Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Phương Hướng, Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Phương hướng nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành

Để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành cũng như chất lượng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, cần quán triệt các định hướng xuất phát từ những yêu cầu khách quan sau:

Thứ nhất, việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành cần xuất phát từ yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thì quản lý xã hội bằng pháp luật được coi là nguyên tắc cơ bản, có tính quyết định. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực trạng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua, đồng thời để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước, trọng tâm là cải cách thể chế, thủ tục hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thì hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương và thành phố Hà Nội cần phải được đổi mới, nâng cao chất lượng.

Thứ hai, việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành cần gắn chặt với yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao vai trò quản lý nhà nước của chính quyền địa phương. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Có thể nói, pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật đã được ban hành từ rất sớm cùng với quy định về thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Từ quy định của Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1980, hoạt động xử lý nhằm hoàn thiện văn bản Quy phạm pháp luật đã được nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp – văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, nhưng quy định về hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật còn mờ nhạt vì trong Hiến pháp chỉ có quy định về quyền giám sát của Quốc hội đối với việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Sau này, Hiến pháp năm 1992 không chỉ quy định về thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội mà còn quy định thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật thuộc chức năng của cơ quan hành pháp. Điều 109 Hiến pháp 1980 quy định: “Hội đồng Bộ trưởng căn cứ vào Hiến pháp, các luật và pháp lệnh, ra những nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó” [67]. Như vậy, có thể khẳng định càng ngày hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản nói chung và văn bản Quy phạm pháp luật nói riêng càng được nhà nước quan tâm và ghi nhận cụ thể.

Ở các kỳ đại hội, Đảng ta luôn quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng đã thể hiện rõ quan điểm: “Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý. …..Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi vi phạm đều phải được xử lý. Bất cứ ai phạm pháp đều đưa ra xét xử theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý “nội bộ”. Không làm theo kiểu phong kiến: dân thì chịu hình pháp, quan thì xử theo “lễ”. Phải dùng sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư luận quần chúng để đấu tranh chống những hành vi phạm pháp” [1].

Lược qua lịch sử hình thành, phát triển của quy định pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật nhằm nhấn mạnh và khẳng định hơn nữa vai trò, ý nghĩa của hoạt động này đối với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, những quy định về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật từ Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư cho đến quyết định, chỉ thị do cơ quan trung ương và địa phương ban hành vẫn chưa hoàn thiện, còn quy định chưa thống nhất, đồng bộ; thiếu cụ thể, chưa phù hợp… đã trở thành nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động này trên thực tế. Với tinh thần đó, việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành là yêu cầu bức thiết, điều đó đồng nghĩa với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng và vai trò quản lý nhà nước của chính quyền địa phương. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Thứ ba, việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành cần xuất phát từ thực trạng về những tồn tại, hạn chế, bất cập trong công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật trên địa bàn trong thời gian qua.

Trong thời gian qua, công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành nói chung, công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng đã được quan tâm chú trọng và từng bước đi vào nền nếp, chất lượng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật ngày càng được nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng, tính khả thi của các văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất, hoàn chỉnh, có chất lượng cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thì công tác kiểm tra và xử lý văn bản trên địa bàn thành phố Hà Nội còn tồn tại một số bất cập, chưa thực sự được chú trọng đúng mức. Công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật ở một số nơi, số lúc vẫn còn biểu hiện tính hình thức, chưa đảm bảo yêu cầu thực tiễn đề ra. Do đó, việc tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành nói chung, công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành trên địa bàn thành phố Hà Nội là một yêu cầu cấp thiết.

Từ những yêu cầu khách quan và thực trạng công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành trên địa bàn thành phố Hà Nội có thể khẳng định phương hướng được đặt ra trong thời gian tới đối với hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành nói chung, văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành nói riêng là:

Hoàn thiện quy định pháp luật về đối tượng, nội dung, thẩm quyền của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật để phù hợp với điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Xây dựng cơ chế kiểm tra thực sự có hiệu quả, từ khâu phát hiện, tiếp nhận văn bản đến khâu xử lý và công bố kết quả xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Trong đó không chỉ chú trọng cơ chế kiểm tra từ phía các cơ quan nhà nước mà phải huy động được sự tham gia của các cá nhân, tổ chức và toàn xã hội. Theo đó, mọi người dân đều có quyền và tích cực tham gia vào việc phát hiện, yêu cầu xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý;

Xây dựng, kiện toàn bộ máy về cơ cấu, điều kiện và cách thức làm việc đối với các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật cho hợp lý, khoa học và hiện đại;

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật bảo đảm có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành

Để thực hiện phương hướng nêu trên, nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành, cần phải có những giải pháp hữu hiệu, có tính chất đồng bộ, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp như sau:

3.2.1. Hoàn thiện thể chế pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật

Một là, cần sửa đổi Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 để thống nhất, phù hợp với quy định tại Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008.

Những nguyên tắc, yêu cầu đối với việc ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật nói chung được quy định trong Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008, tuy nhiên, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 chưa có quy định về giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Cơ sở pháp lý duy nhất để triển khai hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương chủ yếu căn cứ vào quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Bên cạnh đó, các nguyên tắc chung về ban hành văn bản như nguyên tắc công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản Quy phạm pháp luật; nguyên tắc bảo đảm tính khả thi của văn bản Quy phạm pháp luật… cũng cần được bổ sung trong Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004. Đồng thời, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 cũng cần phân định thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm tính minh bạch, không chồng chéo. Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Luật cần sửa đổi theo hướng chỉ trao thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành văn bản Quy phạm pháp luật với hình thức Quyết định, loại bỏ hình thức Chỉ thị vì xét về bản chất, hình thức Chỉ thị là hình thức văn bản được sử dụng để Ủy ban nhân dân chỉ đạo, điều hành quản lý nên không phù hợp khi đặt ra các Quy phạm pháp luật. Hơn nữa, loại bỏ hình thức Chỉ thị với tính chất là văn bản Quy phạm pháp luật cũng phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008 khi loại đi thẩm quyền ban hành chỉ thị Quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

Hai là, cần xác định rõ đối tượng, phạm vi kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại Bộ, ngành và địa phương ban hành cũng được kiểm tra, xử lý theo quy định tại Nghị định này“. Như vậy, văn bản có chứa Quy phạm pháp luật cũng là đối tượng của hoạt động kiểm tra và xử lý. Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 đều đã đưa ra khái niệm văn bản Quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, về dấu hiệu văn bản có “chứa quy phạm pháp luật” còn chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Đây là một khó khăn trên thực tế, vì hiện nay một số cán bộ trực tiếp thực hiện kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật còn lúng túng và không nhận diện được chính xác đối tượng văn bản Quy phạm pháp luật để tiến hành kiểm tra, xử lý dẫn đến nhiều trường hợp kiểm tra, xử lý nhầm đối tượng. Để khắc phục tình trạng này, trong các văn bản luật, cần quy định dấu hiệu đặc trưng của văn bản Quy phạm pháp luật nhằm tạo điều kiện cho cơ quan ban hành văn bản cũng như kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật được chính xác. Các dấu hiệu đặc trưng của văn bản Quy phạm pháp luật cần được quy định bao gồm:

  • Văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện;
  • Nội dung văn bản phải chứa đựng Quy phạm pháp luật (bao gồm cả chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy phạm nguyên tắc, quy phạm giải thích, hướng dẫn và quy tắc xử sự chung);
  • Có tính chất bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn;
  • Trình tự, thủ tục, hình thức văn bản Quy phạm pháp luật phải tuân theo các quy định của Luật.

Như vậy, chỉ văn bản Quy phạm pháp luật nào đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu trên mới là văn bản Quy phạm pháp luật theo đúng nghĩa, trong đó dấu hiệu “nội dung văn bản phải chứa đựng Quy phạm pháp luật” có tính chất quyết định. Phải có nội dung chứa đựng Quy phạm pháp luật mới xem xét đến chủ thể có thẩm quyền ban hành, mới phải tuân thủ trình tự do Luật định và mới có tính bắt buộc chung, được thực hiện nhiều lần trong thực tiễn. Từ đó, cơ quan ban hành cũng như kiểm tra và xử lý sẽ lựa chọn được chính xác đâu là văn bản Quy phạm pháp luật, đâu là văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thường nhằm khắc phục tình trạng nhận diện nhầm đối tượng. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Ba là, hoàn thiện quy trình kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo việc kiểm tra, xử lý kịp thời, có hiệu quả và theo quy trình chặt chẽ, thống nhất trên toàn quốc.

Công tác kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật lần đầu tiên được quy định tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/11/2003. Qua 7 năm triển khai thực hiện, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP bộc lộ một số hạn chế như: chưa có quy định về việc lập hồ sơ kiểm tra văn bản, chưa có quy định kiểm tra và xử lý văn bản trong trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước, chưa đưa ra một quy trình cụ thể khi tiến hành hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản… Để khắc phục hạn chế đó, ngày 12/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2010/NĐ-CP thay thế Nghị định số 135/2003/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thời gian tới, Chính phủ cần sửa đổi, bổ sung thủ tục, trình tự kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật được quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP theo hướng sau:

Về thời gian tiến hành kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành

Pháp luật hiện hành chưa có quy định về thời hạn tự kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật đối với cơ quan có thẩm quyền cũng như đơn vị thực hiện việc tự kiểm tra. Vì vậy, trên thực tế, có cơ quan tiến hành kiểm tra ngay sau khi nhận được văn bản Quy phạm pháp luật, có những cơ quan tiến hành kiểm tra sau nhiều ngày, thậm chí sau nhiều năm văn bản mới được kiểm tra. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tùy tiện của mỗi cơ quan kiểm tra văn bản, đồng thời làm giảm ý nghĩa của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, kịp thời để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hiện nay, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008 chưa có quy định thay đổi về thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nên hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành nên được tiến hành theo hướng: Phòng Kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố thực hiện việc kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản Quy phạm pháp luật. Phòng Tư pháp huyện sẽ thực hiện kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được văn bản Quy phạm pháp luật. Việc quy định như vậy bảo đảm sự phù hợp với từng cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản, đồng thời đáp ứng đúng về nguyên tắc kiểm tra và xử lý văn bản là phải thường xuyên, toàn diện và kịp thời. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Về trình tự, thủ tục kiểm tra đối với văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành theo thủ tục rút gọn Điều 47 Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 quy định: Trong trường hợp phải giải quyết các vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã ban hành Quyết định, Chỉ thị theo trình tự, thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ không quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật được ban hành theo thủ tục rút gọn.

Theo tác giả, dù văn bản Quy phạm pháp luật được ban hành theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn thì cơ quan ban hành vẫn phải bảo đảm tính hợp pháp, tính hợp lý của văn bản đó. Hơn nữa, đối với Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp ban hành trong trường hợp khẩn cấp, đột xuất, Luật không quy định bắt buộc phải qua thẩm định. Do vậy, sau khi văn bản Quy phạm pháp luật được ban hành, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp – hộ tịch xã phải tiến hành kiểm tra ngay đối với Quyết định, Chỉ thị đó là cần thiết. Trình tự, thủ tục kiểm tra trong trường hợp này cũng cần rút gọn hơn so với thủ tục kiểm tra, xử lý thông thường.

Bốn là, quy định rõ các biện pháp xử lý đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý.

Hiện nay, cả Hiến pháp, Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 đều quy định chung chung về các biện pháp xử lý văn bản Quy phạm pháp luật và không quy định rõ thế nào là văn bản có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý tương ứng với từng biện pháp xử lý. Đến Nghị định số 40/2010/NĐ-CP khi quy định về biện pháp xử lý văn bản Quy phạm pháp luật đã bước đầu cụ thể hơn nhưng còn thiếu các biện pháp sửa đổi, bổ sung, thay thế. Đối với biện pháp hủy bỏ, bãi bỏ, Nghị định mới chỉ quy định những dấu hiệu bất hợp pháp , bất hợp lý của văn bản Quy phạm pháp luật nhưng chưa bao quát, rõ ràng. Trên thực tế, biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ văn bản rất dễ áp dụng nhầm lẫn và không thống nhất. Điểm giống nhau giữa hai biện pháp này thể hiện ở chỗ: đều là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tuyên bố vô hiệu đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý. Tuy nhiên, xét về bản chất và hậu quả pháp lý của việc áp dụng hai biện pháp này là hoàn toàn khác nhau. Văn bản Quy phạm pháp luật bị hủy bỏ sẽ hết hiệu lực pháp lý kể từ khi văn bản đó được ban hành, có nghĩa là phủ nhận thời gian tồn tại của văn bản Quy phạm pháp luật trên thực tế. Vì vậy, khi cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp hủy bỏ, ngoài việc văn bản đó hết hiệu lực pháp lý còn phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành văn bản đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản nếu văn bản đó gây thiệt hại cho họ. Còn với biện pháp bãi bỏ, văn bản Quy phạm pháp luật bị bãi bỏ chỉ hết hiệu lực pháp lý kể từ thời điểm văn bản tuyên bố bãi bỏ được ban hành. Nghĩa là toàn bộ thời gian tồn tại của văn bản Quy phạm pháp luật đó vẫn được thừa nhận là hợp pháp. Do vậy, khi áp dụng biện pháp bãi bỏ, các cơ quan có thẩm quyền xử lý không phải chịu trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn. Vì vậy, trong thời gian tới, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật cần được sửa đổi quy định về biện pháp xử lý theo hướng quy định rõ điều kiện áp dụng từng biện pháp xử lý phù hợp với các dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý của văn bản Quy phạm pháp luật; bổ sung các biện pháp xử lý văn bản Quy phạm pháp luật như sửa đổi, bổ sung, thay thế để làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền áp dụng dễ dàng và thống nhất. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Năm là, cần quy định rõ các hành vi vi phạm cụ thể trong hoạt động xây dựng ban hành VBQPPL để làm căn cứ xác định trách nhiệm đối chủ thể vi phạm trong việc xử lý, ban hành hoặc tham mưu ban hành văn bản Quy phạm pháp luật bất hợp pháp.

Trong quá trình xây dựng cho đến hoàn thiện một văn bản Quy phạm pháp luật, bất kỳ một khâu nào từ xây dựng, góp ý, thẩm định, kiểm tra nếu thực hiện không tốt đều ảnh hưởng tới chất lượng của văn bản. Vì vậy, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tham mưu soạn thảo, thẩm định hay ban hành văn bản đều cần nâng cao ý thức trách nhiệm, kỷ luật công vụ để bảo đảm mục đích chung là hoàn thiện hệ thống pháp luật. Mặc dù, Điều 34 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP quy định Bộ trưởng Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể về xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật nhưng đến nay hai Bộ vẫn chưa ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn vấn đề này. Vì vậy, trên thực tế, chưa có cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật cũng như công chức tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra bị truy cứu trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất hay trách nhiệm hình sự. Trong thời gian tới, Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp cần sớm ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể về nội dung này theo hướng:

Cần xác định rõ những hành vi vi phạm trong hoạt động xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật, tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản Quy phạm pháp luật; cần có chế tài xử lý nghiêm khắc các cơ quan đề xuất xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật nhưng không tiến hành soạn thảo được hoặc tiến độ soạn thảo quá chậm so với chương trình; không tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng trước khi soạn thảo; không lập báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật hoặc lập nhưng sơ sài, không có minh chứng cụ thể; không tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng chịu sự tác động của văn bản cũng như của các bộ, ngành có liên quan; không đăng tải công khai dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật trên website của cơ quan mình; không gửi dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật…

Quy định rõ các biện pháp chế tài xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật, cũng như cơ quan, người đã tham mưu, trình văn bản có nội dung trái pháp luật. Cần quy định rõ về hình thức, mức độ phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hình sự đối với cơ quan, người đã ban hành và cả người đã tham mưu, đề xuất nội dung trái pháp luật trong trường hợp người đó có lỗi. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Cũng cần lưu ý xem xét đến vấn đề bồi thường thiệt hại về vật chất. Ví dụ: đối với văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương do tập thể Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành (Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký văn bản với tư cách thay mặt tập thể), vậy vấn đề xử lý bồi thường thiệt hại với tư cách cá nhân như thế nào? Cần phải xác định: khi ban hành văn bản Quy phạm pháp luật là các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ nhân danh Nhà nước. Do vậy, hậu quả do văn bản Quy phạm pháp luật trái pháp luật gây ra, trước tiên trách nhiệm thuộc về cơ quan nhà nước phải đứng ra bồi thường thiệt hại, sau đó xác định trách nhiệm của từng cá nhân tham gia vào quá trình ban hành, tiền kiểm và hậu kiểm văn bản, như: tham mưu đề xuất, soạn thảo dự thảo văn bản; thẩm tra, thẩm định văn bản; người có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản đã không phát hiện và xử lý kịp thời đối với văn bản Quy phạm pháp luật trái luật…

Quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đồng thời trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý, cũng như các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, có cơ chế kỷ luật, khen thưởng công minh và kịp thời;

Bên cạnh việc xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật, cũng cần xem xét đến trách nhiệm của cơ quan, người có trách nhiệm kiểm tra văn bản về việc: không thực kiểm tra theo đúng thời gian quy định, không phát hiện và áp dụng biện pháp xử lý kịp thời và triệt để gây thêm hậu quả từ việc tồn tại của văn bản trái pháp luật trên thực tế.

Sáu là, cần trao thẩm quyền xử lý văn bản Quy phạm pháp luật cho Tòa án hành chính. Hiện nay, pháp luật của Việt Nam chưa trao thẩm quyền xử lý một cách trực tiếp và cụ thể đối với văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý cho Tòa án nhân dân, cụ thể là Tòa hành chính. Theo tác giả, pháp luật nên quy định thẩm quyền của Tòa hành chính trong việc xử lý văn bản Quy phạm pháp luật bất hợp pháp. Bởi nếu thẩm quyền xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý chỉ thuộc về cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật và cơ quan cấp trên của cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật thì chưa giải quyết triệt để cũng như chưa đem lại hiệu quả cao cho hoạt động xử lý. Trao thẩm quyền xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý cho Tòa hành chính theo hai cách thức: Người dân có quyền khởi kiện về văn bản Quy phạm pháp luật ra Tòa hành chính vì cho rằng văn bản Quy phạm pháp luật đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Hoặc cách thứ hai, trên cơ sở xét xử quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính cá biệt được ban hành, áp dụng từ văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý, Tòa hành chính có thẩm quyền yêu cầu cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật hoặc trực tiếp Tòa án tiến hành xử lý đối với văn bản đó.

3.2.2. Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan chức năng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật bảo đảm có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Với mục đích của hoạt động kiểm tra là bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật, việc lựa chọn và bố trí những cán bộ có đủ năng lực, đảm bảo vững về kiến thức pháp lý và chuyên sâu về nghiệp vụ để thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là hết sức cần thiết.

Theo hướng này, các Bộ, ngành và cơ quan tư pháp địa phương cũng phải xây dựng, kiện toàn bộ máy tổ chức của mình để đảm bảo tính đồng bộ. Theo quy định, công tác pháp chế nói chung và kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật nói riêng phải do công chức chuyên trách thực hiện. Do vậy, các bộ, ngành, địa phương cần quan tâm, củng cố tổ chức và kịp thời tăng cường biên chế cho công tác này. Về tổ chức bộ máy, Chính phủ cho phép một số bộ, cơ quan ngang bộ có quyền thành lập phòng thuộc vụ thì khẩn trương thành lập Phòng kiểm tra văn bản thuộc Vụ Pháp chế. Đối với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, căn cứ vào tình hình thực tế và khối lượng công việc trong từng lĩnh vực cụ thể để xác định số lượng và cơ cấu phòng chuyên môn nghiệp vụ kiểm tra văn bản cho phù hợp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, mỗi Sở Tư pháp cần thành lập Phòng Kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật đảm bảo tính thống nhất trong phạm vi cả nước.

Đối với các Sở chuyên môn khác trước mắt cần bổ sung công chức thực hiện nhiệm vụ pháp chế, về lâu dài có thể thành lập Phòng pháp chế thuộc sở để tham mưu về khía cạnh pháp lý cho văn bản Quy phạm pháp luật do sở đó chủ trì soạn thảo, góp phần giảm bớt gánh nặng cho công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của Sở Tư pháp.

Bên cạnh việc xây dựng và kiện toàn về tổ chức bộ máy, trong thời gian tới, cần đồng thời xây dựng đội ngũ công chức thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật đủ về số lượng và có năng lực nghề nghiệp, đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn như: phải là công chức từ ngạch chuyên viên trở lên; có trình độ cử nhân luật hoặc tương đương trở lên; có chứng chỉ đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra văn bản hoặc có thời gian làm công tác pháp luật nhất định. Ngoài ra, những người làm công tác này không những phải có kiến thức pháp lý vững vàng mà còn đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn chuyên sâu trong từng lĩnh vực kiểm tra được phân công. Đối với trường hợp công chức pháp chế đã có bằng cử nhân luật, nhưng chưa có kiến thức chuyên ngành thuộc lĩnh vực mình công tác, thì hàng năm phải được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

Cần phải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Đặc biệt, chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã phải phân công, bố trí cán bộ có đủ trình độ chuyên môn, đảm bảo cho cán bộ, công chức kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật không phải kiêm nhiệm các công tác khác. Theo số liệu thống kê về số lượng công chức của cơ quan Tư pháp địa phương (bao gồm Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và công chức Tư pháp – Hộ tịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã) tính đến hết tháng 9/2010 có 17.446 người, trong đó Sở Tư pháp là 1.823 người (bình quân 29 người/01 Sở), Phòng Tư pháp cấp huyện là 2.811 người (bình quân 04 người/01 Phòng); công chức Tư pháp Hộ tịch cấp xã là 12.797 người (bình quân 1,15 người/01 đơn vị xã, phường, thị trấn). Tuy nhiên, chức danh cán bộ Tư pháp cấp huyện, công chức Tư pháp – hộ tịch cấp xã vẫn chưa có bằng cử nhân luật chiếm số lượng lớn, bên cạnh đó vẫn đang phải thực hiện nhiều mảng công tác tư pháp khác như: chứng thực, quản lý và đăng ký hộ tịch… điều này ảnh hưởng đến việc triển khai và chất lượng của công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật theo thẩm quyền. Do đó, cần phải xây dựng đội ngũ công chức chuyên trách làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật ở cấp huyện và cấp xã theo hướng: mỗi đơn vị có ít nhất 01 lãnh đạo và 01 công chức chuyên trách thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật theo thẩm quyền. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Đội ngũ công chức kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật không chỉ được tăng cường về số lượng mà còn cần được nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có ý thức kỷ luật và trách nhiệm cao trong công việc. Để đạt được mục tiêu này, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần chú trọng ngay từ khâu tuyển dụng công chức; bố trí công chức phù hợp với nhiệm vụ công việc cho đến thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện bồi dưỡng, đào tạo và tập huấn nghiệp vụ chuyên môn về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

Trong điều kiện hiện nay, khi đội ngũ công chức còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ chuyên môn, công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật lại khá phức tạp, khó về nghiệp vụ, phạm vi nội dung kiểm tra rộng và khối lượng công việc nhiều, việc đặt ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cộng tác viên để hỗ trợ hoạt động này là thực sự cần thiết. Cùng với biện pháp tăng cường đội ngũ công chức kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước ở địa phương cần chủ động xây dựng đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật tại các cơ quan có liên quan theo hướng ngày càng chuẩn hóa và có tính chuyên nghiệp cao. Cộng tác viên là những chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực pháp luật, các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế – xã hội. Họ sẽ tư vấn giúp cơ quan kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật trong việc kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Để thu hút và quản lý tốt đội ngũ này, cơ quan kiểm tra cần xây dựng được cơ chế tài chính phù hợp, cơ chế giao văn bản, nhận kết quả kiểm tra, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của họ, tạo điều kiện cộng tác tốt cho cộng tác viên để họ hoàn thành công việc với chất lượng cao nhất; tránh tình trạng mời cộng tác viên chưa có sự chọn lọc, ảnh hưởng đến chất lượng kiểm tra, xử lý văn bản.

Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp cũng cần coi trọng, quan tâm và triển khai thường xuyên công tác tập huấn nghiệp vụ về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Đây là biện pháp khá hữu hiệu để nâng cao hiểu biết kỹ năng, nghiệp vụ kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

3.2.3. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Trong quá trình kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong được coi là một trong những cơ chế hữu hiệu, thể hiện trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản Quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Để thực hiện giải pháp này, trước hết, cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan kiểm tra với cơ quan ban hành trong hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần xây dựng tốt mối quan hệ giữa các đơn vị soạn thảo với đơn vị kiểm tra trong nội bộ cơ quan ban hành văn bản Quy phạm pháp luật. Hiện nay, trong cơ cấu tổ chức nội bộ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, mỗi đơn vị có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau, nhưng mục tiêu chung đều có vai trò tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo cơ quan hoàn thành mọi nhiệm vụ. Vì vậy, trong quá trình giải quyết mọi công việc nói chung trong đó có hoạt động tự kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, các đơn vị chức năng trong cùng cơ quan nhà nước cần phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng để đảm bảo công việc có hiệu quả nhất. Sự phối hợp của các đơn vị trong quy trình soạn thảo văn bản Quy phạm pháp luật ngay từ khi có sáng kiến lập quy và kết thúc khi văn bản Quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý sẽ bảo đảm cao nhất cho chất lượng của văn bản Quy phạm pháp luật. Việc phối hợp giữa các đơn vị tham mưu soạn thảo và đơn vị kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật trong Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp sẽ do cơ quan đó tổ chức và chỉ đạo thực hiện theo quy chế làm việc của mỗi cơ quan. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Ở địa phương, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp cần phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cùng cấp để giúp Ủy ban nhân dân kiểm tra đối với văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới. Ngoài ra, trong mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Tư pháp với các cơ quan hành chính có thẩm quyền chuyên môn khác và với cơ quan nhà nước ở địa phương còn là phương thức hữu hiệu để cơ quan kiểm tra thực hiện việc kiểm tra theo chuyên đề, lĩnh vực hoặc kiểm tra theo địa bàn.

3.2.4. Bảo đảm các điều kiện cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật như xây dựng cơ chế tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị, cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật

Nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được hình thành trên cơ sở cơ chế quản lý tài chính hiện hành được quy định trong Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản chi tiết của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Trên cơ sở này, ngày 17/8/2011 Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản Quy phạm pháp luật nhưng so với tính chất và yêu cầu của hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, mức chi đó vẫn còn thấp. Vì vậy, các địa phương cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, dành kinh phí thỏa đáng cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, bố trí đầy đủ trang thiết bị làm việc và các điều kiện đảm bảo khác cho công tác kiểm tra văn bản, huy động các nguồn lực kể cả nguồn tài trợ của các dự án hợp tác quốc tế để xây dựng và từng bước tin học hóa hệ cơ sở dữ liệu văn bản Quy phạm pháp luật của bộ, ngành và địa phương.

Ngoài ra, các cấp, các ngành cần quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa về đầu tư đầy đủ các nguồn thông tin pháp luật (chủ yếu là thông tin về văn bản Quy phạm pháp luật) phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật bao gồm: nguồn thông tin truyền thống (tủ sách pháp luật, Công báo) và nguồn thông tin điện tử (các cơ sở dữ liệu văn bản Quy phạm pháp luật). Việc tra cứu văn bản phục vụ cho hoạt động kiểm tra văn bản dựa trên hệ cơ sở dữ liệu được cập nhật thường xuyên bằng công nghệ điện tử là rất cần thiết đối với cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản vì việc tra cứu như vậy tiết kiệm thời gian, thông tin cập nhật kịp thời, đa dạng, hỗ trợ cho việc nghiên cứu, xem xét văn bản và các hoạt động khác liên quan đến công tác kiểm tra văn bản theo quy định của pháp luật. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Khi xây dựng hệ cơ sở dữ liệu, cơ quan nhà nước phải quan tâm đến những yêu cầu như: bảo đảm cập nhật, phân chia, sắp xếp các văn bản Quy phạm pháp luật trong hệ dữ liệu cơ sở phải khoa học, đáp ứng thường xuyên, kịp thời yêu cầu của công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật; đơn vị chức năng phải thường xuyên tổ chức rà soát, xác định văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, đang có hiệu lực tại thời điểm kiểm tra văn bản để làm cơ sở pháp lý phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản; hệ cơ sở dữ liệu phải là cơ sở chính xác, tin cậy để công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật được thực hiện một cách hiệu quả, đồng thời đây cũng là hệ cơ sở dữ liệu tiện ích cho những nhu cầu khác khi muốn tìm một văn bản đang còn hiệu lực. Những tài liệu tham khảo cũng như các văn bản Quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý, đặc biệt là các văn bản Quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước Trung ương quy định về các lĩnh vực cụ thể cần được cung cấp một cách đủ, kịp thời cho những người làm công tác kiểm tra văn bản. Vì vậy, việc xây dựng và sử dụng hệ cơ sở dữ liệu pháp luật là rất cần thiết để có cơ sở đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản Quy phạm pháp luật do bộ, ngành, địa phương ban hành.

Hệ cơ sở dữ liệu sử dụng cho công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật bao gồm: Các văn bản Quy phạm pháp luật đã được chuẩn hóa hiệu lực, làm cơ sở pháp lý để kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp; kết quả kiểm tra và xử lý văn bản; các thông tin về nghiệp vụ kiểm tra; các thông tin, tư liệu khác phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản; các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Hệ cơ sở dữ liệu này có thể được cập nhật từ các nguồn: Văn bản lưu giữ tại cơ quan ban hành văn bản đó (văn bản gốc); văn bản lưu giữ tại cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thực hiện văn bản đó; những văn bản được đưa lên mạng tin học diện rộng của Chính phủ; văn bản được đăng trên Công báo Chính phủ, phụ lục công báo; văn bản của các bộ, ngành có trên mạng thông tin nội bộ hoặc trong các ấn phẩm do bộ, ngành ban hành; các văn bản dưới dạng ấn phẩm do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành; các văn bản trong tập hệ thống hóa và các văn bản đăng trên báo, tạp chí của Trung ương, địa phương; các kết quả kiểm tra và tự kiểm tra của các đơn vị có chức năng kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật; các tạp chí, sách, báo có những thông tin nghiên cứu về nghiệp vụ, chuyên môn liên quan đến công tác kiểm tra văn bản. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Trên cơ sở nguồn dữ liệu nêu trên khi đưa vào hệ cơ sở dữ liệu, cần phải xử lý sao cho những văn bản này được sắp xếp một cách khoa học. Những văn bản là cơ sở pháp lý cho công tác kiểm tra phải là những văn bản đã được chuẩn hóa hiệu lực để đáp ứng được yêu cầu của công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, để có được hệ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh theo hướng phục vụ đồng thời cho cả hoạt động rà soát, hệ thống hóa và hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật, cơ quan chức năng cần quan tâm đầu tư hơn nữa đến nguồn kinh phí, trang bị đầy đủ các phương tiện công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu kiểm tra, rà soát hiệu quả nhất. Đây là cách làm mang lại hiệu quả cao về kinh tế và thuận lợi trong công việc, bởi giữa hoạt động kiểm tra và rà soát, hệ thống hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, các bộ, ngành và địa phương cần hướng đến xây dựng các nguồn thông tin pháp luật thống nhất chung phục vụ cho hoạt động kiểm tra và rà soát, hệ thống hóa văn bản Quy phạm pháp luật.

3.2.5. Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật

Nghị định số 40/2010/NĐ-CP đã quy định những hành vi vi phạm pháp luật trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản của cơ quan, người có văn bản được kiểm tra như: Không gửi văn bản đã ban hành đến cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra theo quy định; không cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản; Không thực hiện việc đăng công báo, niêm yết, đưa tin các văn bản quy phạm pháp luật đã được xử lý trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật; Không tổ chức tự kiểm tra để phát hiện, xử lý văn bản trái pháp luật do mình ban hành; Không tổ chức tự kiểm tra, xử lý văn bản khi có yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra hoặc yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cơ quan thông tin đại chúng và cá nhân… Nghĩa là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP mới chỉ quy định chủ thể (cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản và cơ quan, người có văn bản được kiểm tra) và hành vi vi phạm trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản. Những vấn đề khác như trong quy trình ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, theo quy định của pháp luật, đối tượng chịu sự tác động của văn bản được hỏi ý kiến nhưng trên thực tế cơ quan có thẩm quyền không hỏi, thì đối tượng chịu sự tác động cũng có thể có khiếu nại theo cơ chế hiện hành.

Tuy nhiên, vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc ban hành văn bản Quy phạm pháp luật trái pháp luật lại chưa được đề cập. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Từ thực tế đó, theo tác giả, trong Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật và các văn bản pháp luật khác có liên quan cũng cần có chế tài xử lý cụ thể, mở rộng chủ thể và phạm vi đối tượng của khiếu nại và tố cáo đối với việc ban hành văn bản trái pháp luật, như: cơ quan, tổ chức, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản Quy phạm pháp luật trái pháp luật gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.Việc bồi thường được thực hiện theo quy định của Luật Trách nhiệm Bồi thường Nhà nước năm 2009 và các quy định khác của pháp luật.

3.2.6. Tăng cường mối liên hệ giữa kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật với quá trình xây dựng, rà soát, hệ thống hóa và theo dõi thi hành pháp luật

Mong muốn có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã không ngừng đề ra giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng, ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Từ khâu phân tích chính sách phản ánh nhu cầu điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội để đưa vào chương trình xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật cho đến soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua, ban hành văn bản. Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm nâng cao chất lượng trong quy trình xây dựng và ban hành văn bản Quy phạm pháp luật thì hệ thống pháp luật vẫn tiềm ẩn sự không hoàn thiện bởi các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật luôn vận động không ngừng. Vì vậy, kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật là hoạt động không thể thiếu trong quy trình hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước một cách có hiệu quả. Song song với các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, trong thời gian tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có những biện pháp khả thi để nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng, rà soát, hệ thống hóa và theo dõi thi hành pháp luật. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Trước tiên, để hoàn thiện pháp luật, cần nâng cao trình độ pháp lý, tính chuyên nghiệp cũng như tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ này. Nếu mỗi cơ quan, cán bộ, công chức phát huy hết khả năng, tinh thần trách nhiệm của mình trong từng công đoạn của quy trình xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật; phát huy tính chủ động trong việc phối hợp giữa các chủ thể với nhau thì chất lượng của văn bản Quy phạm pháp luật sẽ được nâng cao, việc tổ chức thực hiện văn bản trong cuộc sống sẽ có tính khả thi và đem lại hiệu quả tác động tích cực cho sự phát triển của xã hội. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, những khoảng trống của pháp luật được phát hiện cũng có ảnh hưởng đến quá trình xây dựng văn bản Quy phạm pháp luật bởi đây là kênh thông tin hữu ích để phản ánh nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội thành quy định pháp luật.

Hệ thống hóa văn bản Quy phạm pháp luật là hoạt động tập hợp và hệ thống hóa, sắp xếp các văn bản Quy phạm pháp luật theo một trình tự nhất định (theo ngày, tháng, năm ban hành, cơ quan ban hành, hình thức văn bản, lĩnh vực điều chỉnh…) vào các tổng tập văn bản Quy phạm pháp luật hay các cơ sở dữ liệu văn bản Quy phạm pháp luật. Trong thời gian qua, một số cơ quan nhà nước đã thực hiện hoạt động tập hợp, hệ thống hóa các văn bản Quy phạm pháp luật tạo thành các tổng tập văn bản hoặc cơ sở dữ liệu văn bản Quy phạm pháp luật nhất định phục vụ thuận lợi cho việc tra cứu văn bản. Tuy nhiên, việc tập hợp các văn bản cũng chưa đầy đủ, các tổng tập văn bản mới chỉ tập hợp các văn bản trong một lĩnh vực hẹp, các cơ sở dữ liệu thường chỉ tập trung tập hợp những văn bản liên quan đến ngành, lĩnh vực của mình hoặc phục vụ mục đích của tổ chức đó, chưa phân biệt rõ văn bản nào còn hiệu lực, văn bản nào hết hiệu lực, việc sắp xếp cũng chưa theo một trình tự, nhất định, thường các văn bản được sắp xếp theo ngày tháng năm ban hành hoặc theo cơ quan ban hành, dẫn đến việc tra cứu gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, để hoạt động kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật thực sự có hiệu quả, không mất nhiều thời gian cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ rà soát, hệ thống hóa cần đầu tư, cập nhật thường xuyên hệ thống văn bản Quy phạm pháp luật hiện hành, những văn bản Quy phạm pháp luật hết hiệu lực, đã bị bãi bỏ, hủy bỏ làm cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra cũng như theo dõi thi hành pháp luật. Ngoài ra, trong quá trình rà soát, hệ thống hóa văn bản Quy phạm pháp luật nếu phát hiện văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp hoặc bất hợp lý sẽ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật cũng rất cần được liên kết chặt chẽ với hoạt động theo dõi thi hành pháp luật. Với khả năng hỗ trợ công tác theo dõi thi hành pháp luật bằng việc sử dụng các kết quả kiểm tra và xử lý văn bản, công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật đã góp phần bảo đảm cho pháp luật đã ban hành được thực thi có hiệu quả trên thực tế. Bên cạnh đó, thông qua công tác theo dõi thi hành pháp luật nếu phát hiện được những dấu hiệu mâu thuẫn, chồng chéo, bất hợp lý của văn bản Quy phạm pháp luật sẽ hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật có hiệu quả. Kết quả này cho thấy hiệu quả tích cực theo dõi thi hành pháp luật của công tác kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật và hiệu quả tích cực kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật của công tác theo dõi thi hành pháp luật. Nhưng để thực hiện được sự phối hợp này một cách đồng bộ và hiệu quả thì cơ cấu tổ chức của mỗi cơ quan đó phải được xây dựng và kiện toàn hơn nữa; quy định các mối quan hệ phối hợp này phải rõ ràng, minh bạch, quy trình chặt chẽ và bảo đảm tính khả thi, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành.

3.2.7. Các giải pháp liên quan đến công tác tiền kiểm, truyền thông, khen thưởng v.v…

Gắn việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản với việc nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương. Bảo đảm chất lượng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành bằng cách phát huy vai trò của các cơ quan thẩm tra (Ban Pháp chế của Hội đồng nhân dân) và cơ quan thẩm định (cơ quan tư pháp địa phương) trong việc tham mưu, xem xét tính hợp pháp, tính hợp lý của văn bản Quy phạm pháp luật trước khi văn bản được ban hành. Việc thẩm định, thẩm tra của các cơ quan có thẩm quyền cần toàn diện trên tất cả các mặt, như sự cần thiết phải ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, đối tượng, phạm vi tác động điều chỉnh, tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi của dự thảo văn bản, hình thức, thể thức, nội dung dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật. Việc kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật phải tiến hành kịp thời, bảo đảm tính nghiêm túc của pháp luật.

Các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật cần chú trọng phối hợp với các cơ quan truyền thông để kịp thời phản ánh nội dung, kết quả của kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Đây là một trong những giải pháp có tác dụng cao trong việc góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, là kênh thông tin quan trọng để cá nhân, tổ chức tham gia vào quá trình giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước trong đó có hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Cần có hình thức khen thưởng kịp thời đối với cơ quan, cán bộ, công chức và cộng tác viên kiểm tra văn bản có thành tích, hoàn thành nhiệm vụ được giao; khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân có thành tích trong việc phát hiện, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý.

Tăng cường sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng, sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước và xã hội trong việc kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật: Quốc hội và Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động thực thi quyền giám sát phát hiện và xử lý văn bản trái pháp luật, nhân dân thông qua các đại diện của mình phát hiện và phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền đồng thời tăng cường sự kiểm tra giữa cơ quan Nhà nước cấp trên và cấp dưới, tăng cường sự giám sát của các đoàn thể, tổ chức và công dân.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ vấn đề lý luận và thực trạng đã được tác giả trình bày ở Chương 1 và Chương 2, Nhà nước ta cần phải có những giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng ban hành văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý nhằm hướng tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành.

Chương 3 của luận văn đã đề cập những giải pháp tuy chưa thật đầy đủ nhưng đó là những giải pháp căn bản và cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm bảo đảm cho hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp nói chung có hiệu quả nhất. Bên cạnh những giải pháp trước mắt, luận văn gợi mở những giải pháp mang tính lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật như: Trao thẩm quyền cho Tòa án Hành chính trong việc phán quyết về tính hợp pháp của văn bản Quy phạm pháp luật; tăng cường trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể ban hành cũng như tham mưu soạn thảo, thẩm định văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý; liên kết chặt chẽ, đồng bộ giữa hoạt động kiểm tra, xử lý với các hoạt động xây dựng, rà soát, hệ thống hóa và theo dõi thi hành văn bản Quy phạm pháp luật… nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước một cách có hiệu quả.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Văn bản Quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ban hành nói chung, của thành phố Hà Nội nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp thành phố Hà Nội quản lý toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội tại địa phương mình.Vừa qua, khi Luật Thủ đô số 25/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2012 thì việc đổi mới phương thức quản lý ngày càng được quan tâm, đặc biệt là việc phân cấp mạnh mẽ về thẩm quyền trong hoạt động quản lý nhà nước.

Trong những năm gần đây, Hà Nội đã ban hành một số lượng văn bản Quy phạm pháp luật tương đối nhiều, nhất là ở cấp tỉnh, một năm ban hành khoảng trên 100 văn bản Quy phạm pháp luật. Điều này đã đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh kịp thời những quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn đời sống xã hội theo đặc thù của thành phố Hà Nội, góp phần thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cụ thể hóa các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tế thời gian qua cho thấy, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý vẫn chưa được các cấp, các ngành chú trọng đúng mức. Hoạt động được tiến hành nhưng chưa đem lại hiệu quả cao, nhất là ở cấp chính quyền địa phương; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động kiểm tra, xử lý chưa đồng bộ; việc xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý chưa nghiêm, còn mang tính hình thức, thậm chí không xử lý; đội ngũ công chức thực hiện hoạt động kiểm tra còn thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn nghiệp vụ; điều kiện vật chất cho công tác này còn chưa đảm bảo …

Từ thực trạng trên đây, việc quan tâm đến hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành là rất cần thiết. Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

Về cơ sở lý luận, luận văn đã đề cập những vấn đề lý luận cơ bản nhất của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật như đối tượng của hoạt động này là văn bản Quy phạm pháp luật, tiêu chí văn bản Quy phạm pháp luật hợp pháp và hợp lý cho đến ý nghĩa, mục đích, nguyên tắc, phương thức, thẩm quyền và trình tự thủ tục thực hiện. Luận văn đã tiếp cận thẩm quyền kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật thuộc về cơ quan ban hành văn bản QPPL, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật. Luận văn đã khẳng định hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý của văn bản Quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Thông qua hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua, luận văn đã đánh giá khá đầy đủ và toàn diện về thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành, luận văn đã đưa ra một số giải pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương nói chung ban hành trong thời gian tới.

Một là, hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành theo hướng: Hoàn thiện quy định của pháp luật về đối tượng, nội dung của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật; trao thẩm quyền xử lý văn bản Quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý cho Tòa án hành chính; hoàn thiện pháp luật về thủ tục, trình tự kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật; hoàn thiện quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý văn bản Quy phạm pháp luật và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm trong việc xử lý, ban hành và tham mưu ban hành văn bản Quy phạm pháp luật bất hợp pháp.

Hai là, xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy cho các cơ quan chức năng, tăng cường đội ngũ công chức thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật đủ về lượng và có năng lực nghề nghiệp, trình độ chuyên môn vững vàng thông qua công tác tập huấn nghiệp vụ và cử đi học tập, bồi dưỡng chuyên đề chuyên sâu về kiểm tra văn bản Quy phạm pháp luật.

Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

Bốn là, bảo đảm các điều kiện cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật như xây dựng cơ chế tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị, cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật.

Năm là, hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật nhằm tạo được lòng tin của người dân đối với nhà nước, góp phần bảo đảm kỉ cương, nền nếp trong công tác xây dựng cũng như thực hiện văn bản, phần nào đã bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Sáu là, liên kết chặt chẽ kiểm tra, xử lý văn bản Quy phạm pháp luật với xây dựng, rà soát, hệ thống hóa và theo dõi thi hành pháp luật. Đây là giải pháp cơ bản nhằm hướng tới mục tiêu chung của những hoạt động này đó là hoàn thiện hệ thống pháp luật cho nên cần đặt chúng trong một tổng thể, luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

Ngoài các giải pháp cơ bản nêu trên cần phải tiến hành đồng thời các giải pháp như: Gắn việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản với việc nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản Quy phạm pháp luật, chú trọng phối hợp với các cơ quan truyền thông để kịp thời phản ánh nội dung, kết quả của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, có hình thức khen thưởng kịp thời đối với cơ quan, cán bộ, công chức và cộng tác viên kiểm tra văn bản, đồng thời tăng cường sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng, sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước và xã hội trong việc kiểm tra và xử lý văn bản Quy phạm pháp luật. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên đây sẽ góp phần nâng cao chất lượng kiểm tra xử lý văn bản Quy phạm pháp luật, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động ban hành VBQPPL của địa phương, đáp ứng các yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân và vì dân, cũng như các yêu cầu về phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế và mở rộng dân chủ ở nước ta hiện nay./ Luận văn: Giải pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *