháp luật trong trường hợp người đó có lỗi.

1.3.4. Trình tự, thủ tục xử lý văn bản Quy phạm pháp luật bất hợp pháp, bất hợp lý

Xử lý văn bản Quy phạm pháp luật bất hợp pháp, bất hợp lý được tiến hành theo trình tự, thủ tục sau:

  • Cơ quan, đơn vị kiểm tra phát hiện văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý thông báo cho cơ quan, người ban hành văn bản Quy phạm pháp luật tự xử lý theo thẩm quyền.

Trường hợp văn bản có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý là thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thì Vụ Pháp chế của Bộ, cơ quan ngang Bộ (tự kiểm tra) báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện tự xử lý văn bản đó.

Văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông tư liên tịch có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý thuộc thẩm quyền kiểm tra của Cục kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp). Cục trưởng Cục kiểm tra văn bản sẽ thông báo cho cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật tự xử lý theo quy định của pháp luật.

Văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý thì Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp thông báo đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

  • Các chủ thể có thẩm quyền tiến hành xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan, đơn vị kiểm tra, cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật phải xử lý văn bản. Trường hợp cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý quá thời hạn mà không xử lý, xử lý không đúng hoặc cơ quan kiểm tra không đồng ý với cách xử lý của cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật thì việc xử lý thuộc về cơ quan nhà nước, thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp trên của cơ quan ban hành văn Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý.

Trong quá trình xử lý văn bản Quy phạm pháp luật theo nội dung thông báo của cơ quan kiểm tra gửi đến, nếu cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật cho rằng văn bản Quy phạm pháp luật của mình hợp pháp, hợp lý thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan này có quyền giải trình và đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản xem xét lại thông báo về xử lý văn bản.

  • Thông báo kết quả xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý

Chậm nhất sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định xử lý, kết quả xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý phải được công bố công khai, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được đăng công báo, đăng trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành (văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cấp tỉnh ban hành) hoặc niêm yết tại trụ sở cơ quan ban hành (đối với văn bản do cấp huyện và cấp xã ban hành).

1.4. Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành

Quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ đòi hỏi phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, thống nhất. Để đáp ứng yêu cầu đặt ra, Nhà nước ta đã ban hành Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trong đó quy định khá cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Việc triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã tạo sự chuyển biến về chất trong hệ thống pháp luật nói chung và trong hoạt động xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật nói riêng. Chất lượng các văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành ngày càng được nâng cao, đa số các văn bản đã được ban hành đều đáp ứng được yêu cầu đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ thống nhất của hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật theo quy định.

Tuy nhiên, thực tế ban hành văn bản cũng cho thấy còn có nhiều trường hợp văn bản được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức và nội dung chưa đảm bảo đúng theo quy định; một số văn bản sau thời gian thực hiện dã không còn phù hợp do tình hình kinh tế – xã hội thay đổi hoặc do có văn bản mới của cấp trên. Những văn bản trái pháp luật này nếu không được sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ kịp thời sẽ gây ra những hậu quả nhất định, làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật và tính thống nhất của pháp chế XHCN. Bên cạnh đó, những văn bản này còn có thể gây hậu quả thiệt hại về lợi ích vật chất, thiệt hại về tinh thần, xâm phạm quyền, nghĩa vụ của cõ quan, tổ chức và công dân. Do vậy, ðể phát hiện, xử lý kịp thời các văn bản trái pháp luật, hạn chế hậu quả do các văn bản này gây ra, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất của hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật, cần thiết phải tổ chức kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, đặc biệt là những văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Để có thể đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ về công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, chúng ta cần phải nắm rõ thể chế hiện hành đối với công tác này, đó chính là các căn cứ pháp lý về các yếu tố cần cho hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, đó là: Cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật; Tổ chức bộ máy; Các quy định về nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản; Các điều kiện, phương tiện đảm bảo công tác kiểm tra. Cụ thể như sau:

Trước hết, về cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật như quy định hiện nay đã đủ để đem lại hiệu quả cho hoạt động này hay chưa là vấn đề phải nghiên cứu từ thực tiễn triển khai áp dụng.

Trước đây văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được phân định và giao cho nhiều cơ quan giám sát, kiểm tra, kiểm sát, như: quyền giám sát, xử lý văn bản trái pháp luật của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân; quyền kiểm tra, xử lý của Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đối với văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh; quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương các cấp ban hành của Viện Kiểm sát nhân dân. [9, Chương X]. Việc giao thẩm quyền cho nhiều cơ quan như trên đã tạo nên sự kiểm tra, giám sát đan chéo nhau giữa các cơ quan trong hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp trong việc ban hành và thực thi pháp luật. Nhưng lại chưa có quy định cụ thể về phương pháp, cách thức, nội dung kiểm tra, xử lý văn bản, do vậy công tác này còn dàn trải, chưa được thực hiện một cách thường xuyên, bài bản. Chủ yếu là Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát chung đối với cả văn bản Quy phạm pháp luật và hành vi, gắn kiểm sát văn bản với kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội.

Đến năm 2001, với Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của UBTVQH sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2001, Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà không thực hiện kiểm sát việc tuân thủ pháp luật đối với các văn bản Quy phạm pháp luật. Do vậy, việc kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật chỉ còn tập trung vào các cơ quan hành chính nhà nước. Theo đó, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật cũng đã bãi bỏ Điều 85 quy định về chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với văn bản Quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật thì thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật thì thẩm quyền kiểm tra văn bản QPPL được giao toàn bộ cho cơ quan hành chính nhà nước. Điều đó có nghĩa là gánh nặng của công tác kiểm tra văn bản đè lên vai các cơ quan hành chính. Để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, cần phải có một hệ thống thể chế quy định cho hoạt động này.

Trước yêu cầu tăng cường kỷ luật hành chính trong các cơ quan nhà nước và để đảm bảo triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, ngày 19/3/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 12/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Ngày 14/11/2003 Chính phủ ban hành Nghị định 135/2003/NĐ- CP về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Đây là thể chế cơ bản nhất của Chính phủ quy định về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Bộ, ngành và địa phương ban hành. Ngày 16/6/2004, Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư số 01/2004/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP. Có thể nói kể từ thời điểm này, công tác kiểm tra mới được quy định một cách cụ thể hơn, từ chủ thể có thẩm quyền đến các cách thức, trình tự và biện pháp xử lý đối với văn bản Quy phạm pháp luật trái pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên, có một hạn chế khó tránh khỏi, đó là tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Các cơ quan hành chính nói chung và chính quyền địa phương vừa là chủ thể ban hành văn bản Quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý, vừa là chủ thể thực hiện tự kiểm tra, xử lý văn bản do mình ban hành, hoặc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền đối với cơ quan cấp dưới, sẽ không tránh khỏi những hiện tượng thiếu khách quan trong việc ban hành và xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Trước đây Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan tư pháp độc lập với cơ quan hành chính, có thể kiểm sát, xử lý một cách khách quan hơn. Do đó, đây cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan hành chính thực thi nhiệm vụ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật.

Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, khắc phục những hạn chế trong quá trình thực thi và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, ngày 12/4/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật thay thế Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và Ngày 30/11/2010, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 20/2010/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Có thể nói, công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay vẫn còn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi, đang trong quá trình xây dựng, triển khai trên thực tế. Vấn đề xây dựng nên một cơ chế để thực hiện công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật như thế nào thì đến nay chúng ta mới được thực hiện qua việc ban hành Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật và Nghị định số 40/2010/NĐ-CP.

Cơ chế hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập, như: Theo quy định của Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật và Nghị định 40/2010/NĐ-CP thì khi phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản Quy phạm pháp luật, nhưng tại Nghị định này mới chỉ quy định thẩm quyền, thủ tục kiểm tra và xử lý đối với văn bản chứa Quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật và văn bản do cơ quan không có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật ban hành khi có yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cơ quan, tổ chức, các cơ quan thông tin đại chúng và của cá nhân. Theo đó, có nghĩa là việc tự kiểm tra, xử lý đối với dạng văn bản trên chỉ được thực hiện khi nhận được yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cơ quan, tổ chức, các cơ quan thông tin đại chúng và của cá nhân hoặc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ người kiểm tra văn bản phát hiện ra. Còn đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật chỉ được tiến hành xử lý khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản phát hiện ra, hoặc là nếu cơ quan, tổ chức, các cơ quan thông tin đại chúng, cá nhân phát hiện thì cũng phải đề nghị, thông qua cơ quan này mới được xem xét, xử lý. Việc quy định như vậy gây cứng nhắc trong việc kiểm tra văn bản, không xử lý kịp thời những văn bản Quy phạm pháp luật trái luật và không nâng cao được trách nhiệm của cơ quan, người ban hành văn bản trái luật. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Về quyền khiếu nại, khiếu kiện đối với văn bản Quy phạm pháp luật: Nghị định 40/2010/NĐ-CP mới chỉ quy định về quyền khiếu nại, tố cáo đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản (ví dụ: tố cáo hành vi của cơ quan, người có văn bản được kiểm tra vì không tổ chức tự kiểm tra, xử lý khi có yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cơ quan thông tin đại chúng và cá nhân), còn cơ chế khiếu nại đến cơ quan hành chính có thẩm quyền hay khiếu kiện ra Toà án đối với cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật về việc đã ban hành văn bản trái luật gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, thì chưa được quy định bằng một văn bản pháp luật nào.

Theo nguyên tắc thì công dân khi thấy quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ. Trong thực tế đã có một số văn bản quy phạm vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng không được xử lý kịp thời vì chưa có cơ chế điều chỉnh bằng con đường toà án, còn các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý thì vẫn còn tâm lý e ngại, sợ đụng chạm trong việc kiểm tra phát hiện và xử lý.

Thứ hai, về tổ chức bộ máy thực hiện công tác kiểm tra văn bản.

Qua tìm hiểu được biết việc kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật hầu hết các nước trên thế giới theo cơ chế bảo hiến, toà án hành chính. Tức là công dân có căn cứ cho rằng một văn bản nào đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền kiện cơ quan ban hành văn bản ra Toà án Hành chính. Điển hình như ở CHLB Đức pháp luật cho phép người dân có quyền khiếu nại về văn bản Quy phạm pháp luật dưới luật trước Tòa án hành chính nếu cho rằng văn bản Quy phạm pháp luật đó xâm phạm đến quyền, lợi ích của họ (Điều 47 Luật Tố tụng hành chính của nước Cộng hòa Liên bang Đức công bố ngày 19/3/1991) hoặc CHLB Nga người dân có quyền khởi kiện ra Tòa bảo hiến. Ở nước ta, tổ chức bộ máy làm công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật vẫn còn là một vấn đề đang trong quá trình xây dựng.

Với các văn bản như Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp Nhà nước; Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT/BTP-BNV ngày 24/01/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 122/2004/NĐ – CP; Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương (Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/5/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ), đây là các văn bản pháp lý về mặt tổ chức, đã giúp cho các cơ quan tư pháp địa phương và tổ chức pháp chế Bộ, ngành phát huy tốt hơn vai trò tham mưu, giúp lãnh đạo địa phương, bộ, ngành triển khai có hiệu quả công tác theo thẩm quyền. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Theo các quy định hiện hành thì cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện chức năng kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được tổ chức từ cấp Trung ương đến cơ sở như sau :

Ở cấp trung ương: Chúng ta mới thành lập các tổ chức pháp chế ở các Bộ, ngành và các cơ quan chuyên môn giúp việc cho chính quyền địa phương thực hiện chức năng kiểm tra văn bản. Cục Kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật thuộc Bộ Tư pháp (được thành lập theo Quyết định số 336/2003/QĐ-BTP ngày 05/8/2003 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) là cơ quan có chức năng quản lý thống nhất công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Bộ, ngành và địa phương ban hành và tổ chức kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong đó Bộ trưởng Bộ Tư pháp giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật đối với “Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước’’ [16, Điều 12, 15].

Tổ chức pháp chế các Bộ, ngành được thành lập ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo quy định. Trong đó kiểm tra các văn bản có quy định liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành. [16, Điều 12].

Ở cấp địa phương: Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ; Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Cụ thể : Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

  • Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp tự kiểm tra văn bản do Ủy ban nhân dân cấp mình ban hành;
  • Thực hiện kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp dưới; hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp dưới kiểm tra, tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật ;
  • Thực hiện việc gửi văn bản Quy phạm pháp luật đến các cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra theo quy định ;
  • Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp mình quyết định các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật theo quy định của pháp luật.

Ban Pháp chế của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện giúp Hội đồng nhân dân cùng cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản do Hội đồng nhân dân ban hành.

Ban Tư pháp cấp xã giúp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.

Thứ ba, về quy định pháp luật về nghiệp vụ kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Cụ thể hoá Hiến pháp  năm 1992 ;  Luật ban hành  văn bản Quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996 và Luật số 02/2002/QH11 ngày 16/12/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật; Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, ngày 14/11/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định 135/2003/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, đây là căn cứ pháp lý cơ bản nhất quy định về kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Bộ, ngành và địa phương ban hành. Nghị định 135/2003/NĐ-CP đã quy định về nội dung, thẩm quyền, phương thức, trình tự thủ tục kiểm tra, tự kiểm tra, xử lý văn bản, cũng như việc khen thưởng, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản. Nhằm bảo đảm thi hành thống nhất Nghị định 135/2003/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 01/2004/TT – BTP ngày 16/6/2004 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 135/2003/NĐ-CP. Thông tư  đã quy định cụ thể về nghiệp vụ kiểm tra văn bản, từ việc cơ quan kiểm tra văn bản phải mở Sổ văn bản đến để theo dõi việc gửi và tiếp nhận văn bản được gửi đến để kiểm tra; lập Phiếu Kiểm tra văn bản khi phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật và thủ tục thông báo, theo dõi xử lý văn bản trái pháp luật. Sau một thời gian triển khai thực hiện, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP đã bộc lộ điểm hạn chế, bất cập không còn phù hợp với nội dung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008. Vì thế, ngày 12/4/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật thay thế Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy định mới của Luật cũng như phù hợp hơn với thực tiễn. Sau khi có Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. Như vậy, đến thời điểm hiện nay, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP và Thông tư số 20/2010/TT-BTP chính là cơ sở pháp lý quy định cụ thể về nghiệp vụ kiểm tra văn bản, đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được triển khai và dần dần đi vào nền nếp, ổn định, bước đầu khẳng định được vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Văn bản có vai trò quan trọng làm cơ sở pháp lý cho kiểm tra về thể thức, kỹ thuật trình bày và quản lý văn bản Quy phạm pháp luật đó là: Nghị định 110/2004/NĐ – CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư; Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2004/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT- BNV- VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.

Thứ tư, về quy định của pháp luật về các điều kiện bảo đảm cho hoạt động kiểm tra văn bản.

Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động kiểm tra văn bản bao gồm nhiều mặt khác nhau như: tài chính; cơ sở vật chất, trang thiết bị; cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản. Xuất phát từ nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, các bộ, ngành, địa phương đã quan tâm và đầu tư về kinh phí cũng như xây dựng cơ sở pháp lý

Về vấn đề tài chính, Thông tư số 122/2011/TTLT-BTP-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản Quy phạm pháp luật (Thay thế Thông tư liên tịch số 109/2004/TTLT-BTC-BTP ngày 17/11/2004 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật).

Các bảo đảm khác, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP và Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 quy định: “1. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định về các vấn đề thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình và các văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành hoặc liên tịch ban hành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm rà soát các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp mình ban hành để xây dựng Hệ cơ sở dữ liệu làm cơ sở pháp lý phục vụ cho việc kiểm tra, xử lý văn bản.

Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản thuộc Bộ Tư pháp, người đứng đầu tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện việc rà soát, xây dựng Hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc kiểm tra, xử lý văn bản theo thẩm quyền”.

Hệ cơ sở dữ liệu bao gồm: Các văn bản Quy phạm pháp luật đã được rà soát để xác lập làm cơ sở pháp lý; Kết quả kiểm tra và xử lý văn bản; Các thông tin về nghiệp vụ kiểm tra; Các thông tin, tài liệu, dữ liệu khác phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản. Hệ cơ sở dữ liệu bao gồm các tài liệu bằng văn bản, được phân loại, sắp xếp một cách khoa học và từng bước tin học hoá theo khả năng và điều kiện kinh phí cho phép để tiện quản lý, tra cứu và sử dụng.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Văn bản Quy phạm pháp luật là công cụ có hiệu quả giúp cho chính quyền địa phương thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương, đảm bảo cho việc quản lý toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương. Trong quá trình ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương không tránh khỏi có những sai trái, vi phạm pháp luật.

Văn bản Quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật sẽ gây ra những hậu quả lớn về mặt vật chất cho Nhà nước và nhân dân, làm giảm uy tín của nhân dân với chính quyền, giảm hiệu quả quản lý xã hội của Nhà nước. Do đó, để tránh những hậu quả xấu từ văn bản Quy phạm pháp luật trái luật gây ra và nâng cao chất lượng văn bản và trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong công tác soạn thảo, ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, cần phải có cơ chế bảo đảm cho chính quyền địa phương trong việc ban hành và quản lý văn bản Quy phạm pháp luật. Cơ chế đó chính là kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành.

Kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật và hướng tới mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật là hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, đòi hỏi người kiểm tra phải có chuyên môn, nghiệp vụ cao đồng thời rất cần sự phối hợp của nhiều chủ thể nhằm đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật nói riêng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung. Hoạt động kiểm tra được tiến hành trên ba phương thức chính đó là: Tự kiểm tra; kiểm tra theo thẩm quyền và kiểm tra khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (kiểm tra đột xuất).

Kiểm tra là hoạt động mang tính tiền đề để cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý. Khi tiến hành xử lý, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ áp dụng biện pháp hủy bỏ, bãi bỏ, đình chỉ, sửa đổi, bổ sung văn bản … mà còn xem xét, xử lý trách nhiệm pháp lý đối với cơ quan tham mưu soạn thảo, thẩm định và ban hành văn bản Quy phạm pháp luật bất hợp pháp; đối với cơ quan, người tiến hành kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có hành vi vi phạm pháp luật. Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *