Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch trên đảo Quan Lạn

Đánh giá post

Hiện trạng phát triển du lịch trên đảo Quan Lạn

3.1. Hiện trạng phát triển du lịch trên đảo Quan Lạn

3.1.1. Sản phẩm du lịch đảo Quan Lạn

Hiện nay trên đảo chủ yếu đang khai thác loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển với các hoạt động nghỉ ngơi, tắm biển, thưởng thức các loại hải sản đặc trưng của vùng. Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, địa chất địa mạo bao gồm các bãi biển đẹp, các điểm tham quan như bãi đá trời, cồn Chân Tiên, rừng Trâm, đồi cát pha lê, eo gió Gót Beo… đảo Quan Lạn là nơi nghỉ dưỡng phù hợp cho du khách. Loại hình du lịch này phù hợp với mọi đối tượng du khách ở các độ tuổi khác nhau, tuy nhiên, do sản phẩm du lịch chưa thực sự có điểm nhấn và sự khác biệt nên khả năng cạnh tranh chưa cao. Khách du lịch đến với Quan Lạn thường thông qua các tuyến lồng ghép với các điểm du lịch khác, thời gian lưu trú thực tế trên đảo không dài. Ngoài ra, loại hình du lịch này chịu tác động bởi khí hậu nên có tính mùa vụ rõ rệt. Nhìn chung, sản phẩm du lịch của đảo Quan Lạn hiện nay còn thiếu về số lượng, chưa đa dạng và hấp dẫn, chưa làm nổi bật được các giá trị của tài nguyên du lịch.

Một loại hình du lịch mới được đưa vào phát triển tại đảo Quan Lạn trong những năm gần đây đó là du lịch sinh thái cộng đồng. Năm 2021, Quan Lạn là một trong những địa phương được tỉnh Quảng Ninh thí điểm xây dựng mô hình phát triển du lịch sinh thái. Đây là một phần trong giai đoạn 2 của “Dự án thúc đẩy tăng trưởng xanh khu vực Vịnh Hạ Long” do UBND tỉnh Quảng Ninh hợp tác với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Theo đó, các chuyên gia JICA đã xây dựng 2 sản phẩm trải nghiệm tại đảo bao gồm:

Khám phá lịch sử và văn hoá hào hùng đảo Quan Lạn”: Sản phẩm này được xây dựng dựa trên hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hoá với các di tích như đình Quan Lạn, chùa Linh Quang, miếu thờ ba ông tướng họ Phạm, nghè Trần Khánh Dư… Sau khi tham quan các di tích, đoàn được chèo thuyền rồng trên dòng sông Mang lịch sử, nghe hướng dẫn viên thuyết minh lại những chiến công hiển hách trong lịch sử chống giặc Nguyên Mông đã diễn ra nơi đây… Loại hình du lịch này phù hợp với các du khách trong độ tuổi thanh thiếu niên và trung niên đến tìm hiểu, nghiên cứu, góp phần giáo dục thế hệ trẻ, nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi công dân bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa.

Một ngày làm ngư dân trên đảo Quan Lạn”: Đây là hoạt động đưa du khách tham gia các hoạt động đánh bắt thuỷ sản cùng người dân trên đảo, giúp du khách được quan sát ở cự ly gần, trải nghiệm tự tay đánh bắt hải sản tươi như cào ngao, kéo lưới truyền thống, câu mực về đêm, đào sá sùng… Du khách có thể tự thưởng thức các loại hải sản mà mình trực tiếp đánh bắt theo cách chế biến của những ngư dân trong vùng. Loại hình du lịch này phù hợp với các du khách yêu thích khám phá, đặc biệt các đối tượng du khách thanh thiếu niên.

3.1.2. Hiện trạng cơ sở hạ tầng và chính sách phát triển du lịch

3.1.2.1. Cơ sở hạ tầng

  • Hệ thống giao thông vận tải

Mạng lưới đường bộ trên đảo Quan Lạn được xây dựng dựa trên điều kiện địa hình của Đảo, trong đó tuyến đường xuyên Đảo đóng vai trò là tuyến giao thông huyết mạch. Tuyến đường xuyên đảo Quan Lạn – Minh Châu có chiều dài trên 16km được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng, các trục đường thôn và đường ngõ xóm nối từ tuyến đường chính xuyên đảo đến các khu dân cư đều được bê tông hóa.

Phương thức vận tải trên đảo chủ yếu bao gồm xe máy và xe điện. Ngoài ra còn có một số xe tải nhỏ của các cơ sở kinh doanh phục vụ vận chuyển các loại hàng hoá, nhu yếu phẩm từ cảng về cơ sở. Xe điện hoạt động trên đảo theo 2 tuyến cố định gồm tuyến từ bến Minh Châu tới trung tâm xã Quan Lạn và tuyến từ bến Quan Lạn tới trung tâm xã Minh Châu. Ngoài ra hầu như mỗi cơ sở lưu trú đều có 1-2 xe điện phục vụ đón trả khách từ cảng đến cơ sở. Đây là loại xe có từ 9-12 chỗ, được bố trí mái che, lan can đảm bảo an toàn và đều được đăng ký, đăng kiểm theo đúng quy định.

Giao thông đường thủy đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển của đảo Quan Lạn. Hiện nay có 3 tuyến giao thông đường thuỷ chính từ đất liền ra đảo, đó là: Vân Đồn – Quan Lạn, Vân Đồn – Minh Châu và Hòn Gai – Quan Lạn. Nhìn chung các tuyến giao thông biển đều hoạt động ổn định. Hệ thống hạ tầng giao thông đường biển gồm có hai bến cảng: cảng xã Minh Châu ở phía Bắc và cảng Quan Lạn, xã Quan Lạn ở phía Nam của Đảo. Ngoài ra, còn có cảng xuất hàng của Công ty CP Viglacera Vân Hải phục vụ vận chuyển cát và một số bến nhỏ phục vụ cho các tàu khai thác thuỷ sản cập bờ Hoạt động vận tải đường thuỷ nối đất liền với đảo Quan Lạn được thực hiện bằng hai loại phương tiện chính là tàu cao tốc và tàu gỗ. Thời gian di chuyển trung bình giữa cảng Cái Rồng (Vân Đồn) và đảo Quan Lạn đối với tàu cao tốc là khoảng 45 phút, đối với tàu gỗ khoảng 150 phút. Theo thống kê của Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh, hiện nay đang có 15 tàu gỗ và 51 tàu cao tốc phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hoá ra đảo có thể hoạt động trong điều kiện đến gió cấp 6, tổng sức chuyên chở trên 2.500 người.

  • b. Năng lượng

Đảo Quan Lạn được chính thức đấu nối với lưới điện Quốc gia từ ngày 15/12/2019 nằm trong Dự án: Đưa điện lưới quốc gia ra năm xã đảo Bản Sen, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng, Thắng Lợi thuộc huyện Vân Đồn, với tổng mức đầu tư khoảng 305 tỷ đồng do UBND tỉnh Quảng Ninh, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư. Đây là Dự án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp cung cấp điện liên tục, ổn định, an toàn phục vụ nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, xóa đói giảm nghèo trên đảo. Việc được đầu tư cơ sở hạ tầng cấp điện hoàn chỉnh là cơ sở quan trọng cho sự phát triển du lịch của đảo Quan Lạn. Kể từ năm 2020, lượng khách du lịch đến đảo Quan Lạn có sự tăng trưởng mạnh so với thời kì trước đó.

  • c. Cơ sở vật chất

Cùng với sự phát triển của ngành du lịch tại đảo Quan Lạn, từ năm 2009 – 2024, số lượng các cơ sở lưu trú trên đảo tăng trưởng khoảng 16%/năm. Tuy nhiên, hiện trạng chất lượng các cơ sở lưu trú còn khá thấp với quy mô tương đối nhỏ, số lượng khách sạn được xếp sao còn ít.

Hiện nay, trên đảo có 196 cơ sở lưu trú du lịch với hơn 2.874 phòng nghỉ, trong đó có 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao, 3 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao, 8 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao. Các dịch vụ nhà nghỉ, homestay từng bước được xây dựng và phát triển, cơ bản đáp ứng được nhu cầu cho khách du lịch tới tham quan, lưu trú (Sở Du lịch Quảng Ninh, 2025). Hiện nay, Công ty CP Viglacera Vân Hải đang triển khai đầu tư xây dựng Dự án Khu du lịch sinh thái cao cấp Vân Hải “FURAMA Hạ Long Việt Nam Resort & Villas” đạt tiêu chuẩn 4 sao tại thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn. Dự án dự kiến sẽ hoàn thành và đi và hoạt động năm 2021.

Bên cạnh các cơ sở lưu trú, các cơ sở kinh doanh ăn uống cũng có tốc độ tăng trưởng khá nhanh và ổn định. Cùng với sự gia tăng về số lượng thì quy mô và chất lượng các cơ sở này cũng có sự cải thiện đáng kể. Mặc dù vậy, cơ cấu món ăn của các cơ sở vẫn còn khá nghèo nàn, đơn điệu và ít đổi mới, chủ yếu là các món đặc trưng của địa phương. Đặc biệt số lượng các nhà hàng có phục vụ các món ăn cho du khách quốc tế hoặc các món ẩm thực đặc trưng khác của Việt Nam rất ít và chưa thực sự đảm bảo các yêu cầu du lịch.

Các dịch vụ vui chơi, giải trí trên đảo Quan Lạn khá nghèo nàn với quy mô nhỏ và chất lượng chưa cao. Các dịch vụ giải trí ngoài một số hoạt động như quán cà phê, bi a thì chỉ có các cơ sở kinh doanh karaoke quy mô nhỏ (một vài phòng đến khoảng chục phòng) với chất lượng bình dân nên chưa thực sự thu hút khách du lịch.

Bảng 7. Số lượng và quy mô các cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke

Địa bàn Số lượng cơ sở Quy mô (phòng)
Xã Quan Lạn  22 72
Xã Minh Châu 10 34

Nguồn: Xử lý số liệu thống kê của Phòng Văn hóa thông tin huyện Vân Đồn, 2024

3.1.2.2. Chính sách phát triển du lịch 

Phòng Văn hóa Thông tin huyện Vân Đồn là cơ quan tham mưu, giúp UBND huyện Vân Đồn thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch. Thời gian qua, Huyện Vân Đồn đã triển khai các văn bản hướng dẫn về điều kiện kinh doanh tới các đơn vị kinh doanh để đảm bảo việc thực hiện đúng các qui định của pháp luật và nâng cao chất lượng dịch vụ, an toàn cho khách du lịch. Bên cạnh đó là sự tham gia của UBND 2 xã Quan Lạn và Minh Châu cùng phối hợp tham gia vào công tác quản lý để các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch, dân cư địa phương tham gia và thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự trong du lịch.

Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch đối với đảo Quan Lạn cũng đã được huyện Vân Đồn quan tâm tuy nhiên còn thiếu và yếu. Tại Quảng Ninh có nhiều cơ quan trong và ngoài ngành du lịch tham gia tuyên truyền, quảng bá du lịch như cổng thông tin điện tỉnh Quảng Ninh; báo hình, báo viết, báo điện tử; trang web của các đơn vị quản lý kinh doanh trong ngành du lịch… Tuy nhiên hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch của các cơ quan này một mặt chưa có sự liên kết với nhau, hình thức và nội dung thông tin quảng bá du lịch mờ nhạt, dữ liệu không được cập nhật thường xuyên, chủ yếu là các thông tin về doanh nghiệp, phương thức hoạt động độc lập không có sự liên kết khai thác thông tin, mặt khác những nội dung liên quan đến Quan Lạn còn rất nghèo nàn, không hấp dẫn mà chủ yếu tập trung vào điểm đến Vịnh Hạ Long.

Trung tâm Thông tin xúc tiến Du lịch Quảng Ninh là đơn vị có nhiệm vụ cung cấp thông tin, tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, cung ứng các dịch vụ du lịch địa phương thông qua website http://www.halongtourism. rất ít đề cập đến các nội dung về du lịch đảo Quan Lạn. Huyện Vân Đồn chưa có bộ máy và nhân lực chuyên trách về xúc tiến quảng bá du lịch. Ngân sách địa phương dành cho hoạt động xúc tiến quảng bá của riêng Vân Đồn hầu như không đáng kể. Việc huy động sự tham gia của các doanh nghiệp và đơn vị cung cấp dịch vụ trên địa bàn cũng như cộng đồng dân cư địa phương vào hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch Vân Đồn còn rất yếu, do đó các thông tin về du lịch đảo Quan Lạn hầu như không có hoặc không được cập nhật .

3.1.3. Doanh thu du lịch

3.1.3.1. Thị trường khách du lịch

Khách du lịch đến đảo Quan Lạn hiện nay có cơ cấu không đồng đều với gần như toàn bộ thị trường là khách du lịch nội địa. Khách du lịch nội địa chiếm tới 98,4% thị trường và khách quốc tế chỉ chiếm tỉ trọng khoảng 1,6% tổng lượng khách. Thị trường khách nội địa có số đông là công nhân, cán bộ của các tỉnh, thành phố liền kề, thuộc mọi lứa tuổi. Khách du lịch nội địa thường đến Quan Lạn từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 5 – 8.

  • Các nguồn khách chính hiện nay đến du lịch tại đảo Quan Lạn bao gồm 2 nhóm:

Khách tự do: thuộc nhóm khách tự tìm kiếm thông tin và tự đặt đi du lịch để nghỉ dưỡng, tìm hiểu và trải nghiệm. Nhóm khách này hầu hết là những khách ưa thích các điểm đến còn hoang sơ, thích trải nghiệm và khám phá. Khách đến đây thường đi theo đôi hoặc cùng bạn bè theo nhóm nhỏ, tìm kiếm thông tin chủ yếu thông qua các trang mạng xã hội và trang web, khả năng chi trả của khách thuộc loại trung bình.

Khách mua tour: nhóm khách đặt tour du lịch Quảng Ninh và đến với đảo Quan Lạn theo dạng 1 điểm đến trong tuyến du lịch. Nhóm khách này đa phần có khả năng chi trả cao hơn nhóm khách tự do tuy nhiên mức độ chi còn thấp do sức cạnh tranh của Quan Lạn với các điểm đến khác như Cô Tô, Vịnh Hạ Long không hấp dẫn bằng.

Theo thống kê của UBND 2 xã Quan Lạn và Minh Châu tổng lượng khách du lịch đến đảo Quan Lạn trong những năm vừa qua tăng trưởng với tốc độ khá ổn định. Nếu như năm 2018, tổng lượng khách du lịch đến đảo Quan Lạn chỉ hơn 39.500 người thì đến năm 2024 con số này đã tăng lên trên 113.800 lượt khách. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng lượng khách lưu trú cũng khá ổn định và đạt trung bình 14,29%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng khách. Do đặc điểm tài nguyên và vị trí địa lý nên tỉ lệ khách du lịch lưu trú lại đảo Quan Lạn khá cao, chiếm trên 60%. Tuy nhiên, thời gian lưu trú trung bình trên đảo của du khách tương đối ngắn, khoảng 1,5 ngày do chưa có nhiểm hoạt động, dịch vụ tiện nghi giải trí hấp dẫn để lưu giữ khách du lịch ở lại lâu hơn.

3.1.3.2. Tổng thu du lịch

  • Chi tiêu của du khách:

Khách du lịch đến đảo Quan Lạn chủ yếu chi tiêu cho các dịch vụ cơ bản như lưu trú, vận chuyển, ăn uống. Mức chi tiêu cho các dịch vụ bổ sung rất thấp do hệ thống các dịch vụ và sản phẩm này hầu như chưa có ngoài một số dịch vụ tối thiểu phục vụ khách tắm biển và lễ hội. Có một mối tương quan rất rõ nét giữa việc bổ sung các dịch vụ hay tăng giá dịch vụ với mức chi tiêu của du khách. Điều này đã làm cho mức chi tiêu của du khách dù tăng nhưng tốc độ rất không đồng đều, có sự khác biệt lớn giữa các năm.

Bảng 8. Mức chi tiêu của khách du lịch tại đảo Quan Lạn giai đoạn 2018 – 2024

  • Thu nhập từ du lịch:

Thu nhập từ hoạt động du lịch chiếm một tỉ trọng tương đối lớn trong tổng GDP, góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của 2 xã Quan Lạn và Minh Châu. Với tốc độ tăng trưởng cao dù không đồng đều giữa các năm nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân của thu nhập từ du lịch luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP của Huyện. Trong giai đoạn từ 2018 đến 2024, tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Huyện đạt mức rất cao là 18,59% nhưng cũng trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng bình quân của thu nhập từ du lịch đã đạt đến 23,71% và góp phần rất lớn trong việc tạo ra động lực phát triển kinh tế – xã hội chung.

3.2. Đánh giá sức tải môi trường hoạt động du lịch trên đảo

3.2.1. Đánh giá dựa trên các thành phần chỉ số tự nhiên sinh thái

3.2.1.1. Tình trạng quá tải khách du lịch

Tổng hợp số lượng khách du lịch đến đảo Quan Lạn trong những năm gần đây được thể hiện tại biểu đồ sau:

Biểu đồ 3: Tổng hợp lượng khách du lịch tại đảo Quan Lạn 2018 – 2024

Kết quả hình trên cho thấy số lượng du khách đến đảo Quan Lạn có xu hướng ngày càng tăng cao đồng thời do tính chất đặc thù của khí hậu miện Bắc, lượng khách du lịch chỉ tập trung trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm. Điều này sẽ càng làm tăng áp lực về môi trường do việc khai thác thường xuyên và mất kiểm soát nguồn tài nguyên đất, ảnh hưởng đến người dân địa phương do sự có mặt của du khách tăng cao trong mùa du lịch.

Để đánh giá tình trạng quá tải của du khách, tác giả sử dụng 2 chỉ số mật độ du khách được tính bằng số khách du lịch trên một m2 diện tích, cụ thể như sau:

Bảng 9: Số lượng khách du lịch và diện tích bãi biển sử dụng tính cho 1 khách du lịch giai đoạn 2018 – 2024

Chỉ tiêu 2018 2019 2020 2021 2022 2023 2024
Khách du lịch đến đảo Quan Lạn

(nghìn người)

39,5 43,3 51,8 64,1 77,9 98,6 113,8
Diện tích bãi biển sử dụng tính cho 1 khách du lịch (m2/người) 34 31 26 21 17 14 12

(Nguồn: Xử lý số liệu thống kê của Phòng Văn hóa thông tin huyện Vân Đồn)

  • (Ghi chú:

Diện tích mặt nước có thể khai thác hoạt động du lịch tại đảo Quan Lạn: 2.703.826m2; Chiều dài đường bờ biển: 25.425m)

Nếu so sánh với tiêu chuẩn sức tải bãi biển ở mức độ bình dân là 10m2/người (UNWTO, 1981) thì mật độ du khách bình quân hiện nay trên bãi biển đảo Quan Lạn vẫn nằm trong mức phù hợp, chưa vượt quá sức tải vật lý cho phép. Tuy nhiên, do đặc thù du lịch là khách chỉ sử dụng một số bãi biển chính, và mặt nước chính, cũng như do tính mùa vụ sẽ dẫn đến ở một số thời điểm trong năm và một số khu vực nhất định, tình trạng vượt quá sức tải rất có thể xảy ra. Qua khảo sát thực tế, trong các ngày cao điểm, lượng khách du lịch tập trung ở một số bãi biển đẹp như bãi Sơn Hào, bãi Minh Châu. Ngoài ra, số liệu thống kê và tính toán ở bảng trên chưa bao gồm số lượng người dân địa phương sử dụng bãi biển.

  • Tính toán sức chứa tại một số bãi biển đảo Quan Lạn

Để tính toán sức chứa của các bãi biển, áp dụng công thức tính sức chịu tải của điểm đến du lịch (H.Cebaloos-Lascurain, 1997):

  • Sức chịu tải vật lý: PCC = A .D.Rf (1)

Đối với đảo Quan Lạn, hệ số Rf = thời gian có thể tắm biển, nghỉ dưỡng biển trong ngày/thời gian sử dụng bãi biển trung bình = 12/4 = 3. Kết quả tính khả năng chịu tải vật lý của 3 bãi biển chính tại đảo Quan Lạn được trình bày tại bảng sau:

Bảng 10: Sức chịu tải vật lý của các bãi biển Sơn Hào, Minh Châu, Quan Lạn

Bãi biển Chiều dài bãi (m) Chiều rộng bãi (m) Diện tích – A  Tiêu chuẩn sức tải bãi biển – D Hệ số Rf (Rotation factor) PCC (người)
Sơn Hào 2100 15 42000 m2 10 m2/người tương đương 0,1 người/m2 3 9.450
Minh Châu 1100 20 33000 m2 6.600
Quan Lạn 1600 15 32000 m2 7.200
  • Sức chịu tải thực tế:
  • ERCC = PCC x ((100- Cf1)/ 100) x ((100- Cf2)/100) x … x ((100- Cfn)/100) (2)

Các hệ số giới hạn về đánh giá bãi biển trên đảo Quan Lạn được thực hiện trên cơ sở lựa chọn các hệ số được xây dựng bởi nhóm tác giả Trần Nghi và nnk, 2009, bao gồm:

Hệ số về khí hậu (Cf1): Trong khoảng thời gian mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3, các loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển, tắm biển rất khó thực hiện do khí hậu lạnh và xuất hiện gió mùa Đông Bắc kéo dài.

  • Cf1 = 5 tháng /12 tháng = 41,7%

Hệ số về số giờ nắng trong ngày (Cf2): Trong khung giờ 10h sáng – 15h chiều khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ ngoài trời có thể lên tới 34 – 35oC, trời oi nóng và chỉ số tia UV tăng cao ở mức 6 – 10 có nguy cơ gây hại rất cao đối với cơ thể con người khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng. M1 = 122 ngày (tháng 5, 6, 7, 8) x 5 tiếng/ngày. M2 = 213 ngày (từ tháng 4 – 10) x 12 tiếng/ngày

  • Cf2 = (122 ngày x 5 tiếng)/(213 ngày x 12 tiếng) = 23,9%.

Hệ số về thiên tai, các hiện tượng thời tiết bất thường (Cf3): Trung bình 1 năm khu vực Quảng Ninh chịu tác động trực tiếp từ 1 – 2 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới từ Biển Đông và chịu tác động gián tiếp của 3 – 4 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới của khu vực Thái Bình Dương đưa vào. Tốc độ gió trong bão thường ở cấp 9 – 10, có khi lên cấp 11 – 12, kèm theo bão là mưa lớn. Do Quan Lạn đặc thù là đảo xa đất liền nên hoạt động du lịch đảo Quan Lạn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các lệnh cấm tàu do mưa bão. Theo thống kê của Cảng vụ đường thuỷ nôi địa Quảng Ninh, trung bình mỗi năm trong mùa du lịch từ tháng 4 – 10, Cảng vụ sẽ công bố lệnh cấm tàu khoảng 45 ngày.

  • Cf3 = 45 ngày/213 ngày = 21,1%.

Hệ số chất lượng nước biển (Cf4): Trên cơ sở tổng hợp các số liệu quan trắc chất lượng nước biển ven bờ từ Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Vân Đồn, Trung tâm Quan trắc môi trường (Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Quảng Ninh) và một số dự án quan trắc môi trường định kỳ khác có liên quan trên địa bàn đảo Quan Lạn từ năm 2020 – 2024, kết quả cho thấy tại một số bãi biển của đảo như bãi Sơn Hào, bãi Minh Châu, bãi Quan Lạn đều có chất lượng nước biển ven bờ tương đối tốt, các chỉ tiêu phần tích đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2020/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước biển. Mục 2.1 Vùng biển ven bờ. Cột: Vùng bãi tắm, thể thao dưới nước. Do đó, lấy hệ số Cf4 = 0%.

  • Hệ số chất lượng bãi biển (Cf5): Hệ số này được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí và được tổng hợp tại bảng sau:

Bảng 11: Tổng hợp các tiêu chí đánh giá chất lượng bãi biển

Dòng chảy xa bờ (Rip current) là dòng nước mạnh chảy từ bờ hướng ra biển. Đây là một hiện tượng thường gặp ở các bãi biển và là nguyên nhân chính gây ra tai nạn cho du khách. Tại bãi biển Quan Lạn có xuất hiện dòng chảy xa bờ với tần suất nhỏ – do đó tác giả lựa chọn giá trị (-) chất lượng thấp cho tiêu chí dòng chảy xa bờ.

Dựa trên công thức (2) và các hệ số Cf, tính toán sức chịu tải thực tế các bãi biển như sau:

Bảng 12: Kết quả tính toán sức chịu tải thực tế dựa theo công thức (2)

Bãi biển PCC (người) Cf1 Cf3 Cf3 Cf4 Cf5 ERCC (người)
Sơn Hào 9.450 41,7% 23,9% 21,1% 0% 14,3% 2.835
Minh Châu 6.600 0% 2.310
Quan Lạn 7.200 14,3% 2.160

Kết quả tính toán cho thấy nhìn chung hiện nay các bãi tắm trên đảo Quan Lạn vẫn có chất lượng tốt, duy chỉ có độ sạch của bãi cát ở mức độ trung bình. Sức tải thực tế của các bãi biển vẫn dưới ngưỡng cho phép, lượng khách du lịch chưa cao và chưa gây quá tải sức tải du lịch tại các bãi biển trên đảo (0% – 41,7%).

3.2.1.2. Tình trạng đáp ứng cơ sở hạ tầng du lịch

Từ năm 2018 – 2024, số lượng khách sạn, nhà nghỉ tăng nhanh cả về số lượng, quy mô và phương thức hoạt động. Tính đến hết năm 2024, trên đảo có 196 cơ sở lưu trú du lịch với hơn 2.874 phòng nghỉ. Về chất lượng cơ sở lưu trú, trên đảo có 1 cơ sở đạt tiêu chuẩn 3 sao, 3 cơ sở đạt tiêu chuẩn 2 sao, 8 cơ sở đạt tiêu chuẩn 1 sao, còn lại là các nhà nghỉ chưa được xếp hạng và các cơ sở kinh doanh dịch vụ homestay. Xét trên tổng thể, số lượng các cơ sở lưu trú được xếp hạng vẫn còn chiếm tỉ lệ thấp, khoảng 7,14% tổng số cơ sở lưu trú. Hiện trạng số lượng cơ sở lưu trú và phòng nghỉ trên đảo Quan Lạn được trình bày tại biểu đồ sau:

Biểu đồ 4: Hiện trạng cơ sở lưu trú giai đoạn 2018 – 2024

Kết quả phân tích trên cho thấy số lượng các cơ sở lưu trú có sự gia tăng trong những năm gần đây đồng thời quy mô trung bình của các cơ sở cũng tăng mạnh, từ trung bình 6 phòng/ cơ sở lưu trú năm 2018 đến 14 phòng/ cơ sở lưu trú năm 2024.

Bảng 13: Công suất phòng trung bình tại đảo Quan Lạn năm 2024

Tháng 1 2 3 4 5 6
Công suất (%) 2,8 2,1 17,1 35,1 42,1 58,3
Tháng 7 8 9 10 11 12
Công suất (%) 61,2 60,4 51,6 39,8 21,5 4,8

Nguồn: Xử lý số liệu thống kê của Phòng Văn hoá thông tin huyện Vân Đồn

Tuy nhiên trong mùa cao điểm du lịch tại Quan Lạn, tình trạng hết phòng nghỉ vẫn xảy ra, đặc biệt vào cuối tuần và trong các dịp nghỉ lễ lớn 30/4 – 1/5; 2/9. Điều này cho thấy, nhu cầu và áp lực về cơ sở lưu trú vẫn tăng cao tại khu vực.

3.2.1.3. Tình hình thu gom và xử lý chất thải

Theo Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh, lượng chất thải rắn sinh hoạt trung bình của 1 khách du lịch ước tính khoảng 0,5kg/ngày, cùng với lượng chất thải rắn sinh hoạt của người dân địa phương, tổng lượng rác thải trung bình trên toàn đảo hiện nay ước tính khoảng 3 tấn/ngày.

Hiện nay trên đảo Quan Lạn đang vận hành Lò đốt rác BD Anpha, công suất 500kg/h trên diện tích 10.000m2 tại thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn phục vụ xử lý rác thải sinh hoạt cho cả 2 xã Quan Lạn và Minh Châu. Đây là lò đốt rác thực hiện theo quy trình khép kín sử dụng rác khô để làm mồi đốt kết hợp với các van điều chỉnh lưu lượng gió giúp tỏa nhiệt lượng cho lò đốt. Theo đó lò đốt rác này hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu xử lý chất thải rắn sinh hoạt của đảo Quan Lạn hiện nay và trong 10 năm tới.

Rác thải sinh hoạt từ các hộ dân sinh sống trên đảo và các cơ sở kinh doanh được các đội vệ sinh môi trường Xã thu gom dọc theo khu dân cư bằng xe đẩy tay và vận chuyển bằng xe tải chuyên dụng về khu xử lý rác.

Hiện nay, vấn đề đang cần được quan tâm và giải quyết triệt để đó là tình trạng rác thải bãi biển. Các bãi biển ở đảo Quan Lạn đều hấp dẫn du khách nhờ bãi cát trắng mịn và nước biển trong sạch, tuy nhiên do sự thiếu ý thức của một số bộ phận du khách và các cơ sở kinh doanh dịch vụ bãi tắm nên vẫn xuất hiện tình trạng rác thải sinh hoạt vất bừa bãi tại các bãi biển. Ngoài ra, còn có rác thải từ các vùng biển xa bị sóng đánh dạt vào bờ. Định kỳ hàng tháng, hàng quý, Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Vân Đồn cùng UBND các xã Quan Lạn, Minh Châu vẫn phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, các đơn vị lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn tổ chức thu gom rác thải, làm sạch bãi biển.

Trên đảo hiện chưa có công trình xử lý nước thải tập trung, nước thải từ các hộ dân cư, các cơ sở kinh doanh chủ yếu chỉ được xử lý sơ bộ qua các bể tự hoại 3 – 5 ngăn và xả ra nguồn nước tiếp nhận. Theo Quy hoạch phân khu chức năng tỷ lệ 1/2.000 khu vực Minh Châu – Quan Lạn do UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt tại Quyết định số 2717/QĐ UBND ngày 22/8/2021, trên đảo Quan Lạn sẽ quy hoạch xây dựng 05 trạm xử lý nước thải cho từng phân khu với tổng công suất xử lý 1.510m3 nước thải/ngày đêm. Tuy nhiên, tính đến tháng 6/2025, trên đảo chưa có công trình xử lý nước thải đi vào hoạt động. Đây sẽ là áp lực lớn cho việc phát triển du lịch bền vững đảo Quan Lạn trong thời gian tới.

3.2.1.4. Chất lượng môi trường không khí và môi trường nước

Các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động du lịch nói riêng đều có tác động đến tài nguyên và môi trường. Những tác động này có thể là tích cực, song cũng có thể là tiêu cực đến tài nguyên và môi trường, nhất là trong các trường hợp không có tổ chức, quy hoạch hợp lý về việc sử dụng và bảo vệ cũng như khôi phục tài nguyên và môi trường.

  • Các tác động tiêu cực đến tài nguyên môi trường từ hoạt động du lịch có thể kể đến bao gồm:

Suy giảm nguồn tài nguyên nước ngầm: Hiện nay, do đảo Quan Lạn chưa có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung nên nước sinh hoạt của người dân trên đảo được khai thác từ các giếng khoan hoặc sử dụng nước mưa tích trữ trong các bể, bồn chứa. Hoạt động du lịch tại đảo Quan Lạn đã góp phần gia tăng áp lực về nhu cầu nước sạch sử dụng trên đảo trong mùa hè, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tự phát ngày càng nhiều. Theo khảo sát trực tiếp của tác giả tại một số hộ dân thôn Tân Phong, xã Quan Lạn (phía Nam đảo Quan Lạn), các hộ dân đều cho rằng trước đây dù thời tiết không có mưa trong một tháng thì các giếng khoan của người dân vẫn đủ nước để sinh hoạt. Hiện nay, dù giếng của các hộ dân đã khoan sâu đến 40m nhưng lượng nước rất ít và phải dùng rất tiết kiệm để chờ nguồn nước mưa tích trữ. Tại các thôn Quang Trung, thôn Nam Hải, thôn Ninh Hải, xã Minh Châu (phía Bắc đảo Quan Lạn) hiện nay nguồn nước ngầm vẫn đủ dùng cho mục đích sinh hoạt và kinh doanh dịch vụ tuy nhiên đây không phải là phương án mang tính khả thi lâu dài.

Suy giảm chất lượng nguồn nước biển ven bờ: Nước thải sinh hoạt từ các hộ dân sinh sống trên đảo và các cơ sở kinh doanh hiện nay đều không được xử lý phù hợp: nước thải nhà vệ sinh chỉ qua bể tự hoại cùng với các loại nước thải nấu ăn, tắm giặt vệ sinh sàn được xả trực tiếp vào hệ thống cống, rãnh thoát nước mặt và chảy ra biển. Điều này sẽ gây áp lực đến khả năng tự làm sạch của nguồn nước biển ven bờ khi số lượng du khách đến đảo quá lớn. Hiện nay, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có văn bản yêu cầu các cơ sở kinh doanh dịch vụ bắt buộc phải có hạng mục công trình xử lý nước thải khi lưu lượng nước thải trung bình lớn hơn 5m3/ngày.đêm và phải lập hồ sơ xin cấp phép xả nước thải vào nguồn nước trình Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định phê duyệt.

Để đánh giá chất lượng môi trường không khí và nước biển ven bờ, tác giả đã tổng hợp kết quả quan trắc môi trường định kỳ của Phòng Tài nguyên môi trường huyện Vân Đồn tại màu cao điểm du lịch năm 2024 (quý III/2024) và thực hiện khảo sát lấy mẫu phân tích tại một số mẫu đại diện.

  1. Kết quả quan trắc môi trường định kỳ của Phòng Tài nguyên môi trường huyện Vân Đồn

Môi trường nước: Kết quả quan trắc 8 mẫu nước biển ven đảo, 13 mẫu nước ngầm và 5 mẫu nước mặt cho thấy:

Nước biển: 8/8 mẫu quan trắc đều có chỉ số DO và pH nằm trong QCVN 10MT:2020/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước biển. Mục 2.1 Vùng biển ven bờ Cột Vùng bãi tắm và Cột các vùng khác

Bảng 14: Kết quả quan trắc mẫu nước biển ven đảo xã Quan Lạn – Minh Châu

STT Mẫu quan trắc DO (mg/l) pH Độ đục (NTU)
1 Bến tàu cảng xã Minh Châu 9.35 8.49 6.8
2 Bãi tắm Minh Châu 9.18 8.46 15.1
3 Nước ven biển khu chế biến sứa (đang dừng hoạt động) 8.95 8.39 4.75
4 Nước biển cầu cảng Quan Lạn 8.65 8.41 3.58
5 Nước bãi biển Quan Lạn 8.9 8.48 4.28
6 Nước ven biển gần công thoát nước khu dân cư + chợ Quan Lạn 5.92 7.99 7.85
7 Nước ven biển gần Đầm Gò Dâu 7.65 8.2 2.96
8 Nước biển khu vực rừng ngập mặn gần CT CP Viglacera Vân Hải 8.59 8.28 3.12
QCVN 10-MT:2020/BTNMT (Các nơi khác) QCVN 10-MT:2020/BTNMT (bãi tắm, du lịch)

≥ 4

6,5 – 8,5

6,5 – 8,5

(Nguồn: Bảo cáo quan trắc môi trường định kỳ huyện Vân Đồn Quý III/2024 )

Nước mặt: 5 mẫu nước mặt được quan trắc có mẫu nước mưa sử dụng sinh hoạt cho hộ gia đình thôn Sơn Hào (Quan Lạn) không đạt QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt do có độ đục 5,86 NTU, cao hơn giới hạn cho phép 0,86 NTU, và nước có nguy cơ nhiễm mặn với độ muối 0,61 ‰ > 0,25 ‰  (độ mặn thông thường của nước sinh hoạt); 4 mẫu quan trắc còn lại đều đạt chỉ tiêu pH, DO theo QCVN 08-MT: 2020/BTNMT về chất lượng nước mặt.

Nước dưới đất sử dụng cho mục đích sinh hoạt: có 6/13 mẫu không đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt cho hộ gia đình theo QCVN 02:2009/BYT nếu không qua xử lý. Trong đó, 1 mẫu có pH > 8,5 (nước giếng nhà dân cách khu chế biến sứa 30m – thôn Yến Hải – Quan Lạn); 5 mẫu có độ đục > 5 NTU bao gồm: nước giếng đào 15m nhà anh Nguyễn Tiến Hiệp – thôn Thái Hòa (9,01 NTU); nước sử dụng và sinh hoạt điểm giao dịch xã Quan Lạn (11,9 NTU); Nước giếng đào hộ gia đình xóm khe Luồn (20,6 NTU); nước giếng đào 10m đền Vân Sơn phục vụ sinh hoạt (15,1 NTU); nước giếng đào 8m hộ gia đình thôn Sơn Hào – Quan Lạn (46,6 NTU)

Môi trường không khí: Quan trắc không khí tại 12 điểm thuộc 2 xã Quan Lạn và Minh Châu, gồm 2 điểm tại Cảng và bến tàu, 7 điểm quan trắc đường giao thông, 1 điểm trong rừng phòng hộ gần miếu Đông Hồ, 1 điểm bãi tắm Minh Châu, và 1 điểm tại trường học. Kết quả quan trắc cho thấy: các điểm quan trắc đều có hàm lượng bụi nằm trong giới hạn cho phép, có 2/12 điểm bị có độ ồn trung bình cao hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2018/BTNMT và QCVN 26:2015/BTNMT. Nguyên nhân là do 2 điểm quan trắc này gần các khu vực công trường đang thi công nên chịu tác động bởi tiếng ồn từ các phương tiện vận chuyển nguyên vật liệu, thiết bị thi công.

Kết quả chi tiết được trình bày tại bảng sau:

Bảng 15: Kết quả quan trắc môi trường không khí trên đảo Quan Lạn

Tên địa điểm Tên xã TSP ( mg/m 3) Lceq (dBA) Lmin (dBA) Lmax (dBA)
Cảng Minh Châu Minh Châu 0,16 54,3 63 129.6
Bãi tắm Minh Châu Minh Châu 0,141 64,6 61,3 129,3
Ngã 3 UBND xã Minh Châu Minh Châu 0,121 58,7 126,9 134,9
Trường học đang xây dựng Minh Châu 0,094 60,9 46,1 110,7
Ngã 4 khách sạn Ngân Hà Quan Lạn 0,174 76.9 64,5 88,4
Ngã 3 đường ra bãi tắm Quan Lạn Quan Lạn 0,096 50,8 49,5 100
Bến tàu cảng Quan Lạn Quan Lạn 0,102 63 59,5 114,7
Rừng phòng hộ gần miếu Đông Hồ Quan Lạn 0,109 50 42,1 112,3
Đoạn đường thi công qua ủy ban xã QL 500m Quan Lạn 0,26 55 50,9 123,8
Đoạn đường qua dân cư thôn Thái Hòa Quan Lạn 0,175 59,2 60,5 137,1
Đoạn đường thi công qua dân cư  thôn Thái Hòa Quan Lạn 0,101 72,5 70,9 133,7
Ngã 3 nhà văn hóa thôn Thái Hòa Quan Lạn 0,109 66,3 61,4 137,1
QCVN 05:2018/BTNMT

QCVN 26:2015/BTNMT

  0.3 70

(Nguồn: Báo cáo quan trắc môi trường định kỳ huyện Vân Đồn Quý III/2024)

Tính toán sức tải môi trường vùng nước biển ven bờ đảo Quan Lạn

Để tính sức tải môi trường vùng nước biển ven bờ đảo Quan Lạn, tác giá sử dụng công thức theo tài liệu sách chuyên khảo Sức tải môi trường Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long (Trần Đức Thạnh và nnk, 2009).

Tải lượng thải từ nguồn dân cư được tính dựa trên số dân của đảo và định mức tải lượng thải sinh hoạt theo đầu người như sau:

Qdc = P x Qi x 10-3

Trong đó:

  • Qdc: Tải lượng thải từ dân cư (tấn/năm)
  • P: Dân số (người)
  • Qi: Đơn vị tải lượng thải sinh hoạt của chất i (kg/người/năm)

Bảng 16: Tải lượng thải từ nguồn dân cư trên đảo Quan Lạn

Chất ô nhiễm Tải lượng * (kg/người/năm) Dân số đảo Quan Lạn (tính đến 30/6/2024) Tải lượng chất gây ô nhiễm từ dân cư (tấn/năm)
BOD5 10        –         25 Xã Quan Lạn: 3.547

Xã Minh Châu: 1.079

Tổng: 4.626 người

115,65
NO3(Nitrat) 2          –           4 18,50
PO43- (Photphat) 1          –           2 9,25
NH4 + (Amoni) 1,5       –           3 13,87
TSS 20        –             40 185,04

Tải lượng thải từ khách du lịch được tính dựa trên số ngày lưu trú của du khách trên đảo và định mức tải lượng thải sinh hoạt theo khách du lịch như sau: Qdl = n x Qi /365 x 10-3

Trong đó:

  • Qdl: Tải lượng thải từ khách du lịch (tấn/năm) n: Số ngày lưu trú trung bình của khách
  • Qi: Đơn vị tải lượng thải sinh hoạt của chất i (kg/người/năm)

Bảng 17: Tải lượng thải từ khách du lịch trên đảo Quan Lạn

Chất ô nhiễm Tải lượng * (kg/người/năm) Số du khách năm 2024 ( người )  Thời gian lưu trú trung bình (ngày) Tải lượng chất gây ô nhiễm từ du khách (tấn/năm)
BOD5 10        –             25 113.800 1,5 11,69
NO3(Nitrat) 2          –           4 1,87
PO43- (Photphat) 1          –           2 0,94
NH4+ (Amoni) 1,5      –           3 1,40
TSS 20        –             40 18,71

Năng lực môi trường là số lượng tối đa các hoạt động tạo ra các nhân gây tổn hại cho môi trường mà chất lượng môi trường vẫn đảm bảo ở mức độ cho phép. EC = (CTC – Chiện tại) x (1+R) x V

Trong đó:

  • EC: Năng lực môi trường (tấn)
  • CTC: Giới hạn nồng độ các chất gây ô nhiễm trong Quy chuẩn môi trường (g/m3)
  • Chiện tại: Nồng độ chất gây ô nhiễm (g/m3) (trung bình nồng độ tại các điểm quan trắc nước biển theo Báo cáo quan trắc môi trường định kỳ huyện Vân Đồn Quý III/2024 )
  • R: tỉ lệ trao đổi nước của thuỷ vực (áp dụng hệ số thuỷ vực tại vịnh Bái Tử Long R = 0,71) V: thể tích thuỷ vực trung bình (V = 10,69 triệu m3 – theo (Trần Đức Thạnh và nnk, 2009)) Kết quả tính toán được trình bày tại bảng sau:

Bảng 18: Sức tải môi trường vùng nước biển ven bờ đảo Quan Lạn

Thông số CTC (mg/l = g/m3) C hin ti

(mg/l = g/m 3)

(1+R) V (triệu m3) EC (tấn/năm) Lượng thải dân cư + du khách

(tấn/năm)

Tỉ lệ đạt tải

(Lượng thải/EC x 100%)

BOD5 15* 1,54 1,71 10.690.000 246.047.454 127,3 5,1755E-05
NO3- 10* 0,092 1,71 181.117.249 20,37 1,1249E-05
PO43- 0,3** 0,02 1,71 5.118.372 10,19 0,00019903
NH4+ 0,5** 0,118 1,71 6.982.921,8 15,28 0,00021883
TSS 50** 29,53 1,71 374.189.553 203,7 5,445E-05
  • Ghi chú:

Các thông số BOD5, NO3, PO43-, NH4+, TSS được lựa chọn để tính sức tải môi trường vì đây là nhóm các hợp chất đại diện cho các nguồn sinh hoạt và dịch vụ du lịch. Tại Việt Nam chưa có tiêu chuẩn chung cho tất cả các chất gây ô nhiễm này trong nước biển ven bờ vì vậy đã lựa chọn một số tiêu chuẩn phù hợp để tính toán. Cụ thể:

  • Thông số BOD và NO3: lựa chọn QCVN 08-MT:2020/BTNMT cột B1
  • Thông số PO43-, NH4+, TSS: lựa chọn QCVN 10-MT:2020/BTNMT cột Vùng bãi tắm, thể thao dưới nước

Nhận xét: Kết quả tính toán tại bảng trên cho thấy tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ hoạt động sinh hoạt của dân cư và khách du lịch trên đảo Quan Lạn năm 2024 chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với khả năng chịu tải của môi trường nước biển ven bờ. Ngoài hai nguồn thải từ sinh hoạt của dân cư và du khách nêu trên, vùng nước biển ven bờ đảo Quan Lạn còn tiếp nhận nguồn thải từ các hoạt động chăn nuôi, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên, các nguồn thải này có mức độ ảnh hưởng nhỏ hơn so với nguồn thải sinh hoạt do:

Số lượng đàn gia súc, gia cầm trên đảo tương đối nhỏ, khoảng hơn 2.000 con.

Hoạt động nuôi thuỷ sản của người dân chủ yếu là nuôi các loài như ngao, hàu, sá sùng, tu hài. Đây đều là những loài nhuyễn thể dễ nuôi, ít phải cho ăn, thân thiện với môi trường hơn rất nhiều so với các hình thức nuôi thuỷ sản khác như tôm sú, cá lồng…

b. Kết quả quan trắc môi trường tại một số mẫu đại diện của tác giả

Để đánh giá chất lượng môi trường không khí tại khu vực, tác giả đã tiến hành lấy mẫu tại các vị trí sau:

  • K1: Khu dân cư thôn Ninh Hải, xã Minh Châu (20°56’37.63″N – 107°32’56.19″E)
  • K2: Tuyến đường xuyên đảo – gần khu vực mỏ cát Vân Hải (20°55’17.90″N – 107°32’16.67″E)
  • K3: Khu dân cư thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn (20°54’53.16″N – 107°31’51.96″E)
  • K4: Khu dân cư thôn Đông Nam, xã Quan Lạn (20°52’1.82″N – 107°29’33.92″E)
  • K5: Khu vực xây dựng Dự án Khu du lịch sinh thái cao cấp Vân Hải (20°53’50.96″N -107°31’9.52″E)
  • K6: Tuyến đường xuyên đảo – đường vào Khu du lịch sinh thái cao cấp Vân Hải đang xây dựng (20°53’53.33″N – 107°31’2.74″E)
  • K7: Khu vực dây chuyền sàng tuyển cát Công ty CP Viglacera Vân Hải (20°55’5.92″N – 107°32’7.28″E)

Kết quả quan trắc được trình bày tại bảng sau:

Bảng 19: Kết quả quan trắc môi trường không khí thực hiện ngày 09/5/2025

TT TÊN THÔNG SỐ Đ/V TÍNH     KẾT QUẢ     QCVN    
K1 K2 K3 K4 K5 K6 K7
1 Nhiệt độ 0

C

29,1 28,5 27,7 29,8 29,5 28,1 28,8
2 Độ ẩm % 83 85 88 79 81 87 83
3 Tốc độ gió m/s 0,9 0,7 1,3 0,9 1,3 1,0 0,8
4 Độ ồn trung bình dBA 53,8 70,4 50,3 50,7 64,6 56,3 66,9 70
5 Bụi lơ lửng mg/m3 0,112 0,137 0,094 0,104 0,387 0,120 0,125 0,3
6 SO2 mg/m3 0,015 0,016 0,014 0,014 0,017 0,014 0,015 0,35
7 NO2 mg/m3 0,026 0,028 0,024 0,024 0,030 0,025 0,026 0,2
8 CO mg/m3 1,36 1,42 1,32 1,32 1,42 1,36 1,40 30

Quy chuẩn so sánh:

  • QCVN 05:2018/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng không khí xung quanh;
  • QCVN 26:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về tiếng ồn.

Nhận xét:

Kết quả quan trắc và phân tích cho thấy phần lớn các vị trí quan trắc đều có chất lượng không khí khá tốt, riêng khu vực xây dựng Dự án Khu du lịch sinh thái cao cấp Vân Hải có hàm lượng bụi cao hơn so với giới hạn cho phép tại QCVN 05:2018/BTNMT Tuy nhiên, do đây là khu vực đang xây dựng nên kết quả này chỉ mang tính chất cục bộ đồng thời vẫn thấp hơn giới hạn cho phép của QCVN 02:2024/BYT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về bụi – Giá trị giới hạn tiếp xúc cho phép bụi tại nơi làm việc. Tiếng ồn đo được tại Khu vực dây chuyền sàng tuyển cát Công ty CP Viglacera Vân Hải và khu vực xây dựng

Khu du lịch sinh thái cao cấp Vân Hải tương đối cao nhưng vẫn thấp hơn giới hạn cho phép. Các chỉ tiêu quan trong khác đều thấp hơn nhiều lần giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam tương ứng.

Để đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực, Đoàn quan trắc đã tiến hành lấy mẫu nước tại các vị trí sau:

  • N1: Nước biển – khu vực cảng xuất cát Công ty CP Viglacera Vân Hải (20°55’18.62″N – 107°31’30.55″E)
  • N2: Nước biển tại bãi Sơn Hào, thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn (20°53’41.54″ N – 107°31’8.06″E)
  • N3: Nước giếng nhà anh Trần Văn Bình – thôn Quang Trung, xã Minh Châu (20°56’20.05″N – 107°32’38.91″E)
  • N4: Nước giếng khu vực Dự án Khu du lịch sinh thái cao cấp Vân Hải (20°53’55.26″N 107°31’4.35″E)

Quy chuẩn so sánh:

  • QCVN 09-MT:2020/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất
  • QCVN 10-MT:2020/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước biển.

Mục 2.1: Nước biển ven bờ

Bảng 20: Kết quả quan trắc môi trường nước biển ven bờ thực hiện ngày 09/5/2025

Stt Tên chỉ tiêu Đ/V tính Kết quả QCVN 10-MT : 2020/BTNMT Mục 2.1
N1 N2 Cột: Các nơi khác Cột  Vùng bãi tắm
1 pH** 8,07 8,08 6,5 – 8,5
2 DO** mg/l 5,6 5,6 ≥4
3 TSS* mg/l 1,9 1,5
4 Độ đục NTU < 5 < 5
5 Amoni mg/l 0,108 0,131 0,5 0,5
6 COD mg/l 1,4 1,2
7 Hg mg/l 0,00033 0,00031 0,005 0,002
8 As mg/l 0,0017 0,0017 0,05 0,04
9 Pb mg/l 0,0021 0,0021 0,1 0,05
10 Tổng dầu mỡ*** mg/l < 0,3 < 0,3 0,5 0,5
11 Coliform tổng số VK/100ml 9 7 1.000 1.000

Bảng 21: Kết quả quan trắc môi trường nước dưới đất thực hiện ngày 09/5/2025

Stt Tên chỉ tiêu Đ/V tính Kết quả   QCVN 09-MT :2020/BTNMT 
N3 N4
1 pH 7,44 6,41 5,5 – 8,5
2 DO mg/l 3,3 4,6
3 TDS mg/l 131,5 127,2 1.500
4 TSS mg/l 4,2 1,5
5 Độ cứng mg/l 21 23 500
6 Độ đục NTU 7 < 5
7 BOD* mg/l 1,4 1,56
8 COD mg/l 1,90 1,93 4
9 NH4+ mg/l 0,151 0,142 1
10 NO3- mg/l 0,205 0,218 15
11 Hg mg/l 0,0003 0,0003 0,001
12 As mg/l 0,0017 0,0024 0,05
13 Pb mg/l 0,0020 0,0025 0,01
14 Tổng dầu mỡ mg/l < 0,3 < 0,3
15 Coliform tổng số VK/100m 16 7 3

Nhận xét: Kết quả quan trl ắc và phân tích cho thấy: môi trường nước tại vị trí quan trắc đều có chất lượng tương đối tốt, các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam tương ứng.

Nhìn chung, môi trường không khí và nước dưới đất, nước biển ven bờ tại đảo Quan Lạn hiện tại vẫn có chất lượng tương đối tốt, phần lớn các thông số ô nhiễm đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN tương ứng. Một số điểm quan trắc xảy ra hiện tượng ô nhiễm cục bộ tuy nhiên không mang tính đại diện cho cả khu vực.

3.2.2. Đánh giá dựa trên các thành phần chỉ số xã hội-nhân khẩu học

3.2.2.1. Dòng chảy du lịch

Để đánh giá dòng chảy du lịch, tác giả sử dụng các chỉ số sau:

  • Chỉ số mật độ sử dụng tài nguyên đất

Chỉ số sử dụng tài nguyên đất được xây dựng trên cơ sở tổng số du khách và dân địa phương sử dụng một km2 đất trên đảo. Kết quả ở bảng 17 cho thấy, chỉ số số du khách và dân địa phương sử dụng trên 1 km2 đất trên đảo giảm từ năm 2020 đến 2024. Nguyên nhân là do diện tích đất được khai thác để ở và phục vụ hoạt động du lịch trên đảo có xu hướng tăng nhanh qua các năm.

Bảng 22: Mật độ sử dụng tài nguyên đất trên đảo

  2020 2021 2022 2023 2024
Lượng khách du lịch (nghìn người/năm) 51,8 64,1 77,9 98,6 113,8
Dân số trên đảo (người) 4.441 4.489 4.534 4.572 4.626
Diện tích đất trên đảo đang được khai thác để ở và phục vụ hoạt động du lịch (km2) 11,8 12,1 12,5 13,1 13,7
Số du khách và dân địa phương/km2 đất (người/km2) 388 386 380 369 360

Nguồn: Xử lý số liệu thống kê UBND xã Minh Châu, xã Quan Lạn

  • b. Chỉ số bão hoà

Chỉ số này được xác định theo tỉ lệ số du khách trên tổng số dân địa phương. Lượng khách du lịch tăng cao đồng thời sẽ gây ra những tác động tích cực và tiêu cực đến cuộc sống của người dân địa phương như ô nhiễm tiếng ồn, các vấn đề phát sinh nước thải, rác thải, v.v. đồng thời gây ra các khó khăn về năng lực đón du khách của điểm du lịch.

Bảng 23: Tỉ lệ số du khách trên tổng số dân địa phương 

  2020 2021 2022 2023 2024
Lượng khách du lịch (nghìn người/năm) 51,8 64,1 77,9 98,6 113,8
Dân số trên đảo (người) 4.441 4.489 4.534 4.572 4.626
Tỉ lệ số du khách trên tổng số dân địa phương 11,7% 14,3% 17,2% 21,6% 24,6%

Nguồn: Xử lý số liệu thống kê UBND xã Minh Châu, xã Quan Lạn

Nhìn chung, các chỉ số về dòng chảy du lịch đổi với đảo Quan Lạn vẫn đang ở mức thấp, điều đó cho thấy tiềm năng phát triển du lịch tại đảo còn rất lớn về cả nguồn tài nguyên và khả năng đáp ứng của dân cư địa phương.

3.2.2.2. Tỉ lệ lao động làm việc trong ngành du lịch

Số liệu thống kê (2020-2024) cho thấy số lượng lao động trong ngành du lịch trên đảo tăng qua các năm. Năm 2020 là 201 người, đến năm 2024 tăng lên gần gấp đôi là 377 người, chiếm 12,74% so với tổng số lao động trên toàn đảo.

Tuy nhiên, chất lượng lao động nhìn chung còn nhiều hạn chế cả về chuyên môn lẫn nghiệp vụ nên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phục vụ. Mặc dù ngành du lịch đã tạo thêm nhiều việc làm đáng kể cho một bộ phận dân cư, nhưng kết quả khảo sát người dân sống trên đảo cho thấy số lượng người dân lao động toàn phần trong ngành dịch vụ du lịch khá ít. Các công việc của người dân thường mang tính thời vụ, lao động phổ thông, hoặc kết hợp giữa các ngành… Nguyên nhân là do trình độ học vấn của người dân tại đây khá thấp, hơn 50% có trình độ học vấn cấp tiểu học.

Bảng 24: Kết quả tổng hợp số lượng người dân tham gia hoạt động du lịch

Công việc

Đối tượng  tham gia Số lượng (người)
Dịch vụ nhà nghỉ, homestay, nhà hàng, cho thuê xe điện, xe máy Nam, nữ 237
Làm thuê tại các cơ sở kinh doanh nhà hàng, dịch vụ du lịch (phụ bếp, tạp vụ, don dẹp…) Chủ yếu là nữ 67
Phụ hồ, bốc vác tại các công trình xây dựng phát triển dự án du lịch Chủ yếu là nam 39
Các dịch vụ khác như bán tạp hoá, cho thuê phao, ăn uống tại bãi biển, quán nước, ăn sáng, ăn đêm… Nam, nữ 34
Tổng 377
Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động tạo thu nhập từ du lịch/tổng số dân trong độ tuổi lao động = (377/2959)*100% = 12,74%

Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động tạo thu nhập từ du lịch/tổng số dân = 377/4626)*100% = 8,15%

Nguồn: Xử lý số liệu thống kê UBND xã Minh Châu, xã Quan Lạn

3.2.2.3. Các vấn đề tâm lý

  • Đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với các hoạt động dịch vụ du lịch

Hiện nay, khách du lịch đến tham quan nghỉ dưỡng tại đảo Quan Lạn chỉ phải chi trả các chi phí liên quan đến hoạt động di chuyển (tàu cao tốc 140.000vnđ/lượt, tàu gỗ:80.000vnđ/lượt), lưu trú (150.000 – 1.300.000vnđ/phòng tùy cơ sở lưu trú), ăn uống của cá nhân. Ngoài ra, khách du lịch không phải chịu bất cứ một chi phí quản lý nào. Các dịch vụ bãi biển trên đảo Quan Lạn hiện nay khá sơ sài. Du khách chỉ có thể sử dụng một số dịch vụ như thuê sạp và ghế ngồi trên bãi biển (50.000vnđ/ghế; 200.000vnđ/sạp), cưỡi mô tô nước (200.000vnđ/người), thuyền phao (300.000vnđ/lượt/5 người), tắm tráng nước ngọt (10.000 vnđ/người), dịch vụ đốt lửa trại buổi tối với giá 500.000vnđ/lần. Khách du lịch sử dụng các dịch vụ này sẽ trực tiếp chi trả cho chủ cơ sở cung cấp, ngoài ra không phải chịu thêm bất kì một khoản phí nào.

Bảng 25: Khảo sát ý kiến du khách về hoạt động du lịch

  Thang điểm  
1 2 3 4 5
Cảnh quan thiên nhiên đẹp và hấp dẫn 32 14 4 0 0
Sản phẩm du lịch đa dạng, thu hút 3 6 13 17 11
Chất lượng dịch vụ tốt 8 13 19 6 4
Giá cả dịch vụ hợp lý 16 11 17 5 1
Vệ sinh môi trường sạch sẽ 23 14 9 3 1
Anh /chị có thêm hiểu biết và kinh nghiệm mới 7 12 26 3 2
Anh /chị sẽ giới thiệu với bạn bè và người thân đi du lịch đến đây 10 16 15 2 7

(Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả)

(Ghi chú: 1 hoàn toàn đồng ý, 2 đồng ý, 3 bình thường, 4 không đồng ý, 5 hoàn toàn không đồng ý)

Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của du khách cho thấy, nhìn chung du khách có đánh giá tốt đới với cảnh quan và chất lượng môi trường. Tuy vậy, phần lớn du khách chưa hài lòng với số lượng các loại hình dịch vụ du lịch cũng như chất lượng dịch vụ. Do đó, để phát triển ngành du lịch tại đảo Quan Lạn cần quan tâm đặc biệt đến hai tiêu chí này để thu hút khách tham quan hơn nữa

  • Đánh giá mức độ hài lòng/không hài lòng của người dân với sự phát triển của hoạt động du lịch trong thời gian qua

Bảng 26: Thống kê đánh giá tác động của du lịch tới sinh kế của cộng đồng dân cư sống trên đảo Quan Lạn

  Tác động tích cực Không tác động Tác động tiêu cực Tổng
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
Khai thác thuỷ sản 2 10 13 65 5 25 20
Nuôi trồng thuỷ sản 3 15 11 55 6 30 20
Hoạt động khác 27 67,5 13 32,5 0 0 40
Tổng 32   37   11   80

(Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả)

Kết quả từ số liệu điều tra thể hiện ở bảng 21 cho thấy, có 65% đối tượng tham gia phỏng vấn trả lời “Du lịch không tác động” đến nghề khai thác thủy sản và chiếm tỷ lệ lớn nhất, số đối tượng trả lời du lịch có tác động tiêu cực chiếm 25%, và còn lại 10% đối tượng trả lời “Du lịch có tác động tích cực” trong tổng số đối tượng làm nghề khai thác thủy sản.

Đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, 55% đối tượng trả lời “Du lịch không tác động” chiếm tỷ lệ cao nhất, 30% đối tượng trả lời du lịch có tác động tiêu cực tới nghề Nuôi trồng thủy sản và còn lại số đối tượng trả lời “Du lịch có tác động tích cực” chiếm 15%. Bên cạnh đó, không có hộ nào khi được hỏi cho rằng du lịch có tác động tiêu cực đến hoạt động sinh kế khác ngoài khai thác và nuôi trồng thủy sản.

Như vậy, có thể thấy rằng: Du lịch có tác động tới nghề nghiệp của cộng đồng cư dân địa phương. Tuy nhiên, mức độ tác động khác nhau đối với từng nhóm ngành nghề cụ thể, nhóm ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản sẽ chịu tác động tiêu cực từ các hoạt động của du lịch nhiều hơn so với nhóm cư dân sống bằng các ngành nghề khác. Đa số các ngành khác không chịu tác động hoặc chịu các tác động tích cực từ hoạt động phát triển du lịch tới nghề nghiệp hay sinh kế của họ.

Bảng 27: Thống kê tác động của hoạt động du lịch đến đời sống xã hội của người dân

Tác động Có tác động Tỉ lệ(%) Không  tác động Tỉ lệ(%)
Tích cực Tăng thu nhập 38 47,50 42 52,50
Cơ sở hạ tầng phát triển 67 83,75 13 16,25
Tổng 99   61  
Tiêu cực Tệ nạn xã hội 9 11,25 71 88,75
Giá cả tăng 47 58,75 33 41,25
Khó khăn cho nghề truyền thống 11 13,75 69 86,25
Di dời tái định cư 21 26,25 59 73,75
Đời sống xã hội bị ảnh hưởng 17 21,25 63 78,75
Tổng 119   281  

(Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả)

Tác động tích cực: Du lịch có làm tăng thu nhập của người dân địa phương không dường như vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời rõ ràng. Tỷ lệ người dân trả lời có tác động tích cực và không tác động không có sự chênh lệch lớn. Về phát triển cơ sở hạ tầng phần lớn người dân khi được hỏi đều đống ý việc phát triển du lịch đã góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của địa phương.

Tác động tiêu cực: Phần lớn người dân khi được hỏi về tác động của hoạt động du lịch, đều trả lời rằng du lịch không làm gia tăng tệ nạn xã hội và không làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội của người dân địa phương. Khi du lịch phát triển, cư dân sống tại các khu vực này sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn, những việc làm trong ngành du lịch thường đem lại thu nhập cao hơn các ngành nghề truyền thống như khai thác, nuôi trồng thuỷ sản. Bên cạnh đó, du lịch phát triển cũng đem đến sức tiêu thụ lớn hơn với các sản phẩm của địa phương như hải sản tươi sống, các loại sản phẩm chế biến như sá sùng khô, cá khô, nước mắm…

Tuy vậy, hoạt động du lịch phát triển đã làm gia tăng giá cả sinh hoạt của địa phương do đáp ứng nhu cầu cho khách du lịch. Hơn nữa, việc di dời người dân do các hoạt động GPMB phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch đã và đang tác động không nhỏ đến hoạt động sinh kế và tâm lý của người dân địa phương, tuy nhiên do số lượng các dự án liên quan đến du lịch có quy mô lớn ở trên đảo Quan Lạn hiện nay còn ít nên các tác động này tương đối nhỏ.

3.2.3. Đánh giá dựa trên các thành phần chỉ số chính trị-kinh tế

Bảng 28: Các chỉ số sức tải du lịch đo lường thành phần chỉ số chính trị – kinh tế

Các chỉ số sức tải du lịch Kết quả thực tế
Giá đất tại các khu vực phát triển du lịch so với các khu vực không phát triển du lịch trên đảo Giá đất tại các khu vực trong phạm vi bán kính 3km một số bãi biển đang khai thác như bãi Sơn Hào, bãi Minh Châu tăng cao gấp 3 – 4 lần so với các khu vực sâu phía bên trong trung tâm đảo.
Sự đóng góp của ngành du lịch vào tổng GDP (tính theo %) Du lịch đóng góp 6,9% trên tổng GDP của xã Quan Lạn. Ở xã Minh Châu, con số này là 8,1%.
Các công cụ kiểm soát phát triển du lịch UBND địa phương đã ban hành một số quy định về hoạt động quản lý tàu vận tải du lịch, các khu vực nguy hiểm cấm khai thác du lịch, các dịch vụ đi kèm như dịch vụ bãi biển, xe điện…
Cán bộ địa phương có khả năng quản lý các vấn đề do phát triển du lịch Tại cấp cơ sở, các hoạt động du lịch được cán bộ phụ trách Văn hóa Xã hội của Xã kiêm nhiệm quản lý. Các vấn đề liên quan đến đất đai, xây dựng được quản lý bởi cán bộ Địa chính Xây dựng Tại cấp huyện, các hoạt động du lịch được quản lý bởi các cán bộ thuộc phòng Văn hoá thông tin.

(Nguồn: Xử lý số liệu thống kê UBND xã Quan Lạn, xã Minh Châu, kết quả tính toán và khảo sát của tác giả)

Các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch sẽ đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua thuế và từ nguồn ngân sách sẽ được trích lại một phần để cấp kinh phí cho các hoạt động phát triển du lịch như tuyên truyền, xúc tiến du lịch, làm sạch bãi biển… Tuy nhiên, theo khảo sát thực tế của tác giả, hoạt động làm sạch bãi biển hiện nay chưa được thực hiện thường xuyên. Các cơ sở kinh doanh chỉ dọn dẹp khu vực bãi nằm trong phạm vi kinh doanh, dẫn đến một số tại một số khu vực bãi biển dọc đảo còn tập trung nhiều rác thải do sóng biển đánh trôi dạt vào bờ. Hàng năm, chính quyền địa phương đều tổ chức các đợt phát động thu gom rác thải, dọn vệ sinh môi trường biển với sự tham gia của các cán bộ, chiến sỹ, đoàn viên, thanh niên và các cơ quan, đơn vị đóng quân, sinh sống trên địa bàn đảo Quan Lạn tuy nhiên tần suất còn thấp, khoảng 1 tháng/lần.

  • Nhận xét chung:

Như vậy, các kết quả đánh giá cho thấy: Môi trường tự nhiên và cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật trên đảo Quan Lạn hiện trạng có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu phục vụ du lịch của các du khách đến đảo Quan Lạn. Hoạt động phát triển du lịch đem đến những tác động tích cực đến đời sống của người dân trên đảo. Tuy nhiên, cần lưu ý nguyên nhân chủ yếu là do lượng khách du lịch đến đảo hiện nay đang ở mức thấp-trung bình nên các tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch chưa thể hiện rõ nét. Do đó, trong tương lai, với điều kiện lượng khách du lịch tăng cao (gấp khoảng 2-3 lần so với hiện nay) thì vấn đề bảo vệ môi trường du lịch đáp ứng mục tiêu phát triển du lịch bền vững là rất khó khăn.

3.3. Kiến nghị giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực hoạt động du lịch, đảm bảo sức tải môi trường, hướng tới phát triển du lịch bền vững. 

3.3.1. Định hướng phát triển du lịch bền vững đảo Quan Lạn

3.3.1.1. Cơ sở pháp lý

Trong “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Thủ tướng Chính phủ, 2018) và “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn 2050” (Thủ tướng Chính phủ, 2023), đảo Quan Lạn nằm trong quần đảo Vân Hải sẽ phát triển dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch sinh thái, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao gắn với bảo tồn cảnh quan sinh thái, đa dạng sinh học tại khu vực.

Ngày 17/2/2025, Chính phủ đã có quyết định số 266/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Vân Đồn đến năm 2040, theo đó, Vân Đồn được quy hoạch thành khu kinh tế biển đa ngành, đa lĩnh vực, trung tâm công nghiệp giải trí có casino, du lịch biển – đảo cấp cao, dịch vụ tổng hợp; là cửa ngõ giao thương quốc tế, tạo ra những sản phẩm độc đáo, khác biệt, hiện đại chất lượng cao, có thương hiệu và cạnh tranh quốc tế.

3.3.1.2. Định hướng phát triển thị trường

Trong thời gian tới, thị trường khách du lịch mà đảo Quan Lạn cần hướng đến và phát triển như sau:

Bảng 29: Định hướng phát triển thị trường du lịch đảo Quan Lạn

Thị trường Thứ tự ưu tiên Đặc điểm thị trường
Thị trường khách quốc tế Thị trường Đông Bắc Á – Thị trường khách Nhật Bản đi theo tour, có khả năng chi trả cao. Thích tìm hiểu, khám phá thiên nhiên và văn hóa.

– Thị trường khách Hàn Quốc, Trung Quốc đi theo tour, có khả năng chi trả trung bình. Thích vui chơi giải trí.

– Thị trường khách Đài Loan ưa thích vui chơi giải trí. Có khả năng chi trả cao.

 

Thị trường Châu Âu

-Thị trường khách Anh, Pháp, Hà Lan, Đức ưa thích thiên nhiên, nghỉ dưỡng biển, vui chơi giải trí cao cấp. Có khả năng chi trả trung bình cao.

– Thị trường khách Nga ưa thích nghỉ dưỡng biển, thưởng ngoạn biển, vui chơi giải trí cao cấp. Có khả năng chi trả cao, và nghỉ dài ngày

Thị trường Bắc Mỹ Th ị trường khách Mỹ có phân khúc chính gồm khách Mỹ và Canadai thường ưa thích khám phá, trải nghiệm thiên nhiên. Thường đi du lịch theo dạng tự do. Có khả năng chi trả trung bình cao.
Thị trường Châu Úc: Thị trường châu Úc gồm phân khúc Úc và New Zealand ưa thích thiên nhiên, khám phá, trải nghiệm. Thường đi du lịch theo dạng tự do. Có khả năng chi trả trung bình cao.
Thị trường Đông Nam Á Th ị trường khách Thái Lan, Singapore, Malaysia ưa thích khám phá, vui chơi giải trí. Thường đi du lịch theo tour hoặc đi cùng gia đình. Có khả năng chi trả trung bình cao.
Thị trường khách nội địa Thị trường khách từ Hà Nội – Khách đi nghỉ hè cùng gia đình, có khả năng chi trả trung bình cao và cao. Lưu trú dài ngày.

– Khách đi cùng nhóm bạn bè tham quan thiên nhiên, vui chơi giải trí. Có khả năng chi trả trung bình cao. Đi cuối tuần.

– Khách kết hợp tham quan Vịnh Hạ Long kết hợp Bái Tử Long.

Khách đi cùng gia đình hoặc bạn bè

Thị trường khách từ các tỉnh phía Bắc khác: – Thị trường khách từ các tỉnh lân cận đi nghỉ cuối tuần, chủ yếu vui chơi giải trí.

– Thị trường khách đi theo đoàn tham quan, nghỉ dưỡng. Có khả năng chi trả trung bình.

– Thị trường khách đi theo đoàn, chủ yếu tham quan, khám phá, vui chơi giải trí.

Thị trường khách từ các tỉnh phía Nam – Khách kết hợp tham quan Vịnh Hạ Long kết hợp Bái Tử Long

Có khả năng chi trả trung bình cao. Đi cùng gia đình hoặc bạn bè – Thị trường khách kết hợp du lịch Hà Nội hoặc tỉnh phía bắc khác.

Đi cùng gia đình hoặc bạn bè.

3.3.1.3. Định hướng phát triển sản phẩm du lịch

Các sản phẩm du lịch phải hướng tới các phân khúc thị trường cụ thể nhằm tăng khả năng tiếp cận thị trường, tạo ra giá trị và mang lại hiệu quả kinh tế. Phát triển sản phẩm du lịch gắn kết với các khu vực trọng điểm phát triển du lịch đã xác định trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Yên Tử, Hạ Long, Móng Cái, Cô Tô dựa trên những nguyên tắc như hiệu quả kinh tế của sản phẩm, sự đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường, bảo tồn và tôn vinh giá trị các tài nguyên, bảo vệ môi trường và đặc biệt là khai thác thế mạnh về điều kiện thiên nhiên, văn hóa, lịch sử… để tạo nên các sản phẩm du lịch đặc thù, đặc trưng của Vân Đồn. Trong đó Chương trình thương hiệu OCOP (One Community One Product – mỗi xã phường một sản phẩm) sẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc phát triển các sản phẩm đặc trưng của từng địa phương.

Bảng 30: Định hướng phát triển sản phẩm du lịch đảo Quan Lạn

Sản phẩm Loại hình Tiềm năng và cơ sở phát triển Nội dung khai thác và thị trường phục vụ
  Du lịch biển – Quan Lạn có nhiều bãi biển gắn liền với phong cảnh đẹp – Đây là loại hình du lịch phổ biến ở các khu vực biển, đảo hiện nay – Nghỉ dưỡng biển theo mô hình resort. Đối tượng phục vụ chủ yếu là các khách du lịch cao cấp – Các ho ạt động giải trí bao gồm tắm biển, câu các, câu mực, du thuyền…

– Thị trường khách hướng tới phục vụ chủ yếu là châu Âu, Hà Nội, các tỉnh miền Nam…

 

Du lịch cộng đồng

– Người dân đảo Quan Lạn thân thiện, mến khách

– Đây là loại hình du lịch mới bắt đầu được khai thác tại Quan Lạn và có tiềm năng phát triển mạnh trong thời gian tới

– Khách du lịch sẽ trải nghiệm “cùng ăn, cùng ở, cùng du lịch” với người dân bản địa, trải nghiệm cùng ngư dân khai thác thủy sản như câu mực, câu cá, cào ngao…

– Thị trường khách hướng tới phục vụ chủ yếu là châu Âu, Đông Bắc Á, châu Úc, Hà Nội…

Du lịch văn hóa

Có nhiều di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống gắn liền với các sự kiện lịch sử của dân tộc – Tham quan các di tích lịch sử văn hóa, tìm hiểu về lịch sử chống giặc ngoại xâm

– Du lịch lễ hội: Khai thác lễ hội Quan Lạn truyền thống của địa phương: hội đua thuyền, lễ rước, trò chơi dân gian…

– Thị trường khách hướng tới phục vụ chủ yếu là Đông Bắc Á, Hà Nội…

Du lịch sinh thái Có phong cảnh đẹp gắn với các hệ sinh thái đặc trưng – Tham quan tìm hiểu hệ sinh thái rừng trâm và tuyến đi bộ dã ngoại trải nghiệm có hệ thống diễn giải tại rừng trâm – bãi Chương Nẹp

– Hoạt động xem rùa đẻ trứng tại bãi Rùa

– Thị trường khách hướng tới phục vụ chủ yếu là Đông Bắc Á, châu Âu, Bắc Mỹ, Hà Nội và các tỉnh miền Bắc khác…

Sản phẩm

bổ trợ

Mua sắm, thưởng thức ẩm thực Có nhiều sản vật địa phương từ biển – Thưởng thức các món ăn đặc sản biển như mực, ruốc, tôm, cua, ghẹ, bào ngư, bề bề, sá sùng…
  – Mua các loại thủy sản đông lạnh hoặc đã qua chế biến như, tôm khô, ruốc tôm, ruốc bề bề, sá sùng khô…

3.3.1.3. Định hướng phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

Môi trường đóng vai trò quyết định trong việc phát triển du lịch theo hướng bền vững, do đó định hướng quy hoạch du lịch cần gắn với ưu tiên bảo vệ môi trường, góp phần tạo cảnh quan, cải thiện khí hậu khu vực và hướng đến một nền du lịch xanh – bền vững.

  • Nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện từng bước các cơ chế chính sách nhằm giảm thiểu tác động của hoạt động du lịch đến môi trường cũng như bảo vệ môi trường cho phát triển du lịch.
  • Xây dựng các khu du lịch sinh thái và các sản phẩm du lịch hấp dẫn, thân thiện môi trường
  • Đầu tư hệ thống thu gom và công trình xử lý nước thải tập trung trên đảo Quan Lạn.

3.3.2. Đề xuất giải pháp khả thi cho phát triển du lịch bền vững đảo Quan Lạn

3.3.2.1. Nhóm giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững dưới góc độ môi trường

  • Tổ chức, quản lý hiệu quả các hoạt động du lịch

Tăng cường vai trò và năng lực quản lý nhà nước về du lịch của Phòng Văn hóa thông tin, Phòng Tài nguyên môi trường huyện Vân Đồn để phối hợp và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên môi trường và phát triển du lịch.

Cần có quy hoạch phát triển du lịch chi tiết để khảo sát tiềm năng, tiến hành quy hoạch và liên kết các tuyến, điểm du lịch một cách hệ thống và thiết kế cơ sở hạ tầng phù hợp dể không hạn chế thấp nhất các ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch. Quản lý tốt việc cấp phép xây dựng, kinh doanh các cơ sở lưu trú, nhà hàng để đảm bảo không phá vỡ cảnh quan, bảo vệ môi trường.

  • Khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường trong phát triển du lịch

Phòng Văn hóa thông tin phối hợp với các ngành chức năng điều tra, kiểm kê tài nguyên du lịch trên toàn địa bàn đảo Quan Lạn làm căn cứ xây dựng kế hoạch khai thác sử dụng tài nguyên du lịch có hiệu quả, đảm bảo khả năng phục hồi tự nhiên của tài nguyên đáp ứng nhu cầu sử dụng lâu dài.

Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên du lịch chưa được quy hoạch hoặc trái với quy hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Ban hành quy chế, quy định để đảm bảo sao cho mọi hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên môi trường du lịch phục vụ mục đích kinh doanh phải có trách nhiệm đóng góp vật chất cho công tác bảo vệ, tôn tạo phát triển tài nguyên.

  • Bảo tồn và tôn tạo phát triển tài nguyên môi trường trong phát triển du lịch

Xây dựng và ban hành quy chế quy định việc sử dụng một phần doanh thu du lịch đầu tư cho công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích. Từng bước khuyến khích sự đóng góp của du khách trong công tác bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường thông qua phí tham quan đảo, mức phí đề xuất bước đầu trong khoảng 30.000 – 50.000 vnđ/khách.

Xây dựng nội quy, quy chế bảo vệ môi trường du lịch và tuyên truyền đến người dân, khách du lịch. Thành lập đội vệ sinh môi trường làm nhiệm vụ thu dọn rác thải tại các điểm du lịch và bở biển đảm bảo môi trường luôn sạch đẹp. Thành lập đội quản lý an ninh trật tự nhằm giữ gìn an ninh trật tự, hướng dẫn và hỗ trợ du khách. Thành lập đội cứu hộ nhằm hỗ trợ du khách tại các bãi tắm công cộng.

  • Cung ứng nước sinh hoạt và đầu tư các công trình xử lý chất thải

Sớm hoàn thiện và đưa vào sử dụng Nhà máy cấp nước và hệ thống phân phối nước sạch sinh hoạt đảo Quan Lạn, hạn chế việc khai thác nước ngầm tự phát. Hiện nay, hạng mục hồ chứa nước Lòng Dinh dung tích 1,126 triệu m3 và tuyến ống phân phối nước đã thi công xong, tuy nhiên do hạng mục nhà máy xử lý nước vẫn chưa được chủ đầu tư hoàn thiện nên hệ thống cấp nước vẫn chưa được đưa vào sử dụng.

Nâng cao năng lực thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt; đẩu tư cải tiến lò đốt rác thải sinh hoạt bằng các công nghệ mới giúp đưa nhiệt độ đốt rác đạt quy chuẩn đảm bảo đốt rác triệt để mà không phát sinh các khí độc hại như furan, dioxin.

Đầu tư các trạm xử lý nước thải tại đảo theo Quy hoạch phân khu chức năng tỷ lệ 1/2000 đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt. Đối với các dự án xây mới quy mô lớn, yêu cầu bắt buộc đầu tư công trình xử lý nước thải sinh hoạt riêng theo từng dự án trước khi cấp phép xây dựng và hoạt động

3.3.2.2. Nhóm giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững dưới góc độ kinh tế

  • Xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch

Xác định một số sản phẩm du lịch đặc trưng của đảo Quan Lạn, từng bước chuyên môn hóa các lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch. Với những lợi thế của mình, Quan Lạn cần tập trung xây dựng một số sản phẩm du lịch trọng tâm gắn với tiềm năng du lịch biển, trong đó chú trọng các loại hình du lịch như du lịch nghỉ dưỡng trên bờ biển, các hoạt động du lịch khám phá trải nghiệm, du lịch cộng đồng. Thành lập các đội câu cá, câu mực ven đảo: Hướng dẫn khách du lịch câu cá, câu mực giải trí nhằm kéo dài thời gian lưu lại của du khách, ngoài ra còn hướng dẫn khách tham gia cào ngao, cào sá sùng tại các bãi triều ven đảo.

Bên cạnh đó,  lựa chọn đào tạo và triển khai lực lượng thuyết minh viên du lịch, các hệ  thống cung cấp thông tin diễn giải cho khách tham quan đối với các sản phẩm du lịch tham quan di tích lịch sử, du lịch sinh thái.

  • Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch

Tổ chức quản lý thông tin xúc tiến quảng bá về Quan Lạn nói riêng và Vân Đồn một cách thống nhất trong tổng thể các thông tin chung về du lịch Quảng Ninh. Trung tâm xúc tiến du lịch Quảng Ninh đóng vai trò là cơ quan chủ quản điều hành quản lí và kết nối thông tin, tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, liên kết, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị, xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch dùng chung, kiểm tra giám sát thông tin tuyên truyền, quảng bá của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh.

Sản xuất các loại tài liệu, ấn phẩm, vật phẩm phục vụ xúc tiến quảng bá thương hiệu du lịch. Trong giai đoạn đầu, các tài liệu, ấn phẩm cần được thực hiện trên tiếng Việt, tiếng Anh. Trong các giai đoạn sau có thể mở rộng thêm tiếng Trung, tiếng Hàn và tiếng Nhật. Trên cơ sở các giá trị cốt lõi thương hiệu, các định hướng phát triển thu hút thị  trường, định hướng về xúc tiến quảng bá để yêu cầu đơn vị tư vấn thiết kế hệ thống vật phẩm, ấn phẩm phù hợp.

Nghiên cứu xây dựng website phục vụ du lịch đảo Quan Lạn với thông tin chi tiết, có đầy đủ các ấn phẩm xúc tiến bản điện tử, được cập nhật thường xuyên và có khả năng tương tác với thị trường. Tạo liên kết giữa website du lịch đảo Quan Lạn với website Tổng cục Du lịch Việt Nam https://www.vietnamtourism hoặc website Du lịch Quảng Ninh https://www.dulich.quangninh. Ngoài ra có thể mua vị trí đặt banner của ngành du lịch đảo Quan Lạn trên một số trang báo điện tử có nhiều người truy cập. Từng bước tạo tên hình ảnh đảo du lịch văn minh từ cách ứng xử của cán bộ, công chức, người dân trên đảo như cách mà một số địa phương khác đã thực hiện được, điển hình ở Cù Lao Chàm.

Liên kết với các công ty lữ hành ở Vân Đồn, Móng Cái, Hạ Long, Cát Bà để nối và ghép tour, cùng xúc tiến, quảng bá hình ảnh sản phẩm du lịch đảo Quan Lạn.

  • Xây dựng bộ nhận diện thương hiệu điểm đến du lịch

Thiết kế biểu trưng (logo) và khẩu hiệu (slogan) cho du lịch Quan Lạn theo dạng độc lập hoặc phối hợp với các điểm du lịch khác có tính chất tương tự của huyện Vân Đồn như Ngọc Vừng, Bản Sen.

  • Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phát triển nhân lực du lịch: Đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nhân viên trong các cơ quan quản lý nhà nước. Xây dựng đề án đào tạo lao động cho phát triển du lịch trên cơ sở mục tiêu phát triển và thực trạng lao động du lịch tại địa phương.

Đào tạo lao động làm việc trực tiếp trong ngành du lịch: Tổ chức đánh giá thực trạng đội ngũ lao động du lịch về cả số lượng và chất lượng, căn cứ yêu cầu phát triển để có kế hoạch đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ lao động. Tập trung mở các khóa đào tạo nghề khách sạn, lữ hành và ngoại ngữ cho đội ngũ hướng dẫn viên và lao động trực tiếp với hình thức ngắn hạn. Cho phép huy động các doanh nghiệp có dự án du lịch đóng góp vào quỹ đào tạo và trích ngân sách hằng năm hỗ trợ lao động đào tạo ngắn hạn các nghề của du lịch. Khuyến khích và có cơ chế ràng buộc các doanh nghiệp phải đào tạo lao động tại chỗ khi triển khai các dự án du lịch trên địa bàn. Tranh thủ sự hỗ trợ của Tỉnh và từ các dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch của Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch cũng như các tổ chức, dự án quốc tế trong công tác đào tạo nhân lực.

Nâng cao nhận thức về phát triển du lịch cho cộng đồng địa phương: tập trung cho các hoạt động nâng cao nhận thức như hiểu biết về giá trị của tài nguyên và môi trường, các kiến thức pháp luật có liên quan… Hỗ trợ nâng cao nghiệp vụ và tổ chức quản lý kinh doanh du lịch cho các cộng đồng có khả năng tham gia vào hoạt động du lịch

  • Đầu tư phát triển du lịch

Để hoạt động đầu tư vào ngành du lịch đạt hiệu quả lâu dài cần mở rộng hơn nữa khả năng thu hút các nguồn vốn phát triển du lịch, trong đó cần chủ động công tác xúc tiến đầu tư với nhiều hình thức khác nhau, trong đó chú trọng hình thức trực tiếp liên hệ, tiếp xúc với các đối tác, các doanh nghiệp để giới thiệu điều kiện, môi trường đầu tư. Chú trọng việc chuẩn bị mặt bằng và các cơ sở hạ tầng khác cho các dự  án đang xúc tiến cũng như việc giải quyết các vướng mắc, khó khăn, tạo thuận lợi cho hoạt động của các dự án đầu tư.

Tranh thủ  các nguồn vốn từ Trung ương, các tổ  chức phi chính phủ (NGO) về phát triển cộng đồng, các tổ chức quốc tế như UNICEF, JICA, FAO, các ngân hàng quốc tế WB, ADB, UNCN… về các chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm gắn liền với phát triển du lịch, chương trình du lịch cộng đồng, chương trình phát triển nông thôn, chương trình nâng cao năng lực tay nghề và bảo vệ môi trường, chương trình bảo tồn giá trị di sản…

3.3.2.3. Nhóm giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững dưới góc độ xã hội

  • Gia tăng sự hiểu biết về phát triển du lịch bền vững cho cộng đồng

Cung cấp kiến thức, thông tin về phát triển du lịch bền vững cho các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh du lịch cũng như cộng đồng địa phương. Điều này có thể được thực hiện thông qua các khóa học, các khóa đào tạo và các hội thảo chuyên đề hay tổ chức các buổi hướng dẫn trực tiếp để các cá nhân, tổ chức có liên quan có hiểu biết đầy đủ và điều chỉnh hành vi của mình nhằm hướng đến ngành du lịch phát triển bền vững trên đảo Quan Lạn.

  • Tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch

Đảm bảo sự tham gia tích cực của cộng đồng vào hoạt động du lịch nhằm bù đắp những thiệt thòi mà cộng đồng có thể phải chịu đựng trong khi phát triển các dự án du lịch, đồng thời để giảm áp lực tác động của cộng đồng đối với tài nguyên môi trường, tạo cho cộng đồng cơ hội tham gia một cách tích cực vào các hoạt động du lịch. Bên cạnh đó, cần khuyến khích cộng đồng phát huy các giá trị văn hóa truyền thống để phục vụ khách du lịch. Đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng và giám sát thực hiện quy hoạch phát triển du lịch.

  • Xây dựng mô hình phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững

Nguyên tắc thực hiện mô hình du lịch cộng đồng: Cộng đồng địa phương là chủ thể điều hành hoạt động du lịch và trực tiếp được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch. Cộng đồng và các bên liên quan cùng du khách có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch. Các sản phẩm du lịch được phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, khả năng đáp ứng của tài nguyên du lịch, không ảnh hưởng tiêu cực đến văn hóa bản địa.

Thành phần tham gia: Cộng đồng, đặc biệt là các hộ gia đình/người dân có mong muốn và điều kiện tham gia dịch vụ du lịch và các tổ chức xã hội bầu ra Ban Quản lý du lịch cộng đồng, đại diện cho cộng đồng là chủ thể của mô hình đứng ra tổ chức cung cấp các sản phẩm, dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách khi đến du lịch đảo Quan Lạn. Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, UBND và Phòng Văn hóa thông tin huyện Vân Đồn, các doanh nghiệp và tổ chức khác là các bên liên quan tham gia hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng.

Hình 15: Mô hình du lịch cộng đồng đề xuất tại đảo Quan Lạn

3.3.2.4. Một số giải pháp khác

  • Hạn chế tính mùa vụ của du lịch đảo

Đẩy mạnh phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, tăng thêm các dịch vụ bổ sung như dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao, chăm sóc sức khỏe để thu hút du khách vào những thời điểm không phải mùa chính của du lịch đảo

  • Ứng phó với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng

Duy tu, bảo dưỡng định kỳ hệ thống đê phòng hộ Quan Lạn hiện có. Mở rộng diện tích và chăm sóc rừng ngập mặn ngoài đê nhằm phòng chống thiên tai, bảo vệ đê, ngăn xâm nhập mặn. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phù hợp với đặc điểm tự nhiên của đảo. Độ cao xây dựng các công trình cần phải lớn hơn tổ hơp mức đỉnh triều + mực nước dâng trong bão + mực nước biển dâng dự báo.

Tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức, năng lực ứng phó với bão, biến đổi khí hậu cho các bộ quản lý, nhân viên các cơ sở kinh doanh du lịch và người dân về các phương thức và phương án giảm nhẹ thiên tai, tăng cường năng lực quản lý tổng hợp vùng bờ một cách có hiệu quả.

  • Hoàn thiện hệ thống chính sách

Bổ sung và hoàn thiện một số cơ chế chính sách từ các cấp có thẩm quyền của huyện Vân Đồn và tỉnh Quảng Ninh đối với phát triển du lịch bền vững đảo Quan Lạn:

Chính sách ưu tiên miễn giảm hoặc không thu thuế trong thời gian nhất định với các hình thức đầu tư thuần tuý cho việc bảo vệ môi trường du lịch hoặc đầu tư kinh doanh du lịch với các công nghệ đồng bộ về bảo vệ môi trường.

Chính sách ưu tiên các dự án đầu tư du lịch có các giải pháp cụ thể trong vấn đề giảm thiểu ô nhiễm, mang lại các hiệu quả trực tiếp cho bảo tồn tài nguyên và môi trường;

Chính sách khuyến khích các dự án phát triển du lịch ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm triển khai các giải pháp ứng phó của ngành du lịch với tác động của biến đổi khí hậu và nhất là mực nước biển dâng; khuyến khích ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng, nước sạch và tái sử dụng chất thải trong các cơ sở dịch vụ du lịch.

Chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển các loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, đặc biệt là du lịch sinh thái.

Chính sách khuyến khích đối với các dự án phát triển du lịch có những cam kết cụ thể về bảo vệ, tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên, môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết luận

  1. Đề tài luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đánh giá sức tải nói chung và đánh giá sức tải môi trường du lịch nói riêng; cũng như các nghiên cứu về đánh giá sức tải phục vụ phát triển dụ lịch dựa trên các yếu cơ bản là kinh tế, xã hội và môi trường.
  2. Để đánh giá sức tải môi trường du lịch ở một điểm đến du lịch có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng để và cần được nghiên cứu, kết hợp sử dụng để đưa ra kết quả.
  3. Đề tài luận văn đã tổng hợp và lựa chọn được bộ chỉ tiêu đánh giá sức tải môi trường du lịch áp dụng cho trường hợp đảo Quan Lạn bao gồm: các chỉ tiêu thành phần tự nhiên – sinh thái, các chỉ tiêu thành phần nhân khẩu – xã hội học, các chỉ tiêu thành phần kinh tế – chính trị.

Sử dụng Bộ chỉ tiêu này để đánh giá sức tải môi trường du lịch đảo Quan Lạn cho thấy: Hoạt động du lịch ở đảo Quan Lạn đang ở trong những bước đầu phát triển, Quan Lạn vẫn còn khả năng đáp ứng cho các nhu cầu phát triển du lịch tuy nhiên hiện nay hoạt động du lịch đảo Quan Lạn vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố kém bền vững và cần được khắc phục để đảm bảo mục tiêu phát triển du lịch bền vững.

  1. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, đã đề xuất được định hướng và giải pháp nhằm khai thác hợp lý các tài nguyên du lịch và phát triển ngành du lịch đảo Quan Lạn phù hợp với điều kiện thực tế và có tính khả thi cao.

Hạn chế của đề tài và khuyến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo

Đề tài luận văn “Đánh giá sức tải môi trường du lịch đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” không hướng đến mục tiêu tìm giá trị ngưỡng, mà tập trung đánh giá thực trạng hoạt động phát triển du lịch sinh thái dựa trên các tiêu chí đo lường sức tải du lịch, và so sánh với các tiêu chuẩn đã và đang áp dụng hiện nay trên thế giới và Việt Nam. Đề tài có sự liên quan đến nhiều lĩnh vực và áp dụng cho một địa điểm cụ thể là đảo Quan Lạn nên có tính nhạy cảm cao. Do đó, đề tài luận văn không thể tránh được có những hạn chế, cụ thể:

  • Do thiếu dữ liệu và các văn bản quy chế ban hành còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên một số chỉ tiêu thành phần của sức tải du lịch chưa xác định được và rất khó tính toán.
  • Khái niệm sức tải du lịch là một khái niệm động và thay đổi theo thời gian. Hơn nữa, sức tải du lịch chịu tác động của nhiều yếu tố, tự nhiên-sinh thái, xã hội, kinh tế chính trị nên rất khó để có thể đưa ra một con số chính xác về số lượng du khách cố định cho địa bàn đảo Quan Lạn.
  • Hiện tại, các công thức sức tải mới chỉ được xây dựng để tính toán cho từng loại hoạt động du lịch tại một khu vực nào đó chứ chưa có một công thức nào để tính toán sức tải cho nhiều dạng hoạt động du lịch diễn ra cùng lúc. Thật khó có thể áp dụng tất cả các tiêu chuẩn về sức tải trên thế giới cho các vùng du lịch ven biển Việt Nam vì tính chất, đặc trưng của mỗi nơi khác nhau. Tuy nhiên, những tiêu chuẩn nêu ra trên đây có thể giúp các nhà quy hoạch và quản lí du lịch sử dụng để đánh giá được sức tải du lịch trong quá trình khai thác và phát triển du lịch biển, đảo.

Các hướng nghiên cứu có thể mở rộng, phát triển sâu hơn bao gồm: (i) Mở rộng giới hạn nghiên cứu để thấy được hiện trạng phát triển du lịch của đảo Quan Lạn trong mối quan hệ với những điểm đến du lịch đảo khách có điều kiện tương đồng; (ii) Nghiên cứu tính bền vững của hoạt động du lịch đảo Quan Lạn.

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537