Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực tiễn thi hành pháp luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Kết quả thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh

Trong những năm qua, số lượng các Bản án kinh doanh thương mại đã tăng lên đáng kể. Việc xử lý, bán tài sản để thi hành án cũng bị ảnh hưởng, nhất là đối với tài sản là bất động sản. Vì vậy, các vụ việc thi hành án các Bản án kinh doanh thương mại thường phải kéo dài. Điều đáng quan ngại là số việc và giá trị chưa có điều kiện thi hành ngày càng tăng nhiều, chứng tỏ việc thi hành án đối với các Bản án kinh doanh thương mại có nhiều trở ngại.

Bảng: Kết quả thi hành án kinh doanh thương mại từ năm 2018 đến năm 2022

NĂM THỐNG KÊ KẾT QUẢ thi hành án KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO VIỆC THỐNG KÊ KẾT QUẢ thi hành án KINH DOANH THƯƠNG MẠI THEO GIÁ TRỊ (1.000.000 đồng)
Tổng số việc phải thi hành Số việc có điều kiện thi hành Số việc đã giải quyết xong Tổng số tiền phải thu Số tiền có điều kiện giải quyết Tổng số đã giải quyết
2018 9440 5223 3174 23.784.640 9.705.974 3.941.484
2019 9824 5199 2851 21.420.929 10.563.773 3.978.842
2020 8580 4182 2843 16.377.013 8.935.320 2.666.100
2021 8759 4438 2227 18.011.547 10.873.262 2.453.366
2022 8531 3850 2385 18.645.572 7.611.537 4.274.640

Nguồn: Cục thi hành án dân sự TP.HCM Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Số liệu thống kê cho thấy, số lượng việc và giá trị phải thi hành án tại Thành phố Hồ Chí Minh rất lớn. Đặc biệt những năm gần đây, đã xảy ra nhiều vụ việc rất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về tài sản của nhà nước, doanh nghiệp và công dân, đặt ra cho cơ quan thi hành án dân sự Thành phố những nhiệm vụ rất nặng nề. Xin nêu một số vụ việc cụ thể:

  • Vụ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mai Khôi: Tổng số tiền phải thu 601 tỷ đồng.

Số tài sản kê biên xử lý 01 bất động sản.

  • Vụ ALC II – Vũ Quốc Hảo: Tổng số tiền phải thu 539 tỷ đồng. Số tài sản kê biên xử lý 07 danh mục, trong đó 04 danh mục bất động sản.

Bảng: Kết quả thi hành án dân sự từ năm 2018 đến 2022

NĂM THỐNG KÊ KẾT QUẢ thi hành án DÂN SỰ THEO VIỆC THỐNG KÊ KẾT QUẢ thi hành án DÂN SỰ THEO GIÁ TRỊ (1.000.000 đồng)
Tổng số việc phải thi hành Số việc có điều kiện thi hành Số việc đã giải quyết xong Tổng số tiền phải thu Số tiền có điều kiện giải quyết Tổng số đã giải quyết
2018 111.138 84.472 66.170 69.276.159 24.218.917 10.641.693
2019 112.707 84.423 63.936 106.042.767 68.146.257 23.916.676
2020 102.873 72.017 58.562 112.513.698 55.895.177 21.392.809
2021 88.124 58.284 35.264 107.907.920 56.555.432 13.083.683
2022 96.759 63.699 51.961 126.054.218 66.297.248 28.237.897

Nguồn: Cục thi hành án dân sự TP.HCM Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Biểu đồ tổng số việc và tiền thụ lý và tổng số việc và tiền thụ lý (án kinh doanh thương mại) giai đoạn 2018-2022 tại Cục thi hành án dân sự TP.HCM.

Từ năm 2018 đến 2022 , trung bình mỗi năm các cơ quan thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý trên 102.320 việc với số tiền 104.358.952 tỷ đồng. Trong đó vụ việc kinh doanh thương mại là  9.027 việc với số tiền là 19.647.940 tỷ đồng.

So với 62 tỉnh, thành phố khác trong cả nước, công tác thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh luôn có tổng số thụ lý phải thi hành về việc và về tiền lớn nhất (số việc thường chiếm khoảng 1/9 và số tiền thường chiếm hơn 1/3 trong tổng số phải thụ lý chung của cả nước). Những năm trở lại đây, nền kinh tế đất nước chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, dịch bệnh covid-19 xảy ra nghiêm trọng đã dẫn đến các tranh chấp trong quan hệ giao dịch dân sự và thương mại tăng lên nhiều với giá trị bồi thường, hoàn trả ngày càng lớn, đã tác động rất lớn đến công tác thi hành án dân sự của cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đối với Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

THADS là hoạt động của Nhà nước nhằm mục đích đưa BA, QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế, hiệu quả của hoạt động thi hành án dân sự tác động đến lòng tin của người dân đối với pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, không phải BA, QĐ có hiệu lực nào cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi, vì vậy, cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để buộc các chủ thể thực hiện nghĩa vụ. Cưỡng chế thi hành án dân sự thường diễn ra trong công tác thi hành án dân sự. Thực tiễn cho thấy, đối với những vụ việc có giá trị lớn, người phải thi hành án hầu như không tự nguyện thi hành, buộc cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức cưỡng chế theo quy định của pháp luật, song nếu tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự không đúng, không thành công sẽ gây ra nhiều hậu quả đối với xã hội. Mặc dù hành lang pháp lý về công tác thi hành án dân sự nói chung và cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng đã tương đối hoàn thiện, rõ ràng, nhưng việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong thực tế vẫn còn gặp không ít khó khăn, bất cập.

  • Cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản

Có thể nói, nếu biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án được thực hiện một cách thuận lợi với sự phối hợp chặt chẽ và tích cực từ phía ngân hàng, các tổ chức tín dụng nơi doanh nghiệp mở và có tiền trong tài khoản thì đây là một biện pháp cưỡng chế được các CHV “ưa thích” vì thời gian thực hiện nhanh chóng, thủ tục đơn giản, không phải huy động nhiều lực lượng thi hành án gia cưỡng chế. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án của doanh nghiệp trong các BA kinh doanh, thương mại nói riêng và người phải thi hành án nói chung cũng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất, rất khó để phát hiện ra tài khoản đang có tiền của doanh nghiệp phải thi hành án.

Hầu hết những tài khoản mà CHV xác minh được thông qua nội dung BA, giấy phép đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan Thuế thì đều không còn tiền hoặc chỉ còn số dư đủ với số tiền để duy trì tài khoản theo quy định của tổ chức tín dụng. Mặt khác, hiện nay do cơ chế thị trường nên việc mở tài khoản (cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội…) với thủ tục rất đơn giản, một doanh nghiệp có thể mở nhiều tài khoản ở nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng khác nhau, mà không có một cơ quan, tổ chức nào có thể thống kê và quản lý hết tất cả các tài khoản của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức… để cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải thi hành án thường không sử dụng các tài khoản cũ nữa mà mở các tài khoản mới để hoạt động, thậm chí không ít doanh nghiệp khi thực hiện một hợp đồng kinh tế thì mở một tài khoản và khi thi hành án lý hợp đồng thì họ không sử dụng tài khoản đó nữa, việc phát hiện ra tài khoản mới này là cự kì khó cho người được thi hành án và cơ quan thi hành án dân sự.

Rất ít trường hợp CHV chủ động xác minh được tài khoản mới của doanh nghiệp phải thi hành án thông qua các ngân hàng, tổ chức tín dụng và cơ quan nhà nước như cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế. Các cơ quan thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu dựa vào các thông tin do người được thi hành án (thường là các doanh nghiệp) cung cấp về tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án để tiến hành xác minh, phong tỏa tài khoản và khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án. Trước khi tranh chấp xảy ra, người được thi hành án và doanh nghiệp phải thi hành án thường là “đối tác”, thậm chí rất hiểu nhau nên người được thi hành án thuận lợi hơn cơ quan thi hành án dân sự trong việc phát hiện ra tài khoản hiện tại của doanh nghiệp phải thi hành án.

Biện pháp cưỡng chế thi hành án khấu trừ tiền trong tài khoản được áp dụng với tỷ lệ thành công cao trong trường hợp qua xác minh cơ quan thi hành án dân sự biết trước được doanh nghiệp phải thi hành án sắp được nhận một số tiền (do được thi hành án toán theo tiến độ thực hiện dự án với chủ đầu tư, được thi hành án toán tiền bán hàng…) sẽ chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp này tại một ngân hàng, tổ chức tín dụng nào đó. Khi đó, cơ quan thi hành án dân sự tiến hành phong tỏa tài khoản đó trước khi nguồn tiền về và khi có nguồn tiền về đến tài khoản đã được phong tỏa thì CHV ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của doanh nghiệp để thi hành án.

Thứ hai, ngân hàng, các tổ chức tín dụng không phối hợp hoặc phối hợp không tốt với cơ quan thi hành án dân sự trong việc trả lời xác minh, phong tỏa tài khoản, khấu trừ tiền trong tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án.

Luật thi hành án dân sự Điều 176 có quy định: “trách nhiệm của Kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong thi hành án dân sự, theo đó phải cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về tài khoản của người phải thi hành án theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự và phải thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời các yêu cầu của CHV về phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản, khấu trừ tiền trong tài khoản, giải tỏa việc phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản của người phải thi hành án, đồng thời phải thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định”.

Tuy nhiên, trên thực tế không ít các ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện không tốt trách nhiệm của mình. Điều này có thể lý giải được là do mục đích muốn mang lợi nhuận về phía mình nên họ thường bảo vệ khách hàng trong mọi trường hợp có thể. Quan hệ giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng với khách hàng trong đó có các doanh nghiệp là quan hệ “máu – thịt” đối với các ngân hàng, tổ chức tín dụng, trong khi đó mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với ngân hàng, tổ chức tín dụng chỉ là quan hệ phối kết hợp. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Theo quy định tại “Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2014//TTLT-BTP-BTC- BLĐTBXH-NHNNVN thì thời hạn cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án là không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền, chỉ trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thì việc cung cấp thông tin được thực hiện ngay sau khi nhận được yêu cầu”. Ngoài ra Điều 9 còn quy định căn cứ văn bản cung cấp thông tin, CHV ra quyết định phong tỏa tài khoản, quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án. Như vậy thì theo “Thông tư liên tịch số 02/2014//TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN” thì phải sau khi có thông tin về tài khoản của người phải thi hành án thì CHV mới được ra quyết định phong tỏa tài khoản, khấu trừ tiền trong tài khoản. Thông tư liên tịch này không quy định trách nhiệm rất quan trọng của ngân hàng, tổ chức tín dụng là kể từ thời điểm nhận được ăn bản yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan thi hành án dân sự thì các tổ chức tín đụng không được giải quyết cho người phải thi hành án rút hoặc chuyển tiền ra khỏi tài khoản hoặc có rút hoặc chuyển tiền ra khỏi tài khoản thì phải để lại số tiền đủ để thi hành án.

Mặc dù Điểm b Khoản 1 Điều 8 Thông tư liên tịch này quy định trách nhiệm của bên nhận cung cấp thông tin là “bảo mật việc cung cấp thông tin và nội dung cung cấp thông tin để ngăn chặn các hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án và các tổ chức, cá nhân có liên quan”. Đồng thời theo Khoản 1 Điều 4 Thông tư thì “cơ quan, tổ chức, cá nhân tiết lộ thông tin để người phải thi hành án chuyển, rút tiền khỏi tài khoản làm ảnh hưởng đến quá trình thi hành án thì tùy từng trường họp mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để phát hiện ra bằng chứng để kết luận rằng ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc nhân viên của các tổ chức này tiết lộ thông tin về việc cơ quan thi hành án dân sự đang tiến hành xác minh về tài khoản của người phải thi hành án. Khoảng thời gian từ khi cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản yêu cầu cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án cho ngân hàng, tổ chức tín dụng đến khi cơ quan thi hành án dân sự có quyết định phong tỏa tài khoản là khoảng thời gian rất dễ xảy ra trường hợp ngân hàng, tổ chức tín dụng tiết lộ thông tin để người phải thi hành án nói chung và doanh nghiệp phải thi hành án nói riêng rút tiền ra khỏi tài khoản.

Để ngăn chặn tình trạng này, thực tiễn thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với doanh nghiệp, cơ quan thi hành án dân sự thường gửi văn bản yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng không giải quyết cho doanh nghiệp phải thi hành án rút hoặc chuyển tiền ra khỏi tài khoản đồng thời với việc gửi văn bản yêu cầu cung cấp thông tin về tài khoản của doanh nghiệp. Tuy nhiên đề nghị này bằng hình thức văn bản có giá trị pháp lý không cao và không bắt buộc đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng như quyết định phong tỏa tài khoản. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Một biện pháp khác mà các CHV cũng hay áp dụng, xuất phát từ việc Luật thi hành án dân sự không quy định bắt buộc CHV phải đợi kết quả cung cấp thông tin của ngân hàng, tổ chức tín dụng mới được ra quyết định phong tỏa tài khoản nên CHV thường giao quyết định phong tỏa tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án với số tiền bằng với số tiền doanh nghiệp đang phải thi hành án cùng thời điểm với việc giao văn bản xác minh tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án. Sau khi có kết quả trả lời xác minh của ngân hàng, tổ chức tín dụng, nếu doanh nghiệp không có tài khoản hoặc không có tiền trong tài khoản của ngân hàng thì CHV ra quyết định giải tỏa việc phong tỏa tài khoản; còn nếu doanh nghiệp phải thi hành án có tiền trong tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng thì CHV ra tiếp quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án.

Tuy nhiên, nếu CHV áp dụng biện pháp ra quyết định phong tỏa tài khoản với số tiền bằng số tiền doanh nghiệp phải thi hành án trong khi chưa có kết quả trả lời xác minh của ngân hàng, tổ chức tín dụng như trên thì ngăn chặn được khả năng doanh nghiệp tẩu tán tiền trong tài khoản nhưng sẽ gặp vướng mắc như sau:

  • Số tiền phong tỏa thường không khớp với số tiền thực tế có trong tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án.
  • Vi phạm thời hạn chấm dứt việc phong tỏa tài khoản nếu quá 10 ngày ngân hàng, tổ chức tín dụng chưa cung cấp thông tin về tài khoản cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại Khoản 3 Điều 67 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Như vậy, thời hạn cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án, trách nhiệm của ngân hàng, tổ chức tín dụng ngăn chặn việc rút tiền khỏi tài khoản của người phải thi hành án từ thời điểm tiếp nhận văn bản yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan thi hành án dân sự đến khi CHV có quyết định phong tỏa tài khoản, thời điểm chấm dứt việc phong tỏa tài khoản, là những vấn đề đang gặp vướng mắc, khó khăn, cần phải kiến nghị khắc phục.

Thứ ba, tiền trong tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành án có liên quan đến khoản nợ của doanh nghiệp và ngân hàng, tổ chức tín dụng.

Thực tiễn thi hành biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của doanh nghiệp để thi hành án tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp rất nhiều trường hợp khi CHV ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án thì ngân hàng, tổ chức tín dụng không thực hiện với lý do khoản tiền trong tài khoản hiện có của doanh nghiệp là tiền để cấn trừ khoản nợ của doanh nghiệp đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng.

Có thể nêu ra ví dụ điển hình như sau:

Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 tổ chức thi hành các Quyết định số 09/HGT-LĐST ngày 24/5/2013 của Tòa án nhân dân Quận 10, Quyết định số 46/HGT-KDTM-ST ngày 31/12/2013 của Tòa án nhân dân Quận 10 và Quyết định số 208/2015/QĐ-PT ngày 04/02/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo đó Công ty cổ phần đầu tư xây dựng viễn thông Hoàng Hưng (sau đây gọi tắt là công ty Hoàng Hưng) phải trả cho các nguyên đơn tổng cộng là 2.516.096.336 đồng, lãi do thi hành án và nộp tổng cộng 39.476.970 đồng án phí.

Quá trình thi hành án công ty Hoàng Hưng không tự nguyện thi hành án mặc dù vẫn hoạt động bình thường.

Qua xác minh được biết công ty Hoàng Hưng đang thực hiện công trình xây mới khu khám và điều trị nội tim mạch của Bệnh viện nhân dân 115. Qua thông tin được cung cấp từ Kho bạc Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh thì Kho bạc Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện thi hành án toán tiền cho công ty Hoàng Hưng theo đề nghị của Bệnh viện nhân dân 115 vào tài khoản số 1681.0000.141.521 của công ty Hoàng Hưng mở tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bến Thành, TP.Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là BIDV Bến Thành). Vì vậy, CHV Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 đã ra Quyết định phong tỏa tài khoản và Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để khấu trừ số tiền 1.923.918.526 đồng trong tài khoản số 1681.0000.141.521 của công ty Hoàng Hưng mở tại BIDV Bến Thành và trách nhiệm của BIDV Bến Thành là chuyển số tiền trên vào Tài khoản số 3949.0.1054541.00000 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 mở tại Kho bạc Nhà nước Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Sài Gòn (sau đây gọi tắt là BIDV Sài Gòn) có văn bản đề nghị Chi cục thi hành án dân sự không thực hiện phong tỏa các nguồn thu từ các công trình mà công ty Hoàng Hưng thi công do BIDV Sài Gòn tài trợ vốn được chuyển vào tài khoản số 168100 00141521 của công ty Hoàng Hưng tại BIDV Bến Thành, đồng thời có văn bản giải tỏa tài khoản trên để tạo điều kiện cho BIDV Sài Gòn thu nợ vay và xử lý tài sản bảo đảm. Vì theo các hợp đồng tín dụng đã ký giữa công ty Hoàng Hưng và BIDV Sài Gòn thì số dư tiền gửi tại tài khoản thi hành án toán của công ty Hoàng Hưng tại BIDV là tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ tín dụng của công ty Hoàng Hưng tại BIDV Sài Gòn, là nguồn thu để thu nợ vay thi công công trình. Số tiền phát sinh có giá trị 1.923.918.526 đồng tại tài khoản 16810000141521 là khoản tiền thi hành án toán từ dự án do BIDV Sài Gòn tài trợ cho vay, đang được bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty Hoàng Hưng tại BIDV Sài Gòn.

Tuy nhiên qua xem xét, Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 nhận thấy đối với khoản tiền 1.923.918.526 đồng mà Bệnh viện Nhân Dân 115 thi hành án toán vào tài khoản số 16810000141521 của công ty Hoàng Hưng tại BIDV Bến Thành không có hợp đồng công chứng giữa BIDV Sài Gòn và Công ty cổ phần đầu tư xây dựng viễn thông Hoàng Hưng, đồng thời không có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Vì vậy, Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 đã có Công văn phúc đáp không có cơ sở pháp luật để giải quyết đề nghị của BIDV Sài Gòn về việc giải tỏa phong tỏa tài khoản số 16810000141521 của công ty Hoàng Hưng tại BIDV Bến Thành và đề nghị BIDV Bến Thành thực hiện ngay Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án. Sau đó BIDV Bến Thành đã chuyển toàn bộ số tiền 1.923.918.526 đồng nói trên cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 và Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 đã thực hiện việc thi hành án toán các khoản tiền phải thi hành án của công ty Hoàng Hưng tại Chi cục thi hành án dân sự Quận 10.

Ở vụ việc này BIDV Bến Thành ban đầu không thực hiện Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án của CHV Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 với lý do khoản tiền trong tài khoản của công ty Hoàng Hưng đã được thế chấp cho BIDV Sài Gòn, bản thân BIDV Sài Gòn cũng viện dẫn quy định của nội bộ hệ thống BIDV để cho rằng việc thế chấp không cần hợp đồng công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm là hợp lệ và số tiền có trong tài khoản của công ty Hoàng Hưng phải được ưu tiên thi hành án toán cho BIDV Sài Gòn. Tuy nhiên, nếu không có dăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật thì Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 cũng không có căn cứ pháp lý để ưu tiên thi hành án toán cho BIDV Sài Gòn.

  • Kê biên, xử lý quyền sử dụng đất, trụ sở, nhà xưởng, máy móc, dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp

Vướng mắc khó khăn đối với việc kê biên xử lý đất đai, trụ sở, nhà xưởng, máy móc, dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp phải thi hành án qua thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua đó là vấn đề giải quyết quyền lợi cho người lao động (do xử lý những tài sản trên sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp) và trong nhiều trường hợp ảnh hưởng đến sự phát triển và tình hình kinh tế – xã hội tại địa phương. Có thể thấy được những khó , vướng mắc đã nêu qua các vụ việc điển hình như sau:

Cục thi hành án dân sự TP.HCM tổ chức thi hành các BA số 3159/KDTM-ST ngày 25/9/2009 và 893/KDTM-ST ngày 23/6/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó Công ty cổ phần SinB trả cho các nguyên đơn tổng cộng là 8.296.930.129 đồng và lãi do chậm thi hành án, phát mãi tài sản theo các BA đã tuyên tổng cộng là 10 dàn máy thêu tự động nhiều đầu và phụ tùng tiêu chuẩn đồng bộ đi kèm. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Quá trình thi hành án, giám đốc Công ty cổ phần SinB đã bỏ trốn, công ty đã ngưng hoạt động, chưa thi hành án toán tiền lương cho công nhân. Khi CHV đến tại công ty trên địa bàn Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện việc kê biên 10 dàn máy thêu tự động nhiều đầu và phụ tùng tiêu chuẩn đồng bộ đi kèm để đảm bảo thi hành án thì đã gặp phải sự phản đối của hơn 100 công nhân, công nhân của Công ty cổ phần SioB vào thời điểm này đang rất bức xúc và có những hành vi rất manh động do được thi hành án toán tiền lương từ thời điểm giám đốc công ty bỏ trốn, cần phải giải quyết vấn đề lương cho công nhân rồi mới tổ chức thi hành án.

Điều 2 của Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg ngày 23/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định:

“ Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tạm ứng ngân sách địa phương trả cho người lao động (…) khoản tiền lương mà doanh nghiệp còn nợ người lao động. Nguồn tạm ứng…được hoàn trả từ nguồn thu khi thực hiện xử lý tài sản của doanh nghiệp theo quy định của Pháp luật”.

Chính vì vậy, Ủy ban nhân dân Quận 12 đã tổ chức họp bàn biện pháp hỗ trợ thi hành án và thống nhất phương án đề xuất Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tạm ứng tiền để thi hành án toán lương cho công nhân Công ty cổ phần SinB theo Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg ngày 23/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp thuận tạm ứng tiền từ ngân sách thành phố tổng cộng là 343.582.566 đồng để chi trả lương cho công nhân.

Sau khi Ủy ban nhân dân Quận 12 chi trả lương cho công nhân, Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh mới tiến hành kê biên, định giá và bán đấu giá toàn bộ tài sản của Công ty cổ phần SinB để thi hành án và hoàn trả số tiền 343.582.566 đồng cho ngân sách thành phố.

  • Kê biên, xử lý vốn góp của doanh nghiệp

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, tình trạng “sở hữu chéo” diễn ra khá phổ biến, không ít các doanh nghiệp thi hành án gia góp vốn trở thành thành viên của doanh nghiệp khác để đạt mục đích thu lợi nhuận thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp đó. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Từ đó trong thực tiễn thi hành án dân sự cũng phát sinh tình huống doanh nghiệp phải thi hành án là thành viên góp vốn bằng tiền, tài sản khác vào doanh nghiệp thuộc loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần. Ngoài tài sản đã góp vốn vào doanh nghiệp thì doanh nghiệp không còn bất kỳ tài sản hoặc nguồn thu nào khác đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án.

Để tổ chức thi hành án đối với trường hợp này, Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 đã quy định việc kê biên vốn góp tại Điều 92, theo đó:

  1. Chấp hành viên yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó. Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án, trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành án.
  2. Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án”.

Theo quy định trên người phải thi hành án có nghĩa vụ thi hành bằng tiền nhưng không tự nguyện thi hành án thì CHV có quyền kê biên vốn góp của người đó tại doanh nghiệp để đảm bảo các nghĩa vụ của người phải thi hành án. Pháp luật về thi hành án dân sự không quy định về các điều kiện cụ thể để có thể kê biên vốn góp của người phải thi hành án tại doanh nghiệp. Do đó, CHV có thể lựa chọn việc kê biên tài sản của người phải thi hành án hoặc kê biên vốn góp tài sản của người phải thi hành án tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, muốn kê biên được phần vốn góp của người phải thi hành án tại doanh nghiệp thì trước tiên phải xác minh, xác định cụ thể, chính xác phần vốn góp cùa người phải thi hành án tại doanh nghiệp.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì Hồ sơ thành lập doanh nghiệp phải có danh sách thành viên hoặc Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài tùy loại hình doanh nghiệp. Danh sách thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần được lập phải có các nội dung mà một trong những nội dung chủ yếu là “ Phần vốn góp, giá trị vốn góp, loại tài sản, số lượng, giá trị của từng loại tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn phần vốn góp cùa từng thành viên đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh; số lượng cổ phần, loại cổ phần, loại tài sản, số lượng tài sản, giá trị của từng loại tài sản góp vốn cổ phần của từng cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với Công ty cổ phần”. Vì vậy, để có căn cứ xác định phần vốn góp của người phải thi hành án, CHV có thể yêu cầu doanh nghiệp hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp danh sách thành viên hoặc danh sách cổ đông để làm cơ sở xác định phần vốn góp của họ. CHV yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án hoặc yêu cầu đơn vị chuyên môn xác định giá trị phần vốn góp của người phải thi hành án trong trường hợp không thể xác định được thì Tòa án có thẩm quyền xác định phần vốn góp của người phải thi hành án khi người được thi hành án có yêu cầu được quy định trong Luật thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, khi thực hiện kê biên vốn góp của người phải thi hành án tại doanh nghiệp trong các Bản án kinh doanh thương mại cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc: Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Một là, khó khăn trong việc xác định giá trị của phần vốn góp của người phải thi hành án tại doanh nghiệp.

Trên lý thuyết, tỷ lệ vốn góp của một người đã góp vào vốn điều lệ doanh nghiệp là giá trị phần vốn góp, có thể  căn cứ vào các tài liệu như Giấy phép đăng ký kinh doanh, biên bản góp vốn và sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi một người thực hiện việc góp vốn (bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản như quyền sử dụng đất, ô tô …) thì tài sản đó đã trở thành tài sản của doanh nghiệp (công ty) và doanh nghiệp (công ty) là pháp nhân độc lập có quyền “chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp” theo quy định tại khoản 8 Điều 7 Luật Doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện việc kinh doanh của mình thì vốn của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm (so với vốn điều lệ) tùy theo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì không bắt buộc các thành viên phải thực hiện việc góp đủ vốn trước khi thành lập doanh nghiệp dẫn đến nhiều trường hợp các thành viên có cam kết góp vốn nhưng sau đó không thực hiện việc góp vốn như cam kết lúc đầu.

Do đó, không thể căn cứ vào Giấy phép kinh doanh, Điều lệ của doanh nghiệp để cho rằng trị giá phần vốn góp của người phải thi hành án tại doanh nghiệp là bao nhiêu tiền mà việc xác định giá trị của phần vốn góp của người phải thi hành án tại thời điểm cụ thể nào đó phải dựa trên nhiều tài liệu khác nhau như Giấy phép đăng ký kinh doanh, biên bản góp vốn, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính của doanh nghiệp hoặc kết quả kiểm toán đối với doanh nghiệp.

Ngoài ra, tại Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã ghi nhận việc bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp, theo đó:

  1. Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.
  2. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp”. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Mặt khác, Điều 92 Luật thi hành án dân sự mới quy định CHV chỉ có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải thi hành án mà chưa có quy định cụ thể cách thức xác định vốn. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp không hợp tác thì cơ quan thi hành án cũng không có cơ sở tiến hành cưỡng chế buộc doanh nghiệp phải cung cấp các tài liệu để làm cơ sở xác định giá trị của phần vốn góp.

Hai là, khó khăn trong việc xác định tài sản cá nhân với tài sản của doanh nghiệp Khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp thì thành viên Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh và cổ đông Công ty cổ phần góp vốn bằng tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai thì “việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ quy định thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Như vậy, trong trường hợp thành viên cam kết góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất hoặc chưa hoàn thành việc chuyển quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp thì việc xác định quyền sử dụng đất là của doanh nghiệp hay của thành viên góp vốn là vấn đề còn gây tranh cãi.

Tóm lại, từ những khó khăn vướng mắc nêu trên cho thấy Luật thi hành án dân sự mới chỉ quy định về thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự trong việc kê biên vốn góp của người phải thi hành án mà chưa có quy định về trình tự thủ tục thực hiện việc kê biên, xử lý vốn góp của người phải thi hành án tại doanh nghiệp dẫn đến các cơ quan thi hành án dân sự đã gặp lúng túng trong việc áp dụng các quy định. Mặt khác, theo Luật Doanh nghiệp thì có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, tương ứng với mỗi loại doanh nghiệp thì cách thức góp vốn là khác nhau. Trong quá trình tổ chức thi hành án, CHV mới chỉ quan tâm áp dụng các quy định pháp luật về thi hành án dân sự mà chưa nghiên cứu một cách chuyên sâu về các loại hình doanh nghiệp nên còn áp dụng quy định chưa thật chính xác dẫn đến hiệu quả không cao và trong một số trường hợp còn làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp gây bức xúc, khiếu nại kéo dài.

  • Cưỡng chế đối với giấy tờ có giá của doanh nghiệp

Quá trình tổ chức thi hành án, khi phát hiện đương sự có cổ phiếu, cơ quan thi hành án dân sự gửi văn bản yêu cầu Trung tâm lưu ký Chứng khoán Quốc gia phong tỏa, không cho phép đương sự chuyển nhượng. Nếu phía Trung tâm không chấp nhận, thì cũng không có chế tài xử lý, vì trong luật không quy định buộc cơ quan này phải hợp tác với cơ quan thi hành án dân sự trong việc kê biên cổ phiếu. Trong một khoảng thời gian rất ngắn đã có thể thực hiện xong các giao dịch mua, bán cổ phiếu. Vì vậy, để kê biên được cổ phiếu, đòi hỏi CHV phải làm thật nhanh trong một khoảng thời gian nhất định bằng cách lập ngay biên bản, ra quyết định cưỡng chế kê biên khi mà cổ phiếu vẫn còn thuộc sở hữu của người phải thi hành án… Mặc khác, liên quan đến việc thẩm định giá đối với cổ phiếu cũng gặp nhiều khó khăn, vì trong quá trình tổ chức thi hành án cho dù CHV thực hiện cưỡng chế kê biên cổ phiếu thành công, nhưng việc xử lý cổ phiếu sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì giá cổ phiếu là một loại giấy tờ có giá trị dao động bất thường, có sự biến động liên tục theo thị trường, trong khi để đưa ra được kết quả thẩm định giá phải mất nhiều ngày. Do vậy, trong thời gian đó, giá của cổ phiếu có thể lên xuống không còn phù hợp với giá trị thực tế như đã thẩm định ban đầu và cũng có thể vào thời điểm xử lý để thi hành án thì giá trị cổ phiếu sẽ bằng không đồng, tức là không còn giá trị.

Ngoài ra, trong việc bán đấu giá cổ phiếu, tổ chức nào sẽ đứng ra bán đấu giá đối với loại tài sản này cũng là vấn đề cần có giải pháp của nhà làm luật. Theo quy định hiện hành, cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án phải thông qua các Trung tâm hoặc tổ chức bán đấu giá tài sản. Tuy nhiên, cổ phiếu là giấy tờ đặc biệt nên một số cơ quan thi hành án dân sự đã liên hệ Sàn giao dịch Chứng khoán bán đấu giá, như vậy là có độ vênh so với quy định của Luật thi hành án dân sự. Luật thi hành án dân sự quy định việc bán giấy tờ có giá tuy nhiên lại chưa quy định cụ thể bán như thế nào. Vì thiếu hướng dẫn cụ thể nên CHV không thể tự mình đưa ra phương thức thực hiện.

2.3. Những tồn tại hạn chế Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Thứ nhất, ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án là doanh nghiệp chưa nghiêm:

Ý thức chấp hành BA, QĐ của người phải thi hành án là doanh nghiệp còn chưa cao, thậm chí rất kém. Điều này đã được khẳng định theo thống kê hàng năm của các cơ quan thi hành án dân sự về số lượng các vụ việc mà cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, ví dụ: Trong năm 2022, các cơ quan thi hành án dân sự Thành phố ra Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với 1.141 trường hợp, tăng 380 trường hợp so với cùng kỳ năm 2021, trong đó có 1.073 trường hợp cưỡng chế không huy động lực lượng và 68 cuộc cưỡng chế có huy động lực lượng liên ngành (tăng 29 trường hợp so với cùng kỳ năm 2021); có 48 trường hợp đương sự tự nguyện trước khi cưỡng chế[1], về nguyên tắc, các BA, QĐ của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các bên đương sự chấp hành nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, người phải thi hành án thường chây ỳ, chống đối và tẩu tán tài sản để trốn tránh việc thi hành án. Bên cạnh đó, họ còn lợi dụng các quyền mà pháp luật cho phép để cố tình kéo dài việc thi hành án.

Ví dụ: Báo điện tử Công an thành phố Hồ Chí Minh đưa tin: Ngân hàng Agribank – Chi nhánh Phú Mỹ Hưng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thư bảo lãnh với số tiền gốc 50 tỷ đồng; Ngân hàng Agribank – Chi nhánh An Sương phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thư bảo lãnh số tiền gần 60 tỷ đồng. Theo yêu cầu của bên được thi hành án, Cục thi hành án dân sự TP.HCM đã gửi thông báo yêu cầu chấp hành. Cơ quan thi hành án tra, Giám sát ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng có văn bản đề nghị Agribank chỉ đạo các Chi nhánh tuân thủ quy định của pháp luật về hoạt động bảo lãnh ngân hàng và nghiêm túc thực hiện BA đã có hiệu lực. Thế nhưng sự phối hợp chưa tốt dẫn đến thời điểm này vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Tình trạng ngân hàng, tổ chức tín dụng, Công ty Tài chính, Bảo hiểm…, chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình trong hoạt động thi hành án dân sự vẫn còn diễn ra. Việc xác minh tài khoản, phong tỏa hay khấu trừ tài khoản của người phải thi hành án tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng của cơ quan thi hành án dân sự đang gặp nhiều trở ngại vì không nhận được sự hợp tác của các đơn vị này. Các ngân hàng, tổ chức tín dụng đưa ra nhiều lý do như: Bảo mật thông tin hoặc phải xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên nên kéo dài thời gian trả lời xác minh, không cho thực hiện quyết định phong tỏa. Có tổ chức tín dụng cố tình kéo dài thời gian, tạo cơ hội, điều kiện cho khách hàng rút hết tiền trong tài khoản trước khi cung cấp kết quả xác minh cho CHV. Cá biệt có trường hợp, quyết định cưỡng chế phong tỏa tài khoản đã được giao cho Ngân hàng, Tổ chức tín dụng, nhưng chủ tài khoản bị phong tỏa vẫn rút tiền ra khỏi tài khoản, làm mất hiệu lực trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Điều này gây tranh cãi rất nhiều, nhưng cuối cùng cơ quan thi hành án dân sự không có căn cứ đề nghị xem xét trách nhiệm đối với Ngân hàng, Tổ chức tín dụng… thực trạng nêu trên đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác THADS. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

  • Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thiếu hợp tác trong việc tổ chức thi hành án, xử lý tài sản:

Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về người đại diện của doanh nghiệp, thì phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp có các số lượng người đại diện một hoặc nhiều người được đại diện cho doanh nghiệp. Do vậy, khi tổ chức thi hành án CHV gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận làm việc, tống đạt giấy tờ, quyết định về thi hành án và xác minh tài sản của doanh nghiệp để thi hành án. Mặt khác, người đại diện của doanh nghiệp cố tình không hợp tác trong việc xác minh, kê biên, xử lý tài sản của doanh nghiệp, kể cả các tài sản đã thế chấp. Cụ thể, trong các vụ việc liên quan đến BA, QĐ của Tòa án về ngân hàng, tín dụng thông thường người phải thi hành án không còn khả năng thi hành án toán nợ và sẽ bị xử lý tài sản nên họ đã cố tình chống đối cơ quan thi hành án bằng nhiều hình thức, như: Không nhận thông báo các văn bản, quyết định về thi hành án; cản trở việc xác minh; làm thi hành ány đổi hiện trạng tài sản, không chấp hành việc kê biên, định giá, bán đấu giá bằng cách không thi hành án gia các buộc làm việc thỏa thuận; tẩu tán động sản là xe máy, ô tô, tàu thuyền, máy móc… ra khỏi địa phương để cơ quan thi hành án không thể truy tìm xử lý. Nhiều tài sản là động sản do người phải thi hành án không hợp tác kết quả đến khi xử thì thì giá trị tài sản bị khấu hao không còn giá trị sử dụng để đảm bảo thu nợ cho ngân hàng (các lô hàng vải bị mục, hạt tiêu, thuốc tây hết hạn sử dụng…)

Bên cạnh đó, nhiều trường hợp, cơ quan thi hành án đã giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng quy định nhưng người phải thi hành án vẫn cố tình khiếu nại vượt cấp, khiếu nại liên tục đế nhằm kéo dài gây khó khăn cho cơ quan thi hành án.

  • Thứ ba, doanh nghiệp không còn hoạt động:

Luật Doanh nghiệp đã quy định trình tự, thủ tục đối với doanh nghiệp xin giải thể hợp pháp hoặc Luật Phá sản quy định thủ tục đối với các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, trong thực tiễn lại có những doanh nghiệp không còn hoạt động, “mất tích” mà pháp luật không điều chỉnh, số liệu thống kê của Cục thi hành án dân sự TP.HCM cuối năm 2015 có khoảng 250 doanh nghiệp phải thi hành án thuộc tình trạng này. Khi không còn hoạt động (mất tích), doanh nghiệp để lại món nợ lớn phải thi hành án.

Ví dụ: Tòa án nhân dân TP.HCM tuyên buộc công ty TNHH Hoa Việt phải trả cho hai đối tác gần 10 tỷ đồng. Sau khi có đơn yêu cầu thi hành án, Cục thi hành án dân sự TP.HCM xác minh vụ việc, mới biết Công ty này dừng hoạt động đã lâu. Khi xác minh tại cơ quan đăng ký kinh doanh, thì doanh nghiệp này chưa làm thủ tục đăng ký thi hành ány đổi trụ sở, giải thể hoặc phá sản. Như vậy, về mặt pháp lý doanh nghiệp này vẫn có trụ sở tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, khá nhiều trường hợp khi cơ quan thi hành án dân sự đi xác minh tại địa chỉ đã đăng ký của doanh nghiệp, đều nhận được kết quả là các doanh nghiệp này đã “mất tích” từ lâu, thậm chí đã bỏ trốn trước khi Tòa án xét xử vụ kiện. Tại địa chỉ đăng ký trụ sở, vật duy nhất còn lại của doanh nghiệp là bảng hiệu công ty. Trong nhiều trường hợp cũng không còn bảng hiệu. Như vậy, khả năng thi hành án trong những trường hợp này là không thể thực hiện được. Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

  • Thứ tư, doanh nghiệp đi thuê tài sản và thế chấp quyền khai thác tài sản:

Việc doanh nghiệp dùng các tài sản thuê để phục vụ khai thác kinh doanh và sau đó dùng chính tài sản thuê để thế chấp đảm bảo cho các khoản nợ vay, nhưng khi không có khả năng trả nợ, thì tìm mọi cách trốn tránh không thi hành án. Do vậy, CHV trong việc tổ chức thi hành án đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc kê biên, xử lý tài sản để thi hành án, và nhất là đối với tài sản thuộc quyền quản lý của Nhà nước.

  • Thứ năm, kê biên khấu trừ tài khoản của người phải thi hành án là doanh nghiệp nhưng không có số dư:

Theo Điều 76 Luật thi hành án dân sự năm 2014 quy định: “CHV ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ”.

Tuy nhiên, trên thực tế tổ chức thi hành án CHV gặp rất nhiều khó khăn, vì ngay trong quá trình tố tụng tại Tòa án, cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc tranh chấp, nếu các bên đương sự không đề nghị hoặc Tòa án không có biện pháp ngăn chặn phong tỏa số dư tài khoản thì bị đơn (bên phải thi hành án) sẽ chủ động tẩu tán rút hết tiền trong tài khoản để trốn tránh việc thi hành án sau khi BA, QĐ có hiệu lực. Do vậy, đến giai đoạn tổ chức thi hành án, CHV xác minh tài khoản của người phải thi hành án thì số dư tài khoản đã không còn và việc thi hành án sẽ rất khó thực hiện BA, QĐ của Tòa án sẽ không thể tổ chức thi hành dứt điểm.

Như vậy, qua nghiên cứu thực trạng cưỡng chế thi hành án dân sự đối với tài sản của doanh nghiệp tại Cục thi hành án dân sự TP.HCM, có thể rút ra những tồn tại, hạn chế chính cần phải kiến nghị khắc phục như sau:

Còn thiếu hành lang pháp lý cho việc kê biên vốn góp để thi hành án: chưa xác định được cụ thể đối tượng bị cưỡng chế trong trường hợp này; sau khi kê biên phần vốn góp thì CHV chưa được thi hành án gia quyết định những vấn đề của doanh nghiệp có phần vốn bị kê biên; chưa quy định thủ tục để đăng ký quyền sở hữu phần vốn góp cho người mua được tài sản bán đấu giá trong trường họp người phải thi hành án và doanh nghiệp không hợp tác.

Trong trường hợp cưỡng chế thi hành án dân sự đối với tài sản của cổ đông sáng lập doanh nghiệp chưa góp đủ số cổ phần đã đăng ký góp, pháp luật hiện hành chưa xác định rõ trong trường hợp này cổ đông sáng lập có phải là người phải thi hành án hay không, có phải là đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án? Mặt khác Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã giới hạn thời gian phải chịu trách nhiệm liên đới của cổ đông sáng lập doanh nghiệp về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần chưa góp đủ.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

Như vậy, qua nghiên cứu thực trạng cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh thương mại tại Cục thi hành án dân sự TP.HCM, có thể rút ra những tồn tại, hạn chế chính cần phải kiến nghị khắc phục như sau:

Pháp luật quy định phải sau khi có thông tin về tài khoản của người phải thi hành án nói chung và doanh nghiệp phải thi hành án nói riêng do ngân hàng, tổ chức tín dụng cung cấp thì CHV mới được ra quyết định phong tỏa tài khoản, quy định này là kẽ hở để doanh nghiệp phải thi hành án tẩu tán tiền ra khỏi tài khoản trong khoảng thời gian từ khi ngân hàng, tổ chức tín dụng nhận được yêu cầu xác minh của cơ quan thi hành án dân sự đến khi trả lời xác minh.

Còn thiếu hành lang pháp lý cho việc kê biên vốn góp để thi hành án: chưa xác định được cụ thể đối tượng bị cưỡng chế trong trường hợp này; sau khi kê biên phần vốn góp thì CHV chưa được thi hành án gia quyết định những vấn đề của doanh nghiệp có phần vốn bị kê biên; chưa quy định thủ tục để đăng ký quyền sở hữu phần vốn góp cho người mua được tài sản bán đấu giá trong trường họp người phải thi hành án và doanh nghiệp không hợp tác.

Trong trường hợp cưỡng chế thi hành án dân sự đối với tài sản của cổ đông sáng lập doanh nghiệp chưa góp đủ số cổ phần đã đăng ký góp, pháp luật hiện hành chưa xác định rõ trong trường hợp này cổ đông sáng lập có phải là người phải thi hành án hay không, có phải là đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án? Mặt khác Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã giới hạn thời gian phải chịu trách nhiệm liên đới của cổ đông sáng lập doanh nghiệp về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần chưa góp đủ.

Thiếu hành lang pháp lý trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự đối với tài sản là nhà máy, cơ sở kinh doanh dịch vụ, dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp (những tài sản này khi áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và sự tồn tại của doanh nghiệp). Luận văn: Thực tiễn PL về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Pháp luật về cưỡng chế thi hành Bản án kinh doanh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *