Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng và những biện pháp chủ yếu để xây dựng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. THỰC TRẠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Những năm vừa qua, việc xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật ở nước ta đã được Đảng và nhà nước quan tâm và ngày càng thu hút sự chú ý của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Trình độ văn hóa pháp luật của cán bộ và nhân dân đã được nâng lên đáng kể, nhất là trong giai đoạn 12 năm đổi mới vừa qua. Việc nâng cao trình độ văn hóa pháp luật được chú trọng ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ các lĩnh vực truyền thống như lập pháp, hành pháp, tư pháp đến các lĩnh vực như chính trị, kinh doanh…

Văn hóa pháp luật trong kinh doanh những năm gần đây đặc biệt là từ khi nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đã luôn được chú trọng và ngày càng phát triển, hoàn thiện. Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, có văn hóa pháp luật luôn là mục tiêu và động lực của nhà nước ta và các chủ thể trực tiếp tham gia kinh doanh. Tuy nhiên so với nhu cầu củng cố và mở rộng dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì sự phát triển của văn hóa pháp luật trong kinh doanh vẫn còn chưa tương xứng. Điều này được thể hiện rõ khi phân tích các yếu tố của vấn đề văn hóa pháp luật trong kinh doanh thông qua việc nhìn nhận thực trạng tại nước ta hiện nay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.1. Thực trạng ý thức pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh hiện nay và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

2.1.1.1. Thực trạng

Ý thức pháp luật của các chủ thể trong lĩnh vực kinh doanh có vai trò quan trọng như một tiền đề, một nền tảng và một điều kiện cần thiết không thể thiếu để xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh. Hoạt động kinh doanh là một hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực. Nói đến kinh doanh là nói đến lĩnh vực tạo ra lợi nhuận, sản phẩm, công ăn việc làm của một chủ thể, một nhóm người hay một quốc gia. Ý thức pháp luật của các chủ thể trong kinh doanh cũng bao hàm tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật kinh doanh. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Với nhiều chủ trương, chính sách, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh ngày càng nâng cao và có chất lượng tốt tạo ra sự chuyển biến rõ rệt so với thời kỳ bao cấp trước đây. Với các quy định phù hợp của pháp luật về các quyền cơ bản của con người trong kinh doanh (như quyền tự do kinh doanh, tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh phù hợp, tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp…) đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các tầng lớp nhân dân. Ý thức pháp luật của người dân cũng có sự chuyển biến tích cực, nhận thức về vị trí vai trò của pháp luật kinh doanh đối với đời sống ngày càng cao. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn vai trò của pháp luật trong cuộc sống người dân có ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật kinh doanh tốt hơn.

Ý thức pháp luật nói chung và ý thức pháp luật kinh doanh của nhân dân Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, nâng cao về mọi phương diện. Sự hiểu biết về tri thức pháp luật nói chung, pháp luật kinh doanh của cán bộ công chức và người dân ngày càng nâng cao. Điều này thể hiện qua tình hình

Ý thức chấp hành pháp luật kinh doanh của người dân được cải thiện rõ rệt thông qua việc tuân thủ đúng các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật trong hoạt động kinh doanh. Ví dụ các chủ thể kinh doanh tuân thủ đúng các quy định về thành lập, hoạt động của doanh nghiệp; chấp hành tốt các quy định của pháp luật về cạnh tranh lành mạnh; kinh doanh thương mại; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về nộp thuế cho nhà nước, kinh doanh trong sạch, lành mạnh… Đồng thời, ý thức tự bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh doanh cũng được nâng cao. Chính nhờ có tri thức pháp luật đúng đắn giúp họ có thể tự hành động để bảo vệ quyền lợi của mình mà không xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác và Nhà nước.

Xét về ý thức pháp luật của các chủ thể kinh doanh cần xét đến các khu vực mà các chủ thể tham gia hoạt động. Đó là khu vực doanh nghiệp nói chung, đội ngũ doanh nhân nói riêng, khu vực người lao động và khu vực các chủ thể kinh doanh nhỏ lẻ.

Trình độ hiểu biết pháp luật nói chung của đội ngũ doanh nhân Việt Nam những năm gần đây đã được nâng cao đáng kể. Không chỉ những người có học hành mới bắt tay vào kinh doanh, mà ngay cả những người đang là doanh nhân cũng mong muốn được học hỏi, nâng cao trình độ hiểu biết của mình. Điều này chứng tỏ doanh nhân hiện nay đã ý thức được tầm quan trọng của kiến thức khi tiến hành kinh doanh, đặc biệt là những hiểu biết về pháp luật trở thành một công cụ cần thiết và không thể thiếu khi bắt tay thực hiện một ngành nghề kinh doanh nhất định. Trong xu thế đất nước đang mở cửa và hội nhập, đội ngũ doanh nhân nước ta càng có nhiều cơ hội học hỏi kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nhân nước ngoài, đồng thời cũng phải không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như thuận lợi cho mong muốn mở rộng địa bàn kinh doanh ra thế giới. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng được trẻ hóa, phần lớn đang ở độ tuổi sung sức. Theo kết quả điều tra của nhóm tác giả Trường Đại học Ngoại thương tiến hành trong hai năm 1999 và 2000, số người tiến hành đàm phán (bao gồm các giám đốc và trưởng phòng kinh doanh) ở độ tuổi 40-50 chiếm tới 63,06%; dưới 40 tuổi là 25,23% và chỉ có 11,71% ở độ tuổi trên 50 [36]. Đây là một thuận lợi quan trọng nhằm giúp đội ngũ doanh nhân nhanh nhạy hơn trong việc nắm bắt thị trường, cơ hội kinh doanh cũng như các vấn đề về qui định pháp luật hiện hành.

Động cơ kinh doanh và nhận thức của doanh nhân đã được cải thiện đáng kể. Kết quả nghiên cứu về tinh thần kinh doanh do Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương phối hợp với tổ chức JICA (Nhật Bản) tiến hành trong khuôn khổ dự án Ishikawa năm 2000 đã thể hiện rõ điều này. Khi được hỏi về động cơ kinh doanh, 41,4% số doanh nhân trả lời là “muốn làm gì có ích cho xã hội”; 27,3% trả lời là do “muốn tự quyết định công việc của mình”; 13,5% là do “muốn phát huy tối đa khả năng của mình”; 16,4% do “muốn tiếp tục công việc của gia đình hiện nay”; 9,7% do “muốn kiếm nhiều tiền hơn”; 5,1% do “công việc trước đây không thích hợp” và 1,3% do “không có việc làm” [36]. Những con số này cho thấy doanh nhân Việt Nam có trách nhiệm và ý thức xã hội khá cao. Điều này khẳng định rằng, doanh nghiệp kinh doanh không chỉ vì mục đích cá nhân, mặc dù động cơ này hoàn toàn là chính đáng.

Trình độ hiểu biết pháp luật trong nước và quốc tế được nâng cao cũng là phương tiện giúp cho các doanh nhân nắm bắt và hiểu đúng về các qui định của pháp luật kinh doanh hiện hành. Từ đó hình thành thái độ tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, niềm tin và tình cảm vào hệ thống pháp luật nước nhà.

Tuy nhiên, trong mấy năm trở lại đây tình hình ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức và các chủ thể kinh doanh có nhiều yếu kém, đặc biệt có nhiều vấn đề mới phát sinh có chiều hướng gia tăng đến mức “báo động” là “điểm nóng” đối với tình hình chính trị, an ninh, xã hội. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Thực tế cho thấy rằng, vẫn còn một số doanh nghiệp ở Việt Nam thường không coi trọng chữ tín trong làm ăn, cạnh tranh không lành mạnh với đối thủ, kinh doanh bất chấp tác động có hại tới môi trường xã hội, vì mục tiêu lợi nhuận mà có nhiều doanh nghiệp sẵn sàng cung ứng cho thị trường người tiêu dùng hàng nhái, hàng kém chất lượng. Các nhà kinh doanh thường mang nặng tư tưởng cầu toàn, ngại va chạm, Nhưng lại muốn giải quyết vấn đề nhanh nên nảy sinh nhiều tiêu cực, như: hối lộ cho cấp trên, cho các cơ quan nhà nước,… Không nhìn thấy được tác dụng lâu dài của văn hóa pháp luật trong doanh nghiệp, nên không chú trọng tới việc xây dựng nó. Thường các nhà kinh doanh chỉ nêu ra các khẩu hiệu thể hiện ý muốn phát triển văn hóa pháp luật của mình chứ không đề ra các phương pháp, các chuẩn mực buộc nhân viên phải làm theo. Điều này khiến cho nền văn hóa pháp luật kinh doanh của doanh nghiệp trở nên tự phát, hỗn độn, manh mún.

Đối với đội ngũ người lao động Việt Nam hiện nay, vấn đề trình độ hiểu biết pháp luật vẫn còn tồn tại một số vấn đề. Tính tự chủ của người lao động ở Việt Nam rất cao, nhưng sự liên kết lại kém. Đó là do tư tưởng của người Việt Nam chưa đề cao yếu tố đoàn kết, vẫn còn lối kinh doanh tiểu thương, manh mún. Trình độ của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp cũng như các chủ thể kinh doanh nhỏ lẻ trong giai đoạn hiện nay đã được nâng cao nhiều so với thời kỳ bao cấp trước. Ngày nay, tiêu chí về trình độ học vấn được coi là tiêu chí hàng đầu và quan trọng nhất của công tác tuyển dụng trong các doanh nghiệp. Có trình độ hiểu biết tốt, người lao động sẽ dễ dàng hiểu rõ và chấp hành tốt các qui định của pháp luật kinh doanh trong việc thực hiện công việc của mình. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp trình độ hiểu biết cao luôn đi kèm với một ý thức pháp luật tốt và sự chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh. Thực tế giải quyết án kinh tế, hình sự mấy năm gần đây cho thấy, số vụ án với tội danh lợi dụng chức vụ quyền hạn gây hậu quả nghiêm trọng hoặc không làm tròn trách nhiệm gây thiệt hại về kinh tế nghiêm trọng cho nhà nước ngày càng gia tăng. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Chúng ta có thể thấy rõ những hạn chế trong ý thức pháp luật kinh doanh của các chủ thể kinh doanh qua việc nhìn nhận lại một số vụ án kinh tế điển hình trong giai đoạn gần đây. Tháng 9/2008 Công ty Vedan Việt Nam, có trụ sở tại xã Phước Thành, Long Thành, Đồng Nai bị Cục Cảnh sát môi trường (C36) phát hiện mỗi ngày xả khoảng 5.000m3 nước thải chưa qua xử lý ra môi trường. Điều quan trọng là Công ty này đã liên tục xả các chất thải bẩn ra môi trường trong suốt 14 năm mà không bị phát hiện. Đây được coi là nguyên nhân chính giết hại môi trường sinh thái trong và xung quanh khu vực sông Thị Vải. Sai phạm của Công ty Vedan là hết sức nghiêm trọng bởi dòng sông Thị Vải là tuyến đường thủy huyết mạch thông thương việc mua bán hàng hóa giữa các tỉnh Đồng nai, Bà Rịa – Vũng tàu đi các tỉnh trong cả nước.

Công ty Vedan đã vi phạm 10 nội dung trong việc bảo vệ môi trường. Cụ thể như sau: Xả thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày đối với Nhà máy sản xuất tinh bột biến tinh của Vedan (vi phạm khoản 11 Điều 10 Nghị định số 81/2006/NĐ-CP).

Xả thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày đối với Nhà máy sản xuất Bột ngọt và Lysin của công ty (vi phạm khoản 8 Điều 10 Nghị định 81/2006/NĐ-CP). Xả thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày đối với các Nhà máy khác của công ty (vi phạm khoản 8 Điều 10 Nghị định 81/2006/NĐ-CP).

Nộp không đầy đủ các số liệu điều tra, khảo sát, quan trắc và các tài liệu liên quan khác cho cơ quan lưu trữ dữ liệu, thông tin về môi trường theo quy định của quan nhà nước có thẩm quyền (vi phạm khoản 4 Điều 27 Nghị định 81/2006/NĐ-CP). Không đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với trại chăn nuôi heo (vi phạm khoản 3 Điều 8 Nghị định 81/2006/NĐ-CP).

Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình vào hoạt động đối với Dự án đầu tư nâng công suất đối với phân xưởng sản xuất Xút-Axít từ 3.116 tấn/tháng lên 6.600 tấn/tháng (vi phạm khoản 3 Điều 9 Nghị định 81/2006/NĐ-CP).

Ngoài ra, Vedan còn không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình vào hoạt động đối với Dự án đầu tư nâng cao công suất đối với các nhà máy: bột ngọt từ 5.000 tấn/tháng lên 15.000 tấn/tháng; tinh bột biến tinh từ 2.000 tấn/tháng lên 4.000 tấn/tháng; Lysin từ 1.200 tấn/tháng lên 1.400 tấn/tháng; bột gia vị cao cấp 20 tấn/ tháng PGA 700 tấn/năm; phân Vedagro 70.000 tấn/năm (rắn); 280.000 tấn/năm (lỏng) về cảng 12.000 tấn (vi phạm khoản 3 Điều 9 Nghị định 81/2006/NĐ-CP). Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Thải mùi hôi thối, mùi khó chịu trực tiếp vào môi trường không qua thiết bị hạn chế ô nhiễm môi trường (vi phạm điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị định 81/2006/NĐ-C). Quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định về bảo vệ môi trường (vi phạm khoản 3 Điều 15 Nghị định 81). Công ty xả nước thải vào nguồn nước không đúng vị trí quy định trong giấy phép (vi phạm khoản 4 Điều 9 Nghị định 81/2006/NĐ-C).

Hành vi vi phạm của công ty Vedan là vi phạm pháp luật môi trường cũng như pháp luật hình sự. Hậu quả của hành vi là đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, sức khỏe của người dân. Qua vụ án này có thể nhận thấy ý thức pháp luật của Công ty Vedan là rất kém, mặc dù lãnh đạo công ty là những người có trình độ hiểu biết pháp luật nhưng lại thiếu sự tôn trọng và thái độ nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Điều này được thấy rõ qua hành vi “che mắt” các cơ quan chức năng của Vedan bằng cách xây dựng một hệ thống xả nước thải rất hiện đại nhưng lại không sử dụng mà xả thẳng ra môi trường. Chính thái độ thiếu tôn trọng pháp luật cũng như không tuân thủ đúng các qui định pháp luật kinh doanh của Vedan đã dẫn tới những hành bất hợp pháp của doanh nghiệp này mặc dù có được nền tảng tri thức pháp lý cao. Hậu quả mà Vedan gây ra sẽ còn ảnh hưởng đến môi trường lâu dài và không thể thống kê hết những thiệt hại vật chất và tinh thần mà những người dân tại các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh phải gánh chịu. Đó chính là hồi chuông cảnh báo về vấn đề đạo đức trong kinh doanh của các chủ thể. Không có đạo đức kinh doanh thì cho dù có hiểu biết pháp luật sâu rộng vẫn dẫn tới những hành vi phạm pháp.

Thời gian gần đây, dư luận nước ta lại thêm một lần nữa xôn xao khi chứng kiến vụ sai phạm trong quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng tại Tổng công ty tàu thủy Việt Nam (Vinashin). Tháng 9/2010, thông qua cuộc kiểm tra của Thanh tra Nhà nước đã phát hiện Vinashin có tổng số nợ lên tới 86.000 tỉ đồng, với số tiền lãi hàng năm lên tới 10.000 tỉ đồng. Theo thống kê, số nợ của Vinashin bằng số tiền đóng thuế của hơn 1.000 doanh nghiệp trong năm (2007-2009). Toàn bộ số nợ này đã vượt gấp rất nhiều lần so với vốn chủ sở hữu của Vinashin (tính đến tháng 6/2010 là khoảng 8.000 tỉ đồng) (theo trang web: http://www.vinacorp.vn ngày 7/8/2010). Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Do vậy để có thể trả nợ ngay những khoản nợ đến hạn của Vinashin là ngoài khả năng. Bởi hầu hết các dự án đóng tàu của công ty này đều bị ngưng trệ do thiếu vốn, thiếu công nghệ; hầu hết tiền vay đều được Vinashin đầu tư vào những dự án điện, bất động sản không có tính khả thi và khó thu hồi vốn. Vì vậy tình cảnh của Vinashin hiện nay là đứng trên bờ vực của sự phá sản.

Điều đáng nói ở đây là mặc dù làm ăn thua lỗ, gặp phải nhiều khó khăn, nhưng lãnh đạo Vinashin lại thể hiện gian dối, không báo cáo trung thực lên Chính phủ để có biện pháp giải quyết kịp thời. Năm 2009 thua lỗ nhưng vẫn báo cáo tổng kết sản xuất kinh doanh hoàn thành kế hoạch năm và đạt lợi nhuận 1.000 tỷ đồng. Để Vinashin đổ vỡ, lỗi do chủ quan là chính. Theo thông báo của Chính phủ, những yếu kém và sai phạm nghiêm trọng của lãnh đạo Tập đoàn Vinashin là nguyên nhân trực tiếp, chủ yếu dẫn đến tình trạng trên. Kết quả là 6 lãnh đạo của tập đoàn này đã bị tạm giam, khởi tố về hành vi “cố ý làm trái các qui định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”; Chính phủ đã phải vào cuộc để vực dậy tập đoàn và đây được coi là sai phạm kinh tế lớn nhất trong năm 2010.

Theo thông báo của Chính phủ, những yếu kém và sai phạm nghiêm trọng, nhất là về đầu tư, về sử dụng vốn của lãnh đạo tập đoàn, cùng với các yếu tố khách quan tác động nặng nề làm cho Tập đoàn thua lỗ, không vay được vốn, mất khả năng chi trả, không còn vốn để hoạt động.

Chức năng chính của Vinashin là tập trung phát triển năng lực cốt lõi của ngành công nghiệp đóng tàu, nhưng Vinashin đã dùng lượng vốn rất lớn đầu tư tràn lan và thua lỗ nghiêm trọng. Trong 2 năm 2006- 2007, tổng số vốn dài hạn mà Vinashin huy động được lên đến trên 43.700 tỷ đồng, tương đương gần 3 tỷ USD. Các báo cáo cho biết, trong thương vụ cổ phiếu Bảo Việt, Vinashin lỗ khoảng hơn 700 tỷ, vụ tàu du lịch Hoa Sen dự tính lỗ hơn 1000 tỷ, hiện tại đội tàu có tới 2/3 số tàu không sử dụng được… Trong số các tàu nói trên, có 9 tàu được mua với tổng số 3.100 tỷ đồng nhưng phải treo cờ nước ngoài vì không được đăng kiểm tại Việt Nam do quá “đát” (theo trang web: http://www.vinacorp.vn ngày 7/8/2010).

Trong việc triển khai các dự án, Vinashin đầu tư quá nhiều dự án ở nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau, không tập trung vào trọng tâm trọng điểm, vượt khả năng cân đối tài chính, hầu hết các dự án đầu tư đều triển khai dở dang.

Được biết, nguồn vốn 750 triệu USD trái phiếu quốc tế được dùng đầu tư tới 219 dự án nên số dự án dở dang nhiều, có đến 75% số dự án chưa phát huy tác dụng. Từ khoảng năm 2003, Vinashin đã bắt đầu đến các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long ồ ạt xin đăng ký đầu tư nhiều dự án lớn. Nhưng qua hơn năm năm, đất quy hoạch cho một số dự án của tập đoàn này vẫn để hoang (theo trang web: http://www.vinacorp.vn ngày 7/8/2010).

Sai phạm của Vinashin thì đã rõ, nhưng điều quan trọng là tập đoàn này đã báo cáo không đúng thực trạng về sử dụng vốn, về đầu tư, về phát triển thêm doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất dẫn tới những hậu quả nặng nề của Vinashin. Xuất phát từ ý thức pháp luật quá kém, thái độ không tôn trọng pháp luật cũng như sự coi thường đã đẩy Vinashin đắm chìm vào những sai phạm, hết lần này đến lần khác. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Tác động tiêu cực lớn nhất của cơ chế thị trường đến văn hóa pháp luật trong kinh doanh Việt Nam chính là sự chao đảo về các hệ thống giá trị trong mỗi con người Việt Nam nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung. Việt Nam vốn là một nước có nền văn hóa nông nghiệp, trọng tĩnh, với hệ thống các giá trị thiên về tinh thần hơn là vật chất, như thích hòa hiếu, trọng tình, ham danh hơn ham lợi, trọng thể diện… Những yếu tố này, một mặt cản trở sự phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác lại giúp cho tôn ti, trật tự trong xã hội được bảo đảm, các giá trị đạo đức ít bị xáo trộn. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, văn hóa Việt Nam khá ôn hòa. Chúng ta không quá khắt khe về tôn giáo như người Trung Đông, không có kỷ luật để khép mình vào tập thể như người Nhật Bản, không quá lệ thuộc vào gia đình, dòng họ như người Italia, không tự hào về chủng tộc như người Hoa… Tính chất này giúp con người Việt Nam có tính khoan dung, mềm dẻo, dễ hòa đồng, nhưng cũng làm chúng ta dễ chao đảo, không có điểm tựa vững chắc về tinh thần. Số liệu điều tra cho thấy, phần lớn doanh nhân Việt Nam kinh doanh không bắt nguồn từ truyền thống gia đình, lại xuất thân từ những gia đình nghèo, không được đào tạo cơ bản, nên có nhiều hạn chế về kiến thức và trình độ. Thực tế này cộng với nền tảng tinh thần không ổn định đã làm nhiều doanh nhân có tham vọng không giới hạn trong việc làm giàu và tích lũy tư bản.

Một vụ án kinh tế gây chấn động dư luận năm 2008 chính là vụ Lã Thị Kim Oanh. Chỉ là giám đốc một công ty nhà nước, nhưng được sự hỗ trợ của nhiều cán bộ thuộc một số ngành khác nhau, Lã Thị Kim Oanh đã chiếm dụng và gây thiệt hại cho nhà nước hàng trăm tỉ đồng. Năm 1995, công ty tiếp thị thương mại nông nghiệp – công nghiệp thực phẩm (gọi tắt là công ty tiếp thị) được thành lập do Lã Thị Kim Oanh làm giám đốc với lĩnh vực hoạt động là kinh doanh các ngành nghề tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, tư vấn và đầu tư kỹ thuật cơ điện phục vụ nông nghiệp – công nghiệp thực phẩm. Công ty tiếp thị từ khi thành lập đến khi vụ án bị phát hiện vào tháng 6/2001, chỉ lo thủ tục để thực hiện các dự án. Lã Thị Kim Oanh cùng cấp dưới là phó giám đốc Phạm Tiến Bình; kế toán trưởng Đỗ Đức Thuần lấy danh nghĩa chủ đầu tư, tận dụng mọi mối quan hệ để huy động vốn từ nhiều nguồn như ngân hàng, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và các cá nhân để dùng hàng trăm tỉ đồng mang đi tiêu xài bừa bãi. Để vay được tiền, Lã Thị Kim Oanh hứa “khi được ngân sách nhà nước cấp sẽ trả nợ vay” nhưng khi được cấp ngân sách thì bà giám đốc này lại cho chuyển vào tài khoản của công ty tiếp thị mà “quên” việc trả nợ. Trong hơn sáu năm làm giám đốc, Lã Thị Kim Oanh đã chiếm dụng hơn 72 tỉ đồng và 110.000 đôla; đồng thời làm thiệt hại của Nhà nước trên 34,3 tỉ đồng và 3.000 đôla (theo trang web: http://www.baodatviet.vn ngày 25/3/2008). Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Trong vụ án này, điều đáng nói là mặc dù Lã Thị Kim Oanh không có chuyên môn về quản lý xây dựng nhưng lại vẫn được giao chức Phó chủ nhiệm dự án của Công ty và thực hiện vay vốn, đầu tư xây dựng hàng loạt các dự án địa ốc. Hậu quả là tiền vay được không được đầu tư vào đúng mục đích mà chỉ phục vụ cho việc tiêu xài cá nhân của một vài lãnh đạo công ty, trong đó Lã Thị Kim Oanh là chủ mưu.

Qua nghiên cứu vụ án này cho thấy, trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế cộng với ý thức pháp luật kém đã dẫn tới những hành vi sai phạm của chủ thể kinh doanh. Vụ án này đã cho thấy khi quyền lực, cơ hội được đặt vào tay những con người hạn chế về trình độ và tư cách đạo đức, thì có thể làm nảy sinh những tham vọng tội lỗi vô hạn đến như thế nào. Đành rằng, trong kinh doanh, lợi nhuận là mục đích chính, nhưng việc mưu cầu lợi nhuận đến mức bất chấp đạo lý, luật pháp, quả là một tiếng chuông cảnh báo về tình trạng văn hóa kinh doanh của Việt Nam.

Song song với tình hình ý thức pháp luật trong kinh doanh của một số đối tượng đặc trưng trên đây, thì ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ xây dựng luật kinh doanh, thực thi, áp dụng và bảo vệ pháp luật về kinh doanh cũng là một vấn đề cần nghiên cứu. Đặc biệt, trong tình hình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Xét về phương diện lý luận ý thức pháp luật là cơ sở, tiền đề trực tiếp của việc xây dựng luật, và là nhân tố quan trọng để đưa pháp luật vào cuộc sống. Vì vậy, ý thức pháp luật của đội ngũ những người làm công tác xây dựng luật kinh doanh có tính quyết định đến chất lượng của các quy định pháp luật kinh doanh góp phần đảm bảo sự phù hợp và khả năng thực hiện trên thực tế. Đồng thời ý thức pháp luật của những người làm công tác bảo vệ pháp luật, trong đó có pháp luật về kinh doanh, trật tự kỷ cương của nhà nước phải được thực hiện một cách nghiêm chỉnh là tấm gương cho người dân noi theo.

Nhưng một thực tế đáng lo ngại hiện nay là một bộ phận không nhỏ những người làm công tác bảo vệ pháp luật lại vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật về kinh doanh rất nhiều, có thể xảy ra trong quá trình thi hành công vụ hoặc đời sống hàng ngày. Điều này gây ra những phản ứng tiêu cực ảnh hưởng xấu đến đời sống pháp luật. Ví dụ một số đại biểu quốc hội, thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư… là những người rất am hiểu pháp luật nhưng vì tư lợi mà có những hành vi sai trái cố tình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật như “chạy án”, “câu kết với đối tượng phản động chống phá nhà nước” (vụ án của Luật sư Lê Công Định, tháng 06/2009), lợi dụng chức vụ để tham ô, tham nhũng…

Qua những phân tích trên đây, chúng ta có thể hiểu và nắm bắt được tình hình ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Song song với tình hình ý thức pháp luật tốt: nhận thức đúng đắn về lĩnh vực pháp luật kinh doanh và xử sự phù hợp với các yêu cầu của pháp luật kinh doanh, thì vẫn còn tồn tại thực trạng thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thái độ thờ ơ, coi thường tính nghiêm minh của các qui định pháp luật về kinh doanh. Như vậy, yêu cầu nâng cao ý thức pháp luật nói chung và về lĩnh vực kinh doanh nói riêng trong nhân dân là tất yếu khách quan về phương diện lý luận và thực tiễn trong tình hình mới hiện nay.

2.1.1.2. Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Thực trạng về ý thức pháp luật kinh doanh thì đã rõ, có ý thức tốt cũng có ý thức kém. Trình độ pháp luật của chủ thể tuy đã có nhiều cải thiện trong những năm gần đây nhưng vẫn còn nhiều yếu kém. Thái độ, sự tôn trọng đối với pháp luật nhiều nơi, nhiều chủ thể vẫn còn chưa cao. Thực trạng trên xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Nhìn nhận rõ thực trạng cũng như hiểu được nguồn gốc dẫn tới thực trạng đó mới giúp chúng ta có những biện pháp thích hợp để khắc phục. Một số nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng ý thức pháp luật kém ở các chủ thể kinh doanh hiện nay là:

  • Xuất phát từ trình độ hiểu biết pháp luật của một bộ phận chủ thể kinh doanh còn hạn chế, nhất là các chủ thể kinh doanh tại các vùng, miền xa xôi của đất nước.

Trình độ pháp luật yếu kém cộng với thái độ thiếu tôn trọng pháp luật dẫn tới ý thức pháp luật không đúng đắn. Thông qua những sai phạm trong hành vi kinh doanh của các chủ thể đã được phân tích ở trên chúng ta có thể nhận thấy trình độ hiểu biết pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức của chủ thể và hành vi xử sự ra bên ngoài. Ý thức pháp luật kém thể hiện ở những suy nghĩ, quan điểm, thái độ, tình cảm của chủ thể đối với pháp luật. Suy nghĩ, quan điểm không đúng, không hiểu qui định của luật hoặc thái độ coi thường, không có niềm tin vào pháp luật chính là biểu hiện của ý thức pháp luật kém.

  • Hệ thống pháp luật còn thiếu tính khả thi, nhiều qui định lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được hết hiệu quả.

Hệ thống pháp luật kinh doanh hiện nay tuy đã có nhiều biến chuyển tích cực nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém. Trong đó, nổi bật là hạn chế về tính khả thi, tính phù hợp với thực tiễn. Nhiều qui định của pháp luật kinh doanh hiện nay được ví như «trên trời» bởi sự không phù hợp của nó; lại có nhiều qui định thể hiện rõ sự lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế thì vẫn chưa được loại bỏ. Những lỗ hổng pháp lý này đã làm cho nhiều chủ thể mất niềm tin, sự tôn trọng vào pháp luật, từ đó dẫn tới ý thức pháp luật của họ không được đúng đắn nữa. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, chưa phát huy được tối đa hiệu quả. Chính vì vậy, vẫn còn rất nhiều chủ thể kinh doanh ở các địa phương chưa được tiếp cận với các qui định pháp luật kinh doanh, nhất là những qui định mới. Hoặc được tiếp cận nhưng chưa được bồi dưỡng kiến thức để hiểu rõ và tuân thủ. Do vậy, trình độ hiểu biết pháp luật của họ rất hạn chế, dẫn tới những hành vi hoạt động kinh doanh không phù hợp.

  • Xuất phát từ ý thức pháp luật thấp từ trong truyền thống đã bám rễ trong một bộ phận chủ thể kinh doanh hiện nay.

Một bộ phận nhỏ các chủ thể kinh doanh ở nước ta hiện nay vẫn mang nặng tư tưởng kinh doanh lạc hậu truyền thống, đó là lối làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, bất chấp pháp luật. Tư duy này đã ảnh hưởng rất lớn đến ý thức pháp luật kinh doanh của các chủ thể dẫn tới hành vi bất hợp pháp của họ, đặc biệt là nó tồn tại từ trong lịch sử ở một số vùng, miền của đất nước. Sự coi thường tính nghiêm minh của pháp luật cũng như ý thức thiếu tôn trọng các qui định của luật pháp cần phải được lên án và ngăn chặn, tìm mọi biện pháp để khắc phục.

  • Xuất phát từ cơ chế xử lý pháp luật ở nước ta hiện nay còn thiếu tính nghiêm minh, xét xử chưa đúng người đúng tội.

Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức pháp luật của các chủ thể kinh doanh. Mặc dù cơ chế xử lý các vi phạm pháp luật kinh doanh hiện nay ở các cơ quan bảo vệ pháp luật đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần xây dựng xã hội văn minh, tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Hàng năm vẫn có những vụ án xét xử chưa thỏa đáng về hình phạt gây bức xúc trong dư luận, hay việc điều tra bỏ lọt tội phạm, bắt giữ người chưa đảm bảo các yêu cầu của tính dân chủ, nhân quyền… Đó là chưa kể đến có nhiều vụ án mà cơ quan bảo vệ pháp luật phải xin lỗi người dân do việc truy tố, điều tra sai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự và cuộc sống của họ.

Đảm bảo tính nghiêm minh trong cơ chế xử lý vi phạm pháp luật kinh doanh ở mọi mặt, mọi vấn đề hiện nay đang là yêu cầu bức thiết đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Đây cũng được coi là nhân tố quan trọng để nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, tạo niềm tin, sự yêu mến và tôn trọng của họ dành cho hệ thống pháp luật cũng như các thiết chế luật pháp.

2.1.2. Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật trong kinh doanh và nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

2.1.2.1. Thực trạng

Hệ thống pháp luật kinh doanh là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa pháp luật trong kinh doanh. Người ta không thể đánh giá được ý thức pháp luật kinh doanh của các chủ thể có tốt hay không, hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật kinh doanh có hợp pháp hay không nếu như không có những qui định của pháp luật kinh doanh. Hệ thống pháp luật tạo ra một hành lang pháp lý, một chuẩn mực pháp luật để từ đó các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Có thể nói hệ thống pháp luật kinh doanh giống như một tấm gương phản chiếu soi rõ hành vi của các chủ thể kinh doanh, hành vi nào là hợp pháp và hành vi nào là bất hợp pháp.

Hệ thống pháp luật kinh doanh hiện nay của nước ta là khá phong phú và đa dạng. Ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh được phép thực hiện hiện nay đều đã có văn bản pháp luật điều chỉnh. Dưới đây xin được khái quát một số lĩnh vực kinh doanh chủ yếu và các văn bản pháp luật điều chỉnh:

Lĩnh vực kinh doanh bất động sản

  • Luật kinh doanh bất động sản năm 2006. Luật này qui định về hoạt động kinh doanh bất động sản; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản và giao dịch bất động sản có liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản.
  • Nghị định 153/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/10/2007 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản về các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh; vốn pháp định đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản; mua bán nhà, công trình xây dựng theo hình thức ứng tiền trước;
  • Nghị định 23/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/2/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, quản lý, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.

Lĩnh vực kinh doanh nhà ở thương mại. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

  • Luật nhà ở năm 2005. Luật này quy định về sở hữu nhà ở, phát triển, quản lý việc sử dụng, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở. Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến sở hữu nhà ở, phát triển, quản lý việc sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở.
  • Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung về phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, sở hữu nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở quy định tại Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005.
  • Nghị định số 02/2006/NĐ-CP ngày 05/1/2006 ban hành Quy chế khu đô thị mới. Quy chế này qui định về việc quản lý và thực hiện dự án khu đô thị mới bao gồm quá trình hình thành dự án, thực hiện đầu tư xây dựng, khai thác và chuyển giao. Đối tượng áp dụng bao gồm cả các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia vào quá trình quản lý và thực hiện dự án khu đô thị mới.
  • Nghị định số 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/6/2010 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở như sở hữu nhà ở, phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở qui định tại Luật nhà ở.
  • Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng qui định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP.

Lĩnh vực thương mại mua bán hàng hóa, xuất nhập khẩu…

  • Bộ luật dân sự năm 2005. Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
  • Luật thương mại năm 2005. Luật này điều chỉnh hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này; Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.
  • Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 qui định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại. Nghị định này quy định về hành vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại.
  • Nghị định số 72/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 qui định chi tiết Luật thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. v.v…

Lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Luật doanh nghiệp năm 2005. Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); quy định về nhóm công ty.

Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp liên quan đến thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.

Luật phá sản năm 2004 qui định điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 qui định về đăng ký kinh doanh. Nghị định này quy định chi tiết về cơ quan đăng ký kinh doanh và hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và hộ kinh doanh.

Trên đây chỉ là một số ít trong kho văn bản pháp luật kinh doanh của nước ta hiện nay. Ngoài các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành còn có các điều ước quốc tế, hiệp định song phương và đa phương trong lĩnh vực kinh doanh cũng điều chỉnh hành vi của các chủ thể. Nhìn nhận về hệ thống pháp luật kinh doanh hiện nay chúng ta có thể nhận thấy những mặt thành tựu và cả những hạn chế như sau:

  • Thành tựu Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Hệ thống pháp luật kinh doanh nước ta trong hai thập kỷ qua đã có sự phát triển mạnh mẽ, với nhiều thành tựu to lớn. Chính những thành tựu này trong lĩnh vực lập pháp đã giúp Việt Nam vượt qua những điều kiện về mặt thể chế mà WTO đặt ra đối với việc kết nạp các thành viên và đương nhiên đáp ứng được rất nhiều nhu cầu phát triển nội tại của đất nước. Có thể thống kê những thành tựu đó qua một vài điểm chính như sau:

  • Hệ thống pháp luật tương đối toàn diện, bao trùm sự điều chỉnh lên các ngành nghề, lĩnh vực của hoạt động kinh doanh.

Trong những năm gần đây, các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước đã không ngừng ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong lĩnh vực kinh doanh. Từ các đạo luật, luật được Quốc hội ban hành đến các văn bản dưới luật như nghị định, nghị quyết, chỉ thị, thông tư, quyết định, công văn được Chính phủ và các Bộ chuyên ngành chú trọng xây dựng. Có thể nói lĩnh vực kinh doanh hiện nay là lĩnh vực có số lượng các văn bản pháp luật điều chỉnh nhiều nhất. Hành lang pháp lý trong kinh doanh được trải dài ở mọi ngành nghề, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực mới như sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử… cũng được nhà nước ta chú trọng xây dựng các văn bản luật và dưới luật nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh. Đây là sự đáp ứng những đòi hỏi tất yếu của thị trường trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, phát sinh nhiều quan hệ mới cần phải điều chỉnh.

Bên cạnh các văn bản qui phạm pháp luật được ban hành trong nước, nhà nước ta cũng rất chú trọng đến việc ký kết và tham gia các điều ước quốc tế. Hiệp định thương mại Việt – Mỹ được ký kết sau quá trình đàm phán và thương lượng lâu dài giữa hai bên và hàng loạt các điều ước quốc tế, hiệp định song phương và đa phương giữa nước ta với các nước trên thế giới được ký kết đã cho thấy thái độ tôn trọng và quan tâm của nhà nước Việt Nam đối với vấn đề hội nhập pháp luật quốc tế. Trong xu hướng toàn cầu hóa thương mại hiện nay, việc nước ta gia nhập các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền pháp luật hiện tại nói chung và pháp luật kinh doanh nói riêng. Hoàn thiện pháp luật kinh doanh trong nước, tạo ra sự hài hòa về lợi ích, thống nhất trong qui định về các vấn đề như thuế, thủ tục xuất nhập khẩu… là những đòi hỏi cấp thiết đối với hệ thống pháp luật.

Có thể nói hệ thống pháp luật kinh doanh hiện nay là khá toàn diện và hoàn chỉnh. Mặc dù trong một số lĩnh vực mới chỉ có văn bản dưới luật mà chưa có văn bản luật, hoặc thiếu những điều luật phù hợp và cần thiết cho những trường hợp cụ thể nhưng không có lĩnh vực hoạt động kinh doanh nào mà không có văn bản qui phạm pháp luật tương ứng để vận dụng. Đây là một thành tựu lớn về lập pháp, một sự thể hiện của trình độ văn hóa pháp luật đã được chú trọng và ngày càng hoàn thiện hơn ở nước ta. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Hệ thống pháp luật kinh doanh luôn không ngừng nâng cao và mở rộng quyền con người, quyền công dân, thể hiện tính dân chủ và nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Nội dung các qui phạm pháp luật kinh doanh không ngừng được nâng cao về mặt chất lượng, được thể hiện ở trình độ xây dựng, kỹ thuật pháp lý và phạm vi điều chỉnh của các qui phạm đó. Các qui phạm pháp luật trong mỗi lĩnh vực kinh doanh đều thể hiện sự toàn diện trong phạm vi điều chỉnh.

Bên cạnh sự tiến bộ về kỹ thuật pháp lý, pháp luật kinh doanh ngày càng mở rộng quyền tự do dân chủ, công bằng đối với các chủ thể. Có thể nhận thấy điều này qua việc mở rộng quyền tự do kinh doanh, tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền sở hữu trí tuệ, đối tượng ký kết hợp đồng kinh tế. Những qui định của pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm, xét xử đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan sai người vô tội trong lĩnh vực kinh doanh cũng được qui định ngày càng cụ thể và rõ ràng hơn. Điều này càng có những tác động tốt đẹp tới niềm tin và tình cảm của các chủ thể đối với hệ thống pháp luật.

Hệ thống pháp luật kinh doanh vừa là cơ sở vững chắc cho việc bảo vệ chủ quyền của các nước với nhau vừa là phương tiện pháp lý liên kết chặt chẽ các nước trong quá trình hội nhập, đảm bảo không xâm phạm tới các vấn đề nội bộ của nhau trên cơ sở hai bên cùng có lợi.

Xu hướng hội nhập pháp luật hiện nay đang trở nên mạnh mẽ. Việc tiếp thu tinh hoa văn hóa pháp luật kinh doanh của các nước, áp dụng vào Việt Nam tùy theo điều kiện và hoàn cảnh nước ta là một yêu cầu hết sức cần thiết. Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tham gia vào xu thế toàn cầu hóa thương mại là nước ta phải đối mặt với việc hoàn thiện nền pháp luật hiện hành, tạo ra sự hài hòa với pháp luật các nước. Đây là một quá trình lâu dài và phức tạp, phải tiến hành từng bước, qua từng giai đoạn.

Việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật kinh doanh, ban hành nhiều văn bản pháp luật mới trong những năm gần đây cho thấy rõ sự quan tâm và chú trọng của nhà nước ta đến vấn đề này. Các điều ước quốc tế được ký kết ngày càng nhiều. Pháp luật kinh doanh ngày càng thể hiện sự hoàn thiện hơn để phù hợp với pháp luật thế giới, đáp ứng tốt yêu cầu tạo ra hành lang pháp lý thuận tiện và vững chắc cho các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước.

  • Hạn chế Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống pháp luật về kinh doanh ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, rất đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật kinh doanh.

Trong hệ thống pháp luật có 26 loại văn bản được xác định là văn bản quy phạm pháp luật. Theo số liệu của Cơ sở dữ liệu pháp luật Bộ Tư pháp, tính từ ngày 1 tháng 1 năm 1987 đến 30 tháng 11 năm 2008, chỉ tính riêng văn bản pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành thì hệ thống pháp luật nước ta đã có tới 19126 văn bản, trong đó có 208 luật, bộ luật, 192 pháp lệnh, 2097 nghị định, 267 nghị quyết và 36 thông tư, 1213 thông tư liên tịch. Luật Đất đai năm 2003 muốn được thực hiện phải dựa trên 126 văn bản. Trong lĩnh vực môi trường thì có đến khoảng 300 văn bản pháp luật khác nhau đang còn hiệu lực. Chỉ riêng Luật xây dựng cũng có hơn 60 Thông tư, Quyết định, Chỉ thị của Bộ Xây dựng để hướng dẫn [2]. Nếu kể cả các văn bản pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành thì con số này sẽ rất đồ sộ. Điều này cho thấy rõ sự cồng kềnh của hệ thống pháp luật hiện tại, trong đó có pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh.

Do có quá nhiều loại văn bản, được nhiều cấp ban hành, nhưng lại thiếu cơ chế cân nhắc toàn diện các lĩnh vực pháp luật khác nhau, nên mâu thuẫn và chồng chéo là khó tránh khỏi. Đây cũng là thực tế xảy ra đối với pháp luật kinh doanh. Nhiều qui phạm trong pháp luật kinh doanh lại có sự trùng lặp hoặc thậm chí mâu thuẫn với các luật chuyên ngành khác. Hoặc trong cùng hệ thống pháp luật kinh doanh vẫn có sự không thống nhất giữa văn bản luật và văn bản dưới luật, giữa các văn bản dưới luật với nhau. Tính cồng kềnh, sự tồn tại các bất cập và mâu thuẫn làm giảm tính minh bạch của pháp luật kinh doanh, khiến cho pháp luật trở nên phức tạp, khó hiểu và khó áp dụng và, vì thế, kém hiệu lực.

Với hệ thống pháp luật kinh doanh như vậy, việc áp dụng, thực hiện không hề dễ dàng đối với cán bộ pháp luật có trình độ, chưa nói đến các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân – những chủ thể kinh doanh.

Thứ hai, pháp luật nói chung và pháp luật kinh doanh nói riêng thường xuyên thay đổi, thiếu tính ổn định.

Thực tế này là hệ quả tất yếu của việc chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Trong quá trình thể chế hóa các yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, có không ít các quan điểm e ngại với những vấn đề mới, chỉ chấp nhận những vấn đề đã chín muồi, có sự đồng thuận cao, do đó khó tạo ra những đột phá và từ đó, có sự ổn định cần thiết. Thực tế này có nguyên nhân ở sự thiếu vắng những tầm nhìn và quan điểm chiến lược cho sự phát triển các lĩnh vực kinh tế – xã hội cụ thể và từ đó, của cả hệ thống pháp luật kinh doanh. Chính vì vậy, nhiều văn bản pháp luật kinh doanh tuổi thọ rất ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung. Pháp luật thường xuyên bị thay đổi, dẫn những khó khăn đáng kể trong việc thực hiện và tác động xấu đến sự ổn định của các quan hệ xã hội, nhất là đối với các quan hệ kinh tế. Sự thiếu ổn định đó cũng làm cho tâm lý pháp luật, niềm tin pháp luật của các chủ thể giảm sút, từ đó dẫn đến tình trạng thờ ơ hoặc thiếu tôn trọng pháp luật, ý thức pháp luật của người dân cũng từ đó mà đi xuống, nền văn hóa pháp luật trong kinh doanh sẽ không thể được cải thiện và nâng cao.

Thứ ba, rất nhiều văn bản pháp luật kinh doanh có tính quy phạm thấp, tức là thiếu những quy tắc xử sự cụ thể mà chủ thể phải thực hiện. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Có những văn bản chứa đựng những quy định mang tính tuyên ngôn hơn là quy phạm pháp luật. Nhiều lĩnh vực quan hệ kinh doanh đòi hỏi phải được điều chỉnh cụ thể, chi tiết thì pháp luật lại là văn bản pháp luật “khung” hay văn bản pháp luật “ống”. Phần lớn các văn bản luật như vậy giao cho Chính phủ ban hành nghị định để cụ thể hóa. Nhiều nghị định của Chính phủ lại giao cho bộ, ngành, địa phương hướng dẫn thực hiện. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng nảy sinh không ít mâu thuẫn giữa văn bản hướng dẫn và văn bản được hướng dẫn thi hành. Sự khác nhau trong ý kiến của Bộ Tài Nguyên và Môi trường và Bộ Xây dựng xung quanh quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về các giấy tờ nhà đất được giao dịch và của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc giao cho một cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất là một ví dụ. Việc triển khai thực hiện pháp luật theo cách này thiếu kịp thời, khó mang lại hiệu quả cao, vì phải chờ văn bản của các cấp khác nhau.

Thứ tư, tính minh bạch của hệ thống pháp luật kinh doanh còn hạn chế, nhất là nhìn nhận từ tính minh xác, tính minh định.

Công báo của Trung ương và các tỉnh đã đăng tải khá đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật. Các phương tiện thông tin đại chúng, cả hệ thống chính trị và xã hội đã có nhiều cố gắng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật. Như vậy, xét ở khía cạnh khả năng tiếp cận thì tính minh bạch của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật kinh doanh được bảo đảm tốt hơn. Tuy nhiên, xét ở tính minh xác, tính minh định thì hệ thống pháp luật kinh doanh vẫn còn thiếu tính minh bạch. Chính hạn chế này khiến các chủ thể thực sự lúng túng khi thực hiện hay áp dụng pháp luật. Quy trình xây dựng các văn bản pháp luật kinh doanh vẫn chưa tạo được cho công chúng những tiếp cận và tham gia cần thiết. Các ý kiến của chuyên gia, của các nhà khoa học nói riêng và của công chúng nói chung chưa thực sự được cân nhắc và tiếp thu. Mặt khác, tính tích cực trong việc vận động công dân tham gia xây dựng pháp luật nhìn chung chưa cao.

Thứ năm, tính hệ thống của pháp luật kinh doanh còn rất hạn chế. Các văn bản luật, các văn bản dưới luật khác nhau chưa thực sự tạo thành một chỉnh thể với những nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt mang tính chuyên ngành hoặc liên ngành.

Những mâu thuẫn giữa Luật nhà ở, Luật đất đai, Bộ luật dân sự về một số vấn đề (như: hiệu lực các giao dịch, về căn cứ xác định sở hữu, đăng ký quyền sở hữu) mà công luận nêu lên gần đây là ví dụ cho tính hệ thống thấp của pháp luật kinh doanh hiện hành của nước ta. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Trên nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, xây dựng pháp luật kinh doanh chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật và, do đó, khó tránh khỏi hậu quả pháp luật xa rời thực tiễn, không những không phản ánh đầy đủ thực tại, mà còn khó có khả năng dự báo, đi trước sự phát triển của quan hệ xã hội. Tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật kinh doanh mà không quản lý công tác phòng chống tội phạm kinh tế, xử lý tội phạm, giáo dục phạm nhân…thì khó có được một chính sách kinh tế hoàn chỉnh, ổn định, thúc đẩy, chứ không phải kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Thứ sáu, hệ thống pháp luật kinh doanh hiện nay vẫn còn rất nhiều qui định thể hiện sự mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh trong quá trình áp dụng và thực hiện.

Điển hình cho sự mâu thuẫn và chồng chéo này phải kể đến vấn đề qui định thời điểm được huy động vốn của các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán. Theo qui định tại Điều 39 Luật nhà ở năm 2005 thì: “Trường hợp chủ đầu tư huy động vốn từ tiền ứng trước của người có nhu cầu mua hoặc thuê nhà ở thì chỉ được áp dụng trong trường hợp thiết kế nhà ở đã được phê duyệt và đã được xây dựng xong phần móng”. Nhưng tại khoản 1 Điều 14 Luật kinh doanh bất động sản năm 2006 lại qui định: “Việc ứng tiền trước được thực hiện nhiều lần, lần đầu chỉ được thực hiện khi chủ đầu tư đó xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho bất động sản theo nội dung, tiến độ của dự án đó được phê duyệt”. Còn theo qui định tại Thông tư số 04/2006/TT-BXD hướng dẫn thực hiện Nghị định số 02/2006/NĐ-CP về Quy chế khu đô thị mới thì: Việc huy động vốn để đầu tư kinh doanh nhà ở trong các dự án kinh doanh thương mại được thực hiện nhiều lần thông qua hợp đồng giữa bên bán và bên mua, lần đầu chỉ được huy động khi chủ đầu tư đã giải phóng mặt bằng và bắt đầu triển khai xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật theo giai đoạn đầu tư được xác định trong quyết định cho phép đầu tư.

Như vậy, có thể nhận thấy chỉ cùng một qui định về thời điểm được phép huy động vốn của các chủ đầu tư xây dựng công trình đối với các dự án kinh doanh thương mại, nhà ở hình thành trong tương lai mà được qui định tại 3 văn bản qui phạm pháp luật và thời điểm qui định là khác nhau. Ở đây không thể áp dụng nguyên tắc luật chung, luật riêng, bởi Luật nhà ở và Luật kinh doanh bất động sản đều là luật chuyên ngành và hiệu lực pháp lý điều chỉnh trong trường hợp này là như nhau. Đây là rào cản pháp lý rất lớn gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc áp dụng pháp luật vào hoạt động huy động vốn của mình. Đồng thời nó cũng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành xét xử bởi không thể nói doanh nghiệp vi phạm pháp luật khi họ huy động vốn trước thời điểm hoàn thành xong phần móng (như qui định của Luật nhà ở), bởi họ lại đảm bảo điều kiện theo qui định của Luật kinh doanh bất động sản. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Tuy nhiên, rào cản pháp lý này đã được tháo gỡ khi năm 2010 Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2010/NĐ-CP trong đó qui định rõ 5 hình thức huy động vốn của chủ đầu tư xây dựng công trình và tương ứng với mỗi hình thức là những thời điểm được huy động vốn khác nhau.

Sự mâu thuẫn chồng chéo trong qui định của Luật còn được thể hiện ở thẩm quyền ký Hợp đồng lao động trong các công ty cổ phần (theo qui định tại điểm h khoản 1 Điều 108 Luật doanh nghiệp 2005 là Chủ tịch Hội đồng quản trị nhưng theo qui định của Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH thì lại là Tổng giám đốc). Đây cũng là một bất cập lớn ảnh hưởng tới quá trình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Giảm dần và tiến tới xóa bỏ những mâu thuẫn, chồng chéo trong qui định giữa các văn bản luật hiện nay đang là một yếu cầu bức thiết đặt ra với hệ thống pháp luật kinh doanh, nhằm tạo ra hệ thống chuẩn mức pháp lý tối ưu nhất phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập.

2.1.2.2. Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên

Hệ thống pháp luật kinh doanh còn bộc lộ nhiều hạn chế có thể được lý giải bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể đến một vài nguyên nhân chủ yếu sau:

  • Nguyên nhân xuất phát từ trình độ và ý thức của nhà làm luật.

Các văn bản pháp luật hiện nay được ban hành theo thẩm quyền của mỗi cơ quan như Quốc hội ban hành Luật, pháp lệnh; Chính phủ ban hành Nghị định; Bộ trưởng ban hành Quyết định, Thông tư…Tuy nhiên, vấn đề trình độ và ý thức của các nhà làm luật luôn luôn là vấn đề cần được phân tích và tìm biện pháp khắc phục. Một bộ phận không nhỏ các nhà làm luật tại các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật hiện nay không đảm bảo những nền tảng trình độ cơ bản. Thiếu những hiểu biết cơ bản về pháp luật cũng như hiểu biết về qui luật phát triển của nền kinh tế, thực trạng và xu hướng của các hoạt động kinh doanh thì sẽ không thể xây dựng và ban hành được những văn bản pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh có những qui định tiến bộ, mang tính khả thi cao.

  • Nguyên nhân xuất phát từ việc các văn bản pháp luật kinh doanh hiện nay được ban hành chưa thu hút được những ý kiến đóng góp của nhân dân, đặc biệt là các chuyên gia luật.

Do công tác trưng cầu dân ý đối với các văn bản pháp luật kinh doanh sắp được ban hành cũng như điều tra ý kiến, suy nghĩ của nhân dân đối với các văn bản hiện hành chưa được chú trọng nên nhiều văn bản được ban hành không đúng với nguyện vọng của đại bộ phận dân chúng. Từ đó dẫn tới thái độ bất cần, không tôn trọng và tuân thủ của các chủ thể kinh doanh nên tính khả thi, hiệu quả trong quá trình thực hiện của những văn bản này là không được đảm bảo.

Trong quá trình ban hành, nhiều văn bản pháp luật kinh doanh cũng không tận dụng được những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học. Do vậy, nhiều qui phạm pháp luật thể hiện hẳn sự lạc hậu, không phù hợp, không logic, khó hiểu và thiếu tính khoa học. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

  • Nguyên nhân xuất phát từ công tác ban hành luật quá rườm rà, nhiều cơ quan cùng tham gia soạn thảo và thẩm định, dẫn tới tình trạng kéo dài không cần thiết mà hiệu quả lại không cao.

Theo qui định của Luật ban hành các văn bản qui phạm pháp luật năm 2008 thì để ban hành ra một văn bản phải trải qua nhiều giai đoạn và có sự tham gia của nhiều cơ quan. Từ khâu lập đề nghị, kiến nghị về luật; thẩm tra kiến nghị; lập dự kiến chương trình xây dựng luật; thông qua chương trình; lập Ban soạn thảo luật; lấy ý kiến về dự thảo luật; thẩm định, chỉnh lý dự án luật; thẩm tra; thảo luận, chỉnh lý và thông qua. Toàn bộ các giai đoạn này có sự tham gia của nhiều cơ quan đóng góp ý kiến và thẩm tra, thẩm định. Điều này dẫn tới sự rườm rà trong cách thức thực hiện, mất nhiều thời gian mà kết quả lại không cao.

2.1.3. Thực trạng hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay và nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó

2.1.3.1. Thực trạng

Hành vi thực hiện pháp luật kinh doanh thể hiện trình độ pháp luật và thức pháp luật của mỗi công dân. Nó là hệ quả tất yếu và có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố khác của văn hóa pháp luật trong kinh doanh. Hành vi thực hiện pháp luật phải là hành vi hợp pháp, xuất phát từ một ý thức pháp luật tốt, trình độ hiểu biết pháp luật cao và hệ thống pháp luật hoàn thiện. Đây là yếu tố thứ ba của văn hóa pháp luật nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng, là biểu hiện bên ngoài và rõ nét nhất trình độ văn hóa pháp luật của một quốc gia. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Trình độ, năng lực thực hiện pháp luật của các chủ thể kinh doanh đã có những bước tiến quan trọng, nhất là kể từ khi đổi mới đất nước. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, trình độ pháp luật của các chủ thể cũng được nâng lên đáng kể. Thông qua các hình thức đào tạo, tập huấn, tư vấn pháp lý, tìm hiểu pháp luật…các chủ thể đã được tiếp cận với các qui định hiện hành của pháp luật để từ đó có những hiểu biết nhất định về các lĩnh vực kinh doanh, về quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước. Hiểu rõ và hiểu đúng về các qui phạm pháp luật cho phép các chủ thể lựa chọn cho mình một cách ứng xử phù hợp nhất, đảm bảo lợi ích cá nhân mà vẫn nằm trong phạm pháp luật không cấm. Có thể thấy rõ điều này thông qua việc xem xét mặt bằng trình độ của đội ngũ doanh nhân, lãnh đạo các doanh nghiệp cho đến tầng lớp người lao động, các chủ thể kinh doanh đơn lẻ. Hầu hết đội ngũ lãnh đạo trong các doanh nghiệp hiện nay đều có trình độ đại học hoặc tương đương trở lên, số lượng cán bộ được đào tạo tại các trường đại học danh tiếng trên thế giới ngày càng chiếm đa số, trình độ chuyên môn và ngoại ngữ ngày càng được nâng cao. Đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, thời kỳ đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế cũng đặt ra những đòi hỏi, yêu cầu về trình độ của người lao động. Vì vậy, hiện nay các doanh nghiệp đều đưa tiêu chí trình độ thành tiêu chí hàng đầu trong quá trình tuyển dụng nhân sự, đa phần là phải tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc tương đương trở lên, số lượng lao động phổ thông hiện nay đã giảm đáng kể. Các chủ thể kinh doanh đơn lẻ cũng trang bị cho bản thân mình một trình độ hiểu biết nhất định nhằm phục vụ tốt cho ngành nghề kinh doanh cũng như đảm bảo qui định của pháp luật. Xuất phát từ một nền tảng kiến thức vững chắc như vậy nên các chủ thể kinh doanh nhanh chóng tiếp cận và tìm hiểu về các qui định của pháp luật kinh doanh, trang bị cho mình một hệ thống kiến thức khoa học và đầy đủ về các yêu cầu của luật, từ đó lựa chọn những ứng xử phù hợp nhất.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực tế rằng, kể từ khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường, sự đổi mới trong các qui định của pháp luật thể hiện ở việc qui định thông thoáng hơn đối với lĩnh vực kinh doanh mà cụ thể là quyền tự do dân chủ của công dân được mở rộng đã xuất hiện ngày càng nhiều các tội phạm kinh tế và các hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh. Hơn nữa, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, hàng loạt các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại được áp dụng vào đời sống xã hội thì vấn nạn tội phạm kinh tế càng có cơ hội hoạt động tinh vi hơn, khó kiểm soát hơn. Kể từ khi nước ta gia nhập các tổ chức kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới, những yêu cầu về việc qui định thông thoáng trong vấn đề xuất nhập khẩu, phá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng sản phẩm, tiến tới một thị trường chung đã càng tạo điều kiện cho những hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh được thực hiện dễ dàng. Chính sách mở cửa đầu tư, với khẩu hiệu “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài khi quyết định đầu tư vào một số lĩnh vực, địa bàn. Việc thực hiện quyết liệt công cuộc phòng và chống tham nhũng, hạn chế và tiến tới xóa bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, gây khó khăn cho nhà đầu tư, thực hiện cơ chế một cửa đã cho thấy sự quan tâm của nhà nước ta đối với lĩnh vực đầu tư kinh doanh. Đây có thể xem là những động thái rất tích cực từ phía chính quyền nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nhưng nó cũng có mặt trái, đó là các tội phạm kinh tế cũng dễ dàng hơn trong việc xâm nhập vào nền kinh tế quốc gia để thực hiện các hành vi vi phạm của mình.

Trong phạm vi luận văn này không thể thống kế hết các vi phạm pháp luật kinh doanh trong những năm gần đây. Vì vậy chỉ xin đề cập đến một lĩnh vực rất được dư luận quan tâm hiện nay là vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Những vi phạm pháp luật kinh doanh trong lĩnh vực này cũng đang ở tình trạng đáng báo động và cần được khắc phục. Thời gian gần đây, tình trạng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng diễn ra phổ biến với các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi và thủ đoạn hơn. Vấn đề đầu tiên phải nói đến là chất lượng hàng hóa. Nạn hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đang có xu hướng gia tăng ở mức báo động cao như: sữa có chứa melamine; rượu có chứa độc tố, mỹ phẩm chứa hóa chất không được phép sử dụng, thực phẩm chứa chất bảo quản, thuốc kích thích tăng trưởng, chứa dư lượng chất kháng sinh quá mức cho phép, thuốc bảo vệ thực vật không được phép sử dụng… Trong những tháng cuối năm 2009 và quý I năm 2010, lực lượng Quản lý thị trường đã bắt giữ gần 120 nghìn mũ bảo hiểm, trong đó có hơn 76.000 mũ nhập lậu và 39.000 mũ giả, kém chất lượng, nhái nhãn mác, không có tem CS [18]. Không những thế, vấn đề đo lường, cân đong, đo đếm cũng đang là mối quan tâm của người dân, nhất là hàng hóa rời, lỏng sử dụng phương tiện cân đo trực tiếp. Kết quả kiểm tra cho thấy một số mặt hàng như xăng dầu bị đong thiếu, taximet được chỉnh chạy nhanh hơn, vàng bị thiếu tuổi, mua hàng ở các chợ hầu hết bị cân sai, cân thiếu,… Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Cuộc thanh tra diện rộng được tiến hành từ tháng 6 đến giữa tháng 8/2009 đã phát hiện hơn 300 trong tổng số gần 2.000 cơ sở kinh doanh xăng dầu trên phạm vi cả nước có hành vi gian lận khi bán xăng cho người tiêu dùng [18]. Bên cạnh đó. việc chấp hành các quy định về niêm yết giá và bán theo giá niêm yết trong kinh doanh hàng hóa và dịch vụ trên thị trường đang có sự bất cập, nhất là các mặt hàng nhạy cảm đang được xã hội đặc biệt quan tâm như: thuốc, sắt thép, xi măng, phân bón,… Ngoài ra, vấn đề hậu mãi, các dịch vụ bảo hành, khuyến mại của doanh nghiệp cũng chưa được thực hiện theo đúng các cam kết đã đưa ra với người tiêu dùng. Hệ quả là người tiêu dùng đang phải đối mặt với sự lựa chọn bị thu hẹp dần

Nắm bắt được tình trạng trên, các lực lượng quản lý thị trường đã tăng cường thực hiện các chức năng kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các quy định của pháp luật về kinh doanh, lưu thông hàng hóa, về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như các hoạt động thương mại, dịch vụ thương mại, hàng hóa và hoạt động xuất, nhập khẩu; tổ chức phối hợp hoạt động giữa các ngành, các địa phương trong việc kiểm tra, kiểm soát chống đầu cơ tích trữ hàng, buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng cấm, gian lận thương mại và xử lý các hành vi phạm pháp luật theo quy định. Cụ thể, trong công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, năm 2007, lực lượng Quản lý thị trường các địa phương đã tham gia 200.932 ngày công; xử lý hơn 8000 vụ vi phạm, xử phạt 1,052 tỷ đồng; tịch thu và tiêu hủy 658.379 con gia cầm, 169.173 kg thịt và phụ phẩm gia cầm, 4.284.900 quả trứng gia cầm, 7453 con gia súc [18]. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Những số liệu trên cho thấy một thực tế đáng báo động về vấn đề vi phạm pháp luật kinh doanh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng. Xuất phát từ ý thức pháp luật kém, thái độ thờ ơ, coi thường pháp luật hoặc cũng có thể do sự thiếu hiểu biết mà các chủ thể kinh doanh đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Những hành vi này cần phải được lên án và xóa bỏ. Muốn vậy, ngoài những nỗ lực cải thiện của chính bản thân chủ thể kinh doanh, cần có bàn tay cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước thể hiện ở hệ thống pháp luật chặt chẽ và sự cố gắng của các cơ quan hữu quan.

Nói đến những hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh có thể thấy rõ qua hành vi vi phạm của ban lãnh đạo Công ty Cổ phần xây dựng và dịch vụ 1/5 là một ví dụ điển hình. Tháng 9/2010 hai lãnh đạo cao cấp của Công ty 1/5 đã bị bắt, khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân. Vụ việc lừa đảo trên xảy ra tại dự án khu đô thị Thanh Hà (195,5 ha). Đây là khu đô thị hoàn vốn cho Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (Cienco 5), đơn vị bỏ tiền xây dựng trục đường nam Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Khi có dự án này trong tay, Cienco 5 đã ký hợp đồng tín dụng với công ty 1/5, Cienco 5 giao cho công ty con là Cienco 5 Land (bên A) ký hợp đồng số 01/HĐVV vay công ty 1/5 (bên B) số tiền 200 tỉ đồng, thời hạn vay 18 tháng. Ngay sau đó, Cienco 5 Land và công ty 1/5 lại ký tiếp phụ lục hợp đồng 01/HĐVV với bên A đồng ý cho bên B được hợp tác đầu tư vào khu đô thị Thanh Hà.Căn cứ vào hợp đồng tín dụng này, dù chưa được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt là chủ đầu tư thứ phát, nhưng công ty 1/5 đã tiếp tục ký hợp đồng huy động vốn với nhiều chủ đầu tư khác.

Việc làm của Công ty 1/5 được cho là có dấu hiệu lừa đảo, bởi công ty này không có quyền huy động vốn vì không phải là chủ đầu tư thứ phát; hai là hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng trên không phải là cơ sở pháp lý để huy động vốn; ba là khu đô thị này chưa làm xong hạ tầng. Đáng lưu ý, sau này Cienco 5 Land đã chấm dứt hợp đồng với công ty 1/5 nhưng công ty này vẫn tiếp tục huy động vốn.

Được biết, cơ quan điều tra bước đầu xác định, hiện có 575 khách hàng của công ty 1/5 bị công ty thu trên 800 tỉ, trong đó có 429 tỉ đồng liên quan đến dự án nhưng là khoản nằm ngoài thỏa thuận. Trong số tiền trên, các bị can đã sử dụng 395 tỉ đồng vào mục đích khác, trong đó có việc đầu tư cổ phần và mua lại dự án khác. Hiện cơ quan điều tra đã thu lại được 400 tỉ đồng các bị can chiếm đoạt của khách hàng.

Không bàn đến việc thiếu trách nhiệm quản lý của các cơ quan có thẩm quyền, không bàn đến sự cả tin của người dân, chúng ta chỉ nhìn nhận hành vi của lãnh đạo Công ty 1/5 là hoàn toàn bất hợp pháp. Mặc dù họ là những cán bộ cấp cao, có trình độ chuyên môn và trình độ hiểu biết pháp luật nhưng lại có những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật kinh doanh và cả luật hình sự. Hành vi của họ đã làm sụt giảm văn hóa pháp luật trong kinh doanh mà cả nhà nước ta cũng như rất nhiều chủ thể kinh doanh cố gắng xây dựng và duy trì. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Xét ở nhiều lĩnh vực khác cũng cho thấy những hành vi vi phạm pháp luật về kinh doanh ngày càng nhiều. Trong lĩnh vực xây dựng, mua bán nhà ở đa số các vi phạm pháp luật của chủ thể là ở việc triển khai các thủ tục đầu tư xây dựng chưa phù hợp, trái qui định. Cụ thể như: lập hồ sơ đền bù giải phóng mặt bằng khống, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước; xây dựng dự án khi chưa có giấy phép xây dựng; tiến hành huy động vốn khi chưa đủ điều kiện cho phép theo luật định… Trong lĩnh vực mua bán nhà ở, các chủ thể kinh doanh lại phổ biến các hành vi vi phạm như trốn thuế thu nhập chuyển nhượng, kê khai mức giá chuyển nhượng thấp hơn nhiều so với giá mua thực tế, không tiến hành công chứng hợp đồng mua bán chuyển nhượng… Trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư chứng khoán đôi khi thực hiện các hành vi vi phạm như không công bố thông tin khi chuyển nhượng cổ phần lớn hơn 1% thuộc sở hữu của cổ đông lớn, mở nhiều tài khoản giao dịch chứng khoán tại nhiều công ty chứng khoán, các hành vi làm giá chứng khoán… Đối với các qui định của pháp luật về thuế, nhiều doanh nghiệp lại thực hiện các hành vi gian lận trong kê khai thuế, trốn thuế hoặc chậm nộp thuế, báo cáo tài chính không minh bạch…

Sẽ là không thể khi liệt kê các hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh của các chủ thể, nhưng cũng cần khẳng định rằng: tình trạng vi phạm pháp luật đang diễn biến ngày càng nhiều và ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải có thái độ kiên quyết trong xử lý và khắc phục từ phía ý thức của chính các chủ thể và của nhà nước. Có như vậy mới tạo ra được một môi trường kinh doanh lành mạnh, dân chủ, công bằng và hiệu quả, thu hút được nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Đây cũng chính là sự thể hiện rõ nét nhất của một nền văn hóa pháp luật trong kinh doanh hoàn thiện và phát triển.

Bên cạnh hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể kinh doanh, văn hóa pháp luật trong kinh doanh còn thể hiện ở hành vi áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, các cán bộ công chức trong các cơ quan làm công tác pháp luật. Hoạt động áp dụng pháp luật là một hình thức quan trọng của nội dung thực hiện pháp luật, đó là kết quả của trình độ và ý thức pháp luật của các cán bộ công chức áp dụng trong những trường hợp cụ thể. Mỗi văn bản áp dụng pháp luật kinh doanh được ban hành thể hiện sự nghiên cứu kỹ lưỡng tình huống xảy ra, lựa chọn luật áp dụng phù hợp và đề ra phương hướng, biện pháp giải quyết. Văn bản áp dụng pháp luật không chỉ bao gồm các quyết định được ban hành bởi các cơ quan nhà nước mà còn bao gồm cả các bản án, quyết định của Tòa án các cấp. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Trình độ, kỹ năng thực hiện hành vi áp dụng pháp luật trong kinh doanh của các cán bộ công chức trong các cơ quan pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Mối quan hệ giữa các yếu tố này với hành vi áp dụng pháp luật là mối quan hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau. Dựa trên trình độ hiểu biết pháp luật cao, ý thức pháp luật tốt, đạo đức nghề nghiệp đảm bảo thì mới có thể tạo ra các văn bản áp dụng pháp luật đúng đắn và tiến bộ. Ngược lại, nếu trình độ hiểu biết pháp luật thấp, ý thức pháp luật không cao và cán bộ công chức không có đạo đức nghề nghiệp thì văn bản áp dụng pháp luật ban hành sẽ không chính xác, không phù hợp với tình huống thực tế và không dựa trên cơ sở pháp luật phù hợp.

Cùng với sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, cộng với những đòi hỏi về trình độ nghiệp vụ chuyên môn trong công việc, kinh nghiệm công tác và đạo đức người cán bộ nên đa phần các cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan pháp luật ở nước ta hiện nay đều có trình độ tương đối cao và đồng đều. Do vậy các văn bản áp dụng pháp luật được ban hành cũng khá chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Hơn nữa, các văn bản này còn được ban hành rất nhanh gọn, thủ tục dễ dàng và dễ thực hiện. Việc đồng loạt thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính kinh doanh hiện nay đã cho thấy những yêu cầu về một nền hành chính giản tiện. Công cuộc cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng những năm gần đây cũng rất được chú trọng và đẩy mạnh, được coi là nhiệm vụ quan trọng trong việc đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế. Nhờ đó, việc ban hành các văn bản áp dụng pháp luật kinh doanh hiện nay cũng rất nhanh chóng mà vẫn đảm bảo yếu tố chính xác. Điều này không những tạo ra tâm lý phấn khởi, niềm tin vào pháp luật cho các chủ thể kinh doanh mà còn cho thấy trình độ văn hóa pháp luật trong kinh doanh ở nước ta đang ngày càng được nâng cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, hành vi áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Nhiều văn bản được ban hành ra không đúng người, đúng việc làm cho các chủ thể khó khăn trong việc thực thi, thậm chí còn dẫn tới kiện cáo, gây mất uy tín của các cơ quan pháp luật cũng như mất niềm tin trong nhân dân. Có thể nói hiện nay lĩnh vực quản lý đất đai và giải phóng mặt bằng còn tồn tại nhiều hạn chế dẫn đến các vụ tranh chấp, kiện tụng nhất. Hàng loạt các Quyết định thu hồi đất, Quyết định đền bù giải phóng mặt bằng, Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở…tại nhiều địa phương trên cả nước liên tục là những đối tượng của các vụ khiếu nại tố cáo và vụ án hành chính. Tất nhiên không phải tất cả các vụ án đó đều có căn cứ khởi kiện và kết quả bản án của tòa án cũng không hủy bỏ hết các Quyết định hành chính. Tuy nhiên, có một phần không nhỏ các quyết định này đã được ban hành không đúng trình tự thủ tục luật định, không xem xét kỹ tình huống sự việc xảy ra và qui định của pháp luật hiện hành để ra các quyết định áp dụng pháp luật phù hợp. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Hành vi hành chính của các cơ quan, cán bộ công chức cũng là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Nhiều hành vi công vụ của các cán bộ công chức hiện nay không thể hiện tính dân chủ, tuân thủ pháp luật một cách triệt để. Vì vậy mà không ít các hành vi hành chính đã gây bức xúc trong dư luận, xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Các hành vi hành chính trong lĩnh vực kinh doanh trái pháp luật cũng gây ra những suy nghĩ và thái độ không tốt đối với pháp luật của nhân dân. Đó chính là các hành vi nhận hối lộ trong kinh doanh, ra các quyết định thu hồi dự án sai luật, hành vi không tiếp nhận hồ sơ xin thẩm định phương án kinh doanh của doanh nghiệp mà không đưa ra lý do thỏa đáng… Những hành vi này đã làm cho môi trường pháp lý trong kinh doanh không còn đảm bảo được tính minh bạch và công bằng, ngược lại tạo ra tâm lý chán nản, thái độ thiếu tôn trọng của các chủ thể kinh doanh, từ đó khó nâng cao được ý thức và văn hóa pháp luật kinh doanh của các chủ thể.

Thực trạng hành vi áp dụng pháp luật trong kinh doanh của các cán bộ công chức trong các cơ quan pháp luật cho thấy những mặt tích cực và cả những điểm còn hạn chế. Phát huy những điểm mạnh và khắc phục những mặt tiêu cực còn diễn ra trong trình tự thủ tục, nội dung của các quyết định áp dụng pháp luật kinh doanh là phương hướng hoàn thiện và nâng cao trình độ pháp luật cho đội ngũ cán bộ nói riêng và toàn xã hội nói chung. Trình độ pháp luật của cán bộ công chức là khuôn mẫu cho trình độ pháp luật của tất cả các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao nền văn hóa pháp luật nước ta, đặc biệt là văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

2.1.3.2. Nguyên nhân của thực trạng trên

Thực trạng của hành vi thực hiện pháp luật kinh doanh bất hợp pháp cũng như hành vi áp dụng pháp luật kinh doanh không đúng xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

  • Nguyên nhân xuất phát từ trình độ và ý thức của các chủ thể kinh doanh cũng như các cán bộ thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật kinh doanh. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Trình độ non kém cộng với ý thức chưa cao đã dẫn tới các hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể kinh doanh; đồng thời cũng là nguyên nhân khiến các cán bộ công quyền áp dụng không đúng, không hợp lý các qui định pháp luật vào những trường hợp cụ thể, dẫn đến không đúng người đúng việc, gây ra những bất bình trong dư luận.

  • Nguyên nhân do sự yếu kém trong quản lý của các cơ quan công quyền, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh diễn ra ngày càng nhiều và trong một thời gian dài.

Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua việc xem xét nội dung của 2 vụ án Công ty Vedan xả thải bẩn ra sông Thị Vải suốt 14 năm mà không bị phát hiện và vụ án Tổng công ty tàu thủy Vinashin sai phạm trong quản lý kinh tế suốt một thời gian dài. Sự yếu kém thể hiện ở chỗ các cơ quan có trách nhiệm không hề biết hoặc cố tình không biết các sai phạm của doanh nghiệp, cho đến khi hậu quả gây ra đã trở nên hết sức nghiêm trọng mới điều tra, xét xử.

Chính sự yếu kém này của các cơ quan chức năng đã khiến các chủ thể kinh doanh có thái độ coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả để thực hiện các hành vi phạm pháp vì mục đích lợi nhuận.

  • Nguyên nhân từ việc mở cửa, hội nhập nền kinh tế tạo điều kiện dễ dàng cho tội phạm kinh tế hoạt động xuyên quốc gia.

Cơ chế thị trường mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra một “thế giới phẳng”, không biên giới giữa các quốc gia bên cạnh những mặt tích cực mang lại thì vô hình chung lại tạo điều kiện dễ dàng cho các hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh phát triển. Đặc biệt là kể từ khi nước ta gia nhập các tổ chức lớn trong khu vực và trên thế giới như ASEAN, WTO, với khẩu hiệu “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” nước ta đã tạo ra những khung pháp lý rất mở, đồng thời cải cách cơ chế hành thủ, thủ tục nhanh gọn, tạo điều kiện tối đa huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Điều này đôi lúc cũng kéo theo sự lỏng lẻo trong quản lý, kiểm soát thiếu sự chặt chẽ sẽ làm gia tăng tình trạng vi phạm pháp luật kinh doanh. Các tội phạm kinh tế sẽ lợi dụng những khe hở trong quản lý cũng như sự năng động, dễ dàng trong thủ tục để tiến hành các hành vi bất hợp pháp của mình. Với tình hình thế giới hiện nay, đây được coi là vấn đề rất nhức nhối của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam trong việc vừa bảo đảm sự hội nhập của nền kinh tế nội địa lại vừa ngăn chặn tình trạng tội phạm kinh tế lan rộng, đảm bảo cho văn hóa pháp luật kinh doanh được duy trì bền vững và ngày càng nâng cao.

2.2. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ XÂY DỰNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

2.2.1. Phương hướng xây dựng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay

Thực tế chỉ ra rằng nâng cao sự tác động thông tin, tâm lý và tổ chức của văn hóa pháp luật trong kinh doanh phải được thực hiện bằng công tác giáo dục pháp luật định hướng. Cần phải sử dụng đồng bộ, tổng hợp tất cả các phương tiện, phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật để nhanh chóng nâng cao văn hóa pháp luật trong kinh doanh là yêu cầu trước mắt và lâu dài của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của đất nước.

Nâng cao văn hóa pháp luật trong kinh doanh không chỉ là việc đề ra và thực hiện các biện pháp, giải pháp trong hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao ý thức pháp luật mà còn cần có phương hướng tác động vào tư duy, nhận thức, tình cảm, suy nghĩ của các chủ thể kinh doanh đối với hệ thống pháp luật kinh doanh hiện hành. Nắm bắt được những điều này sẽ giúp các nhà làm luật đưa ra những sáng kiến pháp lý cũng như xây dựng các đề án, dự thảo luật chính xác hơn, phù hợp hơn với thực tiễn cũng như nhu cầu của người dân. Phương hướng nâng cao văn hóa pháp luật trong kinh doanh hiện nay được đề cập ở một số khía cạnh sau:

Nhận thức rõ vai trò, mối quan hệ giữa văn hóa pháp luật với hoạt động kinh doanh: văn hóa pháp luật và hoạt động kinh doanh có mối quan hệ tất yếu, tác động qua lại và yếu tố này ảnh hưởng tới hiệu quả, tính khả thi của yếu tố kia; văn hóa pháp luật là tiền đề, là cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh thực hiện, ngược lại ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể kinh doanh lại phản ánh trình độ phát triển của văn hóa pháp luật. Nhờ có văn hóa pháp luật, hoạt động kinh doanh mới có được những khuôn mẫu, những chuẩn mực để hướng tới và phát triển. Còn văn hóa pháp luật lại cần những hoạt động kinh doanh của các chủ thể để kiểm chứng tính tính đắn, sự phù hợp trong qui định pháp luật của mình, từ đó đề ra những chính sách, những văn bản pháp lý chặt chẽ hơn. Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả của vấn đề văn hóa pháp luật trong kinh doanh trước hết phải nhận thức được mối quan hệ giữa chúng.

Phát huy giá trị văn hóa pháp luật Việt Nam, có sự tiếp thu tinh hoa văn hóa và văn hóa pháp luật của nhân loại trong lĩnh vực kinh doanh: những giá trị văn hóa pháp luật Việt Nam phải được kết tinh trong các đạo luật, luật và các văn bản dưới luật trong hoạt động kinh doanh cũng như trong ý thức pháp luật và hành vi ứng xử của các chủ thể. Xây dựng môi trường văn hóa pháp luật nói chung và văn hóa pháp luật trong kinh doanh nói riêng là hai nhân tố quyết định có tác dụng biện chứng lẫn nhau. Các giá trị văn hóa pháp luật trong kinh doanh phải được thể hiện và khơi dậy các yếu tố truyền thống và các giá trị đạo đức của pháp luật Việt Nam từ trước đến nay. Mặt khác, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là cơ hội và cũng là thách thức đối với Việt Nam. Hội nhập vừa là nhu cầu nhưng cũng là đòi hỏi tất yếu của một nền kinh tế hiện đại. Hội nhập không phải chỉ từ một ngành nghề hay một lĩnh vực nhất định mà cần có sự đồng bộ, thống nhất trong quá trình hội nhập. Quan điểm chủ động hội nhập được quán triệt sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh. Giữ gìn những giá trị văn hóa pháp luật truyền thống đồng thời tiếp thu các giá trị văn hóa pháp luật tiến bộ của nhân loại là một phương hướng quan trọng nhằm nâng cao văn hóa pháp luật nói chung và văn hóa pháp luật trong kinh doanh nói riêng. Đây là cơ hội để chúng ta tận dụng những tinh hoa trong văn hóa pháp luật kinh doanh trên thế giới, từ đó có những chỉnh sửa hợp lý đối với nền văn hóa pháp luật kinh doanh nước nhà hiện nay. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Nâng cao văn hóa pháp luật trong hoạt động kinh doanh phải tiến hành đồng bộ với nâng cao văn hóa pháp luật trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như lĩnh vực chính trị, lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp và các lĩnh vực hoạt động khác của nhà nước và công dân: Nâng cao văn hóa pháp luật trong kinh doanh phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cao văn hóa pháp luật trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nhưng nó đặc biệt gắn liền chặt chẽ với việc nâng cao văn hóa pháp luật trong các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bởi vì những yếu tố này cấu thành nên một hệ thống chỉnh thể trong cơ chế điều chỉnh pháp luật. Lập pháp tạo nên tiền đề, cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh; hành pháp thể hiện hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước – trực tiếp ban hành các văn bản áp dụng pháp luật trong kinh doanh. Tư pháp lại đưa ra các kết luận, nhận định tính đúng đắn hay không của hành vi trong kinh doanh. Các yếu tố lập pháp, hành pháp, tư pháp có mối quan hệ biện chứng với hoạt động kinh doanh. Vì vậy văn hóa pháp luật trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng có mối quan hệ với văn hóa pháp luật trong kinh doanh. Yếu tố này là tiền đề, cơ sở của yếu tố kia phát triển và ngược lại yếu tố kia thúc đẩy sự hoàn thiện của yếu tố này.

2.2.2. Một số giải pháp nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay

Văn hóa pháp luật với những giá trị công bằng, dân chủ, tiến bộ, khoa học luôn là mục tiêu phấn đấu trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền của mỗi quốc gia. Không một đất nước nào có thể phủ nhận vai trò của yếu tố văn hóa trong việc hoàn thiện, nâng cao hệ thống pháp luật. Trình độ văn hóa pháp luật cao ở một đất nước luôn là tiêu chí hàng đầu được lựa chọn trong việc xem xét quyết định đầu tư hay tham gia thị trường của quốc gia đó. Vấn đề nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh do đó cũng được chú trọng và đề cao. Muốn đạt được điều đó cần thực hiện đồng bộ những giải pháp sau đây.

2.2.2.1. Nâng cao ý thức pháp luật cho các chủ thể kinh doanh

Sự đổi mới, thay đổi về ý thức bao giờ cũng kéo theo đổi mới, thay đổi về hành động. Điều này đã trở thành qui luật. Trong xây dựng, phát triển nền văn hóa pháp luật thì giải pháp trước tiên là đổi mới về ý thức pháp luật.

Ý thức pháp luật của mỗi chủ thể luôn là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, tính khả thi trong việc thực hiện một vấn đề pháp luật nhất định. Vì vậy, đối với văn hóa pháp luật trong kinh doanh, ý thức pháp luật lại càng trở nên quan trọng. Nó không những là tiền đề mà còn là cơ sở quyết định và định hướng cho hành vi của chủ thể – yếu tố thứ ba của văn hóa pháp luật. Ý thức pháp luật trong kinh doanh thể hiện ở trình độ pháp luật, suy nghĩ và hành vi phù hợp với qui định pháp luật của các chủ thể kinh doanh. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Phạm vi quản lý của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh ngày càng mở rộng. Văn bản pháp luật trong kinh doanh ngày càng nhiều, từ pháp luật mua bán hàng hóa, kinh doanh thương mại, xây dựng, đất đai, xuất nhập khẩu…đều liên tục được ban hành, đáp ứng ngày càng lớn nhu cầu điều chỉnh của các quan hệ kinh doanh. Các văn bản pháp luật ngày càng được xây dựng với trình độ hiểu biết pháp luật cao, áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại nên đa phần đều thể hiện tính tiến bộ, dân chủ, phù hợp với thực tiễn của đời sống kinh tế xã hội. Chính vì vậy, các văn bản pháp luật luôn đòi hỏi một trình độ hiểu biết pháp luật nhất định, từ đó làm cơ sở dẫn dắt cho những suy nghĩ và hành vi của chủ thể kinh doanh luôn hợp pháp.

Để xây dựng, nâng cao ý thức pháp luật cho các chủ thể kinh doanh có rất nhiều biện pháp trực tiếp cũng như gián tiếp tác động đến nhận thức và xử sự của họ. Tuy nhiên, trong số rất nhiều biện pháp đó thì hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật kinh doanh được coi là biện pháp có vai trò đặc biệt quan trọng. Với nhiều hình thức, phương tiện phong phú và đa dạng, hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật kinh doanh đã góp phần quan trọng vào việc hình thành và nâng cao ý thức pháp luật kinh doanh cho người dân.

Trước tiên, đối với sự hiểu biết pháp luật hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật sẽ cung cấp những tri thức pháp luật kinh doanh cần thiết cho người dân thông qua việc giới thiệu, phổ biến, hướng dẫn, giáo dục… các thông tin pháp luật kinh doanh dưới nhiều hình thức trực tiếp, gián tiếp khác nhau. Tùy thuộc vào nội dung pháp luật cần phổ biến, tuyên truyền, đối tượng được tuyên truyền cũng như đặc điểm của vùng miền tiến hành hoạt động này sẽ áp dụng phương pháp, hình thức phù hợp.

Ví dụ, đối với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu đăng ký kinh doanh để hoạt động kinh doanh dựa trên những loại hình doanh nghiệp được pháp luật cho phép thì các kiến thức về trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký con dấu, mã số thuế sẽ thực sự cần thiết. Những kiến thức này phải được phổ biến chi tiết cho người dân dưới nhiều hình thức. Có thể thông qua các kênh thông tin truyền thống như báo chí, truyền hình hoặc internet để giúp các chủ thể hiểu rõ các qui định của pháp luật trong vấn đề này. Ngoài ra còn thông qua các hình thức trợ giúp pháp lý, câu lạc bộ pháp luật hay các cuộc thi tìm hiểu pháp luật để tuyên truyền về vấn đề này. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Luật thuế thu nhập cá nhân mới đây đã được ban hành và có hiệu lực trên toàn quốc. Để giúp mỗi người dân hiểu rõ hơn về luật này cũng như ý thức được trách nhiệm của mình phải đóng thuế cho nhà nước trên cơ sở thu nhập cá nhân thì các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật là thực sự có ý nghĩa. Cũng với các hình thức tuyên truyền truyền thống và hiện đại, kết hợp với các buổi sinh hoạt phổ biến pháp luật tại các tổ dân phố, phường (xã), quận (huyện) sẽ giúp người dân nhận thức đúng đắn về các qui định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân. Đối với đội ngũ cán bộ kế toán làm việc trong các doanh nghiệp – đối tượng trực tiếp thực hiện việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thông qua việc tính lương và trả lương hàng tháng cho cán bộ công nhân viên thì cần tổ chức các buổi tập huấn, đào tạo về qui định của luật, từ đó có nhận thức và hiểu biết đúng đắn để triển khai thực hiện.

Trong nhiều trường hợp việc giáo dục pháp luật kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh được thực hiện qua việc áp dụng các hình thức xử lý của pháp luật đối với người vi phạm pháp luật kinh doanh, ví dụ trong phiên tòa xét xử thì các bản án, quyết định của tòa án đối với người phạm tội sẽ là bài học có tính chất răn đe đối với những người khác;

Thông qua các hình thức của công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đã cung cấp, trang bị cho người dân những kiến thức pháp lý cơ bản nhất. Hoạt động phổ biến, tuyên truyền pháp luật sẽ cho biết họ phải làm gì, xử sự như thế nào khi rơi vào tình huống, hoàn cảnh mà các quy phạm pháp luật kinh doanh đó đã dự trù trước.

Xuất phát từ nhận thức về tri thức pháp luật sẽ hình thành thái độ của người dân đối với pháp luật. Sự nhận thức đúng đắn sẽ giúp cho người dân có thái độ tích cực, tôn trọng pháp luật. Hiểu biết cặn kẽ nội dung các quy định của pháp luật như hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa của việc quy định, mục đích cũng như hướng tới ngăn chặn, khắc phục những tồn tại gì trong cuộc sống. Ví dụ, đối với Luật thuế thu nhập cá nhân ngoài việc giới thiệu cho các chủ thể về các quy định, yêu cầu của các quy phạm pháp luật thì nhiệm vụ của những người thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải cho người dân thấy được những hậu quả, thiệt hại, về tài sản có thể xảy ra nếu như các chủ thể không thực hiện đúng các yêu cầu của pháp luật như: kê khai và nộp thuế đúng với thu nhập thực tế của mình, chậm trễ trong việc nộp thuế, trốn thuế… có thể dẫn đến việc bị phạt tiền hoặc áp dụng các biện pháp hành chính và hình sự tùy vào mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm.

Vai trò của hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đối với việc xây dựng, nâng cao ý thức pháp luật kinh doanh của các chủ thể diễn ra theo một quá trình: từ nhận thức (hiểu biết về tri thức pháp luật kinh doanh) đến thái độ đối với pháp luật kinh doanh (thờ ơ, coi thường hay tôn trọng) và cuối cùng là việc thực hiện, chấp hành tuân thủ pháp luật kinh doanh (xử sự đúng hoặc không đúng các quy định của pháp luật đòi hỏi). Việc thực hiện các quy định pháp luật trên thực tế đánh giá được ý thức pháp luật của người dân cao hay thấp. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật kinh doanh khi được hoàn thiện, nâng cao chất lượng thì sẽ tác động trực tiếp tạo ra sự chuyển biến tích cực trong ý thức pháp luật kinh doanh của các chủ thể. Đây cũng chính là yếu tố chính đánh giá văn hóa pháp luật kinh doanh của một quốc gia.

Đối với các chủ thể kinh doanh, vấn đề nâng cao ý thức pháp luật phải gắn liền với việc hướng cho họ nhận thức đúng đắn về các qui định của pháp luật. Muốn vậy cần phải đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật kinh doanh một cách đồng bộ và sâu rộng. Bên cạnh các hình thức truyền thống như tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua mạng lưới truyền thanh cơ sở, hòa giải cơ sở, trợ giúp pháp lý… thì trong bối cảnh hiện nay cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ thông tin các hình thức tuyên truyền mới ngày càng được phát huy như qua báo chí (đặc biệt là báo điện tử), mạng lưới internet… Thông qua các hình thức này, các chủ thể kinh doanh sẽ được cập nhật thường xuyên các văn bản pháp luật mới ban hành cũng như hiểu rõ và hiểu sâu hơn các qui định của pháp luật, từ đó làm định hướng cho hành vi của mình.

Nội dung của công tác này được thể hiện trước hết ở việc đa dạng hóa và đổi mới các hình thức, biện pháp và phương tiện phổ biến giáo dục pháp luật kinh doanh đến các chủ thể. Các hình thức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật kinh doanh truyền thống phải tiếp tục được duy trì, phát huy hiệu quả, đồng thời, bản thân các hình thức đó cũng phải được đổi mới cho phù hợp với tình hình mới.

Chủ động và tích cực khai thác, sử dụng hiệu quả hơn nữa các phương tiện thông tin đại chúng. Chú trọng tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật kinh doanh trên báo chí, các kênh truyền hình bằng tiếng nước ngoài, bởi tính đặc thù của hoạt động kinh doanh không chỉ bó hẹp với các chủ thể trong nước mà các nhà đầu tư nước ngoài cũng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế. Vì lẽ đó, công tác xây dựng tài liệu song ngữ dành cho người nước ngoài ở Việt Nam phải luôn được chú trọng thực hiện với chất lượng tốt nhất. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Phát triển các Câu lạc bộ pháp luật, trong đó tập trung vào mảng thảo luận, tìm hiểu pháp luật kinh doanh; tăng cường hoạt động trợ giúp pháp lý cho các chủ thể kinh doanh, đặc biệt phát triển hình thức trợ giúp pháp lý lưu động thông qua các chuyến đi tìm hiểu và đưa pháp luật thâm nhập sâu vào đời sống xã hội. Bên cạnh đó phải đẩy mạnh lồng ghép phổ biến giáo dục pháp luật kinh doanh thông qua hoạt động hòa giải cơ sở, hoạt động xét xử và hoạt động thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước khác. Đa dạng hóa các hình thức thi tìm hiểu pháp luật kinh doanh, giao lưu, sinh hoạt văn hóa văn nghệ có lồng ghép nội dung pháp luật.

Chú trọng đến hoạt động nâng cao chất lượng dạy và học pháp luật kinh doanh trong nhà trường ở các cấp học và trình độ đào tạo khác nhau: xây dựng các giáo trình, chương trình đào tạo luật kinh doanh phù hợp với từng cấp học; sử dụng giáo viên giảng dạy là những người am hiểu về tri thức pháp luật kinh doanh nhất định, đổi mới phương pháp giảng dạy mới, hiện đại để học sinh, sinh viên tiếp cận tri thức pháp luật kinh doanh.

Một trong những hình thức để nâng cao ý thức pháp luật rộng rãi cho người dân là xã hội hóa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Giáo dục và phổ biến pháp luật không còn là hoạt động của riêng nhà nước. Khi xã hội phát triển, những nghề mới có tính dịch vụ như luật sư, tư vấn pháp luật…cũng nở rộ theo. Chính những người thực hiện các dịch vụ này đã góp phần không nhỏ vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật kinh doanh cho các tầng lớp nhân dân.

2.2.2.2. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh

Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 có nêu:

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 [5].

Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh cũng là một phần của mục tiêu triển khai và thực hiện chương trình nói trên. Lĩnh vực kinh doanh của nền kinh tế nước ta chiếm một vị trí và vai trò quan trọng cả về số lượng và chất lượng các văn bản pháp luật ban hành. Chưa có một thống kê chính thức nào liên quan đến số lượng các văn bản pháp luật điều chỉnh hành vi, quan hệ trong kinh doanh được ban hành hàng năm nhưng phải nói rằng số lượng đó chiếm một phần lớn trong tổng số văn bản được xây dựng và ban hành thực thi. Điều đó cho thấy tầm quan trọng và những giá trị mà lĩnh vực kinh doanh mang lại cho nền kinh tế nói riêng và sự thịnh vượng của một quốc gia nói chung.

Như đã phân tích ở mục trên về thực trạng của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh hiện nay ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định. Để có thể khắc phục được những hạn chế đó cần phải có một thời gian lâu dài, một chương trình hành động cụ thể và khoa học, cùng sự nỗ lực cố gắng của nhiều cơ quan ban ngành và của chính những chủ thể kinh doanh – đối tượng trực tiếp phải thực thi các qui định của pháp luật kinh doanh. Hoàn thiện pháp luật trong kinh doanh cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau: Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện và ban hành các văn bản pháp luật trong một số lĩnh vực kinh doanh còn thiếu cơ chế điều chỉnh như: Vệ sinh an toàn thực phẩm; Lĩnh vực cạnh tranh; thương mại điện tử; chất lượng sản phẩm, hàng hóa… Đây là những lĩnh vực cơ bản của nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và sự phát triển của đất nước. Hiện nay, hệ thống pháp luật nước ta cũng đã có những văn bản pháp luật được ban hành điều chỉnh các quan hệ và hành vi trong những lĩnh vực trên, tuy nhiên tất cả mới chỉ dừng lại ở văn bản Pháp lệnh, Nghị định…Hơn nữa những qui định trong những văn bản đó còn chưa sát với thực tiễn, nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng thực phẩm hay chất lượng hàng hóa chưa được qui định; nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh; quyền lợi của các chủ thể trong lĩnh vực thương mại điện tử chưa được đảm bảo. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng và ban hành các văn bản luật trong những lĩnh vực này, với những qui định thực sự khoa học, đáp ứng đúng nhu cầu của thực tiễn đời sống, tạo hiệu quả tối đa trong thực hiện. Đây cũng là vấn đề đặt ra nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng toàn cầu hóa trong kinh doanh.

Xây dựng và thực thi một chương trình rà soát, thống kê các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực kinh doanh mà có sự chồng chéo, mâu thuẫn nhau khi cùng qui định về một vấn đề. Kịp thời khắc phục, sửa chữa những qui định chồng chéo đó bằng cách sửa đổi hay bãi bỏ hiệu lực của các văn bản dưới luật phù hợp với văn bản luật, sửa đổi tạo sự thống nhất giữa các văn bản luật với nhau. Vấn đề này có ý nghĩa rất lớn, bởi nó không những giúp các chủ thể dễ dàng hơn trong khi thực hiện, tránh sự lúng túng không biết áp dụng luật nào trong những trường hợp cụ thể, đồng thời thể hiện một nền pháp luật tiên tiến, hiện đại và đồng bộ từ trên xuống dưới. Tuy nhiên, để làm được điều này cần có một thời gian dài với sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình và có trách nhiệm của nhiều cơ quan ban ngành, cùng với sự nghiên cứu kỹ lưỡng, đóng góp ý kiến từ phía các chuyên gia, các nhà khoa học cũng như đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Nâng cao trình độ chuyên môn cũng như ý thức và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác lập pháp không chỉ gói gọn trong các cơ quan lập pháp mà còn ở hệ thống các cơ quan hành pháp – đơn vị trực tiếp soạn thảo các dự án luật trình phê duyệt. Muốn vậy cần chú trọng công tác tuyển dụng những cán bộ có đủ tài và đức; linh hoạt trong bố trí công tác chuyên môn phù hợp; kết hợp với các chương trình tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ này, nhằm góp phần tạo ra những sản phẩm là các dự án luật có tính hiệu quả và khả thi cao, thể hiện yếu tố dân chủ, bình đẳng và tiến bộ.

Hoàn thiện các văn bản pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh với tiêu chí: đáp ứng đúng nhu cầu của thực tiễn, giải quyết tối đa các vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực điều chỉnh, các qui định đưa ra phải thực sự cần thiết, dễ hiểu, dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo tính khoa học và tiến bộ, đảm bảo yếu tố kỹ thuật pháp lý hiện đại. Một văn bản pháp luật được ban hành phải thể hiện tính đồng bộ, thống nhất với các văn bản luật trước đó hoặc phải thể hiện rõ sự sửa đổi, bổ sung hay thay thế một văn bản nhất định khi có sự mâu thuẫn trong qui định về cùng một vấn đề, hướng tới việc giảm dần và xóa bỏ các qui định chồng chéo nhau giữa các văn bản. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Xây dựng cơ chế rõ ràng về việc huy động các tầng lớp nhân dân, các nhà khoa học, chuyên gia tham gia vào việc góp ý, hoàn thiện văn bản pháp luật kinh doanh. Đặc biệt là tầng lớp doanh nhân, người lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp hoặc các chủ thể kinh doanh đơn lẻ khác, đây là những người trực tiếp thi hành và tuân thủ các qui định của pháp luật kinh doanh, do vậy những ý kiến đóng góp của họ là hết sức quan trọng và cần thiết, vừa đảm bảo tiêu chí phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, vừa phát huy được tính dân chủ trong lĩnh vực lập pháp, huy động tối đa trí tuệ của các tầng lớp nhân dân. Đây là một biểu hiện rất quan trọng của chế độ dân chủ trong nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật cho các chủ thể.

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục tham gia và ký kết các điều ước quốc tế, hiệp định song phương và đa phương trong các lĩnh vực kinh doanh, thương mại, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, xuất nhập khẩu hàng hóa…tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động đầu tư trong và ngoài nước. Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh cấp kinh tế phù hợp với tập quán thương mại quốc tế. Đây là vấn đề rất quan trọng nhằm tạo ra môi trường pháp lý trong sạch, lành mạnh, công bằng và tiến bộ, từ đó tạo ra công cụ thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực kinh doanh trong nước. Hoàn thiện pháp luật về hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một việc làm nhằm góp phần nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

2.2.2.3. Tổ chức tốt việc thực hiện và áp dụng pháp luật kinh doanh, nâng cao năng lực, kỹ năng thực hiện pháp luật, hình thành hành vi pháp luật hợp pháp và lối sống theo pháp luật

Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh và hiện thực hóa pháp luật đó trong đời sống xã hội. Một nền pháp luật hiện đại và tiến bộ không chỉ thể hiện ở chất lượng của các qui phạm hay số lượng các văn bản được ban hành đáp ứng đủ yêu cầu của thực tiễn mà còn thể hiện ở tính khả thi của mỗi văn bản đó khi đi vào đời sống xã hội. Việc tổ chức và thực hiện tốt các qui phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân nói riêng và nền văn hóa pháp lý nói chung.

Muốn vậy, trước tiên phải đảm bảo số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp luật. Nâng cao trình độ, ý thức pháp luật cũng như đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ công chức là yêu cầu trước tiên và quan trọng đối với nền văn hóa pháp lý trong kinh doanh và nhà nước pháp quyền. Hình thành thói quen làm việc theo hiến pháp và pháp luật trong bất kỳ hành vi công vụ nào của mình, xem xét kỹ nội dung công việc và đối chiếu với các qui định của pháp luật có liên quan, thực hiện đúng qui định của pháp luật, áp dụng pháp luật một cách chính xác và phù hợp. Ý thức pháp luật của cán bộ công chức là khuôn mẫu để xây dựng ý thức pháp luật chung cho toàn xã hội. Vì vậy, đối với lĩnh vực kinh doanh, văn hóa pháp luật của các chủ thể chỉ có thể được xây dựng và nâng cao khi đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan có thẩm quyền giải quyết trình tự thủ tục kinh doanh, tranh chấp thương mại luôn thực hiện tốt và áp dụng đúng pháp luật. Chỉ cần một hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh của cán bộ công chức cũng dẫn đến tâm lý thiếu tin tưởng vào sự nghiêm minh của pháp luật, thái độ thờ ơ, không tôn trọng pháp luật của các chủ thể kinh doanh; từ đó dẫn tới những hành động bất hợp pháp trong thương mại. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Các chủ thể kinh doanh được quyền huy động mọi tiềm năng, nguồn lực và phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và góp phần làm giàu cho đất nước trên cơ sở được làm tất cả những gì mà luật không cấm. Xây dựng hành vi, lối sống theo pháp luật của các chủ thể kinh doanh, tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh những nghĩa vụ với nhà nước theo qui định của luật. Hoạt động kinh doanh là một trong những hoạt động phức tạp, liên quan đến nhiều trình tự thủ tục cũng như nhiều qui định nằm trong các văn bản pháp luật khác nhau. Một nội dung kinh doanh với quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh đôi khi được qui định cả nhiều ngành luật, đó là chưa kể đến trường hợp có sự chồng chéo, mâu thuẫn nhau giữa các văn bản pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Vì vậy, để có thể thực hiện tốt việc tuân thủ pháp luật, các chủ thể kinh doanh cần có một trình độ pháp luật cao, ý thức pháp luật tốt để có thể hài hòa các qui định của luật, tìm ra một phương thức hoạt động hiệu quả nhất mà vẫn đảm bảo không vi phạm các hành vi mà pháp luật cấm.

2.2.2.4. Xây dựng các mô hình văn hóa pháp luật kinh doanh tại địa phương, đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp…

Việc xây dựng các mô hình văn hóa pháp luật tại các thiết chế kể trên là rất quan trọng. Bởi, một mặt nó giúp cho các chủ thể tham gia vào các mô hình đó hiểu rõ và hiểu đúng về các qui định của pháp luật, giúp nâng cao ý thức pháp luật, hướng họ tới các giá trị của văn hóa pháp lý trong kinh doanh và thực hiện những hành vi hợp pháp. Những mô hình văn hóa pháp luật kinh doanh nói trên là những khuôn mẫu tiêu biểu để nhân rộng ra toàn xã hội và áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác.

Trong các mô hình kể trên, cần chú trọng xây dựng mô hình văn hóa pháp luật tại các doanh nghiệp. Đây là mô hình rất quan trọng, bởi doanh nghiệp là những đơn vị cơ sở chiếm số lượng lớn các ngành nghề kinh doanh. Văn hóa pháp luật tại các doanh nghiệp là việc tạo ra những tiêu chí cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao trình độ và ý thức tuân thủ pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của nhà nước. Doanh nghiệp được quyền tham gia và hoạt động ở mọi ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, nhưng trong quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện theo qui định và thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ với nhà nước. Văn hóa pháp luật kinh doanh tại các doanh nghiệp có thể được thực hiện thông qua các hình thức như các buổi đào tạo, tập huấn về nghiệp vụ kinh doanh; về các qui định của pháp luật liên quan đến ngành nghề kinh doanh hoặc thông qua các cuộc thi tìm hiểu kiến thức pháp luật trong nội bộ mỗi doanh nghiệp. Đối với toàn lĩnh vực kinh doanh, có thể tạo ra một cuộc đua giữa các doanh nghiệp với tiêu chí là doanh nghiệp đảm bảo thực hiện tốt các qui định của pháp luật (có thể áp dụng các tiêu chuẩn đánh giá riêng và phong tặng danh hiệu cho các doanh nghiệp đoạt giải). Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao trình độ văn hóa pháp luật kinh doanh tại các doanh nghiệp sẽ giúp cho chính bản thân các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động có một trình độ hiểu biết pháp luật sâu sắc hơn, ý thức pháp luật cao hơn từ đó dẫn tới những tình cảm tốt đẹp đối với hệ thống pháp luật hiện hành để có những ứng xử, hành vi hợp pháp trong kinh doanh.

2.2.2.5. Đẩy mạnh công tác đào tạo và nghiên cứu pháp luật kinh doanh, tiếp thu tinh hoa của văn hóa pháp luật kinh doanh các nước trong khu vực và trên thế giới nhưng vẫn giữ nét văn hóa pháp luật Việt Nam riêng biệt

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên sâu về luật học nói chung và pháp luật kinh doanh nói riêng. Một trong những xu hướng hiện nay là xã hội hóa công tác đào tạo luật học. Sử dụng chính đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật, tư vấn viên pháp lý hay các luật sư để tiếp cận và đào tạo trình độ pháp luật kinh doanh cho các chủ thể là một giải pháp hữu ích. Tổ chức rộng rãi các buổi đào tạo pháp luật kinh doanh trong quần chúng nhân dân cũng như tại các doanh nghiệp, mở mang kiến thức pháp luật cho các chủ thể và nâng cao trình độ văn hóa pháp luật ở nước ta.

Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa pháp luật kinh doanh của các nước trên thế giới để áp dụng vào Việt Nam nhưng phải đảm bảo giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc Việt. Sự giao thoa giữa văn hóa pháp luật nước ta nói chung và pháp luật kinh doanh nói riêng với văn hóa pháp luật thế giới trong những năm gần đây ngày càng phổ biến và phát triển mạnh mẽ, nhất là kể từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường; đặc biệt là sự kiện nước ta gia nhập WTO – tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới với những yêu cầu đặt ra về việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Điển hình là quá trình đàm phán, thương thảo và ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ, rồi việc ban hành các đạo luật lớn về doanh nghiệp, chứng khoán, tài chính, bảo hiểm ở nước ta gần đây cho thấy sự ảnh hưởng của nền văn hóa pháp luật trên thế giới.Với mục tiêu “làm cho pháp luật nước ta tương thích với luật lệ quốc tế”, những giá trị của văn hóa pháp luật thế giới đã được tiếp thu vào hệ thống pháp luật nước ta cũng như quan niệm, ý thức pháp luật của mỗi người dân Việt. Trong lĩnh vực kinh doanh, sự giao thoa và tương tác giữa các nền văn hóa pháp luật kinh doanh lại càng thể hiện rõ. Trong điều kiện hội nhập kinh tế, xu hướng toàn cầu hóa tạo ra một thế giới không biên giới, thế giới phẳng. Các nền kinh tế dễ dàng giao lưu với nhau, các doanh nghiệp có thể vươn tầm kinh doanh ra ngoài biên giới lãnh thổ. Chính điều này đã giúp cho các tinh hoa văn hóa pháp luật kinh doanh có dịp xâm nhập sâu hơn vào đời sống xã hội các nước. Hệ thống pháp luật kinh doanh được hoàn thiện hơn, trình độ và ý thức pháp luật của các chủ thể kinh doanh được nâng cao, hành vi hợp pháp được khuyến khích thực hiện và phát triển – đó chính là những thành quả mà sự giao thoa và tương tác văn hóa pháp luật kinh doanh mang lại.

2.2.2.6. Đẩy mạnh và mở rộng các hoạt động như: bình chọn thương hiệu có chất lượng cao của người tiêu dùng; tận dụng sự tác động của yếu tố dư luận xã hội để nâng cao văn hóa pháp luật trong kinh doanh Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Ở phần trình bày về các yếu tố xã hội tác động tới văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, chúng ta đã thấy rõ sự ảnh hưởng của các yếu tố dư luận xã hội và uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp tới ý thức pháp luật của các chủ thể kinh doanh. Việc bị dư luận xã hội lên án đối với những hành kinh doanh bất hợp pháp hay sự tín nhiệm của người tiêu dùng đối với chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh có một ý nghĩa rất quan trọng. Giữ gìn và phát triển thương hiệu của mình trong con mắt khách hàng cũng như bạn bè quốc tế luôn là ưu tiên hàng đầu trong phương châm kinh doanh và hoạt động của mỗi doanh nghiệp.

Đáp ứng nhu cầu đó, một trong những biện pháp nhằm xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thì không thể thiếu việc tổ chức và mở rộng các hoạt động như: bình chọn thương hiệu đạt chất lượng cao, tổ chức giải thưởng Sao vàng đất Việt, vinh danh các doanh nhân có đóng góp lớn cho xã hội… Hiện nay, ở nước ta các hoạt động này đang được tổ chức thường xuyên hàng năm và mang lại những hiệu quả rất tốt. Biện pháp này vừa là sự ghi nhận của nhà nước và xã hội đối với những chủ thể kinh doanh hợp pháp, có đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời tạo ra một sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể trong việc đạt được niềm tin của người tiêu dùng.

Bản chất của kinh doanh luôn là sự cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh để cùng phát triển là một đặc trưng giúp phân biệt kinh doanh với các hoạt động xã hội khác. Do vậy việc thực hiện những biện pháp hữu ích như trên là rất quan trọng, vừa tạo cơ hội cho doanh nghiệp vươn lên vừa góp phần nâng cao văn hóa pháp luật trong kinh doanh ở nước ta hiện nay.

KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

Văn hóa pháp luật là sự phản ánh trung thực đời sống pháp luật, là sản phẩm thể hiện năng lực bản chất của con người trong lĩnh vực pháp luật. Văn hóa pháp luật được hình thành và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định với ba nội dung là ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và hành thực hiện, áp dụng pháp luật. Với những chức năng cơ bản như chức năng nhận thức, chức năng hình thành các chuẩn mực và hệ giá trị, chức năng thực tiễn, văn hóa pháp luật đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ sở pháp lý để xây dựng một môi trường kinh doanh trong sạch, lành mạnh, công bằng, dân chủ và phát triển.

Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh, văn hóa pháp luật là tiền đề, là cơ sở cho sự phát triển; mặt khác kết quả của hoạt động kinh doanh hay đúng hơn là sự thể hiện của môi trường kinh doanh chính là sự biểu hiện sinh động và rõ nét nhất của trình độ văn hóa pháp luật. Lĩnh vực kinh doanh ở nước ta ngày càng được mở rộng với sự đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh, sự tham gia ngày càng nhiều của các tầng lớp nhân dân càng cho thấy vai trò của nó đối với sự phát triển nền kinh tế của quốc gia. Nhu cầu đặt ra với văn hóa pháp luật là phải luôn duy trì được một trật tự có hệ thống tuân thủ nghiêm chỉnh qui định của pháp luật kinh doanh, đồng thời thể hiện ý thức và trình độ pháp luật cao của các chủ thể.

Văn hóa pháp luật trong kinh doanh ở nước ta hiện nay cũng không nằm ngoài xu thế toàn cầu hóa, hội nhập trên thế giới. Giữ gìn những giá trị của truyền thống văn hóa pháp luật nước nhà đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu của các quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa pháp luật trong kinh doanh. Đứng trước những thách thức, đòi hỏi chung của xu thế hội nhập, nền pháp luật kinh doanh nước ta phải không ngừng hoàn thiện, tạo ra sự phù hợp với pháp luật trong khu vực và trên thế giới, cũng như với các điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết hoặc tham gia. Bên cạnh đó, các chủ thể kinh doanh cũng không ngừng phải nâng cao trình độ hiểu biết nói chung và trình độ pháp luật nói riêng, ý thức chấp hành và tuân thủ nghiêm chỉnh các qui định của pháp luật kinh doanh trong nước và quốc tế, thực hiện các hành vi hợp pháp. Có như vậy mới tạo ra được những bước nhảy đột phá quan trọng, những bước đi lớn trong nâng cao và phát triển nền kinh tế nói chung và lĩnh vực kinh doanh nói riêng, làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện và phát huy tinh thần văn hóa pháp luật trong mọi hoạt động của lĩnh vực kinh doanh. Luận văn: Thực trạng xây dựng văn hóa pháp luật trong kinh doanh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *