Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Khái quát về tỉnh Bình Phước
Bình Phước là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 120km theo đường Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14, cách 102 km theo đường Tỉnh lộ 741; phía Bắc giáp tỉnh Đăk Nông và Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai; Bình Phước là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và Campuchia, có đường biên giới tiếp giáp với 03 tỉnh của Vương quốc Campuchia (Tbong Khmum, Kratie, Mundulkiri) dài 260,433km; diện tích tự nhiên 6.857,55km2, gồm 11 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố, 02 thị xã và 08 huyện) với 111 xã, phường, thị trấn; dân số của tỉnh tính đến tháng 02 năm 2026 là khoảng 01 triệu người, với 41 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm khoảng 19,72% (chủ yếu là dân tộc S’tiêng và Khmer), có 08 tôn giáo được công nhận hoạt động gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam và đạo Ba ha’i.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) năm 2025 tăng 7,63%, trong đó khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 9,93%; khu vực dịch vụ tăng 6,45%; khu vực nông thôn, lâm, thủy sản tăng 5,16%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,25% so với năm 2024; thu ngân sách đạt 8.276 tỷ đồng, chi ngân sách 9.669 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, ngành lâm nghiệp và thủy sản chiếm 26,15%; công nghiệp và xây dựng chiếm 38,09%; dịch vụ chiếm 35,76; kim ngạch xuất khẩu 2.240 tỷ đồng, nhập khẩu 1.415 tỷ đồng; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 13,5%; số bác sỹ/vạn dân là 7,8 người; tỷ lệ lao động qua đào tạo 52%; tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 98,7%; tỷ lệ hộ dân dùng nước hợp vệ sinh 95,3%. GRDP bình quân đầu người đạt 58,03 triệu đồng, tăng 7,98% so với năm 2024.
Biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh từ năm 2024 đến năm 2026 lần lượt là 1.999 người, 1.969 người và 1.872 người.
2.1.2. Khái quát về Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Sở GD&ĐT Bình Phước là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ GD&ĐT. Thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh QLNN về GD&ĐT trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân cấp được giao hoặc được ủy quyền của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh.
Từ năm 2024 đến tháng 01 năm 2026, tổ chức bộ máy của Sở GD&ĐT thực hiện theo Quyết định số 36/2023/QĐ-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2023 của UBND tỉnh về ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở GD&ĐT. Theo đó, có 10 phòng chức năng, chuyên môn với biên chế 54 CBCC (01 Giám đốc, 03 Phó Giám đốc; 27 Trưởng, Phó phòng; 23 chuyên viên).
Từ tháng 02 năm 2026, thực hiện Quyết định số 07/2026/QĐ-UBND ngày 18 tháng 01 năm 2026 của UBND tỉnh về ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở GD&ĐT, gồm: Lãnh đạo Sở GD&ĐT và 04 phòng chức năng, chuyên môn (Văn phòng, Phòng Giáo dục Mầm non – Tiểu học, Phòng Giáo dục Trung học, Thanh tra – Kiểm định chất lượng giáo dục) với biên chế 52 (01 Giám đốc, 03 Phó Giám đốc; 12 Trưởng, Phó phòng; 36 chuyên viên). Số CBCC có trình độ chuyên môn sau đại học là 10 người, chiếm tỷ lệ 19,23%; số CBCC có trình độ LLCT từ trung cấp trở lên là 30 người, chiếm tỷ lệ 57,69% (trong đó 16 người có trình độ cao cấp LLCT, tỷ lệ 30,77%); số CBCC đã được ĐTBD chương trình QLGD là 24 người, chiếm tỷ lệ 46,15% (trong đó có 14 người trình độ ThS QLGD, tỷ lệ 26,92%).
Về độ tuổi, giới tính: Độ tuổi trung bình của đội ngũ CBCC xấp xỉ 45 tuổi. Trong đó, dưới 40 tuổi: 10 người (19,23%); từ 40 đến 50 tuổi: 29 người (55,77%); từ 51 đến 60 tuổi: 13 người (25%). Số CBCC nữ năm 2024 là 21/54 người, tỷ lệ 38,89%; năm 2025 là 21/52 người, tỷ lệ 40,38%. Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
- Biểu đồ 2.1. Thống kê độ tuổi của CBCC (tính đến tháng 02/2026).
Về trình độ chuyên môn, đảng viên: 100% CBCC có trình độ từ đại học trở lên. Trong đó, 10 người có trình độ chuyên môn Thạc sĩ và 42 người có trình độ chuyên môn đại học. Số CBCC là đảng viên 48/52 người (tỷ lệ 92,31%; đảng viên nữ 18 người, tỷ lệ 37,5%).
- Biểu đồ 2.2. Thống kê CBCC là đảng viên (tính đến tháng 02/2026).
Trình độ LLCT: 100% CBCC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có trình độ LLCT từ trung cấp trở lên. Năm 2024, CBCC có trình độ cao cấp LLCT 13 người (24,07%); trung cấp LLCT 30 người (55,56%); sơ cấp LLCT 11 người (20,37%); năm 2025, đội ngũ CBCC có trình độ cao cấp LLCT 17 người (32,69%); trung cấp LLCT 26 người (50%); sơ cấp 9 người (17,31%).
- Biểu đồ 2.3. Thống kê trình độ LLCT của đội ngũ CBCC năm 2024, 2025.
Trình độ QLNN: 100% CBCC được bồi dưỡng QLNN chương trình chuyên viên trở lên. Năm 2024 chuyên viên cao cấp 01 người (1,85%), chuyên viên chính 16 người (29,63%), chuyên viên 37 người (68,52%); năm 2025 chuyên viên chính 22 người (42,31%), chuyên viên 30 người (57,69%).
- Biểu đồ 2.4. Thống kê trình độ QLNN của CBCC năm 2024, 2025.
Trình độ QLGD: Năm 2024, số CBCC đã qua ĐTBD chương trình QLGD là 22 người (ThS: 11 người; đại học 2 người và chứng chỉ 9 người), chiếm tỷ lệ 40,74%; năm 2025, có 24 người đã qua ĐTBD QLGD (ThS: 14 người; đại học 2 người và chứng chỉ 9 người), chiếm tỷ lệ 46,15%;
- Biểu đồ 2.5. Trình độ QLGD của đội ngũ CBCC năm 2024, 2025.
Trình độ Tin học, ngoại ngữ: Trong tổng số 52 CBCC thì có 49 người (tỷ lệ 94,23%) đạt trình độ Tin học chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin theo quy định tại Thông tư số 03/2021/TT-BTTTT ngày 11 tháng 3 năm 2021 của Bộ thông tin và Truyền thông; 51 người có trình độ tiếng Anh từ A1 đến B2, đạt tỷ lệ 98,08%.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước nhằm làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế. Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tốt hơn.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
- Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
2.2.3. Phương pháp khảo sát
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Nghiên cứu các văn bản, báo cáo, thống kê, đánh giá có liên quan đến hoạt động quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
Phương pháp điều tra viết: Thực hiện điều tra, khảo sát để tìm hiểu về thực trạng ứng dụng CNTT và thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước tỉnh Bình Phước.
2.2.4. Công cụ điều tra, khảo sát
Tác giả đã xây dựng một mẫu phiếu hỏi làm công cụ cho việc điều tra, khảo sát thực trạng và trưng cầu ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất dành cho đội ngũ CBCC đang công tác tại Phòng/Sở GD&ĐT trên địa bàn tỉnh Bình Phước (Phụ lục 1). Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
2.2.5. Xử lý và đánh giá kết quả điều tra, khảo sát
Quy trình khảo sát
- Bước 1: Tiến hành xây dựng phiếu điều tra, khảo sát.
- Bước 2: Gửi phiếu điều tra, khảo sát đến các đối tượng.
- Bước 3: Thu mẫu điều tra, khảo sát.
- Bước 4: Xử lí kết quả.
Các chỉ số thống kê
- Bảng phân bố tần số (Frequencies), tỉ lệ phần trăm (%); trị trung bình (Mean); độ lệch chuẩn (Std. Deviation); số trung vị (Median); số yếu vị (Mode); kiểm định Chi bình phương (Chi Square).
Cách tính trị trung bình và ý nghĩa của trị trung bình
- Giá trị khoảng cách: (Maximum-Minimun)/n = (5-1)/5 = 0.8.
- Đối với thang đo Likert 5 bậc sắp theo mức độ tăng dần: Điểm số được quy đổi theo thang bậc 5. Điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5.
- Thang đo trị trung bình và mức ý nghĩa như sau:
Bảng 2.1. Thang đo TTB và mức độ ý nghĩa của TTB
Đặt giả thuyết:
- H1: Không có sự khác biệt về mặt ý nghĩa giữa hai biến nghiên cứu;
- H2: Có mối liên hệ về mặt ý nghĩa giữa hai biến nghiên cứu;
- Nếu giá trị Sig lớn hơn hoặc bằng 0,05 ta chấp nhận H1. Ngược lại ta chấp nhận H2 và bác bỏ H1.
2.2.6. Thông tin về đặc điểm, tình hình về mẫu khảo sát
- Dạng dữ liệu: Sơ cấp.
- Thiết kế bảng câu hỏi: Câu hỏi mở, câu hỏi đóng và câu hỏi phân mục.
- Thang đo: Danh nghĩa (Nominal) và Thứ bậc (Ordinal).
- Kỹ thuật phân tích: Sử dụng các kỹ thuật phân tích Thống kê mô tả và Thống kê suy diễn.
2.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước
2.3.1. Thông tin về đội ngũ cán bộ, công chức Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Trong tổng số 85 phiếu thu được sau khảo sát (85 CBCC), tất cả các phiếu đều hợp lệ và đồng nghĩa với việc không có phiếu bị lỗi hoặc bỏ trống thông tin về đội ngũ CBCC được khảo sát.
- Bảng 2.2. Kết quả phân tích thâm niên công tác và tuổi đời của đội ngũ CBCC
- Biểu đồ 2.7. Tuổi đời của đội ngũ CBCC
- Biểu đồ 2.8. Số năm công tác của đội ngũ CBCC
Từ bảng 2.2 kết hợp với biểu đồ 2.7 và 2.8, chúng ta thấy:
Tuổi đời: Người có tuổi đời trẻ nhất là 28 và người có tuổi đời cao nhất là 59. Với TTB là 43.47; trung vị (Median) 43 và yếu vị (mode) 46. Điều này, có nghĩa là đội ngũ CBCC tập trung ở độ tuổi từ 43 đến 46.
Thâm niên công tác: Người có thâm niên công tác ít nhất là 5 năm và người có thâm niên công tác nhiều nhất là 37 năm. Với TTB là 19.22; trung vị là 19 và yếu vị là 15. Như vậy, đội ngũ CBCC có số năm công tác từ 15 đến 19 năm chiếm đa số.
- Bảng 2.3. Thống kê trình độ Tin học của đội ngũ CBCC.
- Bảng 2.4. Mối liên hệ giữa chức vụ và Trình độ Tin học của CBCC
Dữ liệu kết xuất (Bảng 2.3 và 2.4) cho thấy kết quả kiểm định Chi-Square bằng 0.643 lớn hơn 0.05 nên ta khẳng định: Chức vụ và Trình độ Tin học của đội ngũ CBCC không có mối liên hệ với nhau hay nói cách khác, không có sự khác biệt về mặt ý nghĩa giữa Chức vụ và Trình độ Tin học của đội ngũ CBCC.
2.3.2. Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về mục đích của ứng dụng công nghệ thông tin
- Bảng 2.5. Bảng thống kê mục đích của ứng dụng CNTT.
Căn cứ kết quả phân tích nhận thức của đội ngũ CBCC về mục đích của ứng dụng CNTT (Bảng 2.5), chúng ta thấy các mục đích: Nâng cao năng suất lao động; Phương tiện, công cụ quản lý; Đổi mới phương pháp quản lý có ĐLC là 4.80; 4.28; 4.61, có nghĩa là đội ngũ CBCC đều đánh giá cao và cho rằng ứng dụng CNTT sẽ nâng cao hiệu quả của các nhiệm vụ này.
2.3.3. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Bảng 2.6. Mức độ và kết quả đạt được của đầu tư hạ tầng kỹ thuật CNTT
- Mức độ trang bị hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin
Kết quả nghiên cứu (Bảng 2.6) cho thấy các thiết bị CNTT như: Mạng LAN, đường truyền Internet và phần mềm diệt virus có TTB từ 3.74 đến 4.04 và đều có Trung vị, yếu vị bằng 4. Điều này chứng tỏ các trang thiết bị này được đầu tư trang bị thường xuyên.
Tương tự, máy tính cá nhân và mạng Wifi có TTB từ 2.64 đến 2.74 và đều có Trung vị, yếu vị đều bằng 3. Vì vậy, có thể nhận thấy việc đầu tư các thiết bị này được triển khai khá thường xuyên. Tuy nhiên, thiết bị chống sét và tường lửa cho mạng LAN có TTB lần lượt là 2.44 và 2.21 nên được đánh giá là ít triển khai và có nơi hoàn toàn không triển khai, điều này cũng đúng với thực tế là công tác an toàn, an ninh hiện nay chưa được đầu tư, coi trọng.
- Hiệu quả sử dụng hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin
Từ kết quả phân tích (Bảng 2.6) về hiệu quả sử dụng hạ tầng kỹ thuật CNTT, ta thấy hiệu quả sử dụng mạng LAN, Internet và phần mềm diệt virus có TTB bình từ 4.04 đến 4.42 và đều có Trung vị, yếu vị là 4. Điều đó chứng tỏ đội ngũ CBCC đều đánh giá mang lại hiệu quả và rất hiệu quả cho hoạt động ứng dụng CNTT.
Kết quả phân tích việc trang bị máy tính cá nhân và mạng Wifi có TTB lần lượt là 2.95 và 2.64. Vì vậy, có thể khẳng định nó mang lại hiệu quả là khá tốt. Riêng thiết bị chống sét và tường lửa cho mạng LAN thì đa số CBCC cho rằng tệ.
2.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan
- Bảng 2.7. Mức độ triển khai và hiệu quả ứng dụng CNTT.
Kết quả khảo sát (Bảng 2.7) cho thấy có sự trùng khớp giữa việc đánh giá mức độ triển khai và kết quả đạt được của 09 nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan. Trong khi đó, mức độ đánh giá giữa các nội dung lại có sự khác biệt, cụ thể:
- Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan
Tất cả CBCC đánh giá các PM được triển khai khá thường xuyên và thường xuyên là: Quản lý CBCCVC; Quản lý học sinh; Trang/Cổng thông tin điện tử; Phần mềm thống kê, báo cáo và Quản lý thi. Trong khi các PM quản lý tài chính và PM quản lý văn bản và điều hành công việc được đánh giá là triển khai rất thường xuyên. Có nghĩa là người đứng đầu cơ quan, đơn vị rất quan tâm đến ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực này. Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Đảng lưu ý là PM quản lý tài sản và PM cung cấp dịch vụ công mức độ 3, 4 thì ít được triển khai. Đây được coi là một hạn chế trong triển khai ứng dụng tại cơ quan địa phương, cần phải được khắc phục trong giai đoạn sắp tới, để thúc đẩy sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
- Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý
Tương tự như kết quả về mức độ triển khai thì hiệu quả ứng dụng các PM như: Quản lý CBCCVC; Quản lý học sinh; Thống kê – báo cáo; Quản lý thi và Trang/Cổng thông tin điện tử được đội ngũ CBCC đánh giá là khá tốt và tôt.
Đối với các PM được đánh giá mang lại hiệu quả ở mức rất tốt là PM quản lý tài chính và PM quản lý và gửi, nhận văn bản điện tử. Trong đó, PM quản lý và gửi, nhận văn bản điện tử là một công cụ quan trọng để hiện thực hóa việc sử dụng và giao dịch bằng văn bản điện tử thay thế văn bản giấy, giao dịch qua phương tiện điện tử thay thế phương thức giao dịch truyền thống. Đây là công cụ rất hiệu quả cho hoạt động giao dịch nội bộ một tổ chức, bởi ngoài chức năng truyền tải, nó còn có chức năng lưu trữ thống nhất, đồng bộ trong hệ thống.
Các PM còn lại như quản lý tài sản và các dịch vụ công mức độ 3, 4 có ĐLC là 2.34 và 2.02 được CBCC đánh giá là tệ. Hạn chế của vấn đế này xuất phát từ một số nguyên nhân là: Các cơ quan nhà nước chưa có đủ năng lực để cung cấp dịch mức độ cao; thủ tục hành chính còn rườm rà, đòi hỏi nhiều giấy tờ; quan điểm quản lý nặng về tiền kiểm; tâm lý sợ trách nhiệm, sợ giảm quyền lực,… Vấn đề lưu trữ hồ sơ điện tử cũng là một nguyên nhân cản trở việc cung cấp dịch vụ công mức độ cao.
Đối với việc người dân, tổ chức chưa sẵn sàng sử dụng dịch vụ công mức độ 3, 4 có thể xuất phát từ việc họ chưa có trang thiết bị kỹ thuật để kết nối hoặc kỹ năng sử dụng hạn chế; quy trình sử dụng dịch vụ phức tạp, khó hiểu; thiếu thông tin hoặc không được hướng dẫn đầy đủ về các dịch vụ công trực tuyến mà cơ quan nhà nước đang cung cấp.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, việc ứng dụng CNTT tại các đơn vị là chưa đồng đều ở các lĩnh vực và còn nhiều bất cập cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả dựng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan quản lý giáo dục trên địa bàn tỉnh Bình Phước nói riêng.
- Mức độ triển khai và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng CBCC về CNTT Bảng 2.8. Mức độ triển khai và hiệu quả ĐTBD CBCC về CNTT.
Nhìn vào bảng 2.8, chúng ta thấy: Về mức độ triển khai công tác nâng cao kiến thức, kỹ năng cho CBCC sử dụng, ứng dụng CNTT với ĐLC 2.01 được CBCC đánh giá là ít được triển khai, có nơi triển khai khá thường xuyên nhưng có nơi lại hoàn toàn không triển khai.
Đây cũng là một khó khăn để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Vì nếu đội ngũ CBCC ít được ĐTBD để nâng cao kiến thức, kỹ năng về CNTT thì sẽ khó có thể triển khai ứng dụng CNTT thành công trong các HĐQL và điều hành.
Tương tự mức độ triển khai thì hiệu quả ĐTBD CBCC về CNTT công tác ĐTBD nâng cao kiến thức, kỹ năng sử dụng và ứng dụng CNTT cũng được CBCC đánh giá là tệ, số còn lại đánh giá là chấp nhận được và rất tệ. Đây là một trong những rào cản đối với đội ngũ CBCC, vì họ không được thường xuyên ĐTBD để nâng cao kiến thức, kỹ năng về CNTT. Từ đó, không tạo được động lực thúc đẩy và phát triển ứng dụng CNTT trong các HĐQL, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
2.3.5. Môi trường tổ chức và chính sách ứng dụng CNTT Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Kết quả khảo sát và phân tích (Bảng 2.9) cho thấy về cơ bản môi trường tổ chức và chính sách ứng dụng CNTT tại các cơ quan được thiết lập tương đối đầy đủ, đều khắp. Về tổ chức, hầu hết các cơ quan đều đã có lãnh đạo và bộ phận phụ trách về CNTT. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 58.8% CBCC đánh giá là được và 30.6% CBCC đánh giá là tốt, còn lại 10% đánh giá là tệ.
- Bảng 2.9. Môi trường tổ chức và chính sách ứng dụng CNTT.
Về quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử được các cơ quan thực hiện tốt (51.8%) và rất tốt (47.1%). Điều này, cũng tương đồng với việc hiệu quả sử dụng PM quản lý văn bản điện tử như đã đánh giá ở trên là tốt và rất tốt.
Nhiều chính sách quan trọng phục vụ ứng dụng CNTT được xây dựng, ban hành. Tuy vậy, còn có chính sách chưa được quan tâm như chính sách đãi ngộ cán bộ CNTT. Đặc biệt, số liệu tổng hợp cho thấy hầu hết các cơ quan chưa có cơ chế, chính sách riêng khuyến khích, đãi ngộ đội ngũ CBCC chuyên trách làm CNTT.
2.4. Phân tích thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Phước
2.4.1. Sự cần thiết của quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
- Bảng 2.10. Thống kê sự cần thiết của quản lý ứng dụng CNTT
Đánh giá về sự cần thiết của quản lý ứng dụng CNTT (Bảng 2.10) có 100% CBCC khảo sát đều cho rằng việc này là cần thiết (48,2%) và rất cần thiết (51,8%). Kết quả này khẳng định công tác QL ứng dụng CNTT đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT tại các cơ quan nhà nước.
Như vậy, qua kết quả khảo sát cho thấy đội ngũ CBCC nhận thức quản lý ứng dụng CNTT là hoạt động mang tính cấp thiết. Tuy nhiên, họ cũng cho rằng trình độ hiểu biết về CNTT của đội ngũ CBCC còn hạn chế là yếu tố gây trở ngại lớn nhất trong HĐQL ứng dụng CNTT của lãnh đạo ở các cơ quan, đơn vị. Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
2.4.2. Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
Để khảo sát về thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại cơ quan, tác giả tiến hành khảo sát với các nội dung tương ứng với các chức năng quản lý bao gồm: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; lãnh đạo, chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá. Đồng thời với mỗi chức năng quản lý, tác giả khảo sát đánh giá theo hai tiêu chí đó là: mức độ triển khai và kết quả đạt được của HĐQL ứng dụng CNTT.
- Thực trạng xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
Kết quả khảo sát, phân tích mức độ triển khai và kết quả đạt được của các hoạt động chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT (Bảng 2.12) ta thấy đội ngũ CBCC thường xuyên triển khai việc thiết lập các mục tiêu (TTB là 3,86) và cũng thường xuyên triển khai xác định các nguồn lực (TTB là 3,46) để thực hiện việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT. Kết quả đạt được của những hoạt động này cũng được đội ngũ CBCC đánh giá ở mức tốt (TTB là 3,86 và 3,46).
- Bảng 2.11. Mức độ triển khai và kết quả đạt được của các hoạt động chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT
Việc thiết lập các mục tiêu rõ ràng và xác định nguồn lực thực hiện là một trong những hoạt động vô cùng quan trọng để đảm bảo về tính giá trị và tính khả thi của một kế hoạch. Kết quả từ Bảng 2.12 cho thấy đội ngũ CBCC thực hiện bảo đảm được hoạt động này, và đây là tiền đề quan trọng và cũng là khâu đầu tiên của HĐQL nói chung và quản lý ứng dụng CNTT nói riêng.
Kết quả khảo sát mức độ triển khai và kết quả đạt được của các loại kế hoạch liên quan đến HĐQL ứng dụng CNTT (Bảng 2.12) cho thấy đa số đội ngũ CBCC đánh giá việc triển khai các kế hoạch tác nghiệp ở mức độ khá thường xuyên và kết quả đạt được là khá tốt; đối với loại Kế hoạch sửa chữa, thay thế, bổ sung hạ tầng kỹ thuật CNTT và Kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành thì được một số CBCC đánh giá là thường xuyên còn các loại Kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo kỹ năng sử dụng CNTT cho đội ngũ CBCC cũng như kế hoạch huy động nguồn kinh phí để thực hiện mục tiêu việc ứng dụng CNTT thì một số CBCC cho rằng ít triển khai. Kết quả đạt được của các loại kế hoạch tác nghiệp cũng được đội ngũ CBQL đánh giá ở mức khá tốt.
- Bảng 2.12. Mức độ triển khai và kết quả đạt được của các loại kế hoạch liên quan đến hoạt động quản lý ứng dụng CNTT.
Ngoài ra, kết quả từ Bảng 2.12 cũng cho thấy ĐLC của TTB ở các nội dung khảo sát về mức độ triển khai và kết quả đạt được của các loại kế hoạch tác nghiệp là khác nhau và khá lớn (ĐLC nhỏ nhất là 0,459 và lớn nhất là 0,990) cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá ở các nội dung khảo sát của đội ngũ CBCC.
Qua kết quả khảo sát cho thấy hoạt động lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành được thực hiện khá thường xuyên và kết quả đạt được là khá tốt. Như vậy, hoạt động lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành được lãnh đạo cơ quan thực hiện đầy đủ và sát với tình hình thực tiễn của cơ quan. Điều này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện quản lý ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành tại cơ quan, đơn vị.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin
Kết quả khảo sát (Bảng 2.13) cho thấy đội ngũ CBCC đánh giá việc triển khai và kết quả đạt được của hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT đối với các nội dung như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
- Bảng 2.13. Mức độ triển khai và kết quả đạt được của hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch
Việc thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT của cơ quan không được triển khai (TTB là 1.93) và kết quả đạt được không hiệu quả (TTB là 1.86). Hoạt động phân công, phân nhiệm rõ ràng cho các cá nhân, bộ phận phụ trách công tác quản lý ứng dụng CNTT của cơ quan được lãnh đạo triển khai khá thường xuyên (TTB là 2.89) và kết quả đạt được (TTB là 2.88) được đội ngũ CBCC đánh giá là khá hiệu quả. Đối với hoạt động thành lập bộ phận chuyên trách về CNTT của cơ quan, đóng vai trò tiên phong trong ứng dụng CNTT cũng được lãnh đạo triển khai ở mức khá thường xuyên (TTB là 3.25), và kết quả đạt được của hoạt động này cũng được đánh giá là khá hiệu quả (TTB là 3.35). Riêng Xây dựng và ban hành các văn bản quy định về hoạt động ứng dụng CNTT được đội ngũ CBCC đánh giá là thường xuyên và kết quả đạt được là tốt. Ngoài ra, kết quả ở Bảng 2.14 cho thấy ĐLC của TTB ở các nội dung khảo sát về mức độ triển khai và kết quả đạt được là khá lớn (ĐLC thấp nhất là 0.625) cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá ở các nội dung khảo sát này giữa đội ngũ CBCC được khảo sát.
Như vậy, hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT được các cơ quan triển khai thực hiện nhưng chưa đảm bảo đồng bộ về các nội dung hoạt động, trong đó việc thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT của cơ quan chưa được lãnh đạo triển khai. Tuy nhiên, mặc dù chưa thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT nhưng lãnh đạo vẫn phân công, phân nhiệm cho các thành viên có trách nhiệm triển khai ứng dụng CNTT khá hiệu quả và việc lãnh đạo xây dựng và ban hành các văn bản quy định về hoạt động ứng dụng CNTT được đội ngũ CBCC đánh giá là thực hiện thường xuyên và hiệu quả. Điều này cho thấy hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT thực hiện chưa đảm bảo tính hệ thống và tính pháp lý.
- Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin
Kết quả khảo sát (Bảng 2.14) cho thấy đội ngũ CBCC đánh giá lãnh đạo cơ quan ít triển khai hoạt động lãnh đạo thông qua việc quan tâm, theo dõi, động viên, khuyến khích và hướng dẫn việc ứng dụng CNTT cho CBCC (TTB là 1.88) và kết quả đạt được của hoạt động này cũng được đội ngũ CBQL đánh giá là ít hiệu quả (TTB là 1.87).
Hoạt động chỉ đạo thống nhất việc quản lý, xử lý và gửi nhận văn bản điện tử cũng được lãnh đạo cơ quan thực hiện khá thường xuyên (TTB là 3.02) và kết quả đạt được cũng được đội ngũ CBCC đánh giá là khá tốt (2.96). Đối với hoạt động chỉ đạo ứng dụng CNTT trong HĐQL: nhân sự, tài chính, thống kê, báo cáo, cơ sở vật chất,.. cũng được lãnh đạo cơ quan triển khai khá thường xuyên (TTB là 3.32) và kết quả đạt được là tốt (TTB là 3.46).
Hoạt động chỉ đạo việc cung cấp các dịch vụ công mức độ 3, 4 phục vụ các tổ chức, cá nhân thì đội ngũ CBCC được khảo sát đánh giá là ít triển khai (TTB là 1.91) và kết quả đạt được cũng còn hạn chế. Điều này cũng phản ánh đúng thực tế hiện nay là các cơ quan nhà nước hạn chế về năng lực để cung cấp dịch mức độ 3 ,4; thủ tục hành chính còn rườm rà, đòi hỏi nhiều giấy tờ; quan điểm quản lý nặng về tiền kiểm; tâm lý sợ trách nhiệm, sợ giảm quyền lực,… Đối với việc người dân, doanh nghiệp chưa sẵn sàng sử dụng dịch vụ công mức độ 3, 4, có thể xuất phát từ việc họ chưa có thói quen và đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật để kết nối hoặc kỹ năng sử dụng hạn chế; quy trình sử dụng dịch vụ phức tạp, khó hiểu; thiếu thông tin hoặc không được hướng dẫn đầy đủ về các dịch vụ công trực tuyến mà cơ quan nhà nước đang cung cấp.
- Bảng 2.14. Mức độ triển khai và kết quả đạt được của hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo ứng dụng CNTT
Đối với hoạt động chỉ đạo tổ chức các buổi tập huấn, ĐTBD,.. liên quan đến ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC thì được đội ngũ CBCC đánh giá là triển khai khá thường xuyên với TTB là 2.79 và kết quả đạt được cũng được đội ngũ CBCC đánh giá là khá tốt (TTB là 3.01). Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Tuy nhiên, cũng từ kết quả ở Bảng 2.14 cho thấy ĐLC của TTB ở các nội dung khảo sát về mức độ triển khai và kết quả đạt được là khá lớn (ĐLC thấp nhất là 0.586). Điều này cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá ở các nội dung được khảo sát của đội ngũ CBCC.
Như vậy, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL được các cơ quan triển khai thực hiện và kết quả đạt được là đảm bảo. Việc quan tâm, theo dõi, động viên, khuyến khích và hướng dẫn việc ứng dụng CNTT của lãnh đạo cơ quan đối với đội ngũ CBCC còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Tuy nhiên, việc chỉ đạo ứng dụng CNTT trong HĐQL: nhân sự, tài chính, thống kê, báo cáo, cơ sở vật chất,.. thì được lãnh đạo rất quan tâm, triển khai khá thường xuyên và hiệu quả được đội ngũ CBCC đánh giá tốt và hiệu quả. Kết quả này khẳng định hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan được thực hiện tương đối hiệu quả.
- Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin
Kết quả khảo sát và phân tích (Bảng 2.15) cho thấy lãnh đạo cơ quan thường xuyên triển khai hoạt động kiểm tra về bằng cấp, chứng chỉ CNTT của đội ngũ CBCC (TTB là 3.62) và kết quả của các hoạt động này cũng được đội ngũ CBCC đánh giá là tốt (TTB là 3.69); lãnh đạo cũng thường xuyên triển khai hoạt động kiểm tra về hạ tầng kỹ thuật CNTT (TTB là 3.60), tuy nhiên, kết quả đạt được của hoạt động này chỉ được đánh giá là khá tốt (TTB là 3.22).
Riêng đối với hoạt động kiểm tra việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC của lãnh đạo cơ qian thì bị đánh giá là ít triển khai với TTB 1.96 và kết quả đạt được của hoạt động này cũng bị được đánh giá là không hiệu quả (TTB là 1.85).
- Bảng 2.15. Mức độ triển khai và kết quả đạt được của hoạt động kiểm tra việc thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT
Ngoài ra, từ kết quả ở Bảng 2.15 cho thấy ĐLC của TTB ở các nội dung khảo sát về mức độ triển khai và kết quả đạt được là khá lớn (ĐLC nhỏ nhất là 0.588 và lớn nhất là 0.836) cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá các nội dung khảo sát này giữa đội ngũ CBCC.
Kết quả khảo sát (Bảng 2.16) cho thấy tất cả các nội dung như: Xây dựng và ban hành các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu việc ứng dụng CNTT trong HĐQL, điều hành của đội ngũ CBCC; xây dựng và ban hành bộ tiêu chí để đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của đội ngũ CBCC; xây dựng và ban hành các quy định về các hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC lần lượt có TTB là 1.75; 1.76 và 1.74 thì đa số đội ngũ CBCC khảo sát đánh giá là lãnh đạo cơ quan ít triển khai thực hiện, thậm chí có cơ quan không triển khai và kết quả đạt được của các hoạt động này với TTB lần lượt là 1.76; 1.91 và 1.59 cũng được đội ngũ CBQL đánh giá là không hiệu quả. Ngoài ra, từ kết quả ở Bảng 2.16 cho thấy ĐLC của TTB ở các nội dung khảo sát về mức độ triển khai và kết quả đạt được là khá lớn (ĐLC nhỏ nhất là 0.548) cho thấy có sự phân tán trong ý kiến đánh giá ở các nội dung khảo sát này giữa đội ngũ CBCC được khảo sát.
- Bảng 2.16. Mức độ triển khai và kết quả đạt được của hoạt động đánh giá việc thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT
Như vậy, hoạt động kiểm tra các nội dung thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT được đội ngũ CBCC đánh giá khá bảo đảm ở các nội dung bao gồm: kiểm tra về bằng cấp, chứng chỉ CNTT của đội ngũ CBCC; kiểm tra hạ tầng kỹ thuật CNTT. Đối với hoạt động kiểm tra việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC được đội ngũ CBCC đánh giá là ít triển khai. Đối với hoạt động đánh giá việc thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT như: Xây dựng và ban hành các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu việc ứng dụng CNTT trong HĐQL, điều hành của đội ngũ CBCC; xây dựng và ban hành bộ tiêu chí để đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của đội ngũ CBCC; xây dựng và ban hành các quy định về các hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến việc ứng dụng CNTT chưa được lãnh đạo các đơn vị quan tâm xây dựng và triển khai thực hiện, và một khi việc đánh giá mà chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể sẽ dẫn đến việc đánh giá mang tính chủ quan, chưa đảm bảo về tính tin cậy và tính giá trị của hoạt động đánh giá. Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Theo góc độ lý luận khoa học về quản lý, thì kiểm tra, đánh giá là chức năng giúp nhà quản lý đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu theo kế hoạch đề ra, và cũng từ kết quả kiểm tra, đánh giá sẽ là cơ sở để nhà quản lý có thêm thông tin để thực hiện quy trình quản lý tiếp theo. Hơn nữa, như đã đề cập ở trên, hoạt động ứng dụng CNTT phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của đội ngũ CBCC.
Chính vì vậy, cơ chế chính sách liên quan đến khen thưởng, kỷ luật đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là một trong những động lực giúp CBCC thực hiện tốt hoạt động ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy lãnh đạo cơ quan chưa thực hiện nội dung này ở đơn vị. Thực trạng hoạt động này cũng có thể giải thích theo góc độ chủ quan chính là do trình độ hiểu biết về cơ chế, chính sách và trình độ hiểu biết về CNTT của đội ngũ CBCC nói chung và lãnh đạo cơ quan nói riêng là còn khá hạn chế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân ứng dụng CNTT ở cơ quan nhà nước chưa đạt được kết quả như mục tiêu đề ra.
2.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
Kết quả khảo sát, phân tích (Bảng 2.17) về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ứng dụng CNTT như sau:
- Bảng 2.17. Thống kê các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng CNTT
Môi trường pháp lý quản lý CNTT: Với TTB là 2.71, cho ta thấy đội ngũ CBCC được khảo sát cơ bản đồng ý cho rằng môi trường pháp lý có ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng CNTT. Vì đây là cơ sở để thực hiện quản lý đối với mọi ngành nghề nói chung, quản lý lĩnh vực CNTT nói riêng.
Chính sách đầu tư: TTB là 2.07, điều này cho thấy đội ngũ CBCC ít đồng ý cho rằng yếu tố chính sách đầu tư sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý ứng dụng
Tổ chức bộ máy quản lý về CNTT: Tương tự như yếu tố chính sách đầu tư, thì yếu tố tổ chức bộ máy quản lý về CNTT có TTB là 1.68, ta thấy đây cũng là yếu tố mà đội ngũ CBCC ít cho rằng có ảnh hưởng đến quản lý CNTT.
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực CNTT: Với TTB là 3,33 thì đa số CBCC được khảo sát cho rằng đây là yếu tố có vai trò ảnh hưởng lớn nhất đến HĐQL ứng dụng CNTT của cơ quan.
Ngoài ra, với ĐLC nhỏ nhất là 0.621 cũng cho thấy có sự phân tán về mức độ đánh giá của đội ngũ CBCC đối với các yếu tố ảnh hưởng đến HĐQL ứng dụng CNTT.
2.5. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
2.5.1. Ưu điểm
- Thực trang ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý
100% CBCC được khảo sát đều có chứng chỉ Tin học A trở lên tương đương với chuẩn kiến thức kỹ năng cơ bản sử dụng CNTT trở lên.
Kết quả khảo sát cũng đánh giá sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành là rất cần thiết và nhằm mục đích xem việc ứng dụng CNTT để nâng cao năng suất lao động, là phương tiện, công vụ quản lý và hỗ trợ đổi mới công tác quản lý.
Công tác tổ chức thực hiện ứng dụng các PM trong HĐQL và điều hành được đội ngũ CBCC triển khai ứng dụng tương đối tốt như ứng dụng các PM: Quản lý nhân sự, quản lý học sinh, quản lý tài chính, quản lý văn bản điện tử, Cổng/Trang thông tin điện tử.
Về môi trường tổ chức và chính sách ứng dụng CNTT tại các cơ quan cũng được đội ngũ CBCC đánh giá là thiết lập tương đối đầy đủ.
- Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
Đội ngũ CBCC được khảo sát đều cho rằng quản lý ứng dụng CNTT là cần thiết và rất cần thiết. Kết quả khảo sát theo từng chức năng quản lý cũng cho thấy, hiệu quả xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch ứng dụng CNTT và công tác lãnh đạo, chỉ đạo ứng dụng CNTT của lãnh đạo triển khai thường xuyên và đạt hiệu quả tốt, cụ thể như sau:
Hoạt động lập kế hoạch việc ứng dụng CNTT trong HĐQL và điều hành được lãnh đạo cơ quan thực hiện bảo đảm đầy đủ và đúng về mặt lý luận khoa học và sát với tình hình thực tiễn của cơ quan.
Hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch CNTT, mặc dù chưa thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT nhưng lãnh đạo vẫn phân công, phân nhiệm cho các thành viên có trách nhiệm triển khai ứng dụng CNTT khá hiệu quả và việc lãnh đạo xây dựng và ban hành các văn bản quy định về hoạt động ứng dụng CNTT được đội ngũ CBCC đánh giá là thực hiện thường xuyên và hiệu quả.
Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT được các cơ quan triển khai thực hiện và kết quả đạt được là khá tốt.
Hoạt động kiểm tra các nội dung thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT được đội ngũ CBCC đánh giá khá bảo đảm ở các nội dung bao gồm: kiểm tra về bằng cấp, chứng chỉ CNTT của đội ngũ CBCC; kiểm tra hạ tầng kỹ thuật CNTT
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng công nghệ thông tin
Kết quả khảo sát cho thấy có hai yếu có được đội ngũ CBCC đánh giá là có vai trò ảnh hưởng đến HĐQL ứng dụng CNTT của cơ quan là yếu tố “Môi trường pháp lý quản lý CNTT” và “Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực CNTT”. Còn lại hai yếu tố “Chính sách đầu tư” và “Tổ chức bộ máy quản lý về CNTT” thì đội ngũ CBCC được khảo cho rằng ít ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng CNTT.
2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Trong hoạt động ứng dụng CNTT, đội ngũ CBCC đã ứng dụng các phần mềm vào công tác quản lý tương đối tốt. Tuy nhiên, còn một số phần mềm: quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ công mức độ 3, 4 thì ứng dụng chưa được tốt (tệ). Các hạn chế của vấn đế này xuất phát từ một số nguyên nhân là: Các cơ quan, đơn vị chưa có đủ năng lực để cung cấp dịch mức độ 3 ,4; thủ tục hành chính còn rườm rà, đòi hỏi nhiều giấy tờ; quan điểm quản lý nặng về tiền kiểm; tâm lý sợ trách nhiệm, sợ giảm quyền lực,… Vấn đề lưu trữ hồ sơ điện tử, sử dụng văn bản điện tử cũng là một nguyên nhân cản trở việc cung cấp dịch vụ mức độ 3, 4.
Đối với việc người dân, doanh nghiệp chưa sẵn sàng sử dụng dịch vụ công mức độ 3, 4, có thể xuất phát từ việc họ chưa có thói quen và đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật để kết nối hoặc kỹ năng sử dụng hạn chế; quy trình sử dụng dịch vụ phức tạp, khó hiểu; thiếu thông tin hoặc không được hướng dẫn đầy đủ về các dịch vụ công trực tuyến mà cơ quan nhà nước đang cung cấp.
Công tác ĐTBD kiến thức, kỹ năng sử dụng và ứng dụng CNTT cho CBCC cũng còn nhiều hạn chế. Lý do là công tác xây dựng kế hoạch và chỉ đạo của lãnh đạo cơ quan đối với vấn đề ĐTBD kỹ năng sử dụng CNTT cho đội ngũ CBCC còn buông lỏng và chưa được thường xuyên quan tâm.
Môi trường và chính sách ứng dụng CNTT cơ bản được bảo đảm như: Có lãnh đạo và bộ phận phụ trách CNTT; có chính sách bảo đảm an toàn, an ninh thông tin điện tử nội bộ. Ngoài ra, cơ chế, chính sách riêng khuyến khích, đãi ngộ đội ngũ chuyên trách về CNTT chưa thực sự được quan tâm.
- Đối với các hoạt động thực hiện các chức năng của nhà quản lý thì còn bộc lộ một số hạn chế sau:
Xây dựng kế hoạch: việc xây dựng kế hoạch tập huấn, ĐTBD kỹ năng sử dụng CNTT cho đội ngũ CBCC và kế hoạch huy động nguồn kinh phí cho ứng dụng CNTT còn chưa được lãnh đạo các cơ quan, đơn vị triển khai thường xuyên và kết quả đạt được cũng chưa thật sự tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Trong hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch, việc thành lập Ban chỉ đạo ứng dụng CNTT chưa được lãnh đạo cơ quan triển khai và ban hành quyết định thành lập. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế trong việc tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan.
Trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, lãnh đạo chưa quan tâm, theo dõi, động viên, khuyến khích và hướng dẫn việc dụng CNTT cho đội ngũ CBCC và chỉ đạo việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phục vụ các tổ chức, cá nhân nên kết quả đạt được của hoạt động này cũng còn khá hạn chế, thậm chí là chưa được thực hiện.
Trong hoạt động kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch, lãnh đạo ở các đơn vị mặc dù thường xuyên triển khai cho đội ngũ CBCC ứng dụng các phần mềm vào HĐQL nhưng lại ít kiểm tra việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT của đội ngũ CBCC nên kết quả đạt được của hoạt động này vẫn chưa thật sự tốt. Đây có thể là do trình độ hiểu biết về CNTT của nhà quản lý còn hạn chế nên dẫn tới “ngại” kiểm tra, đánh giá.
Tóm lại, các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế nêu trên có thể chưa đầy đủ, nhưng đây là những hạn chế và nguyên nhân được rút ra thực tế ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước trong thời gian vừa qua. Những vấn đề nêu ra trên đây thực sự là những rào cản hiện hữu làm hạn chế hiệu quả ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước. Nếu có những biện pháp khắc phục các hạn chế trên, sẽ góp phần quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước tốt hơn.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Trong chương 2, tác giả đã nêu khái quát về đặc điểm, tình hình của tỉnh Bình Phước nói chung và Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước nói riêng. Đồng thời, tiến hành xây dựng phiếu điều tra, khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT và thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước.
Việc khảo sát được tiến hành đối với 85 CBCC đang công tác tại Sở GD&ĐT và các Phòng GD&ĐT huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Đối với thực trạng ứng dụng CNTT, tác giả đã khảo sát về trình độ, kỹ năng sử dụng CNTT của đội ngũ CBCC; mục đích của ứng dụng CNTT trong HĐQL của CBCC; việc trang bị hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin (các thiết bị mạng, mạng LAN, mạng WAN, tốc độ đường truyền Internet, wifi, thiết bị an ninh an toàn, phần mềm diệt virus, thiết bị ngoại vi và thiết bị phụ trợ, máy chủ, máy trạm) tại cơ quan CBCC đang công tác. Đặc biệt là khảo sát mức độ và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong HĐQL của đội ngũ CBCC, đó là việc ứng dụng các PM quản lý như: Quản lý CBCC, quản lý và gửi, nhận văn bản điện tử; quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất, quản lý thi, thống kê – báo cáo, cung cấp dịch vụ công mức độ 3-4 và Trang/Cổng thông tin điện tử.
Đối với thực trạng quản lý ứng dụng CNTT, tác giả đã tiến hành khảo sát về HĐQL của lãnh đạo cơ quan theo các chức năng quản lý, gồm: (1) Lập kế hoạch ứng dụng CNTT; (2) Tổ chức thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT; (3) Lãnh đạo, chỉ đạo ứng dụng CNTT và (4) Kiểm tra, đánh giá ứng dụng CNTT. Luận văn: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục.
Ngoài ra, tác giả còn khảo sát các yếu tố được cho là có vai trò ảnh hưởng đến quản lý CNTT của các cơ quan nhà nước.
Từ đó phân tích, đánh giá các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế để làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý ứng dụng CNTT được thực hiện ở chương 3.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT tại Sở Giáo dục

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

