Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta đang rất được đẩy mạnh. Bắt đầu từ năm 1986 đến nay, trải qua hơn 20 năm, công cuộc cải cách bộ máy nhà nước đã diễn ra qua nhiều giai đoạn và đạt được những thành tựu nhất định. Cùng với sự phát triển nhanh về mặt kinh tế, chính trị ổn định, còn có thể nhận thấy những thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa – xã hội, một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền cũng được tăng cường cả về lượng và chất, cả hình thức và nội dung, đồng bộ trên mọi lĩnh vực. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền, Điều 2 nêu rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Việc ghi nhận đó là cơ sở pháp lý xác định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Nhưng xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình lâu dài, phức tạp, các quốc gia xây dựng nhà nước pháp quyền với những xuất phát điểm khác nhau về đời sống kinh tế – xã hội và văn hóa và bằng những con đường, bước đi khác nhau, không có một mô hình chung cho mọi dân tộc.
Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tế đã chứng tỏ rằng, công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền phải đi đôi với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao trình độ văn hóa pháp luật cho người dân. Cả ba nhân tố đó phải được tăng cường đồng bộ, phát triển hài hòa thì công cuộc cải cách bộ máy nhà nước mới hiệu quả, dân chủ hóa đi vào cuộc sống một cách lành mạnh, nhà nước pháp quyền mới từng bước được xây dựng và phát triển, hoàn thiện.
Điều đó cho thấy, việc xây dựng và nâng cao trình độ văn hóa pháp luật cho người dân đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Một nền văn hóa pháp luật phát triển sẽ góp phần vào một hệ thống pháp luật phát triển và một quốc gia hưng thịnh. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Lĩnh vực kinh doanh là một trong những lĩnh vực trọng điểm của bất kỳ một nền kinh tế nào. Hoạt động kinh doanh tốt, mang lại lợi nhuận cao luôn đồng hành với chất lượng cuộc sống cao của người dân, trình độ dân trí phát triển và sự phồn thịnh của một quốc gia. Với ý nghĩa đó, việc xây dựng hành lang pháp lý trong kinh doanh cũng như nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho các chủ thể luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng.
Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây công tác nâng cao vấn đề văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh không ngừng được tăng cường, hoàn thiện cả về nội dung lẫn phương thức thực hiện và đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật qui định các hành vi, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực kinh doanh được ban hành, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, cụ thể, gắn liền với thực tế và thuận lợi trong thực hiện. Các cơ quan nhà nước từ Chính phủ đến các Bộ, ngành, địa phương đều hết sức chú trọng và thúc đẩy việc xây dựng pháp luật, ban hành nhiều văn bản cụ thể hơn, dễ thực hiện hơn trong kinh doanh. Đồng thời rất nhiều văn bản pháp luật liên tịch giữa các bộ, các ngành cũng được ban hành đồng loạt nhằm phối hợp có hiệu quả trong công tác nâng cao vấn đề văn hóa pháp luật trong kinh doanh.
Nhìn chung thì trình độ văn hóa pháp luật của đa số các chủ thể trong kinh doanh ở nước ta hiện nay đã có nhiều tiến bộ: sự hiểu biết pháp luật và vận dụng pháp luật trong các nghiệp vụ kinh doanh được nâng lên rõ rệt thể hiện qua việc chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước, qui định của pháp luật; tình trạng tội phạm kinh doanh cũng đã được khắc phục đáng kể; tình trạng không tuân thủ hay cố tình “lách luật” của các tổ chức cá nhân hiện nay cũng đã giảm nhiều… Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng, trong bối cảnh xã hội luôn phát triển không ngừng, đặc biệt trong thời gian gần đây khi sự hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, tốc độ phát triển của công nghệ thông tin bùng nổ… đã có những ảnh hưởng khác nhau đến đời sống của nhân dân Việt Nam (tác động tiêu cực hoặc tích cực). Theo đánh giá của các nhà làm công tác xây dựng luật, bảo vệ pháp luật cho thấy bên cạnh tác động tích cực là thúc đẩy xã hội phát triển về nhiều mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị… thì còn có những tác động tiêu cực: niềm tin vào hệ thống pháp luật quốc gia ngày càng suy giảm, cùng với nó là những hành vi vi phạm qui định đã được pháp luật cấm hay cố tình không thực hiện các nghĩa vụ kinh doanh theo qui định. Nền kinh tế hội nhập cũng làm cho tình trạng tội phạm kinh tế xuyên quốc gia tăng mạnh, nhờ vào sự thông thoáng trong hành lang pháp lý của các quốc gia, tối đa hóa việc mở cửa, tạo điều kiện các các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư trong nước. Chính động thái này vô tình đã giúp cho các tội phạm kinh tế hoạt động dễ dàng hơn.
Nâng cao vấn đề văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho các chủ thể nhằm hình thành nếp sống và làm việc tôn trọng pháp luật, tuân thủ các qui định của pháp luật là một tất yếu khách quan đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa pháp luật trong kinh doanh của các chủ thể kinh doanh (trên một số phương diện cụ thể) và những kết quả mà công cuộc xây dựng và nâng cao văn hóa pháp luật đã đạt được trong thời gian qua. Từ đó xem xét đến những tác động (tích cực, tiêu cực) của kết quả đó đối với vấn đề nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, hình thành nếp sống sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật. Bên cạnh đó nêu ra một số kiến nghị cụ thể về việc xây dựng, văn hóa pháp luật; các giải pháp xây dựng, hoàn thiện công tác này nhằm góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay đã được nghiên cứu, bình luận, trao đổi dưới nhiều hình thức. Thông qua những tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứu lập pháp, Luật học, Dân chủ và pháp luật, Nhà nước và pháp luật… các tác giả đã bày tỏ quan điểm cá nhân của mình xung quanh khái niệm, vai trò, và những biện pháp nâng cao vấn đề văn hóa pháp luật. Cụ thể như sau: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
- Lê Đức Tiết (2005), Văn hóa pháp lý Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Hoàng Thị Kim Quế (2004), “Văn hóa pháp lý – dòng riêng giữa nguồn chung của văn hóa dân tộc Việt Nam“, Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
- Nguyễn Văn Động (2006), “Văn hóa pháp lý trong điều kiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay“, Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
- Lê Vương Long (2006), “Văn hóa pháp lý Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa“, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- Lê Minh Tâm (1998), “Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay“, Tạp chí Luật học.
- Lê Thanh Thập (1999), “Mấy suy nghĩ về văn hóa và văn hóa pháp luật ở nước ta“, Tạp chí Luật học.
- Phạm Duy Nghĩa (2008), “Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật“, Tạp chí khoa học – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hồi (2008), “Ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật“, Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
Với đề tài văn hóa pháp luật cũng đã từng có nhiều luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu và phân tích. Trong đó không thiếu các đề tài cấp Bộ, cấp nhà nước, cấp tỉnh. Điều này cho thấy tầm quan trọng của vấn đề nâng cao trình độ văn hóa pháp luật cho người dân cũng như thể hiện thái độ quan tâm, chú trọng của Đảng và Nhà nước ta.
Luận văn này người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề về phương diện lý luận chung về văn hóa pháp luật, chú trọng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay và hoạt động nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh, những kết quả đạt được và những tồn tại. Đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao, hoàn thiện hoạt động nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho người dân nước ta trong tình hình mới hiện nay.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài này, người viết muốn đi sâu tìm hiểu về cơ sở lý luận của vấn đề văn hóa pháp luật và văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc phân tích khái niệm và các yếu tố cấu thành của văn hóa pháp luật, luận văn nhằm nêu bật vai trò và sự tác động của văn hóa pháp luật đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh doanh. Với những giá trị mà văn hóa pháp luật mang lại cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là hoạt động kinh doanh lành mạnh, công bằng, phát triển, đồng thời tình hình và môi trường kinh doanh cũng phản ánh nhu cầu của thực tiễn đời sống đối với sự điều chỉnh pháp lý cũng như sự phù hợp, tính khả thi của những qui phạm pháp luật đã được ban hành cũng được đề cập và nghiên cứu cụ thể trong luận văn. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Chương 2 luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay thông qua việc nghiên cứu những thành tựu và hạn chế hiện hữu của từng yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật kinh doanh. Cũng bằng một số những vụ án cụ thể, kết hợp với việc tổng hợp tình hình thực hiện qui phạm pháp luật kinh doanh để nêu bật ý thức, trình độ pháp lý của các chủ thể kinh doanh hiện nay. Qua đó, người viết mong muốn đóng góp một số ý kiến về việc hoàn thiện, nâng cao hiệu quả văn hóa pháp luật trong kinh doanh ở Việt Nam hiện nay thông qua việc đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp, cách thức triển khai thực hiện trên thực tế đối với công tác nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
Luận văn được nghiên cứu và hình thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn….
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa pháp luật và văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 2: Thực trạng và những biện pháp chủ yếu về xây dựng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT VÀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. VĂN HÓA PHÁP LUẬT Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
1.1.1. Quan niệm về văn hóa pháp luật
Vốn là một hiện tượng xã hội hết sức đa dạng, đa cấp độ, văn hóa từng được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau. Ở trình độ lý luận và yêu cầu của xã hội ngày nay, văn hóa được coi là tất cả những gì liên quan đến con người, ít nhiều thể hiện được sức mạnh bản chất của con người. Văn hóa ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, từ giai đoạn khởi thủy cho đến giai đoạn phát triển thịnh vượng sau này. Quá trình phát triển của văn hóa cũng là quá trình loài người tiến hóa, đi lên, nắm bắt các qui luật tự nhiên và làm chủ thế giới. Có thể nói, sự phát triển của văn hóa chính là quá trình con người tự hoàn thiện mình, hoàn thiện xã hội, xây dựng một xã hội tiến bộ hơn, dân chủ hơn. Văn hóa đích thực là ánh sáng dẫn dắt đời sống nhân loại đi tới những giá trị cao cả để đạt được sự toàn thiện, toàn mỹ. Bởi vậy, làm lành mạnh môi trường văn hóa, tạo điều kiện cho văn hóa phát triển cũng có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển tiến bộ xã hội và hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân.
Văn hóa là khái niệm có nội hàm rộng lớn, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa về văn hóa đã được các học giả đề cập và phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1942, đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự tinh tồn [15].
Cách định nghĩa văn hóa này là khá toàn diện, thể hiện được sự nguồn gốc, chức năng của văn hóa, đồng thời cũng phản ánh tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, thời kỳ lịch sử này sang thời kỳ lịch sử khác của văn hóa.
Theo định nghĩa của UNESCO thì:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên nó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [35].
Theo cách hiểu này thì văn hóa trong một lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể của mỗi dân tộc được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi sau: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
- Các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ (yếu tố về ý thức).
- Những giá trị vật chất, kỹ thuật do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực đó.
- Năng lực, cách thức sử dụng các dạng vật chất đã sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống con người cả về vật chất và tinh thần.
Từ “văn hóa” trong tiếng Latin là “culture”, nghĩa là sự trồng trọt. Theo nghĩa gốc, ta có thể hiểu văn hóa là quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ những cá thể sinh học trở thành những con người. Cũng có thể nói rằng văn hóa là môi trường thứ hai để con người trở thành chính bản thân mình. Như vậy, văn hóa có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra, từ công cụ sản xuất đến các vật dụng sinh hoạt, từ tri thức khoa học đến các tác phẩm nghệ thuật. Văn hóa còn hiện diện trên các quan hệ giữa con người với con người dù đó là quan hệ kinh tế hay quan hệ tôn giáo, quan hệ pháp luật hay quan hệ giao tiếp thông thường. Văn hóa còn là bản thân các năng lực cấu thành nhân cách con người là tri thức, tình cảm, ý chí và mọi năng lực lao động sáng tạo…
Dưới góc độ xã hội học thì văn hóa là sản phẩm của con người, là cách quan niệm cuộc sống, tổ chức cuộc sống và sống cuộc sống ấy. Văn hóa có thể được xem xét như hệ thống “các giá trị, chân lý, các chuẩn mực và mục tiêu mà con người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và trải qua thời gian”.
Pháp luật là một lĩnh vực hoạt động xã hội, do đó nó luôn đòi hỏi phải tính đến vai trò và vị trí của nhân tố văn hóa. Trong lĩnh vực pháp luật, trước hết văn hóa được thể hiện như là phương thức quản lí xã hội vì con người, đảm bảo cuộc sống hạnh phúc cho con người. Đồng thời, nó cũng thể hiện như là kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong việc xây dựng và thực thi pháp luật hướng tới chân, thiện, mĩ. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Pháp luật là một trong những yếu tố của văn hóa và văn hóa pháp luật là văn hóa chuyên ngành. Vì vậy để xây dựng được nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì tất yếu phải chú trọng phát triển văn hóa pháp luật. Điều này không chỉ là xu hướng của riêng nước ta mà còn là phương hướng phát triển chung của các nước trên thế giới. Bên cạnh việc phát triển văn hóa giao tiếp, văn hóa du lịch, văn hóa chính trị… thì các quốc gia đều rất chú trọng đến việc phát triển văn hóa pháp luật. Đây được coi là thước đo quan trọng của tiến trình xây dựng xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền trong sạch, vững mạnh.
Văn hóa pháp luật không phải là một thuật ngữ được dùng phổ biến trong luật học như: chế tài, khế ước, nghĩa vụ, lỗi, hành vi mà là một thuật ngữ gắn liền với xã hội học pháp luật, lý luận nhà nước và pháp luật hay nó còn liên quan đến các vấn đề tranh cãi hiện nay như triết học pháp quyền, sự du nhập pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hiện nay, trong giới khoa học pháp lý vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng về văn hóa pháp luật. Ở mỗi một cách nhìn, mỗi người lại có một quan niệm riêng về định nghĩa văn hóa pháp luật. GS.TS Lê Minh Tâm cho rằng:
Văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống qui phạm pháp luật được ban hành trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật [26].
Theo quan điểm của TS Phạm Duy Nghĩa thì “văn hóa pháp luật là một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học hành vi, cách nghĩ, cách ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của các cộng đồng và tộc người” [17]. Một quan điểm khác của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế thì:
Văn hóa pháp lý là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần thuộc hệ thống tác động của pháp luật được thể hiện trong ý chí và hành vi của con người…Văn hóa pháp lý thể hiện ở trình độ cao của sự tôn trọng pháp luật, trình độ tri thức pháp luật của nhân dân; thực trạng có chất lượng của quá trình lập pháp và thực hiện pháp luật, các phương thức hoạt động pháp luật đặc thù như của các cơ quan pháp luật, kiểm tra hiến pháp…; kết quả của hoạt động pháp luật dưới dạng sản phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng như luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp và hành pháp [23].
Mục đích của văn hóa pháp luật nói riêng và văn hóa nói chung là dẫn dắt con người tới những giá trị cao đẹp, hướng tới chân – thiện – mỹ. Văn hóa giúp tăng cường hiệu quả của pháp luật trong xã hội, đồng thời hiệu quả pháp luật lại phản ánh trình độ văn hóa pháp luật của xã hội đó. Phát triển văn hóa pháp luật không những góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật mà còn giúp hoàn thiện, phát triển nhân cách con người. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng văn hóa pháp luật là những giá trị do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm: ý thức pháp luật (tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật), hệ thống pháp luật và hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật thể hiện ở ý thức pháp luật cao, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tiến bộ, hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật hợp pháp.
Có một số tác giả trong quan niệm của mình sử dụng các thuật ngữ như văn hóa pháp lý hay văn hóa tư pháp. Theo cá nhân người viết luận văn, văn hóa tư pháp là những giá trị được biểu hiện thông qua các qui định pháp luật và hoạt động của riêng hệ thống tư pháp, tức là trong hoạt động (bao gồm thẩm quyền, giới hạn xét xử, nghĩa vụ) của các cơ quan tư pháp. Đồng thời cũng là những quan niệm, suy nghĩ, thái độ, hành vi ứng xử của các tầng lớp xã hội đối với các văn bản pháp luật về tư pháp, hệ thống các cơ quan tư pháp và các cá nhân trong hệ thống đó. Văn hóa tư pháp cũng chỉ là một lĩnh vực của văn hóa pháp luật, bên cạnh các lĩnh vực khác như: văn hóa lập pháp, văn hóa hành chính, văn hóa tư vấn pháp luật, văn hóa phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật… Còn văn hóa pháp lý hay văn hóa pháp luật đều thể hiện những giá trị của cả hệ thống luật pháp trên tất cả các ngành, lĩnh vực trong đời sống xã hội. Như vậy lựa chọn thuật ngữ văn hóa pháp lý hay văn hóa pháp luật đều có thể bao quát và phù hợp với định nghĩa và các yếu tố cấu thành.
1.1.2. Đặc điểm của văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật có các đặc điểm của văn hóa nói chung, các đặc điểm riêng của mình và luôn có mối quan hệ mật thiết với các dạng văn hóa khác. Các đặc điểm của văn hóa pháp luật có thể kể đến là:
Văn hóa pháp luật có tính hệ thống, tính lịch sử: văn hóa pháp luật bao gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận và những yếu tố đó luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là một hệ thống, một bức tranh tổng thể chứ không phải là một sự liệt kê, một phép cộng giản đơn. Văn hóa pháp luật cũng là sự kết tinh sáng tạo của con người qua nhiều thế hệ, nhiều giai đoạn. Do đó, nghiên cứu văn hóa pháp luật luôn phải đặt nó trong sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại.
Văn hóa pháp luật có tính giá trị: các giá trị đó có thể bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần. Văn hóa pháp luật có những giá trị riêng về công bằng, công lý, tự do, bình đẳng, dân chủ. Văn hóa pháp luật xác lập một hệ thống giá trị pháp luật cho xã hội với các khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực hành vi của con người.
Văn hóa pháp luật luôn có tính giao lưu, tính mở: văn hóa pháp luật của một quốc gia luôn có mối quan hệ tương tác với nền văn hóa pháp luật khu vực và thế giới. Văn hóa pháp luật thể hiện bản sắc riêng của dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa pháp luật của các nước khác trong quá trình mở rộng giao lưu quốc tế.
1.1.3. Chức năng của văn hóa pháp luật Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Văn hóa pháp luật thực hiện những chức năng của văn hóa trong một lĩnh vực đặc biệt – lĩnh vực pháp luật. Vì thế, văn hóa pháp luật cũng mang những chức năng chung của văn hóa.
Chức năng nhận thức: đây là chức năng đầu tiên và quan trọng của văn hóa pháp luật. Văn hóa pháp luật nếu thiếu chức năng nhận thức thì không thể đề cập đến chức năng nào khác. Chức năng nhận thức một mặt giúp cho các nhà lập pháp nhận thức đúng các qui luật của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, sự cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh một quan hệ xã hội… từ đó để xây dựng các qui phạm pháp luật tiến bộ, phù hợp với thực tiễn. Mặt khác, chức năng nhận thức của văn hóa pháp luật cũng cung cấp những thông tin, kiến thức pháp luật cho các chủ thể, đồng thời bồi dưỡng niềm tin, tình cảm pháp luật cho các chủ thể pháp luật. Có thể nói văn hóa pháp luật như một cuốn sách về đời sống pháp luật, nó gắn liền với hoạt động sáng tạo pháp luật, thực hiện và áp dụng pháp luật của các chủ thể.
Chức năng định hướng: Văn hóa pháp luật bao gồm những giá trị về mặt vật chất và tinh thần. Những giá trị đó luôn gắn liền với đời sống xã hội và là những mục tiêu hướng đến của con người, đó là những giá trị của chân – thiện – mỹ. Chính điều này đã làm cho văn hóa pháp luật có chức năng định hướng những tư duy, suy nghĩ và hành vi ứng xử của các chủ thể. Văn hóa pháp luật chính là những chuẩn mực hướng con người ta đến những suy nghĩ tích cực và hành vi hợp pháp. Bên cạnh các phương tiện điều chỉnh khác như đạo đức, phong tục tập quán, văn hóa pháp luật trở thành một công cụ hữu hiệu giúp giữ gìn trật tự xã hội, xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh. Sự khác biệt trong cơ chế định hướng của văn hóa pháp luật với các phương tiện điều chỉnh khác là ở chỗ văn hóa pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật, pháp luật do nhà nước ban hành nên có quyền lực cưỡng chế đối tượng phải thi hành. Còn đạo đức hay phong tục tập quán lại được thực hiện thông qua sự tự nguyện của mỗi cá nhân, thông qua sự khích lệ hay chỉ trích của dư luận xã hội. Chuẩn mực văn hóa pháp lý không những hướng con người ta tới những giá trị cao đẹp của pháp luật mà còn giúp hình thành và hoàn thiện nhân cách con người.
Chức năng giáo dục: giáo dục và môi trường giáo dục luôn là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Đối với văn hóa pháp luật, giáo dục lại càng có vai trò quan trọng, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi ứng xử có văn hóa pháp luật hay không của các chủ thể. Chức năng giáo dục của văn hóa pháp luật chính là nằm ở chỗ: nó quyết định việc lựa chọn hay không lựa chọn thực hiện một hành vi tích cực hoặc tiêu cực của con người. Bên cạnh ý thức pháp luật, sự tự giác của mỗi người, chức năng giáo dục pháp luật giúp hỗ trợ cho các chủ thể hành động hợp pháp. Giáo dục pháp luật hiện nay được thực hiện dưới nhiều hình thức: hình thành các trung tâm tư vấn pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, hoạt động phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật, giáo dục pháp luật thông qua việc đào tạo tại các trường Trung học, Đại học… Thông qua đó, văn hóa pháp luật đã nâng cao trình độ hiểu biết, ý thức tôn trọng pháp luật của các tầng lớp nhân dân đồng thời giáo dục lối sống, nhân cách, đạo đức phù hợp với các qui định của pháp luật. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Chức năng phản ánh thực tiễn: Pháp luật luôn luôn phải gắn liền với thực tiễn, với các qui luật của sự vận động và phát triển trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Nhưng thực tiễn cũng chính là bức tranh phản ánh hiệu quả pháp luật, tính đúng đắn và khả thi của các qui phạm pháp luật ban hành. Văn hóa pháp luật với sự phản ánh ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật, hành vi ứng xử của các chủ thể đã trở thành công cụ hỗ trợ giúp cho pháp luật đi sâu vào đời sống hơn, hoàn thiện hơn. Dưới sự tác động của văn hóa pháp luật, việc hoạch định và xây dựng các chính sách pháp luật trở nên đúng đắn hơn, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của đại đa số bộ phận dân chúng, phản ánh những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của họ vào pháp luật. Trong chức năng phản ánh thực tiễn còn có vấn đề dự báo tình hình và xu hướng phát triển của pháp luật. Dựa trên cơ sở nhận thức sâu sắc các qui luật phát triển của đời sống kinh tế xã hội, văn hóa pháp luật đưa ra khả năng dự liệu các qui phạm để điều chỉnh các quan hệ xã hội sẽ phát sinh.
1.1.4. Các cấp độ của văn hóa pháp luật và việc phân loại văn hóa pháp luật
1.1.4.1. Các cấp độ của văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật thể hiện ở những cấp độ khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện khách quan và năng lực nhận thức chủ quan của chủ thể nhận thức. Các cấp độ đó bao gồm: văn hóa pháp luật thông thường, văn hóa pháp luật lý luận và văn hóa pháp luật nghề nghiệp.
Văn hóa pháp luật thông thường: được hiểu là mức độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, thông qua sự phản ánh trực tiếp, giản đơn về các hiện tượng pháp luật. Văn hóa pháp luật thông thường được hình thành dưới sự tác động trực tiếp của những điều kiện khách quan và kinh nghiệm của cuộc sống cá nhân, trong đó yếu tố tâm lý xã hội chiếm vị trí quan trọng. Ở cấp độ này, văn hóa pháp luật nhìn chung mới chỉ biểu hiện ở sự thừa nhận, tiếp thu và xử sự theo sự thừa nhận và tiếp thu đó. Ví dụ, dưới sự tác động của các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật hoặc sự tự học tập, mỗi cá nhân có thể có được sự hiểu biết và nắm được những kiến thức pháp luật nhất định; thông qua việc tham gia vào các hoạt động như bầu cử, góp ý kiến vào các dự án luật và trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể, mỗi người cũng sẽ có được sự hiểu biết và kinh nghiệm nhất định. Nhưng đó mới chỉ là sự hiểu biết thông thường, chưa toàn diện và sâu sắc.
Văn hóa pháp luật lý luận: được hiểu là trình độ nhận thức cao, có hệ thống và sâu sắc về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật. Nói cách khác, đó là sự nhận thức có căn cứ khoa học, được hình thành trong quá trình đào tạo, học tập, nghiên cứu một cách có hệ thống và được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống. Văn hóa pháp luật lý luận có ưu thế đặc biệt, nó là cơ sở cho hoạt động sáng tạo pháp luật, truyền bá tư tưởng, quan điểm pháp lý, cũng như những hoạt động pháp luật thực tiễn.
Văn hóa pháp luật nghề nghiệp: là văn hóa pháp luật của các luật gia và các nhà chức trách mà nghề nghiệp có liên quan đến việc hoạch định chính sách pháp luật, nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật. Văn hóa pháp luật nghề nghiệp là sự kết hợp hài hòa của những yếu tố tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Nó không những chỉ biểu hiện ở trình độ hiểu biết cao của pháp luật mà còn phản ánh trình độ nghiệp vụ, kỹ năng sử dụng và áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các công việc của thực tế đời sống. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Như vậy, văn hóa pháp luật thông thường có tính phổ quát, phong phú được đặc trưng bằng yếu tố tâm lý xã hội; văn hóa pháp luật lý luận thể hiện tính tư tưởng và khoa học sâu sắc, toàn diện còn văn hóa pháp luật nghề nghiệp là sự kết hợp hài hòa của hai cấp độ văn hóa đó. Có thể coi văn hóa pháp luật nghề nghiệp là cầu nối giữa văn hóa pháp luật lý luận và văn hóa pháp luật thông thường. Văn hóa pháp luật thông thường góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của văn hóa pháp luật; văn hóa pháp luật lý luận qui tụ, soi sáng và định hướng cho sự phát triển của văn hóa pháp luật, còn văn hóa pháp luật nghề nghiệp góp phần tạo ra sự hài hòa phát triển của văn hóa pháp luật. Vì vậy trong phát triển văn hóa pháp luật cần chú trọng toàn diện cả ba mặt: nâng cao văn hóa pháp luật thông thường, tăng cường văn hóa pháp luật lý luận và đề cao văn hóa pháp luật nghề nghiệp.
1.1.4.2. Phân loại văn hóa pháp luật
- Phân loại theo chủ thể: gồm văn hóa pháp luật của cá nhân, văn hóa pháp luật nhóm và văn hóa pháp luật xã hội.
Văn hóa pháp luật của cá nhân: thể hiện những quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và các cơ quan pháp luật.
Văn hóa pháp luật ở mỗi cá nhân là khác nhau, thể hiện ở ý thức pháp luật cao hay thấp, suy nghĩ, quan niệm về pháp luật tích cực hay tiêu cực từ đó dẫn đến hành vi hợp pháp hay bất hợp pháp. Văn hóa pháp luật của mỗi cá nhân chịu sự tác động của các yếu tố khách quan (điều kiện kinh tế – xã hội) và các yếu tố chủ quan (tư chất bẩm sinh).
Văn hóa pháp luật nhóm: nhóm ở đây được hiểu là một nhóm người hay một tầng lớp có những điểm chung tương đồng về điều kiện làm việc và sinh hoạt, mục đích, nhu cầu và lợi ích… Do vậy về mặt ý chí và nhận thức pháp luật của nhóm cũng có những điểm chung. Văn hóa pháp luật nhóm do vậy là những quan điểm, tư tưởng điển hình của nhóm về hệ thống pháp luật. Giáo dục và nâng cao văn hóa pháp luật nhóm có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó đóng vai trò là cầu nối giữa văn hóa pháp luật cá nhân và văn hóa pháp luật xã hội. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Văn hóa pháp luật xã hội: được hiểu là những giá trị văn hóa pháp luật đã được thừa nhận rộng rãi và thực thi trên toàn xã hội. Văn hóa pháp luật xã hội thể hiện tích đặc trưng và khái quát cao.
- Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: bao gồm văn hóa lập pháp, văn hóa hành pháp và văn hóa tư pháp.
Văn hóa lập pháp: là những giá trị của văn hóa pháp luật trong hoạt động hoạch định, xây dựng các chính sách pháp luật, văn bản qui phạm pháp luật. Văn hóa pháp luật trải dài trong suốt quá trình lập pháp, từ việc thu thập tài liệu, điều tra thực tiễn các quan hệ xã hội cần điều chỉnh, xây dựng dự thảo, lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân cho đến giai đoạn thông qua và ban hành văn bản pháp luật.
- Văn hóa hành pháp: là những giá trị văn hóa pháp luật trong lĩnh vực thực thi pháp luật. Nó bao gồm hoạt động của các cơ quan hành pháp và cả hoạt động của các cá nhân được nhà nước giao quyền làm việc trong các cơ quan đó.
- Văn hóa tư pháp: giá trị của văn hóa pháp luật được biểu hiện trong lĩnh vực tư pháp: điều tra, xét xử…
Có một số tác giả cho rằng cần bổ sung hai loại hình văn hóa xét xử và văn hóa phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật. Nhưng theo tác giả, việc đề cập đến các loại hình văn hóa pháp luật theo cách liệt kê như trên thì không những dừng lại ở hai loại hình văn hóa đó mà sẽ còn phát sinh nhiều loại hình khác như: văn hóa tư vấn pháp luật, văn hóa pháp luật điều tra… Vì vậy cần phân chia rõ các lĩnh vực tác động của văn hóa pháp luật là: lập pháp, hành pháp và tư pháp để từ đó xếp các loại hình văn hóa theo các lĩnh vực khác nhau.
Phân loại theo phạm vi tác động: có thể kể đến văn hóa pháp luật ở trường học, văn hóa pháp luật ở tòa án, văn hóa pháp luật ở các cơ quan hành chính sự nghiệp…
1.1.5. Các yếu tố hợp thành văn hóa pháp luật Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Văn hóa pháp luật là một bộ phận của nền văn hóa nói chung, là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật. Phạm trù văn hóa pháp luật cũng như những yếu tố cấu thành ra nó hiện nay vẫn tồn tại hai quan niệm khác nhau.
Quan niệm thứ nhất cho rằng, các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật được hiểu theo nghĩa hẹp. Đây là được coi là quan niệm truyền thống và được ghi nhận trong hầu hết các tác phẩm, công trình nghiên cứu về văn hóa pháp luật. Theo đó, văn hóa pháp luật bao gồm các yếu tố cấu thành là: tri thức pháp luật của các chủ thể; thái độ, tình cảm tôn trọng pháp luật và hành vi ứng xử theo pháp luật.
Quan niệm thứ hai cho rằng, các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng. Theo đó, văn hóa pháp luật bao gồm hai yếu tố là: hệ thống pháp luật (được phân biệt ở hai hệ thống pháp luật chủ yếu là hệ thống pháp luật Anh – Mỹ hay còn gọi là Common law và Civil law); truyền thống pháp luật (bao gồm các yếu tố như nguồn pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật, ý thức pháp luật và hành vi xử sự đúng pháp luật). Quan niệm này tồn tại ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, đặc biệt là ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.
Theo quan điểm cá nhân của tác giả luận văn, những yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật nên được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là ngoài các yếu tố theo nghĩa hẹp thì nên bổ sung yếu tố bản thân hệ thống pháp luật trở thành bộ phận của nền văn hóa pháp luật quốc gia. Bởi lẽ, hệ thống pháp luật quốc gia với những văn bản pháp luật được ban hành sẽ thể hiện sự tiến bộ hay không, tính đúng đắn hay không và tính phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội hay không. Hệ thống pháp luật chính là hành lang pháp lý, là chuẩn mực pháp luật để các chủ thể thực hiện những hành vi và ứng xử theo đúng qui định của pháp luật. Không có hệ thống pháp luật thì không thể biết trình độ hiểu biết pháp luật của các chủ thể đến đâu, họ có tôn trọng các qui định của pháp luật hay không và họ có hành động theo các chuẩn mực pháp lý hay không. Nói đúng hơn, hệ thống pháp luật đóng vai trò như một tấm gương phản chiếu chính ý thức, trình độ và hành vi của các chủ thể, để từ đó cho thấy văn hóa pháp luật của họ có cao hay không. Vì lẽ đó, nói đến văn hóa pháp luật không thể không nói đến hệ thống pháp luật, tuy hệ thống pháp luật là một bộ phận đứng biệt lập với các yếu tố còn lại; có nghĩa là các yếu tố trình độ, ý thức và hành vi là thuộc về bản thân của các chủ thể còn hệ thống pháp luật lại thuộc về nhà nước, do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ban hành.
Văn hóa pháp luật cho thấy một bức tranh tổng thể về các yếu tố cấu thành. Mỗi yếu tố thể hiện một mặt, một khía cạnh nhất định của văn hóa pháp luật, nhưng chúng ta chỉ có thể có được cái nhìn toàn diện về văn hóa pháp luật khi xem xét và phân tích tất cả các yếu tố cũng như mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó mà thôi. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
1.1.5.1. Ý thức pháp luật (bao gồm tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật)
Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của con người. Có thể nói:
Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp luật trên các phương diện, tiêu chí cơ bản như: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các qui định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành của các cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã hội [24].
Theo cách hiểu này thì ý thức pháp luật bao gồm cả tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật. Tri thức pháp luật biểu hiện ở trình độ, sự hiểu biết về pháp luật của các chủ thể. Tri thức pháp luật có thể cao hoặc thấp, có thể đồng đều hoặc không giữa các chủ thể, nhưng nói đến văn hóa pháp luật tức là phải nói đến một trình độ hiểu biết pháp luật cao.
Tình cảm pháp luật chính là những suy nghĩ, thái độ, niềm tin và sự tôn trọng pháp luật của các chủ thể. Văn hóa pháp luật đòi hỏi những suy nghĩ tích cực, lạc quan về pháp luật, thái độ tuân thủ nghiêm chỉnh và tôn trọng các chuẩn mực pháp lý.
Tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật là những biểu hiện của ý thức pháp luật. Tuy nhiên, ý thức pháp luật là sản phẩm của bộ não con người, sinh ra trong quá trình con người tư duy và hành động. Do vậy, ý thức pháp luật là những tư duy của con người đối với hệ thống pháp luật. Tư duy đó có thể đúng hoặc sai, có thể phù hợp hoặc không phù hợp, hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Nhưng tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật với vai trò là một yếu tố của văn hóa pháp luật thì chỉ có thể là những tri thức cao và tình cảm tốt đẹp, ý thức đúng đắn về pháp luật. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Ý thức pháp luật được hình thành và phát triển từ những điều kiện kinh tế, điều kiện vật chất của xã hội. Toàn bộ những điều kiện khách quan về địa lý tự nhiên, phong tục tập quán, truyền thống đạo đức dân tộc…những điều kiện kinh tế – xã hội bên ngoài mỗi quốc gia, xu thế vận động quốc tế ở mỗi thời kỳ đều có tác động chi phối đến ý thức pháp luật. Ý thức pháp luật khác với các dạng ý thức khác ở chỗ: đối tượng, lĩnh vực tư duy của nó là pháp luật.
- Đặc điểm của ý thức pháp luật
- Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật chịu sự quy định của tồn tại xã hội, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối
Thứ nhất, ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội:
Trong mỗi xã hội theo từng thời kỳ lịch sử phát triển khác nhau thì tồn tại xã hội bao giờ cũng tương ứng với ý thức xã hội nhất định. Tuy nhiên, xã hội luôn phát triển không ngừng và sự tương xứng này không phải lúc nào cũng hài hòa và cân xứng về mọi phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Bởi vì, xuất phát từ những yếu tố tâm lý pháp luật mà những thói quen, truyền thống, phong tục, tập quán luôn đóng vai trò quan trọng trong tiềm thức của mỗi con người.
Do vậy, trên thực tế theo sự biến đổi của xã hội cho dù tồn tại xã hội cũ mất đi nhưng ý thức xã hội trong đó có ý thức pháp luật do nó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng trong xã hội. Ví dụ, biểu hiện của tâm lý pháp luật của thời kỳ phong kiến như sự tồn tại của lối làm việc mang tính chất quan liêu, hách dịch trong công tác quản lý hành chính nhà nước đã ăn sâu vào tiềm thức và trở thành một thói quen dai dẳng. Mặc dù chúng ta đã thực hiện cơ chế quản lý hành chính “một cửa” nhưng dường như tâm lý pháp luật của một số bộ phận cán bộ vẫn bị ảnh hưởng của nếp nghĩ và cách làm cũ, vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nó vẫn đang tồn tại trong xã hội gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước.
Thứ hai, ý thức pháp luật mặc dù lệ thuộc rất nhiều vào tồn tại xã hội và chịu sự quy định của nó nhưng vẫn có tính độc lập tương đối: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Trong một số điều kiện nhất định ý thức pháp luật vẫn có tính vượt trội hơn so với sự phát triển của tồn tại xã hội, đặc biệt là tư tưởng pháp luật khoa học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Bởi lẽ, nếu như đó là những tư tưởng của các nhà cầm quyền sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi để thể hiện thành pháp luật và tạo ra những biến đổi vượt trội trong đời sống. Ví dụ, những tư tưởng, quan điểm của C. Mác về pháp luật vượt lên trước thời đại mà ông đang sống. Đó là dự báo về pháp luật kiểu mới – pháp luật xã hội chủ nghĩa của xã hội ngày nay. Hay tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường phát triển của Việt Nam là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân.
Thứ ba, ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó, song nó cũng kế thừa những yếu tố nhất định thuộc về ý thức pháp luật của thời đại trước đó. Tuy nhiên sự kế thừa đó có thể là tiêu cực hoặc tích cực.
Tích cực, đó là sự nhận thức đúng đắn đối với tri thức pháp luật và xử sự tuân theo sự định hướng của các quy phạm pháp luật đáp ứng được các yêu cầu mà pháp luật đặt ra.
Tiêu cực, đó là sự kế thừa ý thức pháp luật của người dân về thái độ, tâm lý, hiểu biết pháp luật, chấp hành pháp luật đi ngược lại với xu thế hiện đại. Ví dụ như những tàn dư của chế độ phong kiến lạc hậu để lại trong ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân trong xã hội như phân tích ở trên là yếu tố kìm hãm sự phát triển của đất nước trong tình hình mới.
Thứ tư, ý thức pháp luật tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, với ý thức chính trị, đạo đức và các yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc pháp lý như nhà nước và pháp luật.
Sự tác động trở lại này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các hiện tượng nêu trên phụ thuộc vào ý thức pháp luật tiến bộ hay lạc hậu. Ý thức pháp luật cao thể hiện trình độ hiểu biết đúng đắn về tri thức pháp luật, xử sự phù hợp với các yêu cầu của pháp luật tức là hoạt động thực thi, áp dụng pháp luật trên thực tế phát huy hiệu quả mong muốn theo đúng sự định hướng của nhà nước.
Đồng thời, ý thức pháp luật cao đặc biệt ý thức pháp luật chuyên ngành của những người xây dựng luật cao thì sẽ đảm bảo cho quá trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tế khách quan và tính khả thi trong quá trình thực thi, áp dụng. Ngược lại, ý thức pháp luật kém, không hiểu biết đúng về tri thức pháp luật, thái độ coi thường, thờ ơ với pháp luật và xử sự không đáp ứng được các yêu cầu pháp luật đặt ra thì đương nhiên điều này sẽ kìm hãm sự phát triển của pháp luật cũng như các hiện tượng chính trị, đạo đức và các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng pháp lý.
- Ý thức pháp luật mang tính giai cấp Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Vị thế xã hội của mỗi giai cấp nhất định trong xã hội sẽ quyết định đến thế giới quan pháp lý của họ. Chính vị trí xã hội đó sẽ tạo ra thế giới quan pháp lý tương ứng. Tuy nhiên, mỗi quốc gia chỉ tồn tại một hệ thống pháp luật chung thống nhất nhưng về ý thức pháp luật lại tồn tại nhiều hệ thống của giai cấp thống trị, giai cấp bị trị hay giai cấp trung gian.
Về nguyên tắc, chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp thống trị là được thể hiện thành pháp luật. Thông thường trong lịch sử từ trước đến nay thì ý thức pháp luật của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là mâu thuẫn với nhau về quyền, lợi ích của họ trong xã hội.
Đối với nước ta thì ý thức pháp luật của giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp khác trong xã hội có lợi ích thống nhất nhau về cơ bản nên tạo ra sự thống nhất cao về ý thức pháp luật. Điều đó thể hiện sự thống nhất về tư tưởng, chính trị của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội ta.
1.1.5.2. Hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật là tổng thể các qui phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Hệ thống pháp luật giữ vai trò quyết định đối với quá trình hình thành và phát triển của văn hóa pháp luật. Có thể nói, hệ thống pháp luật là sự biểu hiện cụ thể của văn hóa pháp luật. Thông qua hệ thống pháp luật người ta có thể có được những thông tin cơ bản nhất về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử.
Hệ thống pháp luật nước ta bao gồm: pháp luật thành văn (các bộ luật, luật, nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị, nghị quyết, công văn) được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và pháp luật chưa thành văn (hương ước, tục lệ, tập quán). Cũng cần phải kể đến một loại văn bản pháp luật nữa là các bản báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của Tòa án tối cao được xem như một loại nguồn mới của pháp luật. Tuy nước ta chưa công nhận án lệ là một loại nguồn pháp luật nhưng đối với các tổng kết xét xử của Tòa án thì được áp dụng và hướng dẫn thông qua các vụ án cụ thể đã xét xử trước đó. Có quan điểm cho rằng, các học thuyết pháp lý, các tác phẩm pháp luật, công trình nghiên cứu pháp luật, sách tham khảo luật, báo chí, tạp chí chuyên khảo…cũng được coi là bộ phận của hệ thống pháp luật, bởi nó cũng ít nhiều chứa đựng các phân tích pháp luật, định hướng cho hành vi của con người. Nhưng theo quan điểm của tác giả thì chưa thể coi đây là bộ phận của hệ thống pháp luật mà chỉ nên coi là những tài liệu tham khảo. Bởi xét ở các khía cạnh: chủ thể ban hành, nội dung qui phạm pháp luật, tính cưỡng chế thi hành thì các học thuyết, tác phẩm pháp luật trên chưa thể đáp ứng. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Trong mối quan hệ với văn hóa pháp luật, hệ thống pháp luật vừa là đối tượng để nhận thức cho quá trình hình thành và phát triển văn hóa pháp luật vừa là sự hiện thực hóa của văn hóa pháp luật.Vì vậy, nếu văn hóa pháp luật là cơ sở, tiền đề, phản ánh thực tiễn qui luật của đời sống và suy nghĩ, quan điểm của các tầng lớp nhân dân để từ đó các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản pháp luật đúng đắn và phù hợp thì hệ thống pháp luật lại tác động mạnh mẽ tới quá trình hình thành và phát triển văn hóa pháp luật. Không có sự hiểu biết, nhận thức sâu sắc về pháp luật thì không thể có văn hóa pháp luật đúng đắn và đầy đủ. Tất nhiên, hệ thống pháp luật khi đó phải đạt tới trình độ phát triển cao, hoàn thiện về mọi mặt với những tiêu chí như: tính đồng bộ, tính toàn diện, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý cao.
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự thống nhất giữa các ngành luật, giữa các chế định trong ngành luật và giữa các qui phạm trong chế định, trong một ngành luật và của cả hệ thống; loại ra ngoài những mâu thuẫn trùng lặp hay chồng chéo trong bản thân hệ thống pháp luật. Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ văn bản dưới luật phải phù hợp với văn bản luật, tránh sự chồng chéo trong qui định về cùng một vấn đề giữa các văn bản luật, gây khó khăn cho các chủ thể khi thực thi.
Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện khả năng đáp ứng sự điều chỉnh của pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật phải có đầy đủ các ngành luật, các chế định pháp luật và các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là một hệ thống không tạo ra những khe hở trong các qui định pháp luật, không có những lĩnh vực mà pháp luật chưa điều chỉnh.
Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở chỗ, pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Những qui phạm, văn bản pháp luật lạc hậu hay không còn phù hợp (quá thấp so với trình độ phát triển kinh tế xã hội) hay những qui phạm, văn bản pháp luật mang những nội dung quá xa vời, không phù hợp với thực tiễn tại thời điểm được ban hành cần được loại bỏ để thay thế bằng những văn bản qui phạm khác phù hợp hơn. Các văn bản pháp luật cũng cần phải phù hợp với hệ thống chính trị, định hướng phát triển của đất nước. Pháp luật là sự thể hiện ý chí của nhà nước, nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; do đó, pháp luật phải phù hợp với ý chí và lợi ích của nhân dân. Pháp luật cũng phải phù hợp với các yếu tố văn hóa, đạo đức, truyền thống dân tộc, phong tục tập quán, điều ước và thông lệ quốc tế. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Hệ thống pháp luật hoàn thiện thì phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Kỹ thuật pháp lý là tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hóa pháp luật, chứa đựng những nguyên tắc, qui tắc khoa học nhằm tạo cho pháp luật có đủ khả năng để điều chỉnh những quan hệ xã hội hiệu quả. Kỹ thuật pháp lý trong việc xây dựng các văn bản pháp luật thể hiện ở việc vạch ra các nguyên tắc khoa học rõ ràng, ngôn ngữ biểu đạt dễ hiểu nhưng chặt chẽ và chính xác, qui phạm rõ nghĩa và đầy đủ về cơ cấu. Kỹ thuật pháp lý được sử dụng như thế nào luôn để lại dấu ấn trong hệ thống pháp luật. Vì vậy, nó là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.
1.1.5.3. Hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật của các chủ thể
Hành vi của con người là hành vi có ý thức, thể hiện năng lực cá nhân đặt ra trước những mục đích, lựa chọn phương thức thực hiện và dự liệu được kết quả và hậu quả của hành vi đó. Pháp luật có chức năng điều chỉnh hành vi, nghĩa là tác động vào các yếu tố chủ quan của con người và đến lượt mình hành vi của chủ thể làm cho pháp luật trở thành hiện thực và sống động. Thực hiện pháp luật là hành vi của con người phù hợp với các qui định của pháp luật. Đó chính là nội dung thứ ba của văn hóa pháp luật. Nó thể hiện cách thức, khả năng, trình độ sử dụng pháp luật và các công cụ pháp luật của cá nhân, của cộng đồng, của nhà nước trong quá trình đấu tranh vì công lý, vì sự bình đẳng và công bằng xã hội theo hướng chân – thiện – mỹ. Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những qui định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức sau: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
- Tuân thủ pháp luật (xử sự thụ động): các chủ thể kiềm chế không thực hiện các hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
- Thi hành pháp luật: các chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực.
- Sử dụng pháp luật: các chủ thể thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép.
- Áp dụng pháp luật: hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc ban hành các văn bản pháp luật.
Trình độ xây dựng pháp luật tốt để đảm bảo có hệ thống pháp luật hoàn thiện mới chỉ là bước khởi đầu, cần phải có những con người có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức, có văn hóa pháp luật để đưa pháp luật và cuộc sống. Pháp luật được nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội. Song điều đó phụ thuộc vào hoạt động đưa pháp luật trên giấy vào thực tiễn đời sống xã hội, hay nói cách khác là phụ thuộc vào trình độ, năng lực của chủ thể thực hiện các hành vi phù hợp với mục đích yêu cầu của pháp luật. Thực tiễn pháp luật cho thấy, người dân hiểu về pháp luật, thể hiện thái độ tình cảm của mình đối với pháp luật thông qua cái mà họ nhìn thấy, cảm thấy ở hoạt động thực tiễn và áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, các cán bộ công chức trong tình huống cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bản thân. Đồng thời việc sử dụng pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân công dân được qui định trong pháp luật phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực của chủ thể.
Hành vi thực hiện pháp luật được hiểu là hành động của con người và tổ chức của con người diễn ra trong môi trường điều chỉnh của pháp luật. Hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật mang ý nghĩa tích cực và được coi là hành vi hợp pháp hay hành vi xử sự tích cực đối với pháp luật và các hiện tượng pháp luật, dựa trên những tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp với xã hội. Hành vi hợp pháp mang ý nghĩa xã hội và văn hóa to lớn: một mặt nó nói lên động cơ hành vi của chủ thể, mặt khác nó phản ánh nhu cầu tiến bộ của xã hội, sự hài hòa giữa các lợi ích trong xã hội, sự hài hòa giữa nhu cầu của nhà nước và nhu cầu của công dân. Hành vi hợp pháp được xã hội tôn trọng và thể hiện trình độ cao của văn hóa pháp luật. Xét ở góc độ văn hóa, hành vi pháp luật tích cực được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là hành xử sự ủng hộ pháp luật tiến bộ, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ nó; đồng thời đấu tranh xóa bỏ hệ tư tưởng và tâm lý pháp luật lạc hậu, lỗi thời, phản động góp phần xây dựng chế độ xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
C.Mác cho rằng, ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó. Thông qua hành vi của chủ thể pháp luật còn cho thấy khả năng đích thực của pháp luật và việc sử dụng pháp luật trên cơ sở của nhận thức và có mục đích cụ thể. Nói cách khác, trình độ, năng lực thực hiện hành vi phù hợp với mục đích và yêu cầu của pháp luật thể hiện trình độ văn hóa pháp luật của chủ thể pháp luật một cách cụ thể.
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những qui định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các qui định của pháp luật ra các quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội [8]. Áp dụng pháp luật là một hình thức đặc thù của thực hiện pháp luật, đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức cách mạng và có kỹ năng sử dụng pháp luật. Có những phẩm chất trên thì người áp dụng pháp luật mới có thể độc lập, công tâm, có trách nhiệm cao khi tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật. Ban hành một văn bản áp dụng pháp luật trong một trường hợp cụ thể đòi hỏi phải xem xét kỹ tình tiết vụ việc, hiểu biết sâu rộng các qui phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc đó. Văn bản áp dụng pháp luật ban hành phải đúng người, đúng vụ việc, không trái các qui định của pháp luật, như vậy mới thể hiện được kỹ năng, trình độ pháp luật của người áp dụng và văn hóa pháp luật của người đó.
Ý nghĩa xã hội của hành vi hợp pháp biểu hiện ở chỗ, một mặt nó nói lên động cơ hành vi của chủ thể, mặt khác nó phản ánh nhu cầu tiến bộ của xã hội, nói lên sự hài hòa ở những mức độ khác nhau giữa lợi ích xã hội mà pháp luật phản ánh với lợi ích cá nhân, giữa nhu cầu của nhà nước với nhu cầu của cá nhân công dân, có tác dụng làm ổn định xã hội và tăng cường ý thức tôn trọng pháp luật. Vì vậy, hành vi hợp pháp thể hiện trình độ văn hóa pháp luật cao và được pháp luật bảo vệ. Khả năng và trình độ thực hiện hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật phản ánh trình độ văn hóa pháp luật trong việc xử lý hài hòa giữa hai mặt, thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích và thực hiện những nghĩa vụ pháp lý tương ứng. Cũng chính ở đây văn hóa pháp luật được thể hiện một cách rõ nét ở sự tác động tương hỗ ở ba yếu tố cấu thành nó.
Hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật sẽ kéo theo lối sống theo pháp luật. Phương thức hành động của một cộng đồng như thế nào thì sẽ tạo ra lối sống như thế ấy. Lối sống theo pháp luật là lối sống dựa trên nền tảng ý thức pháp luật tiên tiến, là biểu hiện của lối sống có văn hóa. Lối sống theo pháp luật vừa có tác dụng đóng góp vào quá trình sáng tạo văn hóa pháp luật, vừa là quá trình tiếp nhận và phát huy các giá trị văn hóa pháp luật trong thực tiễn.
Tóm lại, nền văn hóa pháp luật của các nước khác nhau có những đặc điểm khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ là được cấu thành bởi ba nội dung cơ bản là: ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và các thiết chế pháp luật, hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật. Ba yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Yếu tố này tạo tiền đề cho yếu tố kia xuất hiện. Ngược lại, yếu tố kia khẳng định sự thành công và tạo đà cho yếu tố này phát triển tới đỉnh cao mới. Để đánh giá về tính chất và trình độ văn hóa pháp luật thì một mặt phải xem xét đến tính chất và trình độ của mỗi yếu tố hợp thành nó, mặt khác lại phải đặt chúng trong thể thống nhất và xem xét cụ thể những mối liên hệ và sự tương hợp giữa chúng.
1.2. NHẬN DIỆN VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
1.2.1. Khái niệm và các yếu tố cấu thành
1.2.1.1. Khái niệm kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh chủ yếu
Năm 1990, Quốc hội thông qua hai đạo luật rất quan trọng, đó là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Hai luật này đã đưa ra một khái niệm mới trong khoa học pháp lý Việt Nam có liên quan nhiều đến việc áp dụng pháp luật thương mại, đó là khái niệm “kinh doanh”. Theo đó Khoản 1 Điều 3 Luật công ty năm 1990 đã định nghĩa “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Còn tại Điều 2 Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 lại cho rằng: “kinh doanh nói trong luật này là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Khái niệm “kinh doanh” cũng được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp 1999, theo đó “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Khoản 3 Điều 2).
Về cơ bản, khái niệm kinh doanh qua các giai đoạn được thể hiện trong các văn bản luật không có gì khác nhau. Bản chất của hoạt động kinh doanh chính là việc tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận là yếu tố cơ bản nhằm giúp phân biệt hoạt động kinh doanh với các hoạt động khác của con người trong đời sống xã hội – những hoạt động không gắn với yếu tố lợi nhuận, như: chính trị, văn hóa, tư pháp, xét xử… Hoạt động kinh doanh theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lời khác. Hàng hóa được hiểu là tất cả các động sản, kể các động sản hình thành trong tương lai và các vật gắn liền với đất đai. Như vậy, kinh doanh là những hoạt động trải dài ở tất cả các khâu của nền kinh tế với mục đích là sinh lời. Đây cũng chính là yếu tố để phân biệt kinh doanh và kinh tế, bởi kinh tế bao trùm cả những hoạt động sinh lời và những hoạt động không mang tính sinh lời như hoạt động quản lý kinh tế.
Khi tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào thì đều phải sử dụng tập hợp các phương tiện, con người, nguồn vốn… và đưa các nguồn lực này vào hoạt động để sinh lời cho doanh nghiệp. Nhưng chúng đều có đặc điểm chung là gắn liền với sự vận động của nguồn vốn, một chủ thể kinh doanh không chỉ có cần vốn mà cần cả những cách thức làm cho đồng vốn của mình quay vòng không ngừng, để đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm. Mặt khác chủ thể kinh doanh phải có được doanh thu để bù đắp chi phí và có lợi nhuận. Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, cần phải lập nên các doanh nghiệp, những cá nhân, tổ chức hội đủ những điều kiện do pháp luật quy định sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, để hợp pháp hóa tư cách và hành vi kinh doanh của mình. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh là một hoạt động mang lại nhiều ích lợi cho xã hội. Nó quyết định sự thịnh vượng của một gia đình, một nhóm người và hay của một quốc gia. Kinh doanh tạo ra lợi nhuận và giá trị vật chất trực tiếp nuôi sống con người, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Lĩnh vực kinh doanh đối với bất kỳ một thời kỳ lịch sử nào, một quốc gia nào cũng rất được chú trọng. Từ công tác lên kế hoạch, vạch ra phương hướng chỉ đạo đến khâu thực thi và kiểm soát các hoạt động đều được chú trọng và quan tâm. Kể từ năm 1986 nước ta chuyển dịch cơ chế kinh tế, từ quan liêu bao cấp trước kia chuyển thành cơ chế thị trường đã mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài. Với hàng loạt các văn bản pháp luật được các cơ quan nhà nước ban hành nhằm mở rộng phạm đầu tư, ngành nghề đầu tư, địa bàn đầu tư cũng như những ưu đãi về thuế, tiền thuê đất đã thực sự tạo ra những động lực thúc đẩy cho sự phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt là những động thái gần đây của nhà nước ta như: quyết liệt trong công tác chống tham nhũng, chỉ đạo sát sao công tác cải cách hành chính, thực hiện đồng loạt cơ chế một cửa ở các cơ quan hành chính nhà nước, giảm và xóa bỏ những hiện tượng hạch sách, nhũng nhiễu của cán bộ hành chính… càng góp phần tạo ra môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Các ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế thị trường Việt Nam đang có những bước chuyển mạnh mẽ cả về chất và lượng. Sự ra đời của hàng loạt các ngành nghề kinh doanh mới như kinh doanh điện tử, kinh doanh công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm… càng làm cho hoạt động kinh doanh ở nước ta thêm phong phú và đa dạng. Điều này cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các chủ thể kinh doanh trong việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh của bản thân, phù hợp với các tiêu chí chủ quan và điều kiện khách quan của mình.
Hiện nay, các ngành nghề kinh doanh chính được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư và xúc tiến thương mại và những ngành nghề khác mang yếu tố sinh lời. Ngành nghề kinh doanh cũng có thể được phân chia theo từng lĩnh vực của nền kinh tế, theo đó có thể kể đến những ngành nghề như:
- Ngành nghề kinh doanh xuất nhập khẩu
- Ngành nghề kinh doanh bất động sản
- Ngành nghề kinh doanh xây dựng, mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Ngành nghề kinh doanh công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm, điện tử, viễn thông.
- Ngành nghề cung ứng dịch vụ vận chuyển hàng hóa, lữ hành, vận chuyển người.
- Ngành nghề cung ứng dịch vụ tài chính…
1.2.1.2. Quan niệm văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Vấn đề văn hóa pháp luật nói chung và văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh nói riêng trong những năm gần đây đang rất được chú trọng và quan tâm. Đặc biệt là kể từ khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng và phát triển một môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, tuân thủ qui định của pháp luật không chỉ là một yêu cầu trong quản lý kinh tế mà còn thể hiện sự ưu việt, tiến bộ của kinh tế Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế. Từ đó mới có thể thu hút nguồn vốn cũng như các cơ hội đầu tư nước ngoài, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế, tạo điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đây là đòi hỏi bức thiết và mang tính thời sự trong bối cảnh hiện nay khi mà cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn những dư âm ảnh hưởng mạnh mẽ đối với toàn thế giới. Phục hồi và nhanh chóng thoát khỏi cuộc khủng hoảng chỉ có thể được thực hiện khi chúng ta vực dậy và phát triển được những ngành nghề kinh doanh chủ yếu, then chốt của nền kinh tế.
Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa của lĩnh vực kinh doanh đối với sự thịnh vượng của một quốc gia cũng như đời sống của nhân dân nên việc xây dựng một môi trường kinh doanh phát triển, công bằng luôn là mục tiêu trước mắt và lâu dài của nhà nước ta. Trong những yếu tố để thực hiện mục tiêu đó, văn hóa pháp luật trong kinh doanh luôn được coi trọng hàng đầu. Yếu tố văn hóa một mặt thể hiện tính khả thi, tiến bộ của các qui phạm pháp luật kinh doanh, một mặt thể hiện thái độ, hành vi ứng xử của các chủ thể có phù hợp với pháp luật hay không. Từ đó, đánh giá được ý thức, trình độ pháp luật của người dân. Văn hóa pháp luật vì lẽ đó luôn trở thành thước đo hiệu quả trên thực tế của các qui định pháp luật kinh doanh.
Văn hóa pháp luật trong kinh doanh là một bộ phận của văn hóa pháp luật nói chung. Vì vậy nó cũng mang trong mình những đặc điểm, mục đích và cơ cấu của văn hóa pháp luật. Tuy nhiên, do kinh doanh là một lĩnh vực đặc thù của nền kinh tế và có phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh rộng, đặc biệt có mối quan hệ tác động qua lại với các lĩnh vực khác như luật pháp, chính trị, văn hóa xã hội… Do đó, văn hóa pháp luật trong kinh doanh vẫn có những nét rất riêng biệt, đó là phạm vi và đối tượng tác động của nó chỉ giới hạn bởi các chủ thể kinh doanh và các quan hệ trong lĩnh vực kinh doanh. Các chủ thể kinh doanh bao gồm các cá nhân kinh doanh đơn lẻ và các doanh nghiệp kinh tế; các quan hệ trong kinh doanh bao gồm các quan hệ phát sinh trong quá trình các chủ thể kinh doanh thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau cũng như đối với các cơ quan nhà nước.
Đã có nhiều công trình và bài báo nghiên cứu về văn hóa pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, nhưng vấn đề văn hóa pháp luật trong kinh doanh lại chưa từng được đề cập đến. Do đó, để có một định nghĩa chính xác và nhất quán về văn hóa pháp luật trong kinh doanh thì hiện nay chưa thể thực hiện được. Dựa trên tinh thần của vấn đề văn hóa pháp luật nói chung, cũng như nghiên cứu kỹ những nét riêng biệt và đặc thù của lĩnh vực kinh doanh trong mối tương quan với văn hóa pháp luật, tác giả luận văn chỉ xin đưa ra ý kiến cá nhân của mình đối với định nghĩa văn hóa pháp luật trong kinh doanh.
Theo đó, văn hóa pháp luật trong kinh doanh là tổng thể những giá trị pháp luật mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực kinh doanh. Những yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật trong kinh doanh là ý thức pháp luật kinh doanh (bao gồm tri thức pháp luật kinh doanh và thái độ, tình cảm tôn trọng pháp luật kinh doanh), hệ thống pháp luật kinh doanh và hành vi thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật kinh doanh. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Lĩnh vực kinh doanh lành mạnh, trong sạch, phát triển, phù hợp với các qui định của pháp luật kinh doanh hiện hành chỉ có thể được xây dựng dựa trên ý thức pháp luật kinh doanh đúng đắn, trình độ hiểu biết pháp luật cao, niềm tin và sự tôn trọng đối với pháp luật kinh doanh, hệ thống pháp luật kinh doanh tiến bộ và phù hợp với thực tiễn và hành vi thực hiện pháp luật kinh doanh tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh của các chủ thể kinh doanh cũng như hành vi áp dụng pháp luật kinh doanh đúng đắn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Văn hóa pháp luật trong kinh doanh một mặt thể hiện tính tích cực, hợp pháp trong ý thức và hành vi của các chủ thể kinh doanh; một mặt cũng cho thấy tính tiến bộ, nhân đạo, tiên tiến của hệ thống pháp luật trong kinh doanh, từ các văn bản luật đến các văn bản dưới luật. Những yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lại và ảnh hưởng trực tiếp với nhau, thực tiễn hành vi của các chủ thể kinh doanh phản ánh tính tiến bộ và phù hợp của các qui định pháp luật kinh doanh và những qui định này cũng chính là nền tảng, cơ sở, hành lang pháp lý cho các chủ thể thực hiện nghiệp vụ kinh doanh của mình.
Văn hóa pháp luật trong kinh doanh là những giá trị mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh, cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và lối sống pháp luật. Những giá trị đó thẩm thấu vào nhận thức và hành động của các chủ thể và biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ. Văn hóa pháp luật trong kinh doanh thể hiện những mặt tiến bộ của một nền pháp luật, có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội, thể hiện trình độ cao của sự tôn trọng pháp luật, trình độ tri thức pháp luật của công dân, chất lượng của quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật.
1.2.1.3. Các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật trong kinh doanh
Văn hóa pháp luật trong kinh doanh cũng bao gồm ba yếu tố: ý thức pháp luật trong kinh doanh (bao gồm tri thức pháp luật và thái độ, tình cảm pháp luật), hệ thống pháp luật kinh doanh và hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật kinh doanh của các chủ thể.
Hai yếu tố đầu chính là nguyên nhân, động lực dẫn tới hành vi của các chủ thể kinh doanh. Hành vi đó có thể là tích cực (phù hợp với qui định pháp luật) hoặc tiêu cực (vi phạm pháp luật). Đặc biệt là yếu tố ý thức pháp luật là nguyên nhân chính quyết định hành vi của các chủ thể. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
- Ý thức pháp luật kinh doanh (bao gồm tri thức pháp luật và thái độ, tình cảm đối với pháp luật).
Ý thức pháp luật kinh doanh chính là những suy nghĩ, quan niệm của con người trước một vấn đề nhất định theo những chuẩn mực của pháp luật kinh doanh. Ý thức pháp luật kinh doanh đó có thể đúng đắn hoặc không, hợp pháp hoặc bất hợp pháp, điều đó ảnh hưởng tới hành vi của chính chủ thể ý thức. Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu về ý thức pháp luật kinh doanh đúng đắn, chính là những suy nghĩ, quan niệm của chủ thể kinh doanh hoàn toàn phù hợp với qui định của pháp luật. Trong ý thức pháp luật kinh doanh bao gồm tri thức pháp luật kinh doanh và thái độ, tình cảm của chủ thể kinh doanh đối với hệ thống pháp luật kinh doanh hiện hành. Đó chính là sự hiểu biết về pháp luật kinh doanh của các chủ thể và tình cảm, niềm tin, sự tôn trọng các qui định của luật. Xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh thì yếu tố cơ bản nhất là phải nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, xây dựng và phát huy những tình cảm tốt đẹp của các chủ thể đối với pháp luật, từ đó nâng cao ý thức của họ.
Hoạt động kinh doanh về bản chất là hoạt động tạo ra lợi nhuận. Đây là hoạt động trọng tâm, cơ bản của nền kinh tế, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia. Hoạt động này do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện theo qui định của pháp luật. Trong đó ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh có vai trò quan trọng như một tiền đề và điều kiện cần thiết cho quá trình xây dựng một nền văn hóa pháp luật kinh doanh phát triển. Có thể nói ý thức pháp luật, dù ở dạng thức hay cấp độ nào cũng đều có khả năng soi sáng, thôi thúc hoặc kìm hãm hành vi kinh doanh của con người. Sự hiểu biết nhuần nhuyễn, sâu sắc về các học thuyết, tư tưởng pháp luật cũng như hệ thống luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật của các chủ thể có vai trò định hướng đặc biệt đối với hành vi kinh doanh. Trong khi đó tâm lý pháp luật tốt lại có vai trò giống như động lực bên trong thúc đẩy cách hành xử, sự lựa chọn, cân nhắc lợi ích hợp lý trong hành vi của chủ thể kinh doanh.
Nhận thức và tình cảm đối với pháp luật là hai mặt thống nhất trong ý thức pháp luật của các chủ thể kinh doanh. Những giá trị cao quý của pháp luật kinh doanh sẽ được tỏa sáng, soi rọi vào trong đời sống thực tiễn nếu nó được tuân thủ và thi hành theo đúng trình tự và thủ tục luật định trong một ý thức tôn trọng pháp luật, mong muốn xây dựng một môi trường kinh doanh trong sạch, vững mạnh, phát triển. Nói cách khác, ý thức pháp luật đặc biệt là hệ tư tưởng pháp luật có vai trò ý nghĩa quan trọng trong việc tác động lên quan điểm, trang bị tri thức pháp luật cho các chủ thể, từ đó định hướng cho các hành vi hợp pháp và tích cực trong lĩnh vực kinh doanh. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Bàn về vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động kinh doanh chúng ta còn thấy sự tác động không nhỏ của yếu tố tâm lý, tình cảm pháp luật của các tầng lớp nhân dân. Tâm lý, tình cảm pháp luật được biểu hiện ở niềm tin, sự yêu mến, sự mong đợi những giá trị mà pháp luật mang lại, ý thức tôn trọng của người dân đối với: hệ thống pháp luật, hệ thống các thiết chế pháp luật, cán bộ làm việc trong các thiết chế pháp luật. Một nền pháp luật chỉ thực sự phát triển và hoàn thiện khi nó luôn giành được niềm tin và sự yêu mến, sự tôn trọng của các tầng lớp nhân dân. Tâm lý pháp luật tốt sẽ tạo nên những hành vi tích cực và hợp pháp – biểu hiện của một nền văn hóa pháp luật cao và tiến bộ.
Có thể nói trong suốt quá trình xây dựng qui phạm pháp luật kinh doanh dựa trên nhu cầu điều chỉnh thực tế và những cơ sở khoa học tiến bộ cho đến quá trình nhận thức của người dân về pháp luật, từ đó đưa ra suy nghĩ quan điểm và thực hiện hành vi của mỗi chủ thể đều có sự ảnh hưởng của cả hai yếu tố tri thức pháp luật (hệ tư tưởng pháp luật) và tâm lý, tình cảm pháp luật. Ý thức pháp luật cao cho phép các chủ thể nhận thức đúng đắn về tính cần thiết và chính xác của pháp luật được ban hành, từ đó dẫn tới sự tôn trọng và tuân thủ các qui định của pháp luật. Xu hướng vận động và sự thể hiện vai trò của ý thức pháp luật ngày càng đa dạng, càng có thêm nhiều yếu tố mới cả trên hai phương diện hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và trình độ văn hóa pháp luật mỗi quốc gia.
- Hệ thống pháp luật kinh doanh
Hệ thống pháp luật trong kinh doanh cũng bao gồm hệ thống pháp luật thành văn và chưa thành văn. Hệ thống pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực kinh doanh là tổng thể các qui phạm pháp luật có mối liên hệ thống nhất với nhau, được thể hiện bằng các hình thức đạo luật, luật, nghị định, thông tư… Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh tạo thành khuôn khổ pháp luật, hành lang pháp lý cho các chủ thể kinh doanh thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Bản thân hệ thống qui phạm pháp luật trong kinh doanh cũng phải chứa đựng trong mình những giá trị của văn hóa pháp luật, đó là các giá trị công bằng, dân chủ, nhân đạo, bình đẳng, tiến bộ. Hoạt động kinh doanh trên thực tế phát triển hay không, tạo ra nhiều lợi nhuận hay ít thì một trong những nguyên nhân chính là do hệ thống pháp luật điều chỉnh chưa phù hợp. Điều này được lý giải xuất phát từ giá trị về mặt kinh tế mà văn hóa pháp luật mang lại, bởi một hệ thống pháp luật hoàn thiện, trong đó có nhiều chính sách ưu đãi nhà đầu tư trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, sẽ là động lực thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế.
Hệ thống pháp luật còn bao gồm cả pháp luật chưa thành văn, tức là các tập quán, hương ước, thói quen trong kinh doanh, thông lệ kinh doanh quốc tế… Những yếu tố này tuy không mang tính cưỡng chế thi hành bằng quyền lực nhà nước nhưng trong lĩnh vực kinh doanh lại đặc biệt được chú trọng, trở thành những thông lệ bất di bất dịch trong các giao dịch hợp đồng và được các chủ thể tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện. Bởi trong kinh doanh, chữ “tín” rất được coi trọng, việc giữ gìn thương hiệu và các mối quan hệ đối tác làm ăn lâu dài đôi khi được đánh giá cao hơn việc tìm kiếm lợi nhuận.
Các thiết chế pháp luật trong hoạt động kinh doanh được hiểu là tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước được trang bị những phương tiện vật chất và được giao những quyền hạn, trách nhiệm nhất định nhằm thực hiện các chức năng ban hành pháp luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong các thiết chế lại bao gồm các cá nhân được nhà nước giao quyền để thực hiện các hoạt động trong phạm vi giới hạn quyền lực của mình, đây chính là nơi tạo ra văn hóa pháp luật trong kinh doanh. Từ công tác xây dựng luật, ban hành các chế định pháp luật kinh doanh phải thể hiện được tính phù hợp trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật do nhiều cấp ban hành, tính tiến bộ trong qui định và đáp ứng nguyện vọng của đại đa số người dân. Công tác hành pháp phải đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh các qui phạm pháp luật, đảm bảo tính công bằng, nhân đạo, dân chủ cho mọi đối tượng thực thi. Hoạt động tư pháp lại gắn với hiệu quả của công tác điều tra, xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan sai người vô tội.
- Hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật kinh doanh Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Trong lĩnh vực kinh doanh, văn hóa pháp luật còn được thể hiện qua những hành vi thực hiện và áp dụng đúng pháp luật của các chủ thể. Chỉ khi thực hiện đúng pháp luật, các chủ thể kinh doanh mới tạo ra những hành vi “có văn hóa pháp luật”, tức là những hành vi hợp pháp và tích cực. Các cơ quan nhà nước cũng phải thực hiện đúng qui định của pháp luật thì mới ban hành được các quyết định áp dụng pháp luật đúng đắn và chính xác.
Hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể kinh doanh phải là hành hợp pháp, tức là những hành vi hoặc thực hiện hoặc không thực hiện đều phù hợp với các qui định của pháp luật. Hành vi hợp pháp sẽ tạo ra môi trường kinh doanh trong sạch và phát triển, thể hiện trình độ văn hóa pháp luật trong kinh doanh được nâng cao. Hành vi hợp pháp cũng là kết quả của chuỗi quá trình từ nhận thức, phân tích, suy nghĩ, tôn trọng và cuối cùng là tuân thủ của các chủ thể đối với hệ thống pháp luật kinh doanh. Muốn thực hiện được hành vi hợp pháp thì ngoài tri thức pháp luật (hệ tư tưởng, quan điểm pháp luật) các chủ thể còn cần phải có ý thức pháp luật, đạo đức của người làm kinh doanh.
Hoạt động áp dụng pháp luật kinh doanh của các cơ quan nhà nước, của các cán bộ nhà nước cũng thể hiện văn hóa pháp luật kinh doanh rõ nét. Thông qua đó các giá trị của văn hóa pháp luật kinh doanh được biểu hiện ra ngoài như giá trị công bằng, bình đẳng, dân chủ, đúng đắn…Cũng như hành thực hiện pháp luật của chủ thể kinh doanh, hành vi áp dụng pháp luật ngoài yêu cầu người thực hiện phải trang bị một hệ tư tưởng, quan điểm pháp luật toàn diện, đầy đủ còn đòi hỏi người đó có đạo đức nghề nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên tính minh bạch, công bằng trong kinh doanh – một giá trị cốt lõi tạo ra nền văn hóa pháp luật kinh doanh đúng nghĩa.
1.2.2. Đặc trưng của văn hóa pháp luật trong kinh doanh
Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh là một bộ phận của văn hóa nói chung và văn hóa pháp luật nói riêng. Vì vậy nó cũng có đầy đủ những đặc điểm của văn hóa và văn hóa pháp luật. Tuy nhiên, văn hóa pháp luật trong kinh doanh vẫn có những đặc trưng riêng biệt nhằm giúp phân biệt với các loại hình văn hóa pháp luật trong các lĩnh vực khác như văn hóa pháp luật giao thông, văn hóa pháp luật xét xử…. Những đặc trưng chủ yếu có thể kể đến như:
- Đặc trưng về chủ thể Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Chủ thể là những người trực tiếp tham gia vào một quan hệ xã hội hay quan hệ pháp luật nhất định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua việc tham gia vào quan hệ đó. Bất kỳ một lĩnh vực văn hóa pháp luật nào cũng có những chủ thể riêng biệt. Xác định chủ thể của một lĩnh vực văn hóa pháp luật nói chung, của lĩnh vực văn hóa pháp luật kinh doanh nói riêng có nghĩa là xác định xem văn hóa pháp luật trong lĩnh vực này hướng tới những đối tượng nào, phạm vi những vấn đề mà văn hóa pháp luật trong lĩnh vực này nghiên cứu ở những đối tượng đó là gì. Đồng thời qua đó xác định ranh giới, sự khác nhau và những mối liên hệ, những điểm tương đồng giữa văn hóa pháp luật trong lĩnh vực đó với văn hóa pháp luật trong các lĩnh vực khác.
Điều này thực sự là rất có ý nghĩa, bởi lẽ, chủ thể là các tổ chức, cá nhân là đối tượng của rất nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội; cần phải xác định sự khác nhau giữa các lĩnh vực đó trong việc cùng hướng tới cùng một chủ thể. Chẳng hạn, chủ thể của lĩnh vực văn hóa pháp luật giao thông cũng là các tổ chức cá nhân nhưng lại hoàn toàn khác với văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, bởi đó là những tổ chức, cá nhân tham gia giao thông và tuân thủ đúng các qui định của Luật giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng hải, đường hàng không. Chủ thể của lĩnh vực văn hóa pháp luật xét xử là những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng, điểm khác biệt với chủ thể của văn hóa pháp luật kinh doanh là họ tham gia vào quan hệ tố tụng và tuân thủ các qui định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự…
Chủ thể của văn hóa pháp luật trong kinh doanh không phải là mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, mọi tầng lớp, không phân biệt tuổi tác, địa vị, nghề nghiệp; văn hóa pháp luật trong kinh doanh chỉ hướng tới việc nghiên cứu vấn đề trình độ hiểu biết, thái độ tình cảm, hành vi xử sự các chủ thể kinh doanh, bao gồm các chủ thể kinh doanh đơn lẻ và các doanh nghiệp kinh tế. Đồng thời văn hóa pháp luật kinh doanh cũng nghiên cứu hệ thống pháp luật kinh doanh cũng như năng lực, trình độ, đạo đức của các cán bộ nhà nước, cơ quan nhà nước trong việc ban hành các văn bản pháp luật kinh doanh và áp dụng các văn bản đó. Từ đó đề ra những biện pháp chủ yếu để xây dựng văn hóa pháp luật kinh doanh tiến bộ, phát triển.
Trong giai đoạn hiện nay, việc mở rộng các ngành nghề kinh doanh đang được nhà nước ta quan tâm và chú trọng. Do đó ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động kinh doanh và trở thành chủ thể kinh doanh. Điều đó cũng có nghĩa rằng đối tượng điều chỉnh của văn hóa pháp luật trong kinh doanh sẽ ngày càng mở rộng. Nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong kinh doanh cho mọi chủ thể kinh doanh, nhất là cần tạo ra sự đồng đều trong nhận thức và thực hiện hành vi kinh doanh có văn hóa pháp luật giữa các chủ thể ở các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau là phương hướng và mục tiêu của nhà nước ta nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, phát triển và hội nhập.
- Đặc trưng về khách thể Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Khách thể của một lĩnh vực nói chung là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu của các tổ chức, cá nhân tham gia trong lĩnh vực đó. Khi tham gia một lĩnh vực nhất định, các tổ chức, cá nhân đều nhằm đạt tới những lợi ích đó. Khách thể là một yếu tố quan trọng nhằm giúp phân biệt các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Khách thể cũng là nhân tố cho thấy tầm quan trọng của một lĩnh vực nhất định. Khách thể càng rộng, càng ảnh hưởng tới nhiều tổ chức, cá nhân thì càng được quan tâm và chú trọng phát triển lĩnh vực đó.
Khách thể của lĩnh vực kinh doanh chính là những lợi ích vật chất mà các chủ thể đạt được trong quá trình tham gia các hoạt động kinh doanh, hay nói chính xác đó chính là lợi nhuận. Lợi nhuận, hay còn được gọi là có mục đích sinh lời là yếu tố then chốt của các hoạt động kinh doanh. Tất cả những hoạt động khác của con người mà không mang mục tiêu lợi nhuận, không có mục đích sinh lời thì đều không phải là hoạt động kinh doanh. Như, hoạt động văn hóa nghệ thuật, hoạt động tình nguyện, hoạt động tham gia vào các hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp không có mục đích sinh lời.
Bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào khi tham gia vào lĩnh vực kinh doanh đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ năng lực của chủ thể đó. Tuy nhiên, các chủ thể luôn là một thực thể hoạt động trong một khuôn khổ nhất định. Trong lĩnh vực kinh doanh đó chính là hệ thống các qui định của pháp luật kinh doanh. Tham gia vào hoạt động kinh doanh, các chủ thể buộc phải tuân thủ nghiêm chỉnh những qui định này. Văn hóa pháp luật kinh doanh bảo vệ các quan hệ xã hội được hình thành từ pháp luật kinh doanh và đạo đức trong kinh doanh, đó là những quan hệ xuất phát từ việc các chủ thể tuân thủ, chấp hành và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình không nằm trong phạm vi pháp luật cấm. Đó có thể là quan hệ trong quá trình thành lập doanh nghiệp, nộp thuế, khai báo các mặt hàng kinh doanh, các tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo vệ sinh môi trường đối với cơ sở hay doanh nghiệp của mình… Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Vì lẽ đó, khách thể của văn hóa pháp luật kinh doanh vừa là những lợi ích vật chất lại vừa là những lợi ích tinh thần. Có nghĩa là bên cạnh việc tạo ra lợi nhuận để phát triển nền kinh tế, các chủ thể kinh doanh vẫn phải tuân thủ đúng pháp luật, tạo ra và duy trì một trật tự pháp lý công bằng, bình đẳng, trong sạch và lành mạnh.
Thông qua các hành vi của chủ thể kinh doanh có thể nhận thấy trình độ văn hóa pháp luật trong kinh doanh của họ đang ở mức nào và những qui định của pháp luật kinh doanh đã thực sự tiến bộ và phù hợp với thực tiễn hay chưa? Vì thế mới có thể đưa ra những giải pháp thực sự hữu ích nhằm nâng cao văn hóa pháp luật trong kinh doanh.
- Đặc trưng về sự tác động của các yếu tố xã hội tới văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh
Văn hóa pháp luật kinh doanh là những giá trị do con người sáng tạo ra, vì thế nó luôn được đặt trong một thể thống nhất các mối quan hệ xã hội xoay quanh con người. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, văn hóa pháp luật kinh doanh chịu sự tác động mạnh mẽ của rất nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố xã hội. Các yếu tố xã hội tác động tới vấn đề văn hóa pháp luật kinh doanh theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Tận dụng những ảnh hưởng tích cực và chống lại những tác động tiêu cực nhằm duy trì và nâng cao văn hóa pháp luật kinh doanh là nhiệm vụ rất cần được phát huy trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
- Yếu tố thứ nhất – nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế. Khi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường (người bán cần tiền, người mua cần bán và họ phải gặp nhau trên thị trường) thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế – xã hội, trong đó các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệ mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là định hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận luôn được đặt lên hàng đầu. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường không bao gồm các hoạt động mang tính chất công cộng như đường sá, các công trình văn hóa, y tế và giáo dục… bởi những hoạt động này không mang yếu tố lợi nhuận. Chính yếu tố lợi nhuận là tác nhân tác động căn bản và mạnh mẽ nhất của nền kinh tế thị trường tới văn hóa pháp luật kinh doanh. Điều này được lý giải như sau: lợi nhuận ảnh hưởng mạnh mẽ tới ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể, từ đó dẫn tới các chủ thể quyết định hành vi ứng xử của mình. Vì lợi nhuận, nhiều chủ thể kinh doanh bất chấp các qui định của pháp luật để thực hiện các hành vi bất hợp pháp như: mua, bán hàng cấm, hàng lậu, trốn thuế, hủy hoại môi trường… Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh giúp hài hòa và thống nhất mối quan hệ giữa yếu tố lợi nhuận và việc tuân thủ pháp luật. Theo đó, các chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động của mình vừa phải đảm bảo mục tiêu lợi nhuận những cũng phải phù hợp với các qui định của pháp luật. Đòi hỏi này nhiều trường hợp buộc các chủ thể kinh doanh phải hy sinh lợi nhuận của bản thân hoặc doanh nghiệp, hoặc phải chia sẻ lợi nhuận với nhà nước (nghĩa vụ đóng thuế) nhưng lại thể hiện chủ thể đó có văn hóa pháp luật kinh doanh. Một khi ý thức pháp luật của các chủ thể kinh doanh là đúng đắn, không bị yếu tố lợi nhuận làm cho “lu mờ” thì khi đó môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, phát triển ở nước ta mới được xây dựng và duy trì.
- Yếu tố giá trị doanh nghiệp (uy tín, thương hiệu)
Thương hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng, hình vẽ hoặc kiểu thiết kế, hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc một nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Nói tóm lại, thương hiệu là một yếu tố nhằm phân biệt (hay xác định rõ) về một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ của một chủ thể kinh doanh nhất định. Thương hiệu có một ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng. Thương hiệu thường gắn liền với chất lượng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ cung ứng, vì thế nó có thể làm thay đổi suy nghĩ, quan niệm và sự lựa chọn của người tiêu dùng. Niềm tin của khách hàng cho một thương hiệu là mục tiêu phấn đấu của mọi chủ thể kinh doanh.
Chính vì những lý do trên mà uy tín và thương hiệu sản phẩm là những giá trị về mặt tinh thần luôn luôn được chủ thể kinh doanh đề cao. Truyền thống làm ăn đặt chữ tín lên đầu vẫn luôn tồn tại trong tiềm thức và cung cách kinh doanh của mỗi chủ thể kinh doanh Việt Nam. Với mục tiêu xây dựng uy tín và thương hiệu của mình, các chủ thể kinh doanh phải đảm bảo các yêu cầu như kinh doanh hợp pháp, trong sạch, lành mạnh, đảm bảo các qui định của pháp luật kinh doanh như nộp thuế đầy đủ, bảo vệ môi trường… Thông qua việc giữ gìn uy tín và thương hiệu này, các chủ thể kinh doanh đã nâng cao văn hóa pháp luật kinh doanh của chính mình cũng như góp phần xây dựng môi trường kinh doanh phát triển và lành mạnh.
- Yếu tố truyền thống
Truyền thống ở đây được hiểu là yếu tố lịch sử trong cung cách kinh doanh của người Việt Nam. Đó là kiểu làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, bất chấp pháp luật và chủ yếu làm ăn theo tập quán. Điều này được lý giải rõ nét bởi cách thức kinh doanh của những chủ thể đơn lẻ tại các vùng, miền núi, nơi tồn tại nhiều tập quán, phong tục kinh doanh không phù hợp với qui định của pháp luật. Đó có thể là những hoạt động kinh doanh không khai báo với cơ quan nhà nước, không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với nhà nước hoặc thậm chí thực hiện các hoạt động kinh doanh bị cấm.
Yếu tố truyền thống này đã ăn sâu vào tính cách của một bộ phận chủ thể kinh doanh, vì vậy việc thay đổi suy nghĩ này phải trải qua một quá trình lâu dài với nhiều biện pháp được thực hiện đồng bộ. Yếu tố này là một nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa pháp luật kinh doanh. Nhiệm vụ đặt ra là phải khắc phục tiến tới xóa bỏ hẳn những tập quán, phong tục, cung cách làm ăn lạc hậu, không phù hợp pháp luật này nhằm xây dựng sự đồng đều trong nhận thức và ý thức của các chủ thể kinh doanh.
- Yếu tố dư luận xã hội Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự. Trước mỗi một vấn đề hoặc sự kiện, cá nhân thường đưa ra ý kiến của mình, nhiều cá nhân cùng đồng tình về một quan điểm hoặc có quá nhiều quan điểm khác nhau đều tạo thành dư luận xã hội.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đã có rất nhiều những sai phạm trong quản lý kinh tế hoặc hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gây ra những vụ án với hậu quả nghiêm trọng. Điển hình như các vụ tham nhũng tại PMU18, vụ sai phạm trong huy động vốn tại Công ty 1-5, vụ thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế tại Vinashin…Tất cả những sự kiện này đã thu hút sự chú ý của dư luận do tầm quan trọng và mức ảnh hưởng lớn của nó đối với nền kinh tế. Dư luận đã thể hiện nhiều quan điểm khác nhau đối với những vấn đề trên, hầu hết là lên án và phản đối mạnh mẽ đối với các hành vi kinh doanh bất hợp pháp, các sai phạm kinh doanh gây nên hậu quả nghiêm trọng.
Việc bị dư luận xã hội lên án sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và thương hiệu của mỗi doanh nghiệp cũng như chủ thể kinh doanh đơn lẻ, cho dù sau đó họ có cố gắng khắc phục hậu quả thì cũng phải mất một thời gian dài những dấu ấn gây ra mới có thể phai mờ. Vì vậy, các chủ thể kinh doanh ngày nay luôn ý thức cao trong hoạt động của mình, cẩn trọng trong từng bước đi phù hợp với qui định của pháp luật, nhằm giữ gìn uy tín và thương hiệu của chính mình. Dư luận xã hội vì thế được coi là yếu tố rất quan trọng tác động tích cực giúp cho vấn đề văn hóa pháp luật kinh doanh được nâng cao.
- Yếu tố bản thân hệ thống pháp luật kinh doanh
Bản thân hệ thống pháp luật kinh doanh ở nước ta hiện nay cũng bộc lộ nhiều hạn chế và tiêu cực. Điều này sẽ được tác giả luận văn trình bày rõ hơn ở Chương 2. Nhìn một cách tổng quát thì những hạn chế nổi cộm hiện nay của hệ thống pháp luật kinh doanh nước ta là sự chồng chéo trong qui định giữa các văn bản pháp luật; có quá nhiều văn bản được ban hành trong cùng một vấn đề dẫn tới sự lúng túng trong thực hiện của các chủ thể kinh doanh. Hệ thống pháp luật cũng còn nhiều qui định chưa phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội hoặc xu thế của quốc tế, vì vậy không có tính khả thi trong áp dụng và từ đó dẫn tới ý thức chấp hành pháp luật sẽ giảm sút. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Yếu tố về hệ thống pháp luật vừa có ảnh hưởng tích cực lại vừa tiêu cực đối với văn hóa pháp luật kinh doanh. Tích cực đó là khi hệ thống pháp luật thực sự tiến bộ, tiên tiến, phù hợp với mong muốn của đại bộ phận chủ thể kinh doanh thì nó sẽ trở thành động lực cho sự phát triển của văn hóa pháp luật kinh doanh. Ngược lại nếu đó là một hệ thống lạc hậu, bảo thủ, chậm tiến thì lại là tác nhân kìm hãm sự phát triển của văn hóa pháp luật nước ta. Vì vậy, cần đẩy mạnh và hoàn thiện công tác lập pháp, xây dựng hệ thống pháp luật kinh doanh thực sự chuẩn mực, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh doanh hiện nay.
1.2.3. Mối quan hệ giữa văn hóa pháp luật và hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh thực chất là hoạt động do các chủ thể kinh doanh dựa trên các qui định của pháp luật thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nhằm tạo ra lợi nhuận cho bản thân và cho xã hội. Văn hóa pháp luật với các thuộc tính và chức năng của mình đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh. Những giá trị của văn hóa pháp luật thể hiện ngay trong nội dung của các đạo luật được ban hành trong lĩnh vực kinh doanh và ở chức năng điều chỉnh, nhận thức của văn hóa pháp luật đối với hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể.
Quan hệ giữa văn hóa pháp luật và hoạt động kinh doanh là mối quan hệ tác động qua lại. Văn hóa pháp luật là nền tảng, là tiền đề và là điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Các chuẩn mực, qui phạm pháp luật trong kinh doanh chỉ có thể được tạo ra khi nhà làm luật nhận thức được sâu sắc các qui luật của đời sống kinh tế, qui luật thị trường, cung – cầu, cạnh tranh… Những quan hệ nào trong lĩnh vực kinh doanh mới phát sinh và có cần có qui phạm điều chỉnh không; những qui phạm nào đã lạc hậu cần được sửa đổi hay bãi bỏ. Chức năng nhận thức của văn hóa pháp luật giúp các nhà làm luật nắm rõ các vấn đề trong lĩnh vực kinh doanh để từ đó ban hành các văn bản pháp luật phù hợp về hình thức và nội dung. Văn hóa pháp luật là thước đo giá trị tốt nhất, phù hợp nhất để đánh giá một nền pháp luật tiên tiến, dân chủ và bình đẳng. Ngược lại các văn bản pháp luật lại là phương tiện định hướng và điều chỉnh cho các hành vi của chủ thể trong kinh doanh. Các chủ thể sẽ biết mình được làm những việc gì, phải làm những gì và không được làm gì trong lĩnh vực kinh doanh mà mình lựa chọn. Một môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, công bằng là một biểu hiện của nền văn hóa pháp luật cao của một dân tộc, một quốc gia. Các giá trị của văn hóa pháp luật phải được kết tinh từ tính cụ thể, chặt chẽ, chính xác của các qui phạm pháp luật kinh doanh, tính hoàn chỉnh và thống nhất của cả hệ thống pháp luật kinh doanh cũng như hành vi kinh doanh hợp pháp, tích cực.
Hoạt động kinh doanh nằm trong nền kinh tế của một quốc gia. Nói đến kinh doanh là nói đến hành vi của các chủ thể, còn kinh tế lại là một lĩnh vực, một phạm trù, bao hàm cả hoạt động quản lý kinh tế. Nhưng vì nằm trong nền kinh tế nên khi văn hóa pháp luật tác động tới nền kinh tế thì cũng ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh. Trong các hiện tượng xã hội thì những điều kiện đảm bảo về kinh tế là quan trọng nhất. Một nền kinh tế phát triển là điều kiện quan trọng bậc nhất đảm bảo cho sự phát triển của văn hóa pháp luật. Nếu kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thì sẽ ảnh hưởng không tốt tới sự hình thành các giá trị của văn hóa pháp luật. Phát triển kinh tế, phát triển đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân cần phải song song với việc xây dựng và hoàn thiện văn hóa pháp luật. Đó cũng chính là những yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu về những tác động qua lại giữa văn hóa pháp luật và lĩnh vực kinh doanh.
Văn hóa pháp luật tác động đến tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh, từ giai đoạn hoạch định, xây dựng chính sách pháp luật trong kinh doanh cho đến vai trò tác động, điều chỉnh hành vi của các chủ thể. Thông qua hoạt động kinh doanh có thể nhận biết được trình độ văn hóa pháp luật của các chủ thể, của một quốc gia. Hoạt động kinh doanh là hoạt động tạo ra lợi nhuận, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Những hành vi trong kinh doanh là sự phản ánh rõ ràng nhất, thực tiễn nhất tính phù hợp, đúng đắn, khả thi của mỗi qui phạm pháp luật, đồng thời cũng cho thấy tình cảm pháp luật, niềm tin pháp luật của các chủ thể, từ đó để các nhà làm luật có những quyết định đúng đắn hơn trong hoạt động của mình. Vì lẽ đó, hoạt động kinh doanh trở thành tấm gương thực tiễn soi chiếu những giá trị của văn hóa pháp luật, từ đó làm giàu thêm, phong phú thêm những giá trị đó. Những giá trị mới được tạo ra trong kinh doanh đã góp phần tích lũy và bổ sung vào kho tàng giá trị văn hóa pháp luật nước ta, làm đa dạng và nâng cao tầm quan trọng của các giá trị đó.
1.2.4. Vai trò của văn hóa pháp luật trong kinh doanh Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
Trong thời đại ngày nay, văn hóa có vai trò và ý nghĩa đặc biệt, nó “xuyên suốt cơ thể xã hội” “thấm sâu vào tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người” [9]. Cách đặt vấn đề của UNESCO: “Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển” đã cho thấy rõ quan điểm về ưu thế của văn hóa trong xu hướng vận động và phát triển của xã hội đương đại và tương lai, khẳng định tính tất yếu phải đưa văn hóa vào sự phát triển.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ra Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trong đó đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội” [4], đồng thời chỉ rõ: “Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương…biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho sự phát triển” [4]. Như vậy Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng một mặt đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt của văn hóa nói chung, chỉ rõ tính xuyên suốt, thấm sâu của văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mặt khác đã đề ra phương châm phải gắn kết những vấn đề văn hóa với những vấn đề kinh tế – xã hội.
Vai trò của văn hóa pháp luật trong kinh doanh thể hiện qua những giá trị mà nó mang lại trong lĩnh vực kinh doanh, đó là các giá trị công bằng, bình đẳng, dân chủ, tiến bộ, định hướng và điều chỉnh.
Giá trị công bằng, bình đẳng, dân chủ, tiến bộ: đây là những giá trị chung của nhân loại, là những giá trị mà con người luôn hướng tới, đó không chỉ là giá trị pháp luật mà còn là giá trị xã hội có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển của con người. Bản chất của những giá trị trên là thể hiện sự tiên tiến, hoàn thiện trong các qui phạm pháp luật kinh doanh được ban hành. Mỗi văn bản pháp luật kinh doanh đều được nhân dân tham gia một cách thực chất vào quá trình xây dựng các chế định, qui phạm cụ thể. Thông qua các hình thức lấy ý kiến nhân dân, các tổ chức về mỗi văn bản pháp luật trước khi ban hành, cũng như thông qua các diễn đàn, các cuộc thi tìm hiểu… mà các tầng lớp nhân dân có cơ hội bày tỏ quan điểm, suy nghĩ và những mong đợi của mình trước khi ban hành một văn bản cụ thể. Sự công bằng, bình đẳng biểu hiện ở những nguyên tắc công lý, công bằng xã hội, bảo đảm cho các chủ thể trong xã hội ngang quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm với nhau trong những quan hệ xã hội nhất định. Trong hoạt động kinh doanh cũng không có ngoại lệ, mọi cá nhân dù ở địa vị khác nhau, dân tộc khác nhau nhưng đều có những quyền lợi như nhau trước pháp luật cũng như phải gánh chịu những nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý giống nhau khi thực hiện một hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh. Giá trị tiến bộ, khoa học mà văn hóa pháp luật thể hiện trong lĩnh vực kinh doanh chính là việc các văn bản pháp luật được ban hành đều bắt nguồn từ yêu cầu, đòi hỏi điều chỉnh pháp luật của các quan hệ xã hội. Những nội dung chính sách trong các văn bản pháp luật không phải là sự áp đặt theo ý chí chủ quan của cơ quan ban hành mà phải xuất phát từ hiện thực khách quan của đời sống xã hội. Pháp luật phải phản ánh được hiện thực khách quan, phải bám sát các yêu cầu của thực tiễn, có như vậy mới điều chỉnh có hiệu quả được các quan hệ xã hội, mới được xã hội chấp thuận. Để làm được điều đó cần phải có một cách làm khoa học từ khâu điều tra dư luận xã hội, tổng kết thực tiễn, tìm hiểu về nhu cầu điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và cách thức thực hiện, hình thức thực hiện. Tính tiến bộ của pháp luật kinh doanh còn thể hiện ở khả năng dự báo các vấn đề xảy ra trong tương lai đối với các quan hệ xã hội đang được điều chỉnh. Những dự báo, dự liệu đó của các nhà lập pháp là hoàn toàn cần thiết để kịp thời điều chỉnh hành vi của các chủ thể.
Giá trị định hướng và điều chỉnh: đây là những giá trị chung của pháp luật đối với bất kỳ một lĩnh vực nào của đời sống xã hội. Vai trò to lớn của pháp luật là tạo ra hành lang pháp lý để từ đó các chủ thể có thể hiểu, biết những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, phù hợp với qui định của pháp luật. Giá trị định hướng của văn hóa pháp luật kinh doanh thể hiện ở chỗ nó định hướng cho hành vi của con người, nên làm gì và không nên làm gì, được quyền làm gì và hành vi nào là bị cấm. Tính định hướng giúp con người hiểu được thế nào là đúng – sai, hợp pháp hay không hợp pháp, phù hợp hay không phù hợp. Văn hóa pháp luật tham gia điều chỉnh hành vi của con người, hướng con người tới những giá trị tốt đẹp của cái chân, cái thiện, cái mỹ. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh
