Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần đo đạc và khoáng sản dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Các doanh nghiệp nhà nước được hình thành chủ yếu trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, doanh nghiệp nhà nước là nền tảng đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của xã hội. Trong công cuộc đổi mới, hệ thống doanh nghiệp nhà nước vừa được mở rộng phát triển, vừa được đổi mới sắp xếp, từng bước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một giải pháp quan trọng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, chỉ đạo. Hơn nữa các doanh nghiệp Nhà nước cũng phải tự chủ về kinh doanh về tài chính và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Do vậy các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện công tác quản lý xây dựng kế hoạch, mục tiêu để thích nghi, tồn tại và phát triển trong bối cảnh như vậy. Một trong những vấn đề quản lý đó là quản lý về hoạt động lập kế hoạch trong mỗi doanh nghiệp.
Lập kế hoạch là một trong những chức năng cơ bản nhất, phổ biến nhất của quản lý. Chức năng này tồn tại và bắt buộc phải tồn tại trong mọi tổ chức dù đó là các tổ chức sản xuất kinh doanh hay các doanh nghiệp, các công ty xuyên quốc gia. Đó cũng là chức năng của mọi tổ chức, không phân biệt tổ chức đó hoạt động trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a hay tư bản chủ nghĩa. Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
Lập kế hoạch là một trong những công việc khó khăn nhất, phức tạp nhất và cũng là nơi thể hiện cao nhất năng lực của các nhà quản lý. Chức năng lập kế hoạch đòi hỏi vận dụng nhiều loại kiến thức khác nhau về chính trị, kinh tế, xã hội cũng như một số kỹ năng về lập kế hoạch. Trong chức năng lập kế hoạch, phân tích và dự báo là những kiến thức không thể thiếu được của các nhà quản lý.
Trong hoạt động quản lý, việc lập kế hoạch đóng vai trò quan trọng. Không có kế hoạch tốt, một tổ chức không thể xác định mục tiêu mà mình muốn đạt được và cách thức mà tổ chức cần làm để đạt tới mục tiêu. Lập kế hoạch luôn gắn liền với việc lựa chọn phương hướng hành động để đạt tới mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào. Lập kế hoạch không chỉ là chức năng cơ bản của các nhà quản lý ở mọi cấp độ mà nó còn liên quan tới tất cả các chức năng còn lại của quá trình quản lý. Những chức năng khác, như chức năng thiết kế tổ chức, nhân sự, lãnh đạo, kiểm tra đều phải dựa trên nền tảng của các kế hoạch đã được vạch ra từ trước. Như vậy, chức năng lập kế hoạch bao giờ cũng phải được thực hiện trước khi thực hiện các chức năng khác.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng Công ty tài nguyên và Môi trường Việt Nam – Bộ Tài nguyên và Môi trường với ngành nghề kinh doanh chính là đo đạc bản đồ, cấp giấy CNQSD đất, điều tra thăm dò địa chất khoáng sản. Công ty nhận thấy vấn đề quản lý về hoạt động lập kế hoạch rất cần thiết để quyết định đến khả năng cạnh tranh trong các công ty cùng ngành và vị thế của Công ty trong tương lai. Công ty là một doanh nghiệp tiền thân 100 vốn điều lệ là từ vốn của Nhà nước đầu tư cho đến tháng 4 2016 chuyển sang mô hình Công ty Cổ phần Nhà nước nắm giữ 64,84 vốn Nhà nước do đó sẽ phải tuân thủ chặt chẽ cơ chế chính sách quản lý do Nhà nước quy định đồng thời linh hoạt thích ứng với mô hình hoạt động của Công ty Cổ phần.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý về hoạt động lập kế hoạch cả về lý luận lẫn thực tiễn, tôi đi đến nghiên cứu đề tài “Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản” làm luận văn Thạc sĩ quản lý công của mình.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Mục đích nghiên cứu của đề tài là quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản có căn cứ khoa học, có tính khả thi, đúng chính sách chế độ của Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần có vốn Nhà nước.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý tại Công ty Cổ phần
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý của Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản giai đoạn 2015-2017
- Đề xuất và xây dựng một số giải pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là công tác lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu cho Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản trong khoảng thời gian từ năm 2015-2017.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
Với đối tượng, phạm vi nghiên cứu như trên, luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp.
- Khi nghiên cứu về cơ sở lý luận của đề tài, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp.
- Khi đánh giá thực trạng đối tượng nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp như điều tra, khảo sát, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp chỉ số, phương pháp đồ thị…
- Khi xây dựng các giải pháp hoàn thiện đối tượng nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp lựa chọn tối ưu, phương pháp tham vấn chuyên gia…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩ kho học:
Luận văn góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận quản lý về hoạt động lập kế hoạch nói riêng và khoa học quản lý nói chung. Đặc biệt góp phần nâng cao năng lực quản lý điều hành tại Công ty Cổ phần có vốn Nhà nước.
Ý nghĩ thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn dựa trên những số liệu thu thập và thống kế thực tế ở Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản nên có thể được áp dụng vào chính công ty, đồng thời là tài liệu tham khảo cho các đơn vị khác, nhất là các doanh nghiệp có vốn Cổ phần Nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu trong 03 chương trong 07 bảng biểu và 02 sơ đồ:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần có vốn nhà nước
- Chương 2: Thực trạng quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản giai đoạn 2015-2017
- Chương 3: Hoàn thiện, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản. Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LẬP KẾ HOẠCH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÓ VỐN NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm về quản lý hoạt động lập kế hoạch
Trước khi nghiên cứu khái niệm quản lý về hoạt động lập kế hoạch, cần tiếp cận khái niệm về quản lý và khái niệm lập kế hoạch.
1.1.1. Khái niệm về quản lý
Trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi tất yếu khách quan, bởi lý kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X (2006) khẳng định “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển” [3]
Bên cạnh những doanh nghiệp có 100 vốn nhà nước, còn có những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước đã chủ trương thành lập một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, trong đó có Tổng Công ty Tài Nguyên và Môi trường Việt Nam. Mặt khác, chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và đa dạng hóa sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước (mà Nhà nước không cần nắm 100 vốn) cũng được chú trọng. Quan điểm trên đây hoàn toàn phù hợp với các nhìn nhận của Đảng và Nhà nước về vai trò của doanh nghiệp nhà nước thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích[4].
Như vậy theo pháp luật của Việt Nam, DNNN có một số đặc trưng sau:
Một là, Nhà nước giữ quyền chi phối DN thông qua đầu tư vốn vào DN. Tỷ trọng đầu tư nhà nước có thể khác nhau trong các DN khác nhau, nhưng điểm chung là đủ để cho phép Nhà nước giữ quyền chi phối đối với hoạt động của DN. Hai là, DNNN hoạt động tự chủ theo chế độ phân cấp và ủy quyền quản lý của Nhà nước, trong đó Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính của DN trong khuôn khổ số vốn đầu tư vào DN. Ba là, Về mặt pháp lý DNNN hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các DN khác. Bốn là, Mặc dù hoạt động kinh doanh tự chủ nhưng DNNN đương nhiên phải thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao. Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
Cũng như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất và kinh doanh trong khuôn khổ và phạm vi của luật pháp Nhà nước. Do đó, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bằng quyền lực hành chính, mà chi phối chúng dưới hình thức là một cổ đông, thông qua những đại diện của sở hữu vốn nhà nước được cử tham gia Hội đồng quản trị. Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản là Công ty con trực thuộc Tổng Công ty Tài Nguyên và Môi trường Việt Nam, hoạt động tự chủ theo chế độ phân cấp và ủy quyền quản lý của Nhà nước, trong đó Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính của DN trong khuôn khổ số vốn đầu tư vào DN. Theo Quyết định số 2913 QĐBTNMT ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Phương án cổ phần hoá. Ngày 26 4 2016 Công ty TNHH MTV Đo đạc và Khoáng sản chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Đo đạc và Khoáng sản. Việc cổ phần hóa Công ty mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn trong thời kì đầu hoạt động theo mô hình mới này. Do vậy Công ty phải tự hoàn thiện công tác quản lý xây dựng kế hoạch, mục tiêu để thích nghi, tồn tại và phát triển trong bối cảnh như vậy.
Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức dù quy mô nhỏ hay lớn, có cấu trúc đơn giản hay phức tạp, Xã hội càng phát triển, trình độ hiệp tác và phân công lao động càng cao thì yêu cầu về công tác quản lý ngày càng hoàn thiện. Do quản lý gắn liền với quá trình phát triển kinh tế xã hội, nên trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Những quan niệm này có lịch sử ra đời khác nhau và gắn với mỗi tổ chức hoạt động trong từng lĩnh vực, thậm chí với mỗi quá trình trong từng tổ chức. Một số quan niệm về quản lý là:
- Theo F.W.Taylor, quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất.
- Theo Henry Fayol, quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.
- Mary Parker Follett cho rằng, quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu thông qua con người [6, tr.8].
Tuy nhiên, khi đề cập đến quản lý có một cách tiếp cận nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý thực tiễn, đó là : Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu dự kiến.
Từ khái niệm nêu trên, quá trình quản lý bao gồm các yếu tố thể hiện dưới dạng sơ đồ sau
1.1.2. Khái niệm “Kế hoạch” và “Lập kế hoạch” Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
1.1.2.1. Kế Hoạch
- Khái niệm:
Kế hoạch là sản phẩm của công tác lập kế hoạch. Nó vừa là công cụ, vừa là mục tiêu của quản lý. Chính vì vậy, người quản lý vừa phải biết sử dụng kế hoạch một cách hiệu quả, vừa phải biết tạo lập những kế hoạch mới để đáp ứng sự phát triển của tổ chức. Việc tạo lập kế hoạch là vấn đề liên quan tới công việc của quản lý chiến lược.
Kế hoạch là dự định của nhà quản lý cho công việc tương lai của tổ chức về mục tiêu, nội dung, phương thức quản lý và các nguồn lực được chương trình hóa.
Từ định nghĩa này có thể thấy nội dung cơ bản của kế hoạch bao gồm:
Xác định mục tiêu, yêu cầu công việc 1W (why)
Khi phải làm một công việc, điều đầu tiên phải quan tâm là tại sao phải làm công việc này? Nó có ý nghĩa như thế nào với tổ chức, bộ phận? Hậu quả nếu không thực hiện chúng?
Xác định nội dung công việc 1W (what)
Nội dung công việc đó là gi? Chỉ ra các bước để thực hiện công việc được giao?
Xác định 3W: where, when, who
Where: ở đâu, có thể bao gồm các câu hỏi sau: Công việc đó thực hiện tại đâu? Giao hàng tại địa điểm nào? Kiểm tra tại bộ phận nào? Testing những công đoạn nào?…
When: Công việc đó thực hiện khi nào, khi nào thì giao, khi nào kết thúc…Để xác định được thời hạn phải làm công việc, cần xác định được mức độ khẩn cấp và mức độ quan trọng của từng công việc. Có 4 loại công việc khác nhau: Công việc quan trọng và khẩn cấp, công việc không quan trọng nhưng khẩn cấp, công việc quan trọng nhưng không khẩn cấp, công việc không quan trọng và không khẩn cấp, phải thực hiện công việc quan trọng và khẩn cấp trước.
Who: Ai, bao gồm các khía cạnh sau: Ai làm việc đó? Ai kiểm tra? Ai hổ trợ? Ai chịu trách nhiệm…
Xác định cách thức thực hiện 1H (how) Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
How nghĩa là như thế nào? Nó bao gồm các nội dung: Tài liệu hướng dẫn thực hiện là gì (cách thức thực hiện từng công việc)? Tiêu chuẩn là gì? Nếu có máy móc thì cách thức vận hành như thế nào?[9]
Như vậy, khái niệm kế hoạch bao chứa tổng thể các nhân tố cơ bản của hệ thống quản lý. Kế hoạch là tên gọi chung cho một tập hợp các hoạt động tương tự. Trong thực tế, biểu hiện của kế hoạch rất đa dạng và phong phú. Trong đó, những tên gọi sau đây cũng chính là những dạng kế hoạch phổ biến: Chiến lược, Chính sách, chương trình, v.v. Giữa chúng với kế hoạch có điểm chung nhưng cũng có những khác biệt nhất định.
Chiến lược: Thông thường người ta gọi các chiến lược là những kế hoạch lớn với những mục tiêu dài hạn, phương hướng lớn, nguồn lực tổng hợp và quan trọng.
Ngày nay, hàm nghĩa của từ “chiến lược” được hiểu theo 3 khía cạnh:
- Thứ nhất: Các chương trình hành động tổng quát với các nguồn lực tổng hợp và quan trọng
- Thứ hai: Chương trình các mục tiêu hành động trong dài hạn của một tổ chức. Những chương trình này cung cấp thông tin cho việc dự báo những thay đổi và sắp xếp bố trí các nguồn lực để đạt mục tiêu
- Thứ ba: Chiến lược chính là việc xác định các mục tiêu dài hạn của một tổ chức và lựa chọn phương hướng hành động, phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt mục tiêu này.
Nhìn chung, chiến lược không vạch ra một cách chính xác làm thế nào để đạt mục tiêu. Nhưng chúng lại cho chúng ta một bộ khung để hướng dẫn tư duy và hành động của các chủ thể, các bộ phận trong tổ chức. Vì thế, chiến lược là một loại kế hoạch đặc biệt.
Các chính sách: Cũng là một dạng kế hoạch theo nghĩa chúng là những điều khoản hoặc những quy định hướng dẫn hoặc khai thông những ách tắc và tập trung vào những nhiệm vụ ưu tiên.
Tuy nhiên, chỉ những hướng dẫn có tầm quan trọng, có nội dung tổng hợp và phạm vi tác động rộng thì mới trở thành chính sách.
Các chính sách giúp cho việc giải quyết các vấn đề được thuận lợi hơn và giúp cho việc thống nhất các kế hoạch khác nhau. Nhờ đó, người quản lý có thể uỷ quyền cho cấp dưới thực hiện một phần các mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức.
Các chương trình: Đây là một dạng kế hoạch đặc biệt. Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
Các chương trình là một phức hệ của các mục tiêu, chính sách, các nhiệm vụ và các hành động, các nguồn lực cần thiết để thực hiện một chương trình hành động xác định từ trước.
Một chương trình lớn được chi tiết hoá thành nhiều chương trình nhỏ và kế hoạch cụ thể.
Các chương trình hành động không tồn tại độc lập mà nó có liên hệ với nhiều chương trình khác. Vì thế, việc lập chương trình là một dạng lập kế hoạch đặc biệt.
Đặc điểm của kế hoạch
Kế hoạch có những đặc điểm cơ bản sau:
Tính khách quan
Mặc dù do con người thiết lập nhưng nội dung của kế hoạch phản ánh thực trạng của tổ chức. Quá trình lập kế hoạch chính là quá trình thu thập và xử lý thông tin liên quan về mục tiêu, các nguồn lực, các phương án thực hiện. Vì thế, nội dung của kế hoạch không phải là sản phẩm chủ quan, theo sở thích của nhà quản lý mà là sự chắt lọc thông tin từ thực tế.
Tính bắt buộc
Các kế hoạch khi đã được thông qua luôn đòi hỏi các chủ thể có liên quan có nghĩa vụ thực hiện những nội dung của kế hoạch. Điều kiện đảm bảo. Luận văn: Quản lý về hoạt động lập kế hoạch tại công ty cổ phần.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước thi đua khen thưởng ngành Giáo dục

Pingback: Luận văn: Quản lý nhà nước về môi trường tại Hồ Chí Minh