Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Để đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện công tác kiểm tra và xử lý văn bản trước hết cần có cái nhìn tổng thể đối với hoạt động ban hành văn bản Quy phạm pháp luật và hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua.

2.1. Thực tiễn soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Xác định công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý, điều hành của các cấp chính quyền địa phương, do vâỵ, ngay sau khi Luâṭ ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 có hiêụ lưc̣ thi hành (từ ngày 01/4/2005) Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôị và tỉnh Hà Tây (trước đây) đã chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức quán triệt và nghiêm túc triển khai thực hiện Luật năm 2004 và các văn bản hướng dẫn . Đồng thời các văn bản tổ chức triển khai , thực hiện, đã được khẩn trương ban hành : Hội đồng nhân dân thành phố đa ̃ban hành Nghi ̣quyết số 04/2005/NQ-HĐND ngày 05/8/2005 về Kế hoạch triển khai Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội ; Ủy ban nhân dân thành phố đa ̃ban hành Quyết đinḥ số164/2006/QĐ-UB ngày 21/10/2005 về việc ban hành “Kế hoạch triển khai thực hiện Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội”.

Sau khi Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội về mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội có hiệu lực, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố đã kịp thời ban hành các Quyết định, Kế hoạch trong việc nhất thể hóa các chủ trương, chính sách trên địa bàn thành phố (Quyết định số 05/2008/QĐ-UBND ngày 04/9/2008 về việc tiếp tục áp dụng các văn bản, cơ chế chính sách do Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây, thành phố Hà Nội (cũ) cho đến khi có văn bản của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội thay thế; Kế hoạch số 08/KH-UBND ngày 12/9/2008 về rà soát, hợp nhất, xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Kế hoạch số 12/KH-UBND ngày 15/01/2009 về rà soát, hợp nhất và xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội năm 2009 kèm theo Quyết định số 508/QĐ-UBND ngày 23/01/2009). Quá trình triển khai Kế hoạch đã đạt được kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại nhất định, tiến độ thực hiện việc rà soát, ban hành không đáp ứng so với kế hoạch đề ra. Xác định rõ những nguyên nhân tồn tại, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Chỉ thị số 09/2009/CT-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2009 để đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành theo Kế hoạch. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Qua kết quả thống kê chung cho thấy Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội (bao gồm: thành phố, 29 đơn vị cấp huyện, 577 đơn vị cấp xã) đã ban hành tổng số:

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.1. Những kết quả đạt được của công tác soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thực tế công tác triển khai thi hành Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, trong những năm qua trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy, công tác xây dựng, ban hành văn bản Quy phạm pháp luật luôn được các cấp chính quyền quan tâm và đang dần đi vào nền nếp, chất lượng văn bản được nâng lên một bước. Về cơ bản, quy trình xây dựng, soạn thảo và ban hành được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo việc gửi dự thảo văn bản tới Ban Pháp chế, cơ quan Tư pháp cùng cấp để thẩm tra, thẩm định, góp phần đảm bảo về mặt pháp lý cho văn bản trước khi ký ban hành. Tránh được tình trạng trước đây văn bản được ban hành không qua cơ chế kiểm tra trước (hay còn gọi là tiền kiểm), gây ra những thiếu sót, vi phạm trong việc soạn thảo, ban hành văn bản.

Việc lập Chương trình xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố và văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố cơ bản đã được thực hiện theo quy định tại Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 quy định chi tiết Luật năm 2004 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 91/2006/NĐ-CP). Theo đó, từ quý IV năm trước, các Sở, Ngành dự kiến việc đề nghị thành phố ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành, gửi Sở Tư pháp; Sở Tư pháp phối hợp với Văn phòng Ủy ban nhân dân dự thảo và trình Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Kế hoạch. Trong quá trình thực hiện, do yêu cầu phát sinh trong hoạt động chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương hoặc văn bản của Trung ương thay đổi, thành phố đã ban hành Kế hoạch điều chỉnh về tiến độ, bổ sung các văn bản cần ban hành… Tuy nhiên, quá trình thực hiện trên thực tế cho thấy việc lập và thực hiện Kế hoạch ban hành văn bản của địa phương thường bị động, do các văn bản của Trung ương ban hành nhiều nhưng không đảm bảo đúng tiến độ đề ra, nên nhiều văn bản của địa phương đưa vào Kế hoạch phải chuyển sang năm sau, hoặc vừa mới ban hành phải sửa đổi, bổ sung… Theo quy định của Luật năm 2004 thì cấp huyện, cấp xã không phải lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên trên thực tế hàng năm các quận, huyện, thị xã đã ban hành Kế hoạch xây dựng văn bản. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Hàng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đều thực hiện việc ban hành Kế hoạch xây dựng, ban hành văn bản, theo đó văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc Sở, Ban, Ngành nào thì phân công, giao trách nhiệm cho Sở, Ngành đó chủ trì soạn thảo, dự thảo. Đối với những văn bản quy phạm pháp luật có nội dung điều chỉnh liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành thì Ủy ban nhân dân thành phố chỉ định cơ quan chủ trì soạn thảo. Các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành đều đảm bảo về trình tự, thủ tục xây dựng theo quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo Thủ trưởng các Sở, Ban, Ngành được giao nhiệm vụ soạn thảo đều phải thực hiện đúng quy trình về lấy ý kiến góp ý. Việc lấy ý kiến cơ quan, tổ chức và nhân dân vào các dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật thành phố được thực hiện có hiệu quả. Đối với văn bản của cấp huyện, cấp xã tùy tính chất và phạm vi điều chỉnh của văn bản, việc lấy ý kiến góp ý có thể trong phạm vi hẹp hay mở rộng các đối tượng liên quan.

Trong những năm đầu thi hành Luật việc thực hiện gửi hồ sơ thẩm định cho cơ quan Tư pháp cùng cấp trước khi ban hành còn chưa đảm bảo đúng quy định như: tỉ lệ các văn bản yêu cầu cơ quan Tư pháp thẩm định còn thấp, hồ sơ gửi thẩm định không đầy đủ các tài liệu theo quy định, các ý kiến thẩm định của cơ quan Tư pháp (chủ yếu ở cấp huyện) chất lượng chưa cao… Tuy nhiên, tình trạng này được chấn chỉnh, nên công tác thẩm định đã dần đi vào nền nếp (đặc biệt là cấp thành phố). Việc thẩm định văn bản của cơ quan Tư pháp theo quy định của Luật là một khâu quan trọng trong việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn.

Việc thẩm tra dự thảo Nghị quyết đã được các Ban của Hội đồng nhân dân thực hiện nghiêm túc, đúng trình tự thủ tục, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Báo cáo thẩm tra đã đảm bảo các vấn đề cơ bản như: sự cần thiết ban hành, căn cứ ban hành Nghị quyết, sự phù hợp của Nghị quyết với các văn bản của Nhà nước và tình hình thực tế của địa phương, những ý kiến còn khác nhau… tạo cơ sở cho đại biểu xem xét, đánh giá thảo luận toàn diện về dự thảo Nghị quyết. Tuy nhiên, do việc các thành viên của các Ban (ở cấp huyện) đa số hoạt động kiêm nhiệm nên điều kiện nghiên cứu tổ chức khảo sát thực tế để lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Nghị quyết… còn gặp khó khăn, phần nào đã ảnh hưởng đến chất lượng thẩm tra. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Việc xem xét, thông qua dự thảo Nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được thực hiện đảm bảo đúng quy định. Đại diện Uỷ ban nhân dân trình bày dự thảo nghị quyết; đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra. Sau đó Hội đồng nhân dân thảo luận, tiến hành biểu quyết thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành và Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực Nghị quyết. Nhìn chung, việc thông qua dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố được thực hiện đúng theo quy định của Luật năm 2004. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện không được thông qua tại cuộc họp Ủy ban nhân dân, mà chỉ lấy ý kiến của các thành viên hoặc trình lãnh đạo phụ trách ký ban hành.

Các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành được thực hiện theo đúng các quy định tại Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, cụ thể: Đối với văn bản cấp thành phố đăng công báo của Ủy ban nhân dân thành phố, đăng và đưa tin trên cổng giao tiếp điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố và Báo pháp luật & xã hội (Sở Tư pháp). Đối với văn bản cấp huyện, cấp xã được niêm yết tại trụ sở cơ quan ban hành, đưa tin trên trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh huyện, xã hoặc cổng giao tiếp điện tử.

Việc mở sổ theo dõi, lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo đúng pháp luật về công tác văn thư, lưu trữ. Cổng giao tiếp điện tử thành phố đã đăng tải hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của thành phố, trang Công báo tạo điều kiện cho tổ chức, công dân và cán bộ công chức trong việc khai thác văn bản. Tuy nhiên, tại cấp quận, huyện chưa thiết lập cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật. Một số đơn vị chưa thực hiện việc theo dõi số văn bản Quy phạm pháp luật riêng, mà chung cùng với văn bản hành chính (chưa tuân thủ đúng theo quy định tại Điều 7 Luật năm 2004).

2.1.2. Những tồn tại vướng mắc trong công tác soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Nhìn chung, công tác soạn thảo, ban hành văn bản nói chung, văn bản Quy phạm pháp luật nói riêng đã được Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, các ngành trên địa bàn thành phố quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Việc tập huấn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về công tác xây dựng, kiểm tra văn bản như Luật năm 2004, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP của liên Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản (sau đây viết tắt là Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP…) đã được đa số các cơ quan, Ban, Ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc. Phần lớn các cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp đã có sự chủ động trong việc soạn thảo văn bản Quy phạm pháp luật để trình cơ quan có thẩm quyền ban hành. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại vướng mắc cần phải khắc phục đó là:

Việc lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật còn một số tồn tại như: một số cơ quan thành phố và phòng chuyên môn cấp huyện chưa chủ động đề nghị dự kiến việc xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp mình theo quy định. Việc thực hiện Kế hoạch ban hành văn bản hàng năm thường thay đổi do không đáp ứng đúng tiến độ, hoặc bị động do các văn bản của cơ quan cấp trên thay đổi. Một số Sở, Ngành khi đề nghị điều chỉnh Chương trình ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của thành phố đã không thực hiện đúng trình tự, nội dung theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 16 Nghị định số 91/2006/NĐ-CP;

Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên môn tham mưu giúp việc cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản có lúc còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.

Chất lượng soạn thảo, xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật của một số cơ quan, ban, ngành, phòng chuyên môn còn hạn chế. Trong quá trình soạn thảo văn bản, đa phần các cơ quan chủ trì soạn thảo chỉ chú trọng đến quy định của pháp luật đối với lĩnh vực chuyên ngành mà ít quan tâm đến các văn bản pháp luật khác, còn xem nhẹ phương pháp, cách thức xây dựng, kỹ thuật soạn thảo văn bản Quy phạm pháp luật. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Một số cơ quan chưa chủ động trong việc tham mưu Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành văn bản Quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành. Văn bản Quy phạm pháp luật ban hành có lúc còn chưa đáp ứng kịp thời với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị , phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương . Nôị dung môṭ số văn bản quy phaṃ pháp luâṭ do cấp huyêṇ và cấp xa ̃ban hành còn sao chép hoặc quy định laị các quy đinḥ của văn bản cơ quan cấp trên.

Mặc dù theo quy đinḥ của Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật dư ̣thảo Quyết đinḥ, Chỉ thị phải được cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân, nhưng thưc̣ tế số lượng các văn bản quy phạm pháp luật do Phòng tư pháp cấp huyêṇ thẩm định chưa đảm bảo đạt tỷ lệ 100%. Bên cạnh đó văn bản thẩm định của cơ quan Tư pháp chỉ có giá trị tư vấn. Cơ quan soạn thảo có thể tiếp thu hoặc không. Việc tham gia ý kiến của các cơ quan có liên quan còn sơ sài, hình thức và thường không đáp ứng được về thời gian.

Ở cấp huyện, cấp xã vẫn còn tình trạng cơ quan chủ trì soạn thảo trực tiếp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký ban hành mà không được thực hiện việc biểu quyết thông qua các thành viên Ủy ban nhân dân, chính vì vậy, trong số các văn bản được ban hành vẫn còn những văn bản trái pháp luật.

Nhìn chung, với số lượng văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố ban hành đã điều chỉnh được các quan hệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng và phát triển đô thị,… bảo đảm thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ được tăng cường trong công tác quản lý nhà nước, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Tuy nhiên, xét về mặt chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, như: Tình trạng văn bản còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất trong hệ thống văn bản từ trung ương đến địa phương; còn có nhiều văn bản quy định trái thẩm quyền, không phù hợp với quy định của Trung ương; Vẫn tồn tại nhiều văn bản không chứa các Quy phạm pháp luật nhưng lại được ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật và ngược lại có văn bản có chứa Quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật. Một số đơn vị cấp huyện, cấp xã chưa xác định chính xác nội dung văn bản nào được ban hành dưới hình thức văn bản Quy phạm pháp luật, văn bản nào chỉ được ban hành bằng hình thức văn bản hành chính thông thường, do đó nhiều nội dung quản lý không cần thiết, không mang tính quy phạm vẫn được các ngành đề xuất ban hành dưới hình thức văn bản Quy phạm pháp luật. Điển hình là việc ban hành Nghị quyết của HĐND, như: Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng 6 tháng, hàng năm; về xác nhận kết quả bầu cử thành viên Ủy ban nhân dân; hoặc Quyết định của Uỷ ban nhân dân quận, huyện về việc thành lập đơn vị trực thuộc, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân vẫn được ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật; Về thể thức văn bản các cấp chính quyền vẫn chưa tuân thủ một cách đồng bộ các quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.

Qua công tác tự kiểm tra và kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành, chúng tôi tổng hợp những vi phạm chủ yếu của văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành như sau:

Về thể thức văn bản: Văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương các cấp đến thời điểm hiện nay vẫn chưa thực hiện đồng bộ theo quy định của Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004; Thông tư liên tịch 55/2005/TTLT-BNV-VPVP hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, như một số đơn vị chưa phân biệt được về mặt nội dung và thể thức giữa văn bản Quy phạm pháp luật và văn bản hành chính thông thường. Về số và ký hiệu văn bản, không ghi năm ban hành ở giữa số và ký hiệu văn bản Quy phạm pháp luật, vẫn còn viết tắt “Uỷ ban nhân dân” là “UB”; Địa danh ban hành chưa ghi đúng, như địa danh mang tên người thì phải thêm cấp hành chính ở phía trước, ví dụ: “Phường Lý Thái Tổ” ; Thẩm quyền ban hành: vẫn ký với tư cách cá nhân Chủ tịch Ủy ban nhân dân đối với văn bản Quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân (còn có địa phương ký Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tư cách TM. tập thể Ủy ban nhân dân), hay như vẫn ký TM. Hội đồng nhân dân, TM. TTHĐND thay vì phải ký chứng thực đối với Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký trực tiếp vào Nghị quyết); Đa số các văn bản Quy phạm pháp luật vẫn chưa thực hiện việc ghi vào mục “Nơi nhận”cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản và cũng chưa gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra theo luật định; Các văn bản phụ kèm theo Quyết định như: Quy định, Quy chế, Hướng dẫn,… không được đính kèm văn bản chính, gây khó khăn cho việc tra cứu và kiểm tra văn bản. Ngoài ra còn những lỗi sai về chính tả, không đúng văn phong pháp luật, làm giảm tính trang trọng và rõ ràng của văn bản. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Về nội dung văn bản: Còn tồn tại nhiều văn bản viện dẫn căn cứ pháp lý cho việc ban hành là văn bản đã hết hiệu lực, không phải là văn bản Quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, hay viện dẫn văn bản hành chính thông thường, văn bản không trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực ban hành; Về thời điểm có hiệu lực của văn bản, nhiều văn bản vẫn còn quy định “văn bản có hiệu lực kể từ ngày ký”.

Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều văn bản không chứa đựng các Quy phạm pháp luật (các quy tắc xử sự) nhưng lại được ban hành dưới hình thức văn bản Quy phạm pháp luật, tức là chưa phân biệt được thẩm quyền về nội dung và hình thức văn bản và các yếu tố cấu thành của một văn bản Quy phạm pháp luật, ví dụ các Quyết định về việc thành lập các đơn vị trực thuộc; Nghị quyết về phê duyệt thu chi ngân sách của địa phương… hay văn bản hành chính thông thường như Công văn, Thông báo có chứa Quy phạm pháp luật.

Đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng văn bản có nội dung không phù hợp với quy định của Trung ương, vi phạm Hiến pháp, ví dụ như: Quyết định số 51/2009/QĐ-UBND (ngày 22/01/2009) của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành “Quy định về quản lý hoạt động giết mổ, vận chuyển, chế biến, buôn bán gia súc, gia cầm trên địa bàn TP Hà Nội” trong đó có một số quy định mang tính cấm đoán, không có căn cứ, hạn chế quyền của các đối tượng đã được qui định tại Điều 1 và 2 của Quyết định, gây hiểu nhầm, đồng thời có thể dẫn đến việc áp dụng xử lý tuỳ tiện…; Quyết định số 78/2006/QĐ-UBND ngày 25/5/2006 của Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quy chế khuyến khích đầu tư xây dựng khách sạn cao cấp trên địa bàn thành phố Hà nội, tại khoản 3.3 Điều 3 Quyết định số 78/2006/QĐ-UBND quy định việc thẩm tra, quyết định đầu tư dựa trên quy mô vốn là 200 tỷ đồng (không phân theo quy mô 300 tỷ đồng, dự án đầu tư trong nước và dự án đầu tư nước ngoài, thuộc hay không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện ). Điều này là không phù hợp với quy định của Luật Đầu tư hiện hành; – Quyết định số 375/2008/QĐ-UBND ngày 18/09/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Thường Tín về việc ban hành quy chế điều động, thuyên chuyển cán bộ, giáo viên, nhân viên ngành giáo dục và đào tạo huyện Thường Tín có nội dung không phù hợp với quy định tại Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Nguy hiểm hơn nữa là văn bản Quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật nhưng không được phát hiện, kiểm tra để xử lý kịp thời. Ví dụ : Quyết định số 6874/QĐ- UB ngày 14/11/2003 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội V/v Cấm người lang thang đánh giày, bán rong sách báo và hàng lưu niệm tại các khách sạn, các điểm tham quan du lịch ; người chờ việc vạ vật, gây mất trật tự, mỹ quan đô thị và cản trở giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đây là một văn bản có chứa Quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật (không có số năm ban hành ở giữa số và cơ quan ban hành). Về mặt nội dung, văn bản trên đã vi phạm về thẩm quyền: quy định hành vi và hình thức xử lý dựa trên cơ sở một đề án! Đề án số 719/ĐA – LĐTBXH ngày 18/8/2003 của Sở Lao động TB&XH đã được Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt (các đối tượng trên bị thu gom để giáo dục lao động lâu dài tại Trung tâm Bảo trợ xã hội), chứ không phải dựa trên cơ sở pháp lý là một văn bản luật hay nghị định nào của Quốc hội hay Chính phủ quy định.

Trong thực tế vận dụng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm cũng có những vướng mắc trong việc các cơ quan nên ban hành văn bản Quy phạm pháp luật dưới hình thức nào cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn quản lý. Ví dụ như: Để chuẩn bị cho việc tổ chức các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã phối hợp ban hành Kế hoạch liên tịch quy định những nội dung chuẩn bị cho kỳ họp. Văn bản này có chứa đựng các Quy phạm pháp luật, song không thể ban hành bằng hình thức văn bản Quy phạm pháp luật, vì theo quy định của pháp luật chỉ Hội đồng nhân dân mới được ban hành văn bản Quy phạm pháp luật dưới hình thức duy nhất là Nghị quyết, Thường trực Hội đồng nhân dân không có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, hơn nữa pháp luật cũng không quy định loại văn bản liên tịch của 2 cơ quan trên là văn bản Quy phạm pháp luật. Do đó khi cần có văn bản để phối hợp thực hiện công tác giữa Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác, thì phải ban hành văn bản dưới dạng văn bản hành chính thông thường. Như vậy, hình thức văn bản này lại không đúng quy định pháp luật và thuộc đối tượng bị kiểm tra theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP.

Về việc quản lý văn bản Quy phạm pháp luật ở địa phương (chủ yếu là chính quyền cấp xã, phường) chưa tuân thủ theo Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư và các văn bản pháp luật khác có liên quan, như việc chưa phân loại quản lý giữa văn bản Quy phạm pháp luật và văn bản hành chính khác; Không lấy số, vào sổ đăng ký văn bản Quy phạm pháp luật riêng; không lưu văn bản Quy phạm pháp luật tại văn phòng HĐND – Ủy ban nhân dân theo đúng quy định (văn bản của Hội đồng nhân dân thì Hội đồng nhân dân lưu, thậm chí còn giữ luôn cả con dấu).

Thực trạng công tác soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản Quy phạm pháp luật như trên có nhiều nguyên nhân, một số nguyên nhân cơ bản là: Một số lãnh đạo cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật như là một trong những hoạt động chủ yếu của công tác quản lý nhà nước, là chức năng cơ bản của nhà nước; Pháp luật của chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và rất phức tạp, nhiều tầng nấc. Bên cạnh đó, những điều kiện đảm bảo cho việc cập nhật kịp thời những văn bản mới thay đổi để triển khai vận dụng thống nhất ở địa phương còn chưa đạt yêu cầu. Trong một số luật, pháp lệnh, nghị quyết và văn bản hướng dẫn thi hành nhiều quy định còn thiếu chi tiết, cụ thể, mới dừng lại ở những nguyên tắc chung, chưa xác định rõ những nội dung cụ thể, việc ban hành văn bản hướng dẫn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai vận dụng để quản lý nhà nước. Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, nghiên cứu, soạn thảo văn bản Quy phạm pháp luật ở các cấp chính quyền còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Một số địa phương khi soạn thảo, ban hành văn bản có biểu hiện cục bộ, đưa ra những quy định tạo thuận lợi cho địa phương, mình quản lý gây hậu quả vi phạm đến tính thống nhất và hiệu lực của văn bản; Việc xử lý vi phạm trong việc ban hành văn bản Quy phạm pháp luật chưa tốt; Bên cạnh đó, việc đầu tư kinh phí cho việc công tác văn bản chưa hợp lý, chưa đáp ứng kịp thời và đầy đủ các yêu cầu. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Do vậy, để đảm bảo yêu cầu chất lượng văn bản Quy phạm pháp luật trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cần phải có một cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

2.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành

Để đánh giá đầy đủ, khách quan về công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật cần phải có được cái nhìn tổng thể về tổ chức bộ máy, về thể chế, tình hình thực tiễn trong công tác này cũng như xem xét đến các điều kiện, phương tiện đảm bảo cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản. Có thể đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua trên các mặt hoạt động của công tác này như sau:

2.2.1. Về tổ chức bộ máy Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Trên cơ sở Nghị định số 122/2004/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT/BTP-BNV ngày 24/01/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 122/2004/NĐ – CP và các văn bản hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương, thành phố Hà Nội đã xây dựng và từng bước kiện toàn bộ máy, biên chế cho công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật.

Tại cấp tỉnh, thời điểm trước khi Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc Hội về mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội có hiệu lực, công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật được giao cho Phòng Văn bản pháp quy thuộc Sở Tư pháp thành phố Hà Nội (cũ) và Phòng Xây dựng và Kiểm tra văn bản thuộc Sở Tư pháp Hà Tây (cũ). Sau khi Nghị quyết số 15/2008/QH12 có hiệu lực, để chuyên môn hoá công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố thành lập Phòng Kiểm tra văn bản thuộc Sở Tư pháp, việc thành lập phòng chuyên trách về kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật đã góp phần làm cho công tác quản lý và phân công trách nhiệm rõ ràng hơn.

Tính đến thời điểm hiện nay Sở Tư pháp có hai phòng chuyên môn thực hiện nhiệm vụ về công tác văn bản với tổng số 17 công chức. Trong đó: 10 cán bộ, công chức làm công tác xây dựng văn bản ( Trình độ chuyên môn: Đại học: 10 (02 cán bộ đang học thạc sỹ); 07 cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, rà soát văn bản (Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 02, Đại học: 5 (01 cán bộ đang học thạc sỹ). Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Cùng với việc xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác văn bản tại Sở Tư pháp, các sở, ngành trên địa bàn thành phố đã quan tâm bố trí cán bộ pháp chế có trình độ chuyên ngành Luật thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản. Hiện nay, trên địa bàn thành phố đã có 03 cơ quan thành lập Phòng pháp chế. Số lượng cán bộ pháp chế thuộc các sở ngành là 64 (trong đó có 14 cán bộ là chuyên trách, còn lại là kiêm nhiệm). Trình độ: Thạc sỹ: 05, Đại học 59.

Mặc dù phần lớn cán bộ pháp chế tại các sở, ngành thực hiện công tác kiêm nhiệm nhưng bước đầu đã xây dựng được đầu mối trong công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của các sở, ngành trên địa bàn thành phố.

Ngoài ra, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội còn không ngừng quan tâm kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật ở các cơ quan khác như: Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố; Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố (hiện tại có 03 cán bộ có trình độ Thạc sỹ làm công tác kiểm tra văn bản).

Tại cấp huyện, Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Hiện nay, biên chế chính thức của Phòng Tư pháp từ 3 đến 6 người, phân công một đến hai cán bộ làm công tác thẩm định, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện có 42 cán bộ, công chức làm công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản tại 29 quận, huyện, thị xã. Trong đó có trình độ chuyên môn Thạc sỹ là 04, Đại học là 38.

Bên cạnh đó thì công tác văn bản ở cấp huyện được giao cho đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Hiện tại, tại mỗi quận, huyện, thị xã có 01 cán bộ, công chức làm công tác văn bản (Tổng số 29 cán bộ, công chức trên 29 đơn vị cấp huyện. Trong đó trình độ Thạc sỹ: 05, Đại học: 24.

Tại cấp xã, công tác văn bản được giao cho Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã và đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch (chủ yếu kiêm nhiệm công tác văn bản). Trên địa bàn thành phố hiện có 577 cán bộ thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã (Trình độ: Đại học: 358, Trung cấp: 219) và 577 cán bộ, công chức Tư pháp – Hộ tịch (Trình độ: Đại học: 412, Trung cấp: 165). Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Nhìn chung, về cơ bản đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản trên địa bàn thành phố Hà Nội đã từng bước được kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng. Tuy nhiên, các hoạt động liên quan đến văn bản là một lĩnh vực khó, cần phải nghiên cứu chuyên sâu, đòi hỏi cán bộ phải có trình độ chuyên môn tốt, am hiểu về tình hình chính trị, xã hội cũng như kinh nghiệm, trong khi đó thời gian qua lực lượng cán bộ, công chức làm công tác này còn mỏng, thiếu tính ổn định hoặc kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ (phần lớn cán bộ pháp chế Sở, ngành và Tư pháp cấp huyện, cấp xã còn kiêm nhiệm) nên chưa đáp ứng yêu cầu công việc được giao, không nhận diện được chính xác đối tượng kiểm tra; không đánh giá chính xác được các dấu hiệu bất hợp pháp và bất hợp lý của văn bản Quy phạm pháp luật; kiểm tra mang tính hình thức; bỏ lọt nhiều văn bản chưa được kiểm tra; chưa biết sử dụng công nghệ để tìm kiếm văn bản Quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý cho hoạt động kiểm tra… Thực tế này diễn ra không chỉ đối với cán bộ kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật mà cả cán bộ tham mưu ban hành văn bản Quy phạm pháp luật.

2.2.2. Về mặt thể chế

Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã tích cực xây dựng hoàn thiện thể chế, tạo lập khung pháp lý phục vụ cho hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của địa phương ngày càng đi vào nền nếp và ổn định. Trên cơ sở các văn bản Quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành và hướng dẫn của Bộ Tư pháp như: Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Nghị định số 135/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật; Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và sau đó là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật và Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã chủ động xây dựng và hoàn thiện thể chế về kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật làm cơ sở để triển khai tại địa phương mình. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Để triển khai công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Chỉ thị 04/2005/CT- UB ngày 11/01/2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội (cũ) Chỉ thị số 32/2004/CT-UB ngày 04/8/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây về việc triển khai thực hiện Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, theo đó chỉ đạo và phân công trách nhiệm cho các Sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong việc xây dựng, ban hành, kiểm tra, tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10/2005, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội (cũ) và tỉnh Hà Tây (trước đây) đã ban hành Kế hoạch kiểm tra văn bản và thực hiện các nội dung của Chỉ thị. Hàng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đều xây dựng kế hoạch kiểm tra văn bản trên địa bàn thành phố.

Tuy nhiên sau thời gian thực hiện vẫn còn những hạn chế, bất cập trong công tác kiểm tra văn bản, nhằm thống nhất việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ này sau khi địa giới thủ đô Hà Nội mở rộng, ngày 06/01/2009 Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Chỉ thị số 01/2009/CT-UBND về tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố, chỉ đạo các ngành, các cấp có biện pháp khắc phục những tồn tại, đẩy mạnh tiến độ thực hiện việc kiểm tra, rà soát và ban hành văn bản. Đồng thời hàng năm Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các Kế hoạch kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Bên cạnh đó, nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại trong hoạt động ban hành, kiểm tra văn bản, ngày 01/3/2012 Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ban hành Quy định về Quy trinh̀ soaṇ thảo , thẩm đinḥ , ban hành văn bản quy phaṃ pháp luâṭ UBND thành phố và dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố do Ủy ban nhân dân thành phố trình. Hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố đã giao Sở Tư pháp nghiên cứu hoàn thiện “Quy chế kiểm tra , xử lý văn bản quy phaṃ pháp luâṭ trên điạ bàn thành phố Hà Nôị” để xem xét ban hành.

Mặc dù, đã có các Nghị định, Thông tư quy định về công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật và các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố, nhưng công tác kiểm tra và xử lý văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do các văn bản nêu trên chưa quy định đầy đủ căn cứ pháp lý ban hành văn bản; thẩm quyền ban hành văn bản (cả thẩm quyền hình thức và nội dung). Ví dụ: Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân mới chỉ quy định một cách chung chung nội dung Nghị quyết của Hội đồng nhân dân là để quyết định chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, …trên địa bàn. Do đó tình trạng hiện nay hầu như tất cả nghị quyết do Hội đồng nhân dân ban hành đều được liệt kê vào văn bản Quy phạm pháp luật mặc dù không có đủ các yếu tố cấu thành một văn bản Quy phạm pháp luật, như nghị quyết về việc phê chuẩn danh sách bầu cử, … nó không hề chứa quy phạm, quy tắc xử sự, nghị quyết đó chỉ là dạng nghị quyết mang tính hành chính thông thường. Các quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày còn thiếu, chưa đồng bộ dẫn đến sự không thống nhất trong việc soạn thảo, ban hành văn bản.

Bên cạnh đó, việc quy định trách nhiệm và các biện pháp xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật, cũng như cơ quan, người đã tham mưu, trình văn bản có nội dung trái pháp luật cũng chưa được quy định cụ thể rõ ràng, điều này cũng là nguyên nhân làm cho công tác kiểm tra văn bản, đặc biệt là công tác tự kiểm tra chưa được triển khai thống nhất và đi vào nền nếp, chưa phát huy được vai trò để nâng cao chất lượng ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân.

2.2.3. Về chế độ chính sách và các điều kiện khác đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Với sự ra đời của Thông tư số 122/2011/TTLT-BTP-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp, quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản Quy phạm pháp luật, mức hỗ trợ kinh phí đã được nâng lên đáng kể.

Đối với thành phố: Quý IV hàng năm các Sở, Ban, Ngành trên cơ sở dự kiến Chương trình xây dựng văn bản của thành phố do mình chủ trì soạn thảo, đã tiến hành lập dự toán kinh phí phục vụ cho công tác soạn thảo, kiểm tra, rà soát văn bản. Sở Tài chính tổng hợp chung các Sở, ngành và báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân quyết định Dự toán ngân sách năm tới tại kỳ họp.

Đối với cấp huyện: Kinh phí hỗ trợ cho công tác văn bản cấp huyện nhìn chung đã được Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện quan tâm, tuy nhiên kinh phí ở mỗi địa phương là khác nhau, mức hỗ trợ từ 15 – 70 triệu đồng/năm, một số đơn vị kinh phí cho công tác văn bản được phân bổ trong khoán chi của các đơn vị , chưa có kinh phí hỗ trợ riêng.

Việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu văn bản là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Ủy ban nhân dân thành phố quan tâm thực hiện. Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập Trung tâm Công báo của thành phố, Trung tâm Cơ sở dữ liệu điện tử. Công tác tin học hóa công tác kiểm tra được đầu tư đúng mức. Kinh phí, trang thiết bị để phục vụ công tác kiểm tra văn bản, đặc biệt là kinh phí cho công tác xây dựng hệ cơ sở dữ liệu, công tác rà soát hệ thống hóa đã được quan tâm giải quyết. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Nhìn chung, việc đầu tư về kinh phí, trang thiết bị và nguồn nhân lực hiện nay trên địa bàn thành phố đã được quan tâm thực hiện, phần nào đã đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của các cấp, các ngành trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên chế độ kinh phí được quy định tại Thông tư liên tịch số 122/TTLT-BTC-BTP ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật quá thấp, chưa xứng với tầm quan trọng của công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Cơ chế tài chính, chế độ bồi dưỡng và mức chi như hiện nay chưa phù hợp với thực tế, bên cạnh đó cũng không có chế độ nhằm động viên, khuyến khích, hỗ trợ cho người làm công tác kiểm tra. Do đó, cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế. Với điều kiện nguồn kinh phí còn chưa phù hợp, chưa tương xứng với công việc kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật (có những văn bản Quy phạm pháp luật cán bộ kiểm tra phải xem xét, rà soát kỹ lưỡng mọi dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý trong nhiều ngày mới hoàn thành) đã trở thành nguyên nhân làm cho hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được tiến hành chậm, bỏ sót nhiều nội dung phải kiểm tra, thậm chí bỏ sót cả văn bản Quy phạm pháp luật không được kiểm tra. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu hiện nay chủ yếu được cập nhật một cách cơ học, chưa thực hiện việc rà soát và chuẩn hóa hiệu lực pháp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu cập nhật nhanh chóng, chưa được phân loại theo những tiêu chí phù hợp với việc phân chia thẩm quyền kiểm tra. Chính vì vậy việc tìm kiếm văn bản Quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý cho hoạt động kiểm tra khá khó khăn.

2.2.4. Một số kết quả và hạn chế trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

2.2.4.1. Công tác tự kiểm tra, kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo thẩm quyền

2.2.4.1.1. Những kết quả trong hoạt động tự kiểm tra, kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo thẩm quyền.

Công tác tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được tổ chức thường xuyên. Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành thuộc Ủy ban nhân dân thành phố phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp là cơ quan đầu mối chủ trì thực hiện việc tham mưu giúp Ủy ban nhân dân thành phố tự kiểm tra văn bản do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành. Qua tự kiểm tra đã phát hiện một số văn bản sai về thể thức, kỹ thuật trình bày hoặc chưa phù hợp với quy định pháp luật cấp trên, như: Phần lớn các Chỉ thị do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành đều có thể thức là Chỉ thị cá biệt (số, ký hiệu không có năm ban hành văn bản), trong khi nội dung có chứa quy phạm pháp luật; một số văn bản về kỹ thuật trình bày còn quy định lại các quy định của văn bản nhà nước cấp trên. Đã phát hiện một số văn bản có quy định chưa phù hợp kịp thời điều chỉnh như: Quyết định số 51/2009/QĐ-UBND ngày 22/01/2009 ban hành Quy định về quản lý hoạt động giết mổ, vận chuyển, chế biến, buôn bán gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố đã kịp thời ban hành Quyết định số 61/2009/QĐ-UBND ngày 17/4/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp; một số điểm tại Quyết định số 11/2010/QĐ-UBND ngày 23/02/2010 quy định quản lý chất thải rắn thông thường trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa phù hợp với quy định pháp luật; Quyết định số 52/2010/QĐ-UBND ngày 25/10/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai thuộc các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Hà Nội cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 … Tính từ 01/8/2008 đến nay Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành và tổ chức tự kiểm tra 398 văn bản, trong đó: 72 Nghị quyết; 253 Quyết định và 73 Chỉ thị. Công tác tự kiểm tra được thực hiện ngay sau khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành văn bản để kịp thời phát hiện và khắc phục những thiếu sót. Ngoài việc kiểm tra văn bản sau khi ban hành, Ủy ban nhân dân Thành phố đã thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành từ ngày 01/8/2008 đối với lĩnh vực: công thương, giao thông vận tải, lao động, thương binh và xã hội. Thông qua đó đã kịp thời phát hiện và sửa đổi những văn bản không phù hợp hoặc đình chỉ thi hành đối với những văn bản có chứa Quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật.

Đối với cấp huyện: Năm 2011 Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã tự kiểm tra 79.429 văn bản, trong đó: 401 văn bản quy phạm pháp luật và 79.018 văn bản không phải là quy phạm pháp luật. Trong số 79.429 văn bản tự kiểm tra đã phát hiện 592 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (38 văn bản quy phạm pháp luật và 554 văn bản có chứa quy phạm pháp luật) với 612 nội dung trái pháp luật (trái căn cứ pháp lý 22 văn bản; trái nội dung 01 văn bản; trái trình tự thủ tục ban hành 01 văn bản; sai thể thức kỹ thuật trình bày 588 văn bản). Qua công tác tự kiểm tra, các văn bản có nội dung trái pháp luật đã được Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã xử lý theo đúng quy định (592 văn bản). Nhìn chung, phần lớn tại các quận, huyện, thị xã công tác tự kiểm tra văn bản chưa được tiến hành thường xuyên; trong hoạt động giúp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thực hiện tự kiểm tra văn bản chủ yếu do Phòng Tư pháp, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thực hiện, chưa có sự phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị trên địa bàn. Chất lượng tự kiểm tra chưa cao, một số văn bản có nội dung trái pháp luật nhưng chưa được phát hiện kịp thời hoặc do cán bộ làm công tác tự kiểm tra chưa nắm rõ về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật nên chỉ phát hiện 01 văn bản sai về trình tự, thủ tục ban hành. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Công tác kiểm tra theo thẩm quyền luôn được Ủy ban nhân dân thành phố quan tâm, chỉ đạo. Hàng năm đều ban hành Kế hoạch cụ thể kiểm tra đối với các quận, huyện, thị xã trên địa bàn. Công tác này ngày càng được đẩy mạnh đặc biệt kể từ sau khi địa giới hành chính thành phố Hà Nội được mở rộng. Trong 3 năm (2009, 2010, 2011) Đoàn kiểm tra của thành phố đã tiến hành kiểm tra 29/29 quận, huyện, thị xã, với tổng số 1.102 văn bản được kiểm tra, trong đó: 337 Nghị quyết, 485 Quyết định và 280 Chỉ thị. Qua kiểm tra đã chỉ ra thiếu sót trong công tác ban hành văn bản như: Sai về thẩm quyền, quy định lại những nội dung đã được các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên quy định cụ thể, chi tiết; nhầm lẫn về hình thức văn bản quy phạm pháp luật (văn bản có chứa quy phạm pháp luật, quy tắc xử sự chung nhưng không được ban hành dưới hình thức quy phạm pháp luật hoặc văn bản nội dung không có tính quy phạm lại được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật…) ví dụ, kết quả kiểm tra văn bản trên địa bàn quận Tây Hồ ban hành năm 2010, 2011 cho thấy khá nhiều văn bản sai về thể thức như Nghị quyết số 16/NQ-HĐND ngày 22/7/2011 về việc ban hành quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân quận Tây Hồ, Quyết định số 1918/QĐ-UBND ngày 20/5/2010 V/v ban hành Quy chế tổ chức hoaṭ đông̣ của Bô ̣phâṇ tiếp nhâṇ và trả kết quả của Ủy ban nhân dân quâṇ Tây Hồ thưc̣ hiêṇ cơ chế môṭ cửa , cơ chế môṭ cửa liên thông ; Chỉ thị số 07/CT-UBND ngày 13/8/2010 về việc tăng cường quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn quận Tây Hồ; Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 25/4/2011 về việc tăng cường công tác quản lý Hồ Tây; viện dẫn căn cứ pháp lý thiếu hoặc văn bản đã hết hiệu lực…; thời điểm hiệu lực của văn bản không đúng quy định (kể từ ngày ký hoặc không quy định hiệu lực tại văn bản), kỹ thuật soạn thảo và thể thức trình bày, trình tự ban hành văn bản chưa đúng quy định như văn bản không có ý kiến thẩm định của cơ quan tư pháp cùng cấp, không lưu trữ đầy đủ hồ sơ ban hành; sau khi ban hành không gửi đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra theo quy định; việc đánh số thứ tự, ký hiệu chưa đúng quy định… Bên cạnh những thiếu sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, qua kiểm tra tại các quận huyện đã phát hiện một số văn bản Quy phạm pháp luật có nội dung quy định không phù hợp với văn bản cấp trên; ví dụ như: Quyết định số 08/2010/QĐ-UBND quy định phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm có nhiệm vụ là “quản lý hoạt động của Văn phòng đăng ký đất và nhà”. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 4 Mục II Phần II Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2008 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các cấp quy định Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có nhiệm vụ “quản lý hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp huyện”. Do vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm quy định như trên là không đúng về tên gọi của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Ngoài ra, Khoản 4 Mục II Điều 1 Quyết định số 08/2010/QĐ-UBND quy định phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lâm có nhiệm vụ “phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc hoạch định địa giới hành chính xã, thị trấn, quản lý các dấu mốc đo đạc, mốc địa giới và giải quyết các tranh chấp địa giới hành chính có liên quan tới đất đai”. Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ tại Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2008 hướng dẫn chức năng, nghiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp; Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BTNMT-BNV ngày 02/02/2010 hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh về công tác định giá đất không quy định Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện có nhiệm vụ này. Các quận, huyện, thị xã đã bám sát Kế hoạch của thành phố thực hiện việc kiểm tra theo thẩm quyền. Tuy nhiên số lượng văn bản của cấp xã không nhiều, chủ yếu các Nghị quyết về tình hình kinh tế – xã hội hàng năm. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Việc kiểm tra văn bản gửi đến Sở Tư pháp và phòng Tư pháp đã từng bước đi vào nền nếp. Do trước đây cơ quan ban hành chưa thực hiện việc gửi văn bản đến cơ quan kiểm tra nên số lượng văn bản không nhiều. Trong những năm gần đây (sau khi tăng cường kiểm tra theo địa bàn) việc gửi văn bản đã được quan tâm. Qua kiểm tra đã phát hiện một số văn bản không phù hợp với quy định của pháp luật, kịp thời khắc phục, sửa chữa ngay sau khi ban hành, đã hạn chế tối đa thiệt hại xảy ra do văn bản gây ra… Từ ngày 01/10/2010 đến ngày 30/9/2011, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm tra đối với 55 văn bản (28 Nghị quyết, 25 Quyết định và 02 Chỉ thị) do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã ban hành gửi đến. Qua kiểm tra, các văn bản khác chủ yếu sai về thể thức, kỹ thuật trình bày hoặc viện dẫn văn bản cá biệt làm căn cứ pháp lư…, đã phát hiện 02 văn bản có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật là: Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND ngày 04/01/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Thạch Thất ban hành Quy định trách nhiệm của các phòng, ban, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn và cán bộ công chức trong việc kiểm tra, ngăn chặn, xử lý vi phạm về lĩnh vực đất đai, xây dựng, môi trường và tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện; Quyết định số 04/2011/QĐ-UBND ngày 02/8/2011 ban hành quy định trình tự soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn quận Long Biên. Sau khi nhận được thông báo của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân quận, huyện đã nghiêm túc tự kiểm tra và xử lý theo quy định.

Phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã đã thực hiện kiểm tra đối với 1450 văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn gửi đến, trong đó Nghị quyết của Hội đồng nhân dân là 1252 văn bản; Quyết định của Ủy ban nhân dân là 189 văn bản. Qua kiểm tra phát hiện 135 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân có thể thức kỹ thuật trình bày văn bản và 15 Quyết định của Ủy ban nhân dân có nội dung không phù hợp quy định pháp luật.

Nhìn chung, công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật trong thời gian qua trên địa bàn thành phố cho thấy hiệu quả của công tác kiểm tra, xử lý văn bản có tác động tích cực đến công tác soạn thảo, ban hành và hoàn thiện thể chế của địa phương. Nhiều văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật đã được phát hiện, xử lý. Các phương thức kiểm tra được cơ quan có thẩm quyền thực hiện một cách linh hoạt; quy trình, thủ tục kiểm tra, thủ tục xử lý về cơ bản đã tuân theo quy định pháp luật. Qua công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật đã phát hiện những sai sót, yếu kém trong công tác ban hành văn bản để kịp thời có sự chỉ đạo đối với các cơ quan tham mưu chấp hành tốt quy trình soạn thảo văn bản, góp phần đưa công tác soạn thảo, ban hành văn bản đi vào nền nếp, đảm bảo văn bản ban hành hợp hiến, hợp pháp và thống nhất.

Sở dĩ hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có được kết quả đáng kể trên đây là do quy định của pháp luật hiện hành ngày càng hoàn thiện, tạo lập được khung pháp lý cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản dần đi vào nền nếp; nhận thức của chủ thể ban hành văn bản Quy phạm pháp luật về tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản ngày càng được nâng cao. Bộ máy tổ chức thực hiện hoạt động kiểm tra văn bản được củng cố, kiện toàn và nâng cao trình độ; các điều kiện đảm bảo cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật ngày càng được đáp ứng.

2.2.4.1.2. Những hạn chế, tồn tại trong hoạt động tự kiểm tra, kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo thẩm quyền

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn còn bộc lộ những nhược điểm và hạn chế nhất định. Đó là: Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được tiến hành nhưng còn chậm chễ và chưa thường xuyên, vẫn còn tình trạng không thực hiện chức năng tự kiểm tra văn bản một cách thường xuyên, thậm trí còn chậm chễ gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác này. Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thì trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày làm việc, cơ quan, người ban hành văn bản Quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra. Sau khi nhận được văn bản, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra đối với văn bản đó. Nhưng pháp luật hiện hành không có quy định sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận được văn bản, cơ quan kiểm tra phải tiến hành xem xét đánh giá về tính hợp pháp, hợp lý của văn bản đó. Vì vậy, còn khá nhiều văn bản Quy phạm pháp luật dù đã được gửi đến cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa được kiểm tra theo đúng tiến độ.

Hoạt động kiểm tra còn mang tính chất đối phó, hình thức và còn bỏ sót các tiêu chí về nội dung khi kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật. Hiện nay, khi tiến hành kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, nhìn chung cơ quan có thẩm quyền kiểm tra đã xem xét, đánh giá cụ thể đối với tưng văn bản Quy phạm pháp luật về tính hợp pháp, hợp lý. Tuy nhiên, ở các sở, ngành của thành phố (bộ phận pháp chế), cấp huyện, cấp xã (Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp Hộ tịch) tiến hành kiểm tra văn bản còn mang tính đối phó. Trong quá trình kiểm tra, chủ yếu cán bộ chỉ xem xét về tính hợp pháp của văn bản Quy phạm pháp luật mà ít khi xem xét, đánh giá về tính hợp lý của văn bản đó.

Còn tồn tại tình trạng kiểm tra nhầm đối tượng (nhất là cấp huyện); các phương thức kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được tiến hành nhưng chưa đồng đều, cân đối. Trên thực tế vẫn còn tồn tại việc cán bộ kiểm tra nhận diện không chính xác văn bản Quy phạm pháp luật. Đây là tình trạng đã và đang xảy ra nhất là ở cấp huyện, cấp xã. Nhiều cán bộ khi nhận được văn bản do cơ quan ban hành gửi đến, phần ký hiệu văn bản có ghi năm ban hành và cho rằng văn bản đó là Quy phạm pháp luật. Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ chưa phân biệt được đâu là văn bản Quy phạm pháp luật, chưa biết nhận dạng dấu hiệu quan trọng nhất của văn bản Quy phạm pháp luật chính là có nội dung chứa đựng Quy phạm pháp luật nên đã dẫn đến lúng túng trong việc xác định đối tượng kiểm tra. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Hiện nay, do lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra trên địa bàn thành phố Hà Nội còn mỏng, nên việc kiểm tra theo địa bàn, lĩnh vực không được thực hiện theo một cách đầy đủ, thường xuyên đúng nghĩa (Theo Báo cáo của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội từ ngày 01/10/2009 đến ngày 30/9/2010 đã tiến hành kiểm tra tại 12 đơn vị quận, huyện, thị xã và 01 đơn vị Sở, ngành; năm 2011, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội uỷ quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thành lập Đoàn kiểm tra trực tiếp tại 9 đơn vị quận, huyện và 6 Sở, Ngành); các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản mới chỉ tập trung vào phương thức tự kiểm tra. Việc kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin còn mang tính bị động.

2.2.4.2. Tình hình xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trái pháp luật

Việc xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trái pháp luật đến nay bước đầu đã được các cấp, các ngành trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện nghiêm túc theo trình tự quy định. Đối với những văn bản sai căn cứ ban hành hoặc thể thức, kỹ thuật trình bày mà không ảnh hưởng đến nội dung của văn bản thì các cơ quan kiểm tra nhắc nhở, rút kinh nghiệm thông qua các buổi sơ kết, Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hoặc trao đổi trực tiếp với cơ quan ban hành. Đối với những văn bản sai nội dung hoặc sai thẩm quyền, các cơ quan kiểm tra đã có thông báo, yêu cầu cơ quan ban hành văn bản tự kiểm tra, xử lý theo quy định. Cụ thể:

Trong năm 2011, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã thông báo để cơ quan có thẩm quyền tự kiểm tra, xử lý 165 văn bản. Kết quả: cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản đã kiểm tra và xử lý 159 văn bản, chiếm tỷ lệ xử lý trên 95%. Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thông báo để cơ quan ban hành văn bản tự xử lý 71 văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động tự kiểm tra Ủy ban nhân dân thành phố đã phát hiện và tự xử lý đối với 16 văn bản Quy phạm pháp luật (01 văn bản không phù hợp với văn bản Quy phạm pháp luật cấp trên, 04 văn bản sai về căn cứ pháp lý ban hành, 11 văn bản sai về thể thức, ngôn ngữ sử dụng); Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố Hà Nội đã phát hiện và tự xử lý 592 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (38 văn bản quy phạm pháp luật và 554 văn bản có chứa quy phạm pháp luật). Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Với kết quả xử lý văn bản có dấu hiệu trái Luật trên đây, hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tạo được lòng tin, dư luận tốt đối với xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng cơ quan ban hành đã tự xử lý huỷ bỏ văn bản trái luật rồi, nhưng khi ban hành văn bản thay thế vẫn sai, ví dụ như: Quyết định 26/2003/QĐ-UB quy định hoạt động của các phương tiện giao thông; Quyết định 167/2003/QĐ-UB về sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Quyết định 26; Quyết định 02/2004/QĐ-UB về việc thực hiện các biện pháp làm giảm bụi trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn. Tuy nhiên khi Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành văn bản thay thế là các quyết định: Quyết định 240/2005/QĐ-UB ngày 30/12/2005; Quyết định 241/2005/QĐ-UB thì cả 2 văn bản thay thế này tiếp tục sai, vì vẫn quy định hành vi và mức xử phạt (tại Khoản 3 Điều 4 Quyết định 240/2005/QĐ-UB quy định: “Đối với xe thô sơ phạt tiền từ 20.000 đến 40.000 đồng …”, kể cả trong trường hợp sao chép lại mức phạt theo quy định tại Nghị định, theo nguyên tắc vẫn là không đúng với thẩm quyền.

Qua kết quả xử lý văn bản trái pháp luật cho thấy việc xử lý vẫn còn chậm so với thời gian quy định. Theo quy định của pháp luật kể từ khi nhận được Thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra, xử lý yêu cầu xử lý văn bản trái pháp luật thì trong vòng 30 ngày cơ quan có văn bản kiểm tra phải thông báo kết quả tự xử lý, nhưng hiện nay tiến độ xử lý không đảm bảo theo quy định. Ví dụ như, năm 2009, Đoàn kiểm tra văn bản thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm tra công tác ban hành, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ. Sau kiểm tra đã ban hành Kết luận số 593/KL-ĐKTSTP ngày 16/4/2009 chỉ rõ những văn bản có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật, yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm xử lý đối với: Quyết định số 01/2008/QĐ-UBND ngày 26/6/2008 ban hành Thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y, dược tư nhân và vệ sinh an toàn thực phẩm; Quyết định số 02/2008/QĐ-UBND ngày 4/7/2008 ban hành Thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội; Quyết định số 03/2008/QĐ-UBND ngày 11/11/2008 ban hành Thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, đến ngày 15/2/2012 Ủy ban nhân dân huyện mới báo cáo chính thức bằng văn bản với nội dung các quy trình thủ tục hành chính tiếp nhận tại huyện đã được Ủy ban nhân dân huyện rà soát, chỉnh sửa, bổ sung tại Quyết định số 3646/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 về việc công khai danh mục thủ tục hành chính thực hiện tại huyện. Tuy nhiên, qua kiểm tra Quyết định số 3646/QĐ-UBND không đề cập đến nội dung sửa đổi, bổ sung hay thay thế đối với các quy định nêu trên (theo quy định văn bản xử lý phải xác định rõ tên văn bản, điều khoản, điểm của văn bản được xử lý); Kết luận số 62/KL-STP ngày 31/8/2009 yêu cầu Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ xử lý đối với những văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Tuy nhiên, đến ngày 23/02/2012 Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ mới báo cáo chính thức bằng văn bản bản về kết quả xử lý đối với từng văn bản trong kết luận số 62/KL-STP ngày 31/8/2009. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Theo đánh giá chung thì tình hình xử lý đối với văn bản trái pháp luật trong thời gian vừa qua đã biểu hiện tích cực, xong việc xem xét xử lý trách nhiệm của cá nhân, tập thể liên quan trong việc ban hành ra văn bản trái luật vẫn còn rất mờ nhạt. Theo quy định của pháp luật, khi chính quyền địa phương ban hành văn bản trái luật thì trách nhiệm thuộc về tập thể Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành, người ký ban hành, các cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm tra. thẩm định văn bản. Nhưng hiện nay, thể chế quy định về hình thức, biện pháp xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật là chưa cụ thể, dẫn đến việc không ràng buộc được trách nhiệm của các cá nhân có liên quan, nhất là việc xác định hậu quả từ việc ban hành văn bản trái pháp luật và cơ chế bồi thường thiệt hại.

Từ những kết quả trên cho thấy một trong những hạn chế của công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là do công tác phối hợp trong kiểm tra, xử lý văn bản của các cấp, các ngành chưa tốt, do chưa nhận thức đúng và đầy đủ được tầm quan trọng của công tác này và cả thái độ dè dặt, tâm lý e ngại trong việc phát hiện, ra quyết định xử lý văn bản.

Việc xử lý đối với văn bản có nội dung trái pháp luật của các cơ quan, người có thẩm quyền chưa kiên quyết, triệt để, hiện nay, cơ quan có văn bản vi phạm vẫn chưa thực hiện nghiêm túc việc thông báo kết quả xử lý theo đúng quy định về mặt thời gian và chất lượng xử lý chưa đạt yêu cầu. Nguyên nhân một phần là do đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản còn thiếu, cơ chế cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật chưa đủ mạnh.

Nhiều cơ quan tiến hành xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái luật còn mang tính hình thức và đối phó, thậm chí xử lý không đúng; còn tồn tại tình trạng không tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về thủ tục xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái luật;

Chưa truy cứu trách nhiệm pháp lý cơ quan, người có thẩm quyền trong việc ban hành, tham mưu ban hành văn bản Quy phạm pháp luật trái luật và cơ quan, người có thẩm quyền có hành vi vi phạm pháp luật trong việc xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Thực trạng công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành trong những năm qua đã phát huy và khẳng định được vai trò của công tác kiểm tra văn bản đối với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Có thể khẳng định, kể từ khi công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được chuyển giao từ cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân sang cho các cơ quan hành chính đảm nhiệm, công tác kiểm tra, xử lý văn bản đã từng bước đi vào nền nếp và hiệu quả ngày càng cao; việc đầu tư cho công tác kiểm tra văn bản (kiện toàn đội ngũ cán bộ, kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật) đã được quan tâm…

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật vẫn còn nhiều mặt hạn chế như:

Việc thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản đã được triển khai thực hiện nhưng có lúc, có nơi còn mang tính chất đối phó, hình thức, chất lượng, hiệu quả không cao; hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được tiến hành nhưng còn chậm trễ và chưa thường xuyên, vẫn còn tình trạng không thực hiện chức năng tự kiểm tra văn bản một cách thường xuyên.

Tình hình kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật chưa đạt kết quả theo yêu cầu. Việc xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật chưa triệt để và chưa thực hiện nghiêm túc ở các cấp, các ngành; việc xử lý đối với văn bản trái luật chưa kịp thời, dẫn đến chất lượng hiệu quả kiểm tra, xử lý văn bản thấp.

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, thể hiện trong chính các yếu tố của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, chủ yếu là:

  • Các quy định của pháp luật về công tác này còn thiếu, chưa đồng bộ, đầy đủ.
  • Đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra văn bản ở cấp thành phố, cấp huyện còn hạn chế về trình độ, năng lực cũng như số lượng, thiếu tính ổn định hoặc chậm được kiện toàn; đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở còn phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ nên chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra văn bản chưa cao.
  • Công tác phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền ban hành , kiểm tra văn bản trong công tác kiểm tra văn bản còn haṇ chế, thiếu đồng bộ.
  • Các yếu tố bảo đảm cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật chưa được quan tâm đúng mức.

Từ việc phân tích và đánh giá về thực trạng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật để có những biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *