Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và phân tích thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước. Đề tài sử dụng hai nhóm phương pháp nghiên cứu, đó là nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của luận văn gồm:
Thứ nhất, luận văn đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, trong đó tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT của đội ngũ CBCC và quản lý ứng dụng CNTT của lãnh đạo Sở GD&ĐT.
Thứ hai, luận văn đã khảo sát, phân tích thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
Thứ ba, từ những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện các chức năng quản lý, luận văn đã đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, CNTT được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống KT-XH, đã trở thành nền tảng của kinh tế tri thức và là nhân tố then chốt đối với sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Nền kinh tế thị trường đang dần chuyển hóa thành nền kinh tế tri thức, việc ứng dụng CNTT trong HĐQL nói chung và trong HĐQL giáo dục nói riêng đang là một xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của CNTT và hiệu quả cao của ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực đời sống xã hội cùng với những đòi hỏi, những yêu cầu mới. Ngày 04 tháng 11 năm 2020 Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, nêu rõ: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo… Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam. Phát huy vai trò của CNTT và các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo” là một trong chín nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung thực hiện.
Ngày 01 tháng 7 năm 2021, Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết số 36- NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, trong đó khẳng định: “CNTT là một công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là một trong những động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; góp phần đẩy mạnh CNH-HĐH, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chính phủ đã khẳng định: CNTT đã góp phần không nhỏ vào công tác quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương, nhất là trong xử lý hồ sơ hành chính, quản lý ngân sách, thuế, kho bạc, hải quan, bảo hiểm xã hội, giao thông, thành lập doanh nghiệp,.. Việc đẩy mạnh và phát triển ứng dụng CNTT trên tất cả các lĩnh vực đã góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực GD&ĐT, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có chỉ đạo, quyết sách để thực hiện mục tiêu này. Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2023 – 2027, định hướng đến năm 2025” đã nêu rõ: Tăng cường ứng dụng CNTT nhằm đẩy mạnh triển khai chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong HĐQL, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở trung ương và các địa phương; đổi mới nội dung, phương pháp dạy- học, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học và công tác quản lý tại các cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hiện đại và nâng cao chất lượng GD&ĐT. Một trong những nhiệm vụ cụ thể của ứng dụng CNTT trong các hoạt động điều hành và quản lý giáo dục là “Xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông” [9, tr. 1]
Tại tỉnh Bình Phước, trong những năm qua các cơ quan nhà nước nói chung và Sở GD&ĐT nói riêng đã triển khai nhiều chương trình, hoạt động ứng dụng CNTT như: Trang bị hạ tầng CNTT (thiết bị mạng, đường truyền Internet, máy vi tính); tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, công chức về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin; trang bị các phần mềm quản lý (tài chính, thiết bị, cơ sở vật chất, cán bộ, công chức, thống kê, báo cáo, điều hành, tác nghiệp,..) nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý GD&ĐT theo định hướng tin học hóa để cải cách hành chính góp đổi mới phương thức làm việc, nâng cao năng lực, hiệu quả góp phần vào công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam.
Tuy nhiên, quản lý ứng dụng CNTT vẫn chưa đảm bảo tính khoa học, chưa đồng bộ trong các khâu quản lý như: chưa đi sâu vào việc lập kế hoạch mua sắm trang bị thiết bị, cơ sở hạ tầng CNTT; hoạt động tổ chức chưa chặt chẽ và chưa có tính tổng thể; hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo chưa sâu sát; hoạt động kiểm tra, đánh giá còn mang tính chủ quan, chưa có bộ tiêu chí đánh giá mang tính định lượng, khoa học. Các bất cập này đến nay vẫn chưa có báo cáo hay công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá một cách đầy đủ về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
Chính vì vậy, việc chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước” làm luận văn tốt nghiệp Chương trình quản lý giáo dục là phù hợp và có ý nghĩa thực tiễn cao.
Câu hỏi đặt ra với đề tài nghiên cứu là:
- Những hạn chế, tồn tại của quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD-ĐT tỉnh Bình Phước là gì? Nguyên nhân từ đâu?
- Những biện pháp cơ bản nào cần phải thưc hiện để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước trong thời gian tới?
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, đề tài khảo sát và phân tích thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước. Từ đó đề xuất một số nhóm biện pháp quản lý ứng dụng CNTT tốt hơn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu
Ứng dụng công nghệ thông tin trong HĐQL
- Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
4. Giả thuyết khoa học
Quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước đã thể hiện rất tốt ở các mặt như: Cán bộ, công chức nhận thức được tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong HĐQL; Lãnh đạo Sở GD&ĐT đã thực hiện được các chức năng cơ bản trong HĐQL như: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Tuy nhiên, một số cán bộ, công chức còn chưa thực sự quan tâm đến ứng dụng CNTT trong HĐQL; quản lý ứng dụng CNTT vẫn chưa đảm bảo tính khoa học, chưa đồng bộ trong các khâu quản lý như: chưa đi sâu vào việc lập kế hoạch tác nghiệp như kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn về kĩ năng sử dụng CNTT cho cán bộ, công chức và kế hoạch về trang bị thiết bị, cơ sở hạ tầng CNTT; hoạt động tổ chức chưa chặt chẽ và chưa có tính tổng thể; hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo chưa sâu sát; hoạt động kiểm tra, đánh giá còn mang tính chủ quan, chưa có bộ tiêu chí đánh giá mang tính định lượng, khoa học.
Nếu hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định thực trạng quản lý ứng dụng CNTT sẽ đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động quản lý ứng dụng
- Khảo sát, phân tích thực trạng ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước.
- Đề xuất biện pháp quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Về địa bàn khảo sát
Đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động quản lý của cán bộ, công chức đối với việc ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
- Về thời gian Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Đề tài nghiên cứu dựa trên việc khảo sát số liệu trong hai năm 2024 và 2025.
- Nội dung khảo sát
Thực trạng ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đảm bảo tính khoa học cho kết quả nghiên cứu, cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm giúp người nghiên cứu phân tích, tổng hợp và hệ thống các cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận về HĐQL ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức.
Nội dung: Phân tích và tổng hợp các vấn đề có liên quan đến đề tài như: khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và đào tạo, CNTT, ứng dụng CNTT, quản lý ứng dụng CNTT; lý luận về quản lý ứng dụng CNTT; Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng CNTT.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ
Mục đích: Phương pháp này được sử dụng nhằm giúp người nghiên cứu nắm được các số liệu liên quan đến HĐQL thông qua các loại hồ sơ quản lý lưu trữ tại cơ quan Sở GD-ĐT tỉnh Bình Phước liên quan đến CNTT.
Nội dung: Phân tích, tổng hợp các số liệu liên quan đến ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức để nắm được thực trạng ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức và HĐQL tương ứng.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập số liệu phục vụ cho hoạt động điều tra, khảo sát thực tế. Từ đó, người nghiên cứu có những nhận xét, đánh giá và tìm ra nguyên nhân của thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại cơ quan Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
Nội dung: Khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT tại tỉnh Bình Phước; khảo sát thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Mục đích: Thu thập ý kiến của các chuyên gia có trình độ, chuyên môn cao về quản lý giáo dục, quản lý ứng dụng CNTT giúp tác giả bổ sung, kiểm tra lẫn nhau các ý kiến nhằm nghiên cứu, khảo sát và phân tích đúng thực trạng quản lý ứng dụng CNTT và đề xuất một số nhóm biện pháp quản lý ứng dụng CNTT hiệu quả..
Trong giáo dục, đó là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học giáo dục, bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia giáo dục có trình độ cao, ý kiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau cho ta một ý kiến đa số, khách quan về một vấn đề giáo dục.
Nội dung: Hỏi ý kiến của các chuyên gia có trình độ, chuyên môn cao về quản lý giáo dục, quản lý ứng dụng CNTT.
- Phương pháp xử lý số liệu nghiên cứu
Mục đích: Phân tích số liệu thu thập được từ phiếu điều tra, khảo sát để đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức và thực trạng HĐQL ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước trên cơ sở tài liệu lý luận về thống kê ứng dụng trong KT-XH.
Nội dung: Sử dụng phương pháp xử lý số liệu toán học thông qua việc sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS để xử lý số liệu. Trong đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng các đại lượng thống kê, bao gồm:
Thống kê mô tả: Bảng phân bố tần số; tỉ lệ phần trăm (%); trị trung bình (Mean); số trung vị (Median); mode; độ lệch chuẩn (Std. Deviation); biểu đồ để nhận định về thực trạng ứng dụng CNTT của CBCC Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước
Kiểm định: Kiểm định Chi Bình phương (Chi Square) để kiểm định mối liên hệ giữa hai biến nghiên cứu.
8. Đóng góp của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa về mặt lý luận
Đề tài đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động của Sở GD&ĐT.
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
9. Cấu trúc của luận văn Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Cấu trúc luận văn gồm có ba phần chính, bao gồm:
Phần nội dung của luận văn gồm có ba chương, bao gồm:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quạn nhà nước.
- Chương 2. Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước.
- Chương 3. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tình hình ứng dụng CNTT trên thế giới
Xã hội loài người phát triển như ngày nay là do con người luôn luôn sáng tạo, áp dụng những thành tựu khoa học vào trong đời sống xã hội. Để tăng năng suất lao động, con người đã thực hiện nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, từ nửa cuối thế kỷ 18 được coi là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, nó có bản chất là quá trình cơ khí hoá, nội dung là sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay. Kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này là sự ra đời của các nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế được chuyển đổi từ thuần tuý nông nghiệp sang công nghiệp với tỷ trọng cao hơn nhiều lần. Từ những năm 50 của thế kỷ 20 con người bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai. Cuộc cách mạng trong giai đoạn này chủ yếu về sự phát triển của ngành năng lượng mới, những vật liệu mới cho phép đổi mới và chế tạo những máy móc mới, công nghệ sinh học … cuộc cách mạng đã chuyển loài người sang một nền văn minh mới “văn minh trí tuệ”. Thành tựu của cách mạng khoa học trong giai đoạn này phải kế đến sự đóng góp của các thế hệ máy tính điện tử. Bản chất của các ứng dụng máy tính là quá trình sử dụng máy tính trong xử lý thông tin để thay thế một phần lao động trí óc, để trợ giúp phần điều khiển bằng trí tuệ của con người. Sau khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời năm 1944, giới học giả Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ “computer science” (khoa học về máy tính) để chỉ ngành khoa học dành riêng cho lĩnh vực này. Người Pháp cho rằng máy tính điện tử dùng làm phương tiện xử lý thông tin, làm cho ngành thông tin phát triển mạnh hơn nên họ dùng thuật ngữ “informatique” (nghĩa là khoa học về xử lý thông tin trên máy tính điện tử). Thuật ngữ “Công nghệ Thông tin” (Information Technology – IT) xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận:
“Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Tuy nhiên, thời kỳ này thuật ngữ IT ít được sử dụng. Nhưng con người không chỉ sử dụng máy tính để xử lý thông tin tại chỗ, người ta còn sử dụng máy tính cho những công việc khác nhau như truyền thông tin. Năm 1969 tại Cơ quan nghiên cứu của Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng đường điện thoại để kết nối 2 máy tính, một đặt tại Los Angeles và một ở trường Đại học Stanford, gần San Francisco. Thí nghiệm này đã đặt nền tảng cho mạng ARPANET và sau đó là mạng toàn cầu Internet mà chúng ta đang sử dụng. Tháng 12 năm 1971, email (thư điện tử) đầu tiên được gửi đi. IBM cho ra đời chiếc PC (máy tính cá nhân) đầu tiên năm 1981, đây là dòng máy tính mà chúng ta dùng phổ biến ngày nay. Ngày 13/11/1990 Tim Berners-Lee, sau khi thông báo ý tưởng về một mạng World Wide Web, Tim Berners-Lee đã bắt tay ngay vào việc viết trang web đầu tiên. Ngày nay Web được sử dụng ở mọi nơi, việc sử dụng được coi như một khái niệm đồng nghĩa với Internet. Cùng với sự phát triển của các loại máy tính, công nghệ điện tử phát triển với tốc độ cao, người ta cho ra đời nhiều máy móc có những chức năng thu thập, lưu trữ, truyền thông tin với dung lượng cao và tốc độ lớn. Như vậy không phải chỉ có máy tính, nhiều loại máy móc thiết bị đã tham gia vào quá trình xử lý thông tin và những năm gần đây thuật ngữ “công nghệ thông tin” để chỉ những vấn đề thuộc về lĩnh vực xử lý thông tin được sử dụng phổ biến.
CNTT đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội. CNTT góp phần tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc ngành công nghiệp hiện đại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp truyền thống, thông qua một hệ thống hỗ trợ như viễn thông, thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Nhiều nước đang phát triển, trong đó có không ít quốc gia tuy nghèo và đi sau, song biết tận dụng cơ hội ứng dụng và phát triển CNTT, nên đã tạo được những bước phát triển vượt bậc. Tiêu biểu trong nhóm nước này phải kể tới là Singapor, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc,..
Các tổ chức quốc tế đã đánh giá cao vai trò của CNTT đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của các nước, do đó đã tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo để tuyên truyền, quảng bá, tổng kết kinh nghiệm, nêu bài học, khuyến cáo chương trình hành động, hướng dẫn các nước hoạch địch chiến lược ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin.
Hội nghị thượng đỉnh G-8 tại Okinawa – Nhật Bản (năm 2000) về xã hội thông tin toàn cầu, đã khẳng định CNTT đang nhanh chóng trở thành một động lực sống còn, tạo tăng trưởng kinh tế cho thế giới. CNTT mang lại cả cơ hội và thách thức lớn cho cả nền kinh tế mới phát triển và đang phát triển.
Nắm bắt được tiềm năng của CNTT, cho phép vượt qua các rào cản lạc hậu về phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ để nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo, cũng như thương mại. Để làm được điều đó các nước đang phát triển phải xây dựng các chiến lược quốc gia, xây dựng môi trường pháp lý và chính sách khuyến khích phát triển và khai thác CNTT để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực CNTT, khuyến khích sáng kiến cộng đồng và hợp tác trong nước
1.1.2. Tình hình ứng dụng CNTT ở Việt Nam
CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại.
Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: “Tập trung phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học,…”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) ngày 30/7/1994 xác định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hóa và tin học hóa nền kinh tế quốc dân”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả; hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”…Để thể chế hóa về mặt nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 04/81993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90”. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ những năm 70 công nghệ thông tin ở nước ta đã được ứng dụng và phát triển, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành cũng như trong công tác chuyên môn đạt hiệu quả cao nhất. Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sau một thời gian thực hiện chỉ thị các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới, trở thành động lực thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác. Ngày 27/8/2017, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân đã ký Quyết định số 1605/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2018-2022. Theo đó, mục tiêu đến năm 2022 là xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển CPĐT; ứng dụng CNTT rộng rãi trong nội bộ cơ quan nhà nước; cung cấp các dịch vụ công trực tuyến sâu rộng phục vụ người dân và doanh nghiệp; hướng tới làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Đây là kế hoạch bản lề, mang tính định hướng cho sự phát triển của ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn 2018- 2022. Sau khi ban hành những chính sách lớn về phát triển CNTT, Chính phủ đã có những chính sách cụ thể về ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp.Quyết định quan trọng là: Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006-2017 theo Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg ngày 15/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp theo. ngày 12/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1073/QĐ-TTg phê duyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2018-2022”. Kế hoạch này đã xác định mục tiêu tổng quát: Thương mại điện tử được sử dụng phổ biến và đạt mức tiên tiến trong các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH đất nước. Nhìn chung, những chủ trương, chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT của Đảng và Nhà nước đã tạo ra định hướng rõ ràng, hỗ trợ và có những tác động tích cực đối với việc thúc đẩy ứng dụng và phát triển CNTT cho cộng đồng doanh nghiệp. Cho tới nay, những chính sách của Nhà nước từ các văn bản như Luật, Nghị định của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đều thể hiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp ứng dụng và phát triển CNTT. Điều này thể hiện sự quyết tâm và cam kết của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Nhà nước đề cao sự bình đẳng, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong việc khuyến khích, thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia vào thế giới số để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh, có đủ khả năng tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng rõ ràng CNTT đã và đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Nhận thức được vai trò to lớn của CNTT nên đã có nhiều tài liệu, công trình, báo cáo viết về ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng đối với giáo dục phổ thông. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Các nhà giáo dục học cũng đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học như: Nguyễn Mạnh Cường (2003), Đổi mới phương pháp giảng dạy với sự hỗ trợ của máy tính niên giám khoa học 2002-2003, Viện nghiên cứu Giáo dục ĐHSP TP. Hồ Chí Minh; Đào Thái Lai (2006), Ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THPT Việt Nam, Viện nghiên cứu giáo dục Việt Nam; Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2017), CNTT cho dạy học tích cực, NXB Giáo dục VN; Mai Văn Trinh, Trương Thị Phương Chi (2023), Thiết kế bài dạy – tự học trên lớp với sự hỗ trợ của E- learning, Tạp chí Khoa học giáo dục số 124; Nguyễn Văn Sinh – Trần Mạnh Hà (2023), Ứng dụng CNTT trong dạy học, NXB Xây Dựng; … Những nghiên cứu này đã đánh giá về tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học, và đồng thời xem các thiết bị về CNTT như là một phương tiện dạy học tích cực hỗ trợ hiệu quả cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học.
Trong lĩnh vực quản lý giáo dục, có nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu sâu về khoa học quản lý như: Trần Kiểm (2006), Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb ĐHSP; Nguyễn Lộc (2017), Lý luận về quản lý, Nxb ĐHSP; Trần Kiểm (2018), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục, Nxb ĐHSP. Đây là những nghiên cứu rất sâu về khoa học quản lý, trong đó các nghiên cứu này đều đã chỉ ra được bốn chức năng cơ bản chung của HĐQL, bao gồm: chức năng lập kế hoạch; chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch; chức năng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; chức năng kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch. Tác giả Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự (2020), Tài liệu học tập bồi dưỡng cán bộ quản lý trường phổ thông, Trường cán bộ QLGD Tp.HCM, tài liệu này đã đi sâu vào nghiên cứu HĐQL giáo dục trong nhà trường vừa đảm bảo tính hàn lâm khoa học, vừa mang tính thực tiễn ứng dụng với việc xây dựng các Mô-đun tập huấn, bồi dưỡng theo các nội dung quản lý ở các trường học, trong đó có HĐQL việc ứng dụng CNTT trong giáo dục nói chung và trong hoạt động dạy học nói riêng, tài liệu này được sử dụng cho việc tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ CBQL ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Về nghiên cứu quản lý ứng dụng CNTT, gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu điển hình như: Lê Hồng Vân (2022), Quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở các trường tiểu học huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội; Tạ Ngọc Mạnh (2023), ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý, điều hành tại ngân hàng nhà nước, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội; Đỗ Đức Minh (2023), Quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Như vậy, đến nay trong giáo dục có khá nhiều nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: quản ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước; quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học. Tức là vẫn thiên về chức năng giáo dục học mà chưa chú trọng nghiên cứu về vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong HĐQL của cơ quan nhà nước nói chung và Sở Giáo dục và Đào tạo nói riêng.
1.2. Những khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
1.2.1. Quản lý
Trong khoa học quản lý, khái niệm “quản lý” được coi là một trong những khái niệm công cụ đặc biệt quan trọng. Vì thế, các nhà khoa học quản lý đã đưa ra nhiều khái niệm về quản lý. Tùy theo cách tiếp cận, quản lý được hiểu với nhiều cách khác nhau như sau:
F.W.Taylo (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo (2017), quản lý bao gồm: Quản có nghĩa là duy trì ổn định, lý là làm cho phát triển. Quản lý là làm cho ổn định và phát triển” [4, tr.6].
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2019):
“Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Ngoài ra, tác giả còn phân định rõ hơn về HĐQL: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [14, tr.9].
Theo Phạm Viết Vượng (2003), “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [49, tr.40].
Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều thể hiện một số điểm chung nhất về quản lý như sau: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.
Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý và có thể biểu diễn qua sơ đồ đơn giản sau:
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức và điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định, dựa trên những quy luật khách quan.
Tóm lại: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành thuận lợi và đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.2. Công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
- Công nghệ thông tin
Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Đây là những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp 2.0. Trong bài viết này hai tác giả Leavitt và Whisler đã đưa ra: công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Vì thế chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin. Theo thời gian, CNTT đã có nhiều định nghĩa được đưa ra, hoàn thiện hơn.
Theo Nguyễn Văn Sinh và Trần Mạnh Hà (2023) xem CNTT như là một ngành kĩ thuật, nghiên cứu các ứng dụng của khoa học tính toán, sử dụng công nghệ máy vi tính, phần mềm máy tính và các phương tiện truyền thông để xử lý dữ liệu, xử lý thông tin, tổ chức lưu trữ, quản lý, sử dụng và khai thác dữ liệu, thông tin một cách hiệu quả, nhanh chóng, thuận tiện và chính xác [33, tr.32].
Tại Việt Nam, Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ đã định nghĩa: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”.
CNTT là một ngành ứng dụng công nghệ vào quản lý xã hội, xử lý thông tin. Có thể hiểu CNTT là ngành sử dụng máy tính và các phương tiện truyền thông để thu thập, truyền tải, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền thông tin. Hiện nay, có nhiều cách hiểu về CNTT.
Gần đây nhất, khái niệm CNTT được quy định như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” (Khoản 1, Điều 4 Luật CNTT 2006).
Như vậy, CNTT có thể xem như là công cụ kỹ thuật hiện đại hỗ trợ cho quá trình sản xuất phát triển. Trong giáo dục, CNTT vừa là đối tượng học tập, vừa là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc quản lý, giảng dạy và học tập để nâng cao chất lượng giáo dục.
- Ứng dụng công nghệ thông tin Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Ứng dụng CNTT trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm mục tiêu phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành cũng như trong công tác chuyên môn đạt hiệu quả cao nhất. Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sau một thời gian thực hiện chỉ thị các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới, trở thành động lực thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác.
Một trong những ứng dụng nổi bật của CNTT đó là hệ thống hóa mạng máy tính. Các tiêu chuẩn Web thế hệ mới, hệ thống Điện toán đám mây (Cloud computing); Dữ liệu lớn (Big data); Trí tuệ nhân tạo (AI); Vạn vật kết nối (Internet of Thing – IoT); Máy học (Machine Learning); Thực tế ảo (AR); Chuỗi khối (Blockchain),.. được ra đời. Nhờ vào sự phát triển của CNTT, hệ thống thông tin toàn cầu được kết nối.
Khái niệm ứng dụng CNTT được cụ thể hóa trong văn bản luật Việt nam như sau: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” (Khoản 5, Điều 4 Luật CNTT 2006).
1.2.3. Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin
Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản bao gồm 06 mô đun; Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT nâng cao bao gồm 09 mô đun. Trong mỗi Mô đun và mỗi mức độ, Thông tư này cũng đã đính kèm Bộ mã tham chiếu chi tiết cho từng yêu cầu về kỹ năng cần đạt được của các mức độ. Cá nhân đạt Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT nâng cao phải đạt Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT cơ bản, đồng thời đáp ứng yêu cầu của tối thiểu 03 mô đun trong số 09 mô đun nâng cao[6, tr.10].
1.2.4. Quản lý công nghệ thông tin
Quản lý đối với lĩnh vực CNTT là việc Nhà nước sử dụng quyền lực công để điều chỉnh các hoạt động CNTT nhằm xây dựng, tổ chức, lưu trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động KT-XH, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,..
Theo khái niệm này, quản lý đối với lĩnh vực CNTT đó là xây dựng, ban hành các chủ trương, chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT; hình thành nên các tổ chức với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp để quản lý các hoạt động CNTT.
Cũng theo khái niệm này, quản lý còn là sự thúc đẩy, kích thích đảm bảo phát triển ổn định và liên tục của CNTT thông qua: xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT, phát triển nguồn nhân lực về CNTT, xây dựng và triển khai các chương trình, dự án, chiến lược phát triển CNTT và ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội…
1.2.5. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Quản lý ứng dụng CNTT là việc cơ quan, tổ chức sử dụng quyền lực công để điều chỉnh các hoạt động ứng dụng CNTT nhằm phát huy hiệu quả cao nhất của ứng dụng CNTT vào hoạt động của tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này.
Đó là việc xây dựng tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực về ứng dụng CNTT, ban hành các chủ trương chính sách và các quy định, quy chuẩn kỹ thuật về ứng dụng CNTT, để đảm cho bảo ứng dụng CNTT phát huy hiệu quả cao nhất nhằm phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng và thúc đẩy cải cách hành chính. Cùng với đó là việc xây dựng và ban hành các kế hoạch tổng thể về ứng dụng CNTT, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về ứng dụng CNTT.
Vậy, Quản lý ứng dụng CNTT là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính khoa học trong việc thực hiện ứng dụng CNTT các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế – xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này.
1.2.6. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở GD&ĐT
Quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT là quá trình tác động có định hướng của lãnh đạo Sở GD&ĐT trong hoạt động quản lý ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan Sở GD&ĐT và giữa cơ quan Sở GD&ĐT với các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch.
1.3. Lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
1.3.1. Vai trò của ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước góp phần nâng cao năng lực quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước, phục vụ tốt hơn, có hiệu quả hơn cho người dân và doanh nghiệp và góp phần đẩy nhanh tiến trình đơn giản hóa thủ tục hành chính. Cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính cần được chứng minh theo một cách nhanh chóng, có thể đo lường được cần phải ứng dụng tin học, ngược lại ứng dụng tin học phải được xem là chìa khóa để “mở và đo lường được” nhận thức về công khai, minh bạch trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính như các quốc gia phát triển đã từng thành công .
Tăng năng suất, hiệu quả công việc của CBCC: Ứng dụng CNTT sẽ giúp CBCC rút ngắn thời gian giải quyết công việc, giải quyết được nhiều công việc hơn trong một đơn vị thời gian; sự phối hợp hợp tác trong công việc dễ dàng hơn, nhanh hơn và rộng hơn nhiều so với không ứng dụng CNTT.
Bên cạnh đó, CNTT giúp cho CBCC lao động chuyên nghiệp, khoa học và năng động hơn. Bởi lẽ, khi ứng dụng CNTT sẽ loại bỏ được nhiều quy trình, thủ tục rườm rà; cho phép sắp xếp, lưu trữ, tra cứu hồ sơ, tài liệu dễ dàng hơn, nhanh hơn, ngăn nắp hơn; tốc độ trao đổi, hồi đáp thông tin nhanh hơn, đòi hỏi CBCC phải năng động hơn.
Giảm chi phí hành chính: Ứng dụng CNTT sẽ giúp giảm văn bản giấy, từ đó giảm chi phí văn phòng phẩm; trao đổi qua phương tiện điện tử sẽ giảm chi phí bưu phẩm, thư tín, nhân công; sử dụng văn bản điện tử sẽ giảm chi phí hạ tầng phục vụ lưu trữ bản giấy;… CNTT cho phép tổ chức các hội nghị, hội thảo, cuộc họp trực tuyến, từ đó giảm chi phí đi lại, ăn ở,…
Là yếu tố thúc đẩy thực hiện quả chính sách tinh giản biên chế: Ứng dụng CNTT sẽ giúp tăng năng suất lao động, nhu cầu về nhân lực sẽ giảm bớt, từ đó giảm sức ép tăng biên chế của mỗi cơ quan đơn vị, mặt khác nó sẽ giúp cơ cấu lại lao động hợp lý hơn, đó cũng là cơ sở để tinh giản biên chế.
Đơn giản hóa, tinh gọn quy trình, thủ tục nội bộ: Quy trình, thủ tục càng đơn giản bao nhiêu, thì việc ứng dụng CNTT càng khả thi bấy nhiêu.
Một phần mềm càng ít bước thực hiện, ít điều kiện kèm theo, thì càng dễ viết và thực hiện ít bị vướng mắc. Như vậy có thể nói, để ứng dụng CNTT hiệu quả, các quy trình, thủ tục cần phải đơn giản hóa tối đa.
Tham mưu tốt hơn nhờ có nhiều thông tin: Ứng dụ ng CNTT sẽ giúp công chức nhà nước thu thập được nhiều thông tin hơn, ngược lại chia sẻ thông tin tốt hơn, từ đó có được thông tin đa chiều để nghiên cứu, tham khảo trước khi đưa ra ý kiến tham mưu, đề xuất. Một ý kiến tham mưu, một quyết định hành chính được đưa ra từ kết quả phân tích, đánh giá thông tin đa chiều sẽ đem lại tính đúng đắn cao. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Xử lý công việc mọi lúc, mọi nơi: CNTT giúp CBCC nhà nước có thể xử lý công việc, cung cấp thông tin, cũng như giao dịch khác mọi lúc mọi nơi qua môi trường mạng khi có yêu cầu. Qua đó, đáp ứng nhanh kịp th ời yêu cầu của đối tượng quản lý và đối tác .
Giảm bớt phiền hà cho người dân, tổ chức; hạn chế tiêu cực: Ứng dụng CNTT cho phép cơ quan nhà nước xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Khi đó, nhiều giấy tờ liên quan đến thủ tục hành chính, cơ quan quản lý có thể tra cứu trên hệ thông cơ sở dữ liệu để xác minh, đối tượng quản lý không phải giao nộp bản giấy như hiện nay. Làm được điều này, sẽ giảm phiền hà và tiết kiệm thời gian, kinh phí và công sức của người dân, doanh nghiệp. Ngoài ra, khi ứng dụng CNTT cung cấp dịch vụ công trực tuyến, mức độ càng cao, thì người dân càng ít phải tiếp xúc trực tiế p với người giải quyết công vụ, khi đó sẽ hạn chế tối đa hiện tượng tiêu cực khi giải quyết thủ tục hành chính.
Trình độ, năng lực của công chức không ngừng nâng cao, nhờ được ĐTBD nhiều hơn: CNTT sẽ giúp CBCC dễ dàng tìm hiểu, nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu chia sẻ trên môi trường mạng (hay nói cách khác, CBCC sẽ có môi trường tốt hơn trong tự học tập); CNTT giúp một khóa ĐTBD được tổ chức cho nhiều người được tham dự thông qua hình thức ĐTBD trực tuyến.
Thực hiện tốt hơn chủ trương công khai, minh bạch HĐQL nhà nước: Với quy định phải xây dựng website và quy định những thông tin phải cung cấp trên đó, chính sách công khai, minh bạch thông tin quản lý ngày càng thực tế hơn. Mặt khác, thông qua website hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách quản lý,… đến đối tượng quản lý sẽ hiệu quả hơn.
Còn nhiều những lợi ích khác khi ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Có thể nói rằng, ứng dụng tốt CNTT trong HĐQL nhà nước sẽ tạo nên nền hành chính h ện đại, chuyên nghiệp, nền hành chính vì dân.
1.3.3. Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Điều 26 Luật Công nghệ thông tin 2006 quy định nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và tại Sở GD&ĐT nói riêng như sau:
- Một là, xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT phục vụ cho hoạt động của Sở GD&ĐT và hoạt động trao đổi, cung cấp thông tin giữa Sở GD&ĐT với tổ chức, cá nhân.
- Hai là, xây dựng, thu thập và duy trì CSDL ngành (đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; học sinh; tài sản, tài chính,..) phục vụ cho HĐQL của Sở GD&ĐT (lập kế hoạch, thống kê, báo cáo,..) và phục vụ lợi ích công cộng.
- Ba là, xây dựng các biểu mẫu phục vụ cho việc trao đổi, cung cấp thông tin và lấy ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng.
- Bốn là, thiết lập Trang/Cổng thông tin điện tử phụ vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin.
- Năm là, cung cấp, chia sẻ thông tin với cơ quan khác của Nhà nước.
- Sáu là, thực hiện việc cung cấp dịch vụ công trên môi trường mạng.
- Bảy là, xây dựng, thực hiện kế hoạch đào tạo, nâng cao nhận thức và trình độ ứng dụng CNTT của CBCC.
- Tám là, xây dựng môi trường tổ chức và các chính sách ứng dụng CNTT
1.4. Lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
1.4.1. Vai trò của quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Ngoài những ưu điểm nêu trên, CNTT cũng tác động tiêu cực một phần nhỏ trong đời sống như làm con người lười biếng hơn, con cái nghiện game hơn, hoặc xa vào những tội phạm trên mạng. Ứng dụng CNTT vào đời sống là điều hết sức cần thiết, nhà nước và các cơ quan, tổ chức cần có sự quản lý chặt chẽ và đúng đắn để phát huy vai trò của nó, đó là:
Thứ nhất, đảm bảo tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, CSDL quốc gia. Trong xã hội hiện nay, thông tin đã trở thành một nguồn tài nguyên (tài nguyên thông tin). Tài nguyên thông tin cũng giống như những tài nguyên vật chất khác (như đất đai, rừng, khoáng sản, năng lượng…) là tài sản cực kỳ quý giá của đất nước, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Việc khai thác và ứng dụng tài nguyên thông tin đã trở thành một ngành nghề kinh doanh của rất nhiều nước (kinh doanh thông tin), và cũng đã trở thành điểm tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế các nước. Tài nguyên thông tin cũng là nguồn tài nguyên mang tính chiến lược quan trọng, vị trí của nó trong các lĩnh vực như quân sự, ngoại giao, chính trị,.. và giá trị ứng dụng thực tế ngày càng được nâng cao, tài nguyên thông tin và các thiết bị được thông tin hoá đã trở thành thứ dùng để thể hiện sức mạnh tổng hợp của một quốc gia.
Bên cạnh vấn đề về tài nguyên thông tin, CSDL quốc gia cũng được xác định có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống KT-XH. CSDL ngày nay được biết đến như một thư viện, một nguồn thông tin đáng tin cậy mà trong đó CSDL quốc gia là nguồn thông tin có độ tin cậy và tính pháp lý cao. Mọi thông tin đều có thể truy cập, tiếp cận từ hệ thống các CSDL khác nhau và có tính mở, nhờ đó các thông tin, dữ liệu đều được chia sẻ và trở thành tài sản chung của cộng đồng. Để đảm bảo tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, CSDL quốc gia thì vai trò của quản lý ứng dụng CNTT được đặt lên hàng đầu.
Thứ hai, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT. Sự phát triển nhanh và mạnh của CNTT trong những năm qua đã phát sinh nhiều lỗ hổng trong công tác an ninh, bảo mật. Nhiều cơ quan, đơn vị đã phải đối mặt với việc hình thành và lan tràn nhiều biến thể virus mới, việc tấn công trên mạng ngày càng nở rộ với quy mô mang tính chất quốc tế rõ rệt, với mục đích vụ lợi và đánh cắp tài chính. Các Trang/Cổng thông tin điện tử trong nước liên tiếp bị tấn công với mức độ phức tạp và ngày càng gia tăng… Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia phải được bảo vệ. UBND các cấp, lực lượng vũ trang và tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng thông tin có trách nhiệm phối hợp bảo vệ an toàn cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng thông tin thuộc thẩm quyền quản lý; chịu sự quản lý, thanh tra, kiểm tra và thực hiện các yêu cầu về bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng thông tin và an ninh thông tin của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng thông tin có trách nhiệm tạo điều kiện làm việc, kỹ thuật, nghiệp vụ cần thiết để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm soát và bảo đảm an ninh thông tin khi có yêu cầu (Điều 60 Luật CNTT 2006).
Để làm được điều đó, vai trò của quản lý ứng dụng CNTT rất quan trọng, đó là: xây dựng các cơ chế chính sách, quy định về an toàn, an ninh thông tin, đầu tư trang thiết bị, đào tạo đội ngũ CBCC về CNTT, tăng cường công tác thanh, kiểm tra các hoạt động liên quan đến công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.
Thứ ba, đảm bảo ứng dụng và sử dụng CNTT vào hoạt động thúc đẩy sự phát triển KT-XH. Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT đó là: Ưu tiên ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lược phát triển KT-XH và sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Vai trò của quản lý đối với lĩnh vực CNTT là triển khai thực hiện chính sách đó với các nội dung chủ yếu:
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan, tổ chức.
- Ứng dụng CNTT trong thương mại.
- Ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực như giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa thể thao, du lịch, quốc phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác.
Chính sách của Nhà nước về đảm bảo ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực này được thể hiện: Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong việc dạy, học, tuyển sinh, đào tạo và các hoạt động khác trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo trên môi trường mạng, chịu trách nhiệm xây dựng, triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục – đào tạo. Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế, văn hóa, thể thao, du lịch, quốc phòng, an ninh,…
1.4.2. Nội dung quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo
Căn cứ các quy định của Trung ương (Chính phủ, Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ GD&ĐT) và địa phương (UBND tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông), nội dung quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT gồm 04 nội dung sau:
- Lập kế hoạch quản lý ứng dụng CNTT
Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời gian tiến hành (Từ điển Tiếng Việt, 2023).
Việc lập kế hoạch quản lý ứng dụng CNTT như bất kỳ việc lập kế hoạch nào khác sẽ được tiến hành thông qua ba giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Thiết lập các mục tiêu về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan. Để có những mục tiêu xác thực, chúng ta cần xác định thực trạng của cơ quan, bao gồm: xác định trình độ ứng dụng CNTT của đội ngũ CBCC; xác định về tình hình cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT. Từ đó, sẽ thiết lập các mục tiêu phù hợp với thực tế, bảo đảm mục tiêu xác lập có tính thiết thực, mang tính chiến lược và khả thi. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Giai đoạn thứ hai: Nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu. Đây là giai đoạn quan trọng để giúp cơ quan xác định và khẳng định được tính khả thi của mục tiêu đề ra. Việc nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu ứng dụng CNTT trong HĐQL, bao gồm: xác định trình độ ứng dụng CNTT của đội ngũ CBCC; xác định chất lượng của đội ngũ CBCC chuyên trách về CNTT, họ sẽ là những người tiên phong trong việc ứng dụng CNTT trong HĐQL, đồng thời họ chính là đội ngũ thực hiện hoạt động ĐTBD, tư vấn, hướng dẫn cho đội ngũ CBCC của cơ quan trong việc ứng dụng CNTT trong HĐQL; xác định nhu cầu và thực tế mà cơ quan đang có về các trang thiết bị CNTT; xác định nguồn kinh phí mua sắm trang thiết bị CNTT, cũng như kinh phí để tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ CBCC.
Giai đoạn thứ ba: Lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL. Ở giai đoạn này, cơ quan cần có những quyết định về cách thức, phương pháp hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu đề ra. Có thể nói đây là giai đoạn mang tính định hướng, và cũng chính là giai đoạn truyền thông điệp của lãnh đạo đến với tập thể đội ngũ CBCC về định hướng hoạt động ứng dụng CNTT trong HĐQL, việc lập kế hoạch càng chi tiết, càng xác thực, có tầm nhìn sẽ giúp cho CBCC nhận thức và có niềm tin vào thành công trong việc thực hiện kế hoạch đề ra. Đối với việc xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL chúng ta có thể xây dựng lồng ghép trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ hàng năm của cơ quan. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong HĐQL, hàng năm lãnh đạo xác định thực trạng về mức độ ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC để xây dựng các kế hoạch mang tính tác nghiệp, bao gồm:
- Kế hoạch sửa chữa, thay thế, bổ sung hạ tầng kỹ thuật CNTT
Căn cứ vào tình hình thực tế của cơ quan, bao gồm việc xác định:
- Thống kê, xác định hạ tầng kỹ thuật CNTT hiện có của cơ quan phục vụ cho HĐQL như: các thiết bị mạng, mạng LAN, mạng WAN, tốc độ đường truyền Internet, wifi, thiết bị an ninh an toàn, phần mềm diệt virus, thiết bị ngoại vi và thiết bị phụ trợ, máy chủ, máy trạm..;
- Dự báo về nhu cầu về hạ tầng kỹ thuật CNTT phục vụ cho năm tới;
- Xác định nguồn kinh phí.
Từ đó, lãnh đạo lập kế hoạch sửa chữa, thay thế, bổ sung về hạ tầng kỹ thuật CNTT cho cơ quan theo từng năm hoặc cho giai đoạn. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
- Kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL.
Trên cơ sở kế hoạch chung về ứng dụng CNTT trong năm. Lãnh đạo cơ quan lập kế hoạch về việc ứng dụng CNTT trong HĐQL, bao gồm:
- Thống nhất về việc ứng dụng CNTT trong việc gửi, nhận văn bản điện tử;
- Thống nhất về phương thức trao đổi, chia sẻ thông tin qua mạng internet;
- Yêu cầu các phòng thuộc cơ quan xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của từng phòng.
- Xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT để phục vụ người dân và các tổ chức thồn qua việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.
- Kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo trình độ CNTT cho CBCC. Lãnh đạo cơ quan khảo sát để nắm rõ về trình độ năng lực ứng dụng CNTT của đội ngũ CBCC. Từ đó, lập kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo về CNTT cho đội ngũ CBCC của cơ quan.
- Kế hoạch huy động nguồn kinh phí ứng dụng CNTT. Lãnh đạo cơ quan lập kế hoạch để huy động nguồn kinh phí phục vụ cho việc ứng dụng CNTT có hiệu quả bao gồm: Kinh phí từ nguồn chi cho hoạt động chuyên môn hàng năm; kinh phí hỗ trợ từ các doanh nghiệp viễn thông, CNTT; kinh phí từ các nhà mạnh thường quân,..
Tóm lại, để đạt được hiệu quả ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành của cơ quan, lãnh đạo cần phải xây dựng kế hoạch thật cụ thể, phù hợp với đặc điểm của cơ quan. Kế hoạch chỉ thực sự hiệu quả nếu kế hoạch đó xác định đúng thực trạng, xác định đúng nhu cầu phát triển và các biện pháp thực hiện đúng.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT
Tổ chức là làm thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định (Từ điển Tiếng Việt, 2023)
Như vậy, tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, guồng máy của hệ thống, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận để thực hiện kế hoạch đề ra. Căn cứ vào kế hoạch ứng dụng CNTT và tình hình thực tế của cơ quan, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT của cơ quan. Ban này giúp cho hoạt động tổ chức có hệ thống và đồng bộ mang tính toàn diện. Trong mạng lưới cơ cấu tổ chức này phải bảo đảm được các thành viên chủ chốt bao gồm: lãnh đạo là Trưởng Ban chỉ đạo; Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Phân công, phân nhiệm rõ ràng cho các cá nhân, bộ phận phụ trách công tác quản lý ứng dụng CNTT của cơ quan. Cụ thể, phân công Chánh Văn phòng là Phó Trưởng ban chỉ đạo thường trực; đội ngũ CBCC chuyên trách CNTT và Trưởng các phòng là thành viên. Đối với việc ứng dụng CNTT trong HĐQL thì các phòng thuộc cơ quan chính là nơi trực tiếp triển khai thực hiện, chính vì vậy lãnh đạo phải thực hiện phân công, phân nhiệm rõ ràng cho các Trưởng phòng một cách chặt chẽ, khoa học bảo đảm gắn liền với chức năng và nhiệm vụ tương ứng của từng phòng.
Để thực hiện thành công mục tiêu ứng dụng CNTT trong HĐQL cần thiết phải thành lập bộ phận chuyên trách về CNTT, đây là đội ngũ đóng vai trò tiên phong trong các hoạt động ứng dụng CNTT của cơ quan. Các thành viên trong đội ngũ CBCC chuyên trách là những CBCC có trình độ chuyên môn và kỹ năng sử dụng CNTT tốt, được đồng nghiệp tín nhiệm.
Ngoài ra, để hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT đạt mục tiêu đề ra, lãnh đạo cần xây dựng và ban hành các văn bản quy định có liên quan đến hoạt động này. Những văn bản quy định trong hoạt động tổ chức sẽ mang tính pháp lý, tính thống nhất và tính bắt buộc để thực hiện mục tiêu ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan. Hoạt động tổ chức nếu thực hiện tốt sẽ tạo ra được mạng lưới kết nối liên tục, hiệu quả trong cơ quan.
- Lãnh đạo, chỉ đạo việc ứng dụng CNTT
Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện; chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể, theo một đường lối, chủ trương nhất định (Từ điển Tiếng Việt, 2023).
Như vậy, lãnh đạo, chỉ đạo ứng dụng CNTT là việc tổ chức, hướng dẫn, động viên của lãnh đạo đến đội ngũ CBCC trong cơ quan để thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra.
Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan cho đến nay không còn là vấn đề mới mẻ, nhưng cũng chưa hẳn đã được phổ biến rộng rãi. CBCC còn gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại như: Tâm lý ngại thay đổi; trình độ CNTT còn hạn chế; trang thiết bị về CNTT còn thiếu và chưa đồng bộ; … Chính vì vậy, việc lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo cơ quan đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch, vai trò lãnh đạo mang tính định hướng, hướng dẫn, dẫn dắt của người lãnh đạo là hết sức quan trọng, nó mang ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện thành công kế hoạch đề ra.
Muốn việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan của đội ngũ CBCC có hiệu quả, trước hết chính lãnh đạo cơ quan cần phải hiểu rõ tầm quan trọng và vai trò của ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành. Lãnh đạo phải thường xuyên theo dõi, động viên, hỗ trợ, khuyến khích kịp thời để CBCC có điều kiện thuận lợi và động lực để thực hiện hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan, bao gồm:
- Quan tâm, theo dõi, động viên, khuyến khích và hướng dẫn việc ứng dụng CNTT cho đội ngũ CBCC;
- Chỉ đạo thống nhất việc quản lý, xử lý và gửi nhận văn bản điện tử;
- Chỉ đạo ứng dụng CNTT trong HĐQL: nhân sự, tài chính, thống kê, báo cáo, cơ sở vật chất,..;
- Chí đạo việc cung cấp các dịch vụ công mức độ 3, 4 phục vụ các tổ chức, cá nhân;
- Chỉ đạo tổ chức các buổi tập huấn, ĐTBD,.. liên quan đến ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC.
- Kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
“Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”; “Đánh giá là nhận định giá trị” (Từ điển Tiếng Việt, 2023).
Như vậy, kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan là quá trình xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Trong đó, việc đánh giá là quá trình đưa ra những nhận định về giá trị của số liệu thu được từ quá trình kiểm tra bằng việc quan sát, mô tả về việc ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC.
Có thể nói đây là giai đoạn kết thúc của một chu trình quản lý, nhưng nó chính là sự khởi đầu cho một chu trình quản lý mới. Thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá hoạt động ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan, lãnh đạo cơ quan sẽ có những nhìn nhận, đánh giá để bổ sung, hoàn chỉnh các kế hoạch tiếp theo. Muốn hoạt động kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan có hiệu quả, lãnh đạo cần thực hiện các công việc cụ thể như sau:
- Lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan, gồm:
- Kế hoạch kiểm tra trình độ CNTT của đội ngũ CBCC;
- Kế hoạch kiểm hạ tầng kỹ thuật CNTT;
- Kế hoạch kiểm tra việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC;
- Ban hành các tiêu chí, các quy định về hoạt động kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan, bao gồm:
- Xây dựng và ban hành bộ tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu việc ứng dụng CNTT trong hoạt động điều hành của đội ngũ CBCC;
- Xây dựng và ban hành bộ tiêu chí để đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC;
- Xây dựng và ban hành các quy định về các hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
Thứ nhất, môi trường pháp lý quản lý CNTT. Đây là cơ sở để thực hiện quản lý đối với mọi ngành nghề nói chung, quản lý lĩnh vực CNTT nói riêng. Chính vì thế, để quản lý bất kỳ nước nào cũng phải ban hành các đạo luật, văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ công tác quản lý. Ở nước ta, những năm qua, Đảng, Quốc hội, Chính phủ trong khi chú trọng đến vị trí, vai trò của CNTT, đã ban hành nhiều đạo Luật, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động, quản lý và phát triển về CNTT. Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ CNH-HĐH; Nghị quyết số 36-NQ-TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, đã thực sự là kim chỉ nam cho ứng dụng CNTT phát triển. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
Thứ hai, chính sách đầu tư. Chính sách đầu tư là điều kiện đảm bảo cho phát triển một ngành, một lĩnh vực kinh tế nhất định. Đặc biệt đối với lĩnh vực CNTT, là một ngành mới, non trẻ, chính sách đầu tư càng có vị trí quan trọng. Ở nước ta, Luật CNTT (2006) quy định chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT, theo đó Nhà nước ưu tiên ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lược phát triển KT-XH và sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư vào hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp CNTT phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu.
Thứ ba, tổ chức bộ máy quản lý về CNTT. Tổ chức bộ máy quản lý là điều kiện để tổ chức thực thi QLNN về CNTT và quản lý, chỉ đạo và điều hành các hoạt động ứng dụng CNTT. Thể hiện ở chỗ hệ thống bộ máy quản lý được hình thành từ Trung ương đến cơ sở. Ở nước ta, Luật CNTT quy định Chính phủ thống nhất quản lý về CNTT trên cơ sở hình thành các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương. Mỗi địa phương tuỳ theo từng điều kiện cụ thể sẽ phải tổ chức bộ máy quản lý sao cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương mình.
Thứ tư, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực CNTT. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho quản lý và phát triển CNTT. Sự phát triển của CNTT suy đến cùng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng nguồn nhân lực CNTT. Để đảm bảo nguồn nhân lực cho quản lý và phát triển CNTT, ở nước ta Luật CNTT đã quy định chính sách của Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực CNTT.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này tác giả đã nghiên cứu các vấn đề cơ bản của cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, đồng thời khẳng định tính đúng đắn của hướng nghiên cứu của đề tài. Các vấn đề được giải quyết trong chương này, bao gồm:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT đã được các nước trên thế giới ứng dụng từ những năm 50 và ở Việt Nam được ứng dụng vào những năm 90.
Trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã có nhiều công trình khoa học được công bố trong lĩnh vực này. Đặc biệt có những đề tài nghiên cứu đã đi sâu vào việc phân tích thực trạng, cũng như đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT trong HĐQL của cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, ở Việt Nam cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu về HĐQL nói chung và hoạt động ứng dụng CNTT trong HĐQL nói riêng, các đề tài này tập trung vào việc nghiên cứu về khoa học quản lý, khoa học quản lý giáo dục và thực trạng HĐQL ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học trong địa bàn một số tỉnh, thành ở Việt Nam;
Thứ hai, dựa trên quan điểm của giáo dục học, lý luận dạy học, khoa học về công nghệ thông tin, khoa học quản lý và các nghiên cứu liên quan, tác giả đã xây dựng và làm rõ các khái niệm có liên quan, cũng như hệ thống về mặt lý luận các hoạt động có liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm: hoạt động ứng dụng CNTT; HĐQL ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước nói riêng. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục […]