Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Dịch vụ du lịch được coi là một trong những lĩnh vực kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất và phạm vi lớn nhất trên thế giới hiện nay, góp phần quan trọng vào sự phát triển thịnh vượng của nhiều quốc gia. Theo báo cáo của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC), năm 2022, lĩnh vực dịch vụ du lịch nói riêng và ngành du lịch và lữ hành nói chung đã tạo ra hàng triệu việc làm cho nền kinh tế thế giới, đóng góp hàng nghìn tỷ USD cho GDP toàn cầu mỗi năm. Cũng theo tổ chức này, hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch có tác động lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế. Trải qua các biến cố, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lĩnh vực cung ứng dịch vụ du lịch được xác định là lĩnh vực có khả năng phục hồi nhanh nhất. Các nước phát triển hàng đầu như Mỹ coi lĩnh vực cung ứng dịch vụ du lịch là động lực cho tăng trưởng kinh tế, còn đối với các nước đang phát triển thì lĩnh vực cung ứng dịch vụ du lịch là công cụ xóa đói, giảm nghèo, và phát triển tới các vùng sâu, vùng xa đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Ở Việt Nam, lĩnh vực cung ứng dịch vụ du lịch cũng được chú trọng phát triển. Nhờ đó, dịch vụ du lịch đóng góp ngày càng tăng trong nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng khá cao. Giai đoạn 2017 – 2023, du khách quốc tế đến Việt Nam tăng từ 5 triệu lượt khách lên đến trên 10 triệu lượt khách/năm; khách trong nước tăng từ 28 triệu lượt khách lên đến 73,2 triệu lượt khách/năm; doanh thu ngành du lịch từ 96 nghìn tỷ đồng lên trên 500 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Thành phố Hà Nội là Thủ đô của cả nước với hàng nghìn năm văn hiến và được thừa hưởng di tích của kinh thành Vua Lý Thái Tổ ngày xưa. Đây là vùng đất giàu tiềm năng phát triển các dịch vụ du lịch. Trong những năm qua, lĩnh vực cung ứng dịch vụ du lịch thành phố Hà Nội đã phát triển khá nhanh, chính quyền thành phố đã có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch, và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý dịch vụ du lịch, tạo lập môi trường, điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch. Nhờ đó, hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn đã có những bước khởi sắc và đạt được một số thành tựu quan trọng. Các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, doanh thu du lịch và lượt khách lưu trú ngày càng tăng. Tuy nhiên, quản lý nhà nước (QLNN) về dịch vụ du lịch còn nhiều hạn chế như thiếu tầm nhìn tổng thể về phát triển cung ứng dịch vụ du lịch nên sản phẩm du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, kém hấp dẫn và không thể hiện được tính đặc thù. Quản lý và quy hoạch dịch vụ du lịch chưa hiệu quả, vấn đề liên kết phát triển dịch vụ du lịch chưa được chú ý. Ngoài ra, còn hạn chế, yếu kém về kết cấu hạ tầng kỹ thuật du lịch, đội ngũ nhân lực cung cấp dịch vụ du lịch, năng lực xúc tiến quảng bá dịch vụ du lịch và thiếu sự ổn định về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, nhiều di tích lịch sử – văn hóa – cách mạng đang trong tình trạng xuống cấp chưa được tu bổ, tôn tạo lại. Bên cạnh đó, so với tiềm năng, lợi thế so sánh vốn có thì sự phát triển dịch vụ du lịch thành phố Hà Nội vẫn chưa tương xứng, số ngày lưu trú bình quân (1,5 ngày/khách) và chi tiêu của du khách còn thấp, khách quốc tế đến Hà Nội chưa nhiều.  Trong bối cảnh hội nhập quốc tế (HNQT) hiện nay và cách mạng công nghiệp 4.0, nhu cầu sử dụng các dịch vụ du lịch gia tăng, lưu lượng du khách tăng mạnh, đặc biệt là khách quốc tế, xu hướng sử dụng các dịch vụ du lịch thay đổi, hình thức và loại hình cung cấp dịch vụ du lịch gia tăng. Bên cạnh những tích cực của HNQT đối với dịch vụ du lịch, thì những hiện tượng tiêu cực cũng giá tăng, ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa và xã hội địa phương, như hiện tượng “tour 0 đồng”, mại dâm, gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến văn hóa địa phương… Trong bối cảnh đó, yêu cầu đối với quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tăng cao. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nhằm thúc đẩy các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phát triển bền vững, góp phần làm cho dịch vụ du lịch thực sự trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của thành phố Hà Nội và phát triển bền vững là vấn đề bức thiết hiện nay. Đây là vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn ở địa phương cũng như trong cả nước. Đó cũng là lý do của việc lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công của em.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố để đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đặt ra gồm: Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

  • Phân tích, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở cấp thành phố TTTƯ; luận giải đặc thù và nội dung của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch theo ngành kết hợp lãnh thổ;
  • Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của thành phố Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội, đặc biệt là quản lý của chính quyền thành phố Hà Nội;
  • Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội và luận giải các điều kiện, kiến nghị các cơ quan chức năng hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội.

3. Đối tượng nghiên cứu đề tài là quản lý nhà nước ở cấp thành phố TTTƯ đối với các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố, trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ được phân cấp cho chính quyền cấp thành phố dưới góc độ quản lý kinh tế.

Phạm vi nghiên cứu: Về phạm vi đối tượng quản lý, dịch vụ du lịch nói chung có thể được nhìn nhận dưới nhiều giác độ: như một loại sản phẩm – dịch vụ du lịch; như một loại hoạt động kinh tế – xã hội (KT-XH); như một ngành, lĩnh vực kinh tế.

Về phạm vi nội dung, việc nghiên cứu chủ yếu tập trung làm rõ những nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của cấp thành phố TTTƯ, trong đó chú trọng việc hoạch định phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch ở thành phố TTTƯ; xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế, chính sách về hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn; tổ chức hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch; phát triển kết cấu hạ tầng du lịch trên địa bàn; khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn; và kiểm tra, kiểm soát hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn.

Về không gian, việc nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch chủ yếu tập trung trên địa bàn thành phố Hà Nội, có khảo sát một số địa bàn lân cận để kết nối dịch vụ du lịch.

Về thời gian, việc nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở thành phố Hà Nội chủ yếu từ các năm gần đây; các giải pháp đề xuất hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2026 và định hướng đến năm 2021.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn.

Về phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng để làm rõ vấn đề quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố trong sự biến đổi không ngừng, trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, gắn với những điều kiện cụ thể. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Về phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao hàm cả phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp; phương pháp định tính, định lượng, phối hợp và thực hiện khảo sát đối với một số cơ quan quản lý và đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch.

Việc sử dụng phương pháp diễn dịch nhằm hình thành khung lý thuyết về quản lý nhà nước đối với dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố theo cách tiếp cận quản lý nhà nước nhằm phát triển du lịch bền vững. Trên cơ sở đó để rút ra những kết luận cần thiết, những kiến nghị về quản lý nhà nước nhằm phát triển dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phương pháp quy nạp được sử dụng trên cơ sở các dữ liệu thực tế về hoạt động, thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội để khái quát hóa (quy nạp), rút ra những nhận định, kết luận về quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội một cách có hiệu quả và bền vững.  Việc nghiên cứu đề tài đòi hỏi sử dụng cả phương pháp định tính, định lượng, phối hợp và khảo sát thực tế. Theo đó, phương pháp định tính được sử dụng trong việc mô tả, đưa ra các khái niệm, đặc điểm của dịch vụ du lịch, nội dung và phương thức quản lý nhà nước nhằm phát triển dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội . Phương pháp khảo sát thông qua các cơ quan quản lý nhà nước và một số cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch giúp luận văn có được các thông tin bao hàm lý thuyết và thực tế đang diễn ra, đặc biệt cập nhật được các thông tin mới nhất cũng như nắm được những vấn đề đã, đang xảy ra thực tế tại một số cơ quản quản lý nhà nước, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Từ đó, có đưa ra được các giải pháp kịp thời hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước đạt được kỳ vọng trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên địa bàn một cách hài hoà, thống nhất và phù hợp với thực tế.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Bổ sung một số vấn đề mang tính chất lý luận, giải phải thực tiễn đối với những thay đổi phát sinh trong quá trình phát triển, đáp ứng nhu cầu hội nhập văn hóa, đa dạng hóa và toàn cầu hóa, phát triển các ứng dụng quản lý theo công nghệ 4.0 của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại thành phố Hà Nội trong sự kết hợp giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên địa bàn thành phố trực thuộc trung ương. Điều này sẽ góp phần tạo cơ sở khoa học trong việc hoạch định cơ chế, chính sách và phương hướng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỊCH VỤ DU LỊCH Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

1.1. Một số vấn đề lý luận về dịch vụ du lịch

1.1.1. Khái niệm dịch vụ du lịch:

1.1.1.1 Khái niệm về dịch vụ:

Có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về khái niệm dịch vụ.

Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.

Philip Kotler cho rằng:  “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.

PGS.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”.

Như vậy có thể hiểu dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền.

1.1.1.2 Khái niệm về du lịch:

Theo UNWTO: Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế phát sinh do sự di chuyển tới các quốc gia hay điểm đến ngoài nơi cư trú thường xuyên của con người với các mục đích cá nhân, hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn. Ở Việt Nam, Luật Du lịch 2023 tại Điều 3 định nghĩa: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.

Khác với các quan niệm trên, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp tại Rome – Italia (1963), các chuyên gia quốc tế đưa ra quan niệm: Du lịch là cả một quy trình gồm tất cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyến đi cho đến lúc di chuyển và đến nơi cư trú, ăn ở, mua sắm, giải trí, giao tiếp, nghỉ ngơi đến lúc trở về nhà và hồi tưởng.

Từ các quan niệm về du lịch như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu du lịch theo hai nghĩa cơ bản sau: thứ nhất, du lịch là nói đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, thỏa mãn các nhu cầu giải trí; thứ hai, du lịch là tổng hợp các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ tiêu thụ một số giá trị kinh tế, văn hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú.

1.1.1.3 Khái niệm dịch vụ du lịch: Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Từ hai định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: Dịch vụ du lịch là một loại dịch vụ được cung cấp bởi các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch bắt đầu từ sự di chuyển của du khách đến nơi lưu trú nhằm thỏa mãn tối đa các nhu cầu về giải trí, nghĩ dưởng của du khách và đem lại lợi ích kinh tế cho các cơ sở cung ứng các dịch vụ, cũng như đáp ứng được sự tuân thủ đối với các chính sách pháp luật.

Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn thì dịch vụ du lịch có thể được hiểu: “là mọi hoạt động kinh tế và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho khách du lịch và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Ví dụ: dịch vụ hướng dẫn viên du lịch.

Theo điều 4 của luật du lịch Việt Nam năm 2005, dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.

1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ du lịch  

Trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ được coi là mọi thứ có giá trị, khác với hàng hoá vật chất, mà một tổ chức hay một cá nhân cung cấp cho một người hoặc một tổ chức khác để đổi lấy một thứ gì đó. Dịch vụ du lịch được hiểu là nghĩa hẹp của dịch vụ. Có nghĩa là dịch vụ là một tổng thể các dịch vụ khác nhau của nền kinh tế, còn dịch vụ du lịch là một loại dịch vụ đã được cụ thể hóa quy và về một loại dịch vụ cụ thể.

Chúng ta có thể hiểu dịch vụ du lịch là kết quả mang lại cho người du lịch thông qua các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch.

Tính phi vật chất (có nghĩa là sản phẩm của dịch vụ du lịch không được thể hiện bằng hàng hóa nhìn, cầm, và có thể lưu kho), thì đây là đặc tính quan trọng nhất của dịch vụ du lịch. Do du khách không thể nhìn thấy hay thử nghiệm từ trước, nó là một sản phẩm trừu tượng mà khách hàng chỉ có thể bằng cảm nhận của mình để đánh giá được chất lượng của “sản phẩm” dịch vụ du lịch. Mặc dù, trên thực tế dịch vụ du lịch luôn đồng hành với sản phẩm vật chất nhưng không thay đổi tính phi vật chất của mình, vì vậy, du khách rất khó đánh giá được sản phẩm này. Từ đặc điểm này, nhà cung ứng dịch vụ du lịch phải cung cấp đầy đủ các thông tin nhấn mạnh tính lợi ích của dịch vụ mà không đơn thuần là mô tả dịch vụ, từ đó làm cho du khách quyết định mua dịch vụ của mình. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng. Tính đồng thời này thể hiện ở cả không gian và thời gian. Đây là đặc điểm quan trọng, thể hiện sự khác biệt với các đặc tính hữu hình của hàng hoá. Với sản phẩm là dịch vụ du lịch thì không thể có sự dự trữ, hay lưu kho cũng không thể sản xuất, hay mua bán…đây cũng là một trong những đặc tính rất khác biệt so với các loại hàng hóa kinh doanh khác (hay gọi là loại hình kinh doanh khác), nó thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp sẽ bị mất nguồn doanh thu nếu không có khách du lịch. Đặc tính này khác biệt nếu sản phẩm dịch vụ là loại hình khác. Khách hàng có thể mua tích trữ để dùng dần. Sản phẩm của loại hình này là được sản xuất và tiêu dùng đồng thời cùng một lúc, nên cung cầu không thể tách rời. Vì vậy việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong du lịch là hết sức quan trọng. Có sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ. Trong một chừng mực nhất định, khách du lịch đã trở thành nội dung của quá trình sản xuất.-Sự tác động tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ du lịch phụ thuộc vào mức độ thân thiết hay còn gọi là kinh nghiệm của một người thợ lành nghề, và được thể hiện qua khả năng, ý nguyện của cả hai bên. Mức độ hài lòng của khách phụ thuộc vào sự sẵn sàng và khả năng phục vụ của nhân viên du lịch, thái độ và sự giao tiếp với khách hàng còn quan trọng hơn cả những tiêu chí kỹ thuật. Vì vậy trong quá trình cung cấp dịch vụ đòi hỏi phải tăng cường sự liên hệ của của người sản xuất với khách hàng.

Tính không chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ. Đây là một đặc tính của dịch vụ du lịch hay còn gọi là hàng hóa đặc biệt. Trong quá trình cung cấp dịch vụ, không có quyền sở hữu nào được chuyển dịch từ người bán sang người mua. Người mua chỉ mua quyền đối với tiến trình cung cấp dịch vụ, tức là du khách chỉ được chuyên chở, được ở khách sạn, được sử dụng bãi biển mà không được quyền sở hữu chúng. Người mua (khách du lịch) bỏ tiền để hưởng các dịch vụ du lịch do người cung cấp dịch vụ cung cấp cho và được sử dụng trong một thời gian cụ thể tương ứng với số tiền khách du lịch bỏ ra chứ ko được quyền sở hữu sản phẩm của dịch vụ du lịch.

Tính không thể di chuyển của dịch vụ du lịch. Đối với các dịch vụ như cho thuê khách sạn, khu nghỉ dưỡng, bãi biển… thì không thể di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác như các hàng hóa thông thường khác. Các cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất, là nơi cung ứng dịch vụ nên khách du lịch muốn tiêu dùng dịch vụ thì phải đến các cơ sở du lịch. Tuy nhiên, đây cũng là yếu tố bất lợi của dịch vụ du lịch trong trường hợp các điều kiện tự nhiên (như địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí hậu, tài nguyên, môi trường sinh thái…) và điều kiện xã hội (dân số, dân sinh, phong tục tập quán, chính sách kinh tế, khả năng cung ứng lao động, cơ sở hạ tầng,..) không được phân tích và đánh giá cẩn thận trước khi tiến hành xây dựng các dịch vụ cho thuê, nghỉ dưỡng… thì kết quả kinh doanh từ dịch vụ du lịch của người cung cấp dịch vụ sẽ không hiệu quả cao trong kinh doanh. Bên cạnh đó, người cung cấp dịch vụ du lịch cần phải tiến hành các hoạt động xúc tiến và quảng bá mạnh mẽ để thu hút du khách đến với điểm du lịch.

Tính thời vụ của du lịch. Tính thời vụ của du lịch được tác động bởi các nguyên nhân mang tính tự nhiên và xã hội. ví dụ như Hà Nội về mùa thu sẽ có nhiều khách du lịch hơn do cây cối chuyển màu vàng đẹp, thời tiết mát mẻ dễ chịu, cũng như các món ăn đặc trưng mùa vụ rất hấp dẫn du khách. Đặc điểm này dễ dẫn đến tình trạng cung cầu dịch vụ mất cân đối với nhau, gây lãng phí cơ sở vật chất và con người lúc trái vụ đồng thời có nguy cơ giảm sút chất lượng phục vụ khi gặp cầu cao điểm. Để hạn chế tình trạng này, các doanh nghiệp cần phải đưa ra các chương trình khuyến khích khách đi nghỉ trái vụ, như cung cấp các gói du lịch giảm giá, và thiết kế các chương trình du lịch khác thay thế. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Tính trọn gói của dịch vu du lịch. Dịch vụ du lịch thường là dịch vụ trọn gói các dịch vụ cơ bản (dịch vụ vận chuyển, dịch vụ phòng, buồng, bar,..), dịch vụ bổ sung (dịch vụ về thông tin liên lạc, cắt tóc, mua hàng lưu niệm,…) và dịch vụ đặc trưng (tham quan, tìm hiểu, vui chơi giải trí, thể thao,..). Xuất phát từ nhu cầu đa dạng cũng như mong muốn được sử dụng tất cả các dịch vụ, nhu cầu giải trí của du khách tại cùng một địa điểm để du khách không phải mất thời gian tìm đến các nhà cung cấp khác.

Tính không đồng nhất trong dịch vụ du lịch. Đây cũng không hẳn phải là một đặc tính đặc thù so với các sản phẩm dịch vụ khác. Hiện nay, các lĩnh vực liên quan đến phục vụ khách hàng cũng đều phải có sự phân tầng, phân cấp, phân xếp hạng khách hàng thành nhiều mức khác nhau. Để từ đó sẽ đưa ra các gói sản phẩm dịch vụ chuyên biệt phù hợp và theo nhu cầu riêng biệt của từng đối tượng khách hàng. Dịch vụ du lịch cũng vậy, các khu nghỉ dưỡng, khách sạn cũng đều phải có sự phân cấp thành nhiều hạng mức phụ vụ khác nhau. Từ cao cấp xuống mức thấp để đáp ứng đa dạng hóa tất cả các nhu cầu của khách du lịch.

Công nghệ dịch vụ: xu hướng áp dụng công nghệ 4.0 để nâng cao khả năng tương tác, minh bạch thông tin, hỗ trợ công nghệ, quản lý trực tuyến trong mọi mặt đời sống cũng phát sinh những yêu cầu cập nhật công nghệ mới, ứng dụng cho ngành dịch vụ du lịch, phát triển du lịch thông minh. Ví dụ: QR pay, thanh toán online, fintech, app… trong quản lý, cập nhật và ứng dụng thanh toán toàn cầu, thanh toán dịch vụ du lịch online…để đáp ứng nhanh, đa dạng, rộng khắp các dịch vụ đến mọi đối tượng có nhu cầu về dịch vụ Ngày 4/5/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong đó nêu ưu tiên phát triển du lịch thông minh là một giải pháp để chủ động nắm bắt cơ hội và giảm thiểu những tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đối với Việt Nam.

Tóm lại: dịch vụ du lịch có những đặc điểm rất khác biệt so với các sản phẩm dịch vụ khác; bởi tính ko sở hữu, tính vô hình không hiện thực bằng vật chất, có sự phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, thiên nhiên, văn hóa vùng miền, cập nhật, chạy đua trong ứng dụng công nghệ mới, công nghệ 4.0… vì nếu ko có những đặc thù như trên sẽ không thể có một dịch vụ du lịch hấp dẫn du khách được. Do vậy, các nhà cung cấp du lịch cần phải nắm rất rõ các kiến thức về văn hóa vùng miền, cũng như có khả năng đánh giá được các đặc trưng của thiên nhiên…

1.1.3. Vai trò của dịch vụ du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Ngày nay, nền kinh tế phát triển, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần nên nhu cầu được hưởng thụ để cân bằng cuộc sống cũng như khám phá sự mới lạ của thế giới (bao gồm: cảnh đẹp thiên nhiên của từng địa điểm, sự khác biệt về văn hóa tâm linh, văn hóa dân gian…của người dân từng vùng, địa điểm trên thế giới…), vì vậy, con người sẽ phát sinh nhiều nhu cầu đi du lịch các nơi trên thế giới để thỏa mãn đa dạng các nhu cầu của mình. Đây là điều kiện thuận lợi và là nền tảng cho sự ra đời của các dịch vụ du lịch (hay gọi một cách tổng thể là ngành du lịch ra đời). Vì vậy, vai trò của dịch vụ du lịch đóng một vai trò quan trọng trong việc kết nối các cung cầu giữa khách du lịch và người cung cấp các dịch vụ du lịch trên địa bàn nếu nói theo một nghĩa hẹp, và đóng vai trò quảng bá hình ảnh đất nước đến với thế giới, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhiều người, và vô hình tạo ra một diện mạo mới cho đất nước từ đó sẽ là nền tảng đến thế giới có những nhìn nhận đánh giá về một đất nước để tạo ra sự giao thông trong nền kinh tế giữa các nước với nhau, nền tảng để phát triển nhiều ngành kinh tế, mang lại nguồn thu lớn cho đất nước. Các vai trò của dịch vụ du lịch thể hiện cụ thể hơn thông qua các vai trò sau:

Dịch vụ du lịch là cầu nối khách du lịch với điểm đến. Dịch vụ du lịch tạo nên sức hấp dẫn, giữ chân và là yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch quay trở lại. Chất lượng dịch vụ du lịch ảnh hưởng đến chất lượng du lịch của du khách, là yếu tố cấu thành và bảo đảm chất lượng du lịch.

Mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, làm tăng thu nhập quốc dân, tăng tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ, góp phần tích cực trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

Tạo ra việc làm trực tiếp và gián tiếp cho các tầng lớp dân cư, góp phần nâng cao dân trí, đời sống vật chất tinh thần cho người dân, mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và nước ngoài, tăng cơ hội việc làm cho người lao động, khôi phục các làng nghề thủ công và lễ hội truyền thống có nguy cơ bị mai một và giảm bớt tình trạng đói nghèo, góp phần thay đổi diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang sạch đẹp hơn.

Được mệnh danh là “con gà đẻ trứng vàng” đã giúp nhiều quốc gia có nguồn thu ngoại tệ hàng tỷ USD mỗi năm, bởi du lịch là hoạt động xuất khẩu hiệu quả nhất. Tính hiệu quả trong kinh doanh du lịch được thể hiện chỗ Du lịch là ngành “xuất khẩu tại chỗ” rất hiệu quả những dịch vụ, hàng hoá công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, hàng tiêu dùng nông sản thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ,…

Không chỉ là ngành xuất khẩu tại chỗ mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình” sản phẩm du lịch. Đó là danh lam thắng cảnh, giá trị di tích lịch sử – văn hoá, tính độc đáo trong truyền thống phong tục tập quán…Sản phẩm này không bị mất đi qua mỗi lần đưa ra thị trường mà uy tín ngày càng tăng khi chất lượng dịch vụ làm thoả mãn nhu cầu của du khách.

Góp phần kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, phân phối lại thu nhập giữa các thành phần lao động trong xã hội, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn.

Tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương thông qua việc thu thuế các cơ sở và hoạt động trên địa bàn. Du lịch phát triển làm cho nhu cầu về hàng hoá dịch vụ tăng lên, góp phần mở ra thị trường tiêu thụ tại chỗ các loại hàng hoá dịch vụ này. Ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho du khách tìm hiểu thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh các ngành kinh tế khác.

1.2. Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch

Khái niệm về quản lý nhà nước: Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, trong số các khái niệm về quản lý được nhiều nhà khoa học đưa ra thì nhà khoa học Harold Koontz đã đưa ra khái niệm quản lý và được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Theo H. Koontz quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Như vây, quản lý là các hoạt động có chủ đích của chủ thể tác động vào đối tượng bằng cơ chế tác động như nguyên tắc, phương pháp hay công cụ lên đối tượng quản lý.

Từ phân tích ở trên, có thể đưa ra: Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Trích nguồn: Thư viện pháp luật

Như vậy, chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch cấp thành phố TTTƯ là Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố cùng với các cơ quan tư vấn, giúp việc như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT-DL), các sở ngành có liên quan. Cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch cấp thành phố TTTƯ thực hiện quản lý theo phân cấp được quy định, dưới sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý cấp trung ương và chịu sự giám sát của nhân dân.

Đối tượng quản lý: là các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch và các hoạt động liên quan đến dịch vụ du lịch trên địa bàn của thành phố TTTƯ.

Công cụ quản lý: các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở thành phố TTTƯ thực hiện quản lý các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch bằng hệ thống các công cụ quản lý kinh tế như các chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch, các quy định của pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được phân cấp.

Khái niệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch:

Trên cở sở lý luận ở trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là sự tác động có tổ chức của chính quyền nhà nước cấp thành phố TTTƯ tới các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố nhằm thúc đẩy hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phát triển bền vững và có hiệu quả, góp phần thực hiện các mục tiêu KT-XH đề ra của địa phương trong từng thời kỳ. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của chính quyền thành phố trực thuộc trung ương là sự tác động có tổ chức của chính quyền cấp Thành phố trong phạm vi thẩm quyền của mình lên hoạt dộng cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn, đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn của lĩnh vực, ngành du lịch nhằm đạt mục tiêu của lĩnh vực, ngành du lịch và mục tiêu của địa phương trong từng giai đoạn phát triển. Đó là mô hình quản lý theo ngành dọc kết hợp với quản lý theo lãnh thổ trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền cấp thành phố TW trong khuôn khổ được phân cấp.

Sự tác động của chính quyền nhà nước cấp thành phố TTTƯ tới các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch là sự tác động nhằm quản lý thông qua các nguyên tắc, phương pháp, công cụ quản lý như chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch. Sự tác động ở đây nhằm thực hiện chức năng quản lý đối với hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch, không làm chức năng kinh doanh thay các doanh nghiệp.

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể khẳng định dịch vụ du lịch không chỉ là đầu ra của các hoạt động du lịch mà bao hàm cả các dịch vụ được cung cấp bởi ngành du lịch nhằm mang lại sự thỏa mãn cho du khách và lợi ích kinh tế cho các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, cũng như tăng thu ngân sách cho một quốc gia.

1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch

Ở cấp thành phố trực thuộc trung ương, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch có chức năng quản lý trên địa bàn và chịu sự chỉ đạo của các cơ quan ngành dọc ở trung ương. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chính quyền cấp thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại địa phương theo sự phân cấp, cụ thể hóa chính sách phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phù hợp với thực tế địa phương, có biện pháp bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu cung ứng các dịch vụ du lịch như: khách sạn, nhà hàng, bến tàu, bến xe…

Từ các phân tích trên, có thể tiếp cận quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch dưới giác độ chính quyền cấp thành phố trực thuôc trung ương được phân cấp thực hiện, gồm các nội dung cụ thể như sau: Hoạch định phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch ở thành phố; xây dựng và thực hiện chính sách về quản lý các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn; tổ chức hoạt về tuyên truyền an toàn thực phẩm, chất lượng các dịch vụ du lịch cung ứng trên địa bàn; khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn; kiểm tra, kiểm soát hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn.

1.2.2.1 Xây dựng quy hoạch phát triển dịch vụ du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Hoạch định phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch 

Hoạch định phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch là việc định hướng phát triển thông qua các công cụ như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, thông tin và các nguồn lực của nhà nước. Để hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phát triển cần phải có hoạch định phát triển dịch vụ du lịch một cách cụ thể, đây là một trong những nội dung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với sự phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn của thành phố trực thuộc trung ương. Hoạch định phát triển du lịch để định hướng hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch địa phương phát triển theo quỹ đạo và mục tiêu KT-XH đã được định ra, hướng dẫn các nhà kinh doanh, các tổ chức kinh tế hoạt động hướng đích theo các mục tiêu chung. Việc định hướng phải đảm bảo theo các nguyên tắc của thị trường, mang tính mềm dẻo, uyển chuyển, vừa đảm bảo tính tự chủ vừa thực hiện mục tiêu chung. Việc hoạch định phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch ở địa phương phải đảm bảo phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung của vùng và cả nước, phù hợp với nhu cầu ngày càng đòi hỏi cao của du khách gắn với tiến trình phát triển đất nước bền vững.

Xây dựng và công khai các quy hoạch, kế hoạch phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch là công việc rất quan trọng quyết định định hướng phát triển và có tác dụng định hướng dài hạn cho các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phát triển. Chính quyền địa phương xác định rõ xu hướng chung phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch cần phát triển dài hạn, đồng thời cân đối đủ các nguồn lực cần thiết và xác định rõ lộ trình thực hiện mục tiêu.

Xây dựng chiến lược để phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch là xác định các nhiệm vụ và mục tiêu dài hạn, lựa chọn chính sách thích hợp với điều kiện trong nước, quốc tế và phối hợp tối ưu các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra. Chiến lược xác định các mục tiêu căn bản, chủ yếu để phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch dựa trên các căn cứ khoa học và nhu cầu của du khách. Bên cạnh đó, để đạt các mục tiêu phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch, chiến lược phải xác định rõ các nguồn lực, phương tiện, chọn lựa các phương án thích hợp để thực hiện. Việc tổ chức xây dựng và thực thi chiến lược phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch có ý nghĩa to lớn đối với việc định hướng, quy hoạch, kế hoạch phát triển cũng như việc xử lý các vấn đề nảy sinh trong phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố trực thuộc trung ương.

Xây dựng chiến lược phát triển các dịch vụ du lịch trên địa bàn. Chính quyền thành phố góp phần xây dựng chiến lược phát triển ngành du lịch trên địa bàn, đưa các biện pháp, định hướng lớn về phát triển dịch vụ du lịch của địa phương vào chiến lược phát triển KT-XH của cả thành phố, đất nước. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Quy hoạch phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố trực thuộc trung ương là việc bố trí sắp xếp nguồn lực nhằm khai thác hợp lý và có hiệu quả thế mạnh của từng vùng, miền dựa trên các di sản văn hoá, sản phẩm truyền thống nhằm đạt được mục tiêu phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch nói riêng và KT-XH nói chung trong một khoảng thời gian nhất định.

  • Quy hoạch phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố bao gồm quy hoạch tổng thể và quy hoạch cụ thể:

Quy hoạch tổng thể phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch được lập cho phạm vi toàn thành phố, bao gồm các nội dung: Xác định vị trí, vai trò, lợi thế của các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trong phát triển KT-XH của địa phương, vùng và cả nước; đánh giá tiềm năng, thực trạng từng vùng miền và các nguồn lực để phát triển; xác định quan điểm, mục tiêu, tính chất, quy mô phát triển khu vực quy hoạch, dự báo các chỉ tiêu phát triển, luận chứng các phương án phát triển; chọn các khu vực và đối tượng ưu tiên phát triển, hình thành danh mục các chương trình và dự án đầu tư, cân đối yêu cầu vốn đầu tư, nguồn nhân lực; đánh giá tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ môi trường; kế hoạch thực hiện kèm theo chính sách, cơ chế, biện pháp quản lý đầu tư theo quy hoạch được duyệt.

Quy hoạch cụ thể để phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch: được lập cho các khu chức năng trong khu vựa cung ứng dịch vụ du lịch. Bao gồm các nội dung cụ thể sau: Xác định tính chất, quy mô, nội dung đầu tư và các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch; phân khu chức năng, bố trí mặt bằng tổng thể quy hoạch cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng đi lại; sử dụng đất; quy định quản lý xây dựng, phát triển, khai thác và sử dụng; xác định danh mục các dự án đầu tư; phân tích hiệu quả KT-XH và môi trường; đề xuất các biện pháp, kế hoạch thực hiện quy hoạch.

Công tác quy hoạch có chất lượng sẽ tạo ra cân bằng cung – cầu, phát triển lành mạnh trên thị trường cung ứng dịch vụ du lịch, gia tăng lợi ích từ hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch và giảm thiểu những tác động tiêu cực có thể đem lại cho cộng đồng, cho DNDL. Ngược lại, công tác này không tốt có thể dẫn đến phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch thiếu tính kiểm soát. Nếu chạy theo những lợi ích ngắn hạn trước mắt có thể gây thiệt hại cho các nguồn lực phát triển dịch vụ du lịch như: giảm sự hấp dẫn sản phẩm du lịch, lãng phí tài nguyên, cơ sở vật chất – kỹ thuật, nguồn lao động và vốn… và làm giảm hiệu quả KT-XH.

Xây dựng các kế hoạch trung hạn, ngắn hạn về phát triển dịch vụ du lịch. Xây dựng kế hoạch, xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu, biện pháp tiến hành về phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Kế hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì bắt buộc cơ quan, đơn vị liên quan triển khai thực hiện và hoàn thành đúng thời hạn, giúp đạt được mục tiêu một cách tương đối chính xác, góp phần đảm bảo tính ổn định trong hoạt động, tăng tính hiệu quả, tiết kiện thời gian, chi phí, nhân lực. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

1.2.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về dịch vụ du lịch

a, Xây dựng và thực thi chính sách về hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn quản lý.

Xây dựng và thực thi chính sách về hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn bao gồm triển khai việc thực hiện pháp luật, chính sách của trung ương và xây dựng, triển khai chính sách đặc thù về hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch thuộc thẩm quyền phân cấp cho thành phố.

Xây dựng và thực thi các chính sách nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch hoạt động hiệu quả. Tạo lập môi trường thuận lợi, bao gồm: nền chính trị ổn định; văn hóa xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đi lại, an ninh trật tự, kỷ luật, kỷ cương; thông tin cần minh bạch, rõ ràng. Để thực hiện nội dung này, chính quyền địa phương cần tạo ra các dịch vụ công liên quan đến môi trường chính trị, pháp lý, an ninh, thủ tục quản lý, điều kiện kinh doanh, thông tin, an toàn xã hội. Đồng thời, ban hành và bảo đảm thi hành pháp luật, bảo đảm các điều kiện và nguyên tắc cơ bản như: quyền sở hữu, tự do kinh doanh, xử lý tranh chấp, bảo đảm xã hội phát triển lành mạnh, có văn hóa. Nhà nước tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch thông qua xây dựng các chính sách như: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách khuyến khích đầu tư, giảm thuế, phát triển vùng sâu, vùng xa, trợ cấp, phát triển kết cấu hạ tầng, chính sách kích cầu, chính sách việc làm, chính sách xã hội. Các văn bản, chính sách sau đây có tác động trực tiếp đến quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở thành phố trực thuộc trung ương: Luật Du lịch, Luật Di sản văn hóa, Luật Đầu tư; chính sách ưu đãi đầu tư; chính sách tài chính – tín dụng, thuế, lãi suất; chính sách xây dựng kết cấu hạ tầng ngành du lịch; chính sách hỗ trợ xúc tiến du lịch, xây dựng các dịch vụ du lịch và đào tạo nguồn nhân lực cung cấp dịch vụ du lịch; chính sách đất đai; chính sách giá cả các dịch vụ; chính sách cạnh tranh.

Để phát triển các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, chính quyền cấp thành phố trực thuộc trung ương phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phù hợp với điều kiện ở địa phương (nghiên cứu đặc điểm, hoàn cảnh địa phương, ra văn bản hướng dẫn, tổ chức thực thi, kiểm tra, chỉ ra các sai lệch kịp thời, đánh giá kết quả thực thi chính sách).

Hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch là khâu đột phá, kích thích sự phát triển của nhiều hoạt động khác trong các ngành, lĩnh vực và cũng là hoạt động tạo ra lợi nhuận cao. Vì vậy phải có chính sách hợp lý để hướng doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn lợi nhuận thu được tiếp tục đầu tư cho sự phát triển lâu dài và bền vững, khai thác hợp lý tiềm năng sẵn có của địa phương để góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương mạnh mẽ và bền vững. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

b, Tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật của Nhà nước về dịch vụ du lịch.

Thực hiện nội dung này, chính quyền địa phương có chức năng tạo ra các dịch vụ công về môi trường chính trị, pháp lý, an ninh, thủ tục quản lý, điều kiện kinh doanh, thông tin, an toàn xã hội. Đồng thời, ban hành và bảo đảm thi hành pháp luật, bảo đảm các điều kiện và nguyên tắc cơ bản như: quyền sở hữu, tự do kinh doanh, xử lý tranh chấp, bảo đảm xã hội phát triển lành mạnh, có văn hóa. Nhà nước tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch thông qua xây dựng các chính sách như: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách khuyến khích đầu tư, giảm thuế, phát triển vùng sâu, vùng xa, trợ cấp, phát triển kết cấu hạ tầng, chính sách kích cầu, chính sách việc làm, chính sách xã hội. Các văn bản, chính sách sau đây có tác động trực tiếp đến quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở thành phố TTTƯ: Luật Du lịch, Luật Di sản văn hóa, Luật Đầu tư; chính sách ưu đãi đầu tư; chính sách tài chính – tín dụng, thuế, lãi suất; chính sách xây dựng các khu cung ứng dịch vụ du lịch; chính sách hỗ trợ xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch và đào tạo nguồn nhân lực cung cấp dịch vụ du lịch; chính sách đất đai; chính sách giá cả các dịch vụ cấu thành sản phẩm du lịch; chính sách cạnh tranh.

Để phát triển các hoạt động cung ứng du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, chính quyền cấp thành phố TTTƯ phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phù hợp với điều kiện ở địa phương (nghiên cứu đặc điểm, hoàn cảnh địa phương, ra văn bản hướng dẫn, tổ chức thực thi, kiểm tra, uốn nắn lệch lạc, đánh giá kết quả thực thi chính sách).  Chính quyền thành phố nghiên cứu, ban hành và triển khai các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền mang tính đặc thù ở địa phương như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất, chính sách ưu đãi tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn đầu tư tham.

Bênh cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch cần thường xuyên phối hợp với các Cơ quan theo ngành dọc, ngang để thực hiện tuyên truyền, phổ biến về các chính sách pháp luật cho các đối tượng cung ứng dịch vụ du lịch cũng như du khách, người dân. Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, đào tạo về nội dung các chính sách pháp luật, lắng nghe ý kiến của các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch, khách du lịch và người dân để thay đổi, hoặc làm mới các chính sách pháp luật phụ vụ kịp thời sự thay đổi về nhu cầu của du khách cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung ứng dịch vụ du lịch tiếp tục đầu tư, phát triển. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

1.2.2.3 Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là các cơ quan chức năng trong bộ máy quản lý nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch ở thành phố trực thuộc trung ương. Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước tiến hành sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính, đào tạo và đào tạo lại, sắp xếp lại cán bộ công chức quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp. Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý sẽ được thực hiện bởi các cán bộ, công chức trong bộ máy. Chất lượng cán bộ, công chức, cách làm việc của các cơ quan quản lý có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Do đó, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành du lịch cần phải được quan tâm, cơ cấu lại đội ngũ công chức, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, về ngoại ngữ, tin học và nâng cao đạo đức công chức, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút nhân tài, tạo động lực khuyến khích công chức nâng cao trách nhiệm và hiệu quả công tác.

Trong tổ chức cơ quan cần điều chỉnh cơ cấu tổ chức tinh gọn theo hướng giảm bớt đầu mối, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp về chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan trong bộ máy. Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo hướng đề cao vai trò và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, nhanh nhạy của quản lý, điều hành. Chính quyền thành phố phải chuyển mạnh sang nền hành chính “phục vụ”, kiến tạo. Đảm bảo thu hút mạnh mẽ sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong thể chế, chính sách, thủ tục hành chính cũng như trong thực thi công vụ. Cải cách mạnh mẽ khu vực sự nghiệp, dịch vụ công theo hướng đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý và đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công.

Đối với chủ thể quản lý, chính quyền cấp thành phố trực thuộc trung ương cần tập trung thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế đã xác định, bảo đảm các điều kiện cho hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phát triển, ngăn chặn tình trạng tiêu cực, tham nhũng. Trong tổ chức, điều hành hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch chính quyền cấp thành phố trực thuộc trung ương cần phải tổ chức thực hiện việc tạo lập sự gắn kết liên ngành, liên vùng, liên quốc gia trong hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch, và giữa địa phương và trung ương trong quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch.

Tổ chức các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn là nhiệm vụ của chính quyền địa phương nhằm tổ chức điều hành các hoạt động này đi đúng hướng theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã định. Tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch gồm có: các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch, cộng đồng dân cư địa phương, chính quyền sở tại. Do đó, Chính quyền địa phương tổ chức hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch có thể phân chia các yếu tố trên thành đối tượng và chủ thể tổ chức để điều hành. Đối tượng tổ chức điều hành chủ yếu là: các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch, tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng du lịch. Chủ thể tổ chức, điều hành là chính quyền địa phương. Tổ chức hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch chính là chức năng tổ chức hoạt động kinh tế của nhà nước, gồm có: tổ chức hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch nhằm tác động vào hoạt động của doanh nghiệp thông qua các công cụ kinh tế và hành chính, định hướng hoạt động của doanh nghiệp theo các mục tiêu chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch đảm bảo hiệu quả phục vụ và lợi ích của doanh nghiệp và du khách. Dịch vụ du lịch bao gồm: Lữ hành, vận tải phục vụ du khách, kinh doanh dịch vụ ăn uống, dịch vụ nghỉ dưỡng, lưu trú… Doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh dịch vụ du lịch gồm các doanh nghiệp ở các khu vực tư nhân, khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, trong khu vực phi kết cấu, còn có loại hình hộ gia đình, trang trại, hoặc cá nhân, nhóm kinh doanh. Trong đó, các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân cần được chú trọng, sự tham gia của khu vực tư nhân có ý nghĩa huy động nguồn lực và ý nghĩa về mặt quản lý (kiểm chứng hiệu quả các quyết định và chính sách của chính quyền). Đối với doanh nghiệp có vốn nhà nước tùy theo sự phân cấp và ủy quyền của Chính phủ mà UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các doanh nghiệp trên một số chức năng nhất định nhưng phải tôn trọng quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp, không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

1.2.2.4. Xã hội hóa, huy động nguồn lực cho phát triển dịch vụ du lịch

Công tác xã hội hóa trong phát triển các dịch vụ du lịch dựa trên cơ sở huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, khai thác tối ưu lợi thế so sánh, đề cao vai trò, trách nhiệm của mọi thành phần, đặc biệt là vai trò của cộng đồng, những người đang góp phần tạo dựng nên môi trường du lịch an toàn, lành mạnh, thân thiện và ấn tượng đối với du khách. Do vậy, việc xã hội hóa sẽ làm đa dạng hóa tất cả các thành phần cùng tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ du lịch cho du khách. Từ đó, sẽ tạo ra được sự cạnh tranh và các nhà cung cấp dịch vụ du lịch sẽ phải đảm bảo được chất lượng, giá cả của dịch vụ du lịch do mình cung cấp. Đây cũng sẽ là tiền đề để du khách đánh giá hình ảnh, uy tín, con người và sự an toàn của một quốc gia. Dịch vụ du lịch luôn cần phải gắn một cách chặt chẽ với văn hóa của một dân tộc. Văn hóa của một dân tộc được thể hiện qua rất nhiều hình ảnh, hành động, và kết quả của sự tương quan giữa người cung cấp dịch vụ du lịch và du khách. Chính vì vậy, nếu một đất nước được đánh giá cao về ngành du lịch thì được hiểu đây là một đất nước xinh đẹp, bình yên, thân thiện và an toàn. Xã hội hóa dịch vụ du lịch được thể hiện qua một số khía cạnh cụ thể sau:

a, Thu hút sự tham gia của cộng đồng

Nếu nhìn nhận xã hội hóa chỉ dưới góc độ huy động nguồn lực kinh tế là chưa đủ. Nghị quyết 92 của Chính phủ về “Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới”, đã đặt ra yêu cầu đối với các địa phương trong việc tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, vận động nhân dân tự giác và tích cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự, tôn trọng pháp luật; xây dựng phong trào ứng xử văn minh, có thái độ cởi mở, chân thành đối với khách du lịch. Điều đó cho thấy tính cộng đồng trách nhiệm trong phát triển du lịch là rất lớn. Mục đích của NQ này là để đảm bảo Việt Nam sẵn sàng cung cấp đến du khách những dịch vụ du lịch chất lượng nhất, và luôn tạo cho du khách cảm giác được bình yên, thư thái, thân thiện và mến khách. Việc làm này bắt buộc phải được sự hưởng ứng từ cộng đồng và sự chung tay của người dân. Nếu chỉ đơn thuần các nhà cung cấp dịch vụ du lịch là các Công ty du lịch cố gắng thì cũng không thể làm hài lòng khách du lịch. Bởi vì, khách du lịch đâu chỉ có sử dụng các dịch vụ một chỗ, khách du lịch sẽ sử dụng tất cả các dịch vụ từ cộng đồng để cảm nhận được văn hóa của từng nơi, từng địa phương cũng như đảm bảo được sự an toàn cho du khách khi đến Việt Nam.

Bởi con số hàng triệu lượt khách và hàng nghìn tỷ đồng doanh thu du lịch mỗi năm, không chỉ là kết quả của những chính sách vĩ mô, những dự án đầu tư, hay các công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại, mà còn từ sự nỗ lực tưởng chừng nhỏ bé của từng cá nhân, ở mỗi khâu, đoạn.

b, Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch ngày càng tích cực tham gia xã hội hóa

Có thể nói, việc tham gia hoạt động xã hội hóa cũng chính là cơ hội để xây dựng uy tín, thương hiệu của mỗi doanh nghiệp khi tham gia. Bởi ngoài các cơ quan, đơn vị Nhà nước thì chính các doanh nghiệp du lịch là yếu tố để khai thác đa dạng các kênh tiếp cận khách hàng. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Ngoài các cơ chế chính sách thu hút đầu tư, xúc tiến, quảng bá du lịch thì việc thực hiện công tác xã hội hóa du lịch cần có một lộ trình kế hoạch, chiến lược cụ thể. Trên thực tế, mỗi dịp sự kiện du lịch sắp diễn ra mới có kế hoạch huy động nguồn lực từ công tác xã hội hóa. Điều này cũng là một hạn chế cho khâu tổ chức, do kinh phí huy động chưa đáp ứng được nhu cầu của chương trình tổ chức. Chính vì vậy, các cơ quan ban ngàn Nhà nước nên xây dựng các chính sách ngay từ đầu năm, bao gồm các lợi ích của các Doanh nghiệp, cá nhân, đoàn thể sẽ được các lợi ích gì khi tham gia công tác xã hội hóa các khoản chi cho các chương trình quảng bá du lịch của địa phương, để từ đó thu hút được nhiều khách tham quan du lịch đến từ các nước và các địa phương, tạo ra nguồn thu nhập lớn cho chính các chủ thể tham gia công tác xã hội hóa các nguồn chi. Ngoài ra, việc tham gia này đặc biệt góp phần nâng cao ý thức của người dân khi tham gia các chương trình lễ hội, quảng bá du lịch trên địa bàn, cùng nhau góp phần gìn giữ nét đẹp truyền thống của địa phương, giữ gìn vệ sinh môi trường công cộng xanh sạch sạch đẹp, tao ra các loại hình du lịch đặc sắc và truyền thống của người dân đến với du khách.

Ngày này, công tác xã hội hóa du lịch là một trong những hoạt động thiết thực, mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Tuy nhiên, cũng cần khách quan nhìn nhận, các cơ chế thu hút nguồn lực đầu tư phát triển du lịch, hiện vẫn chưa thực sự tạo được cú hích lớn. Điều đó khiến cho việc huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư vào du lịch còn hạn chế. Chính vì vậy, các cấp, các ngành và chính quyền địa phương cần sớm đưa ra lộ trình, chiến lược cụ thể để đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong thời gian tới. Đồng thời có chính sách đặc thù, khuyến khích các doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động này.

1.2.2.5 Thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch Kiểm tra, kiểm soát hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch trên địa bàn 

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp và quan trọng, được ví như “ngành công nghiệp không khói” góp phần tạo việc làm, thu nhập, nâng cao đời sống của nhân dân, đem lại những giá trị kinh tế – xã hội và đóng góp vào ngân sách địa phương. Thời gian qua, các cấp, các ngành đã triển khai đồng bộ các giải pháp để phát triển đa dạng hóa các dịch vụ du lịch theo hướng bền vững, thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cung cấp dịch vụ du lịch. Do vậy, công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành và chuyên ngành được đẩy mạnh, kịp thời chấn chỉnh, xử lý các sai phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch. Trên thực tế, việc kinh doanh dịch vụ du lịch “chui” những năm gần đây không còn là hiện tượng cá biệt ở địa phương nói riêng và nước ta nói chung. Có công ty chỉ đăng ký kinh doanh vận chuyển du lịch nhưng trên thực tế lại tổ chức cả những tua tham quan trong nước và ngoài nước. Có những đơn vị chỉ được phép kinh doanh lữ hành trong nước nhưng vẫn tự ý lấn sân kinh doanh lữ hành quốc tế, gây nhiều hậu quả. Tình trạng này tồn tại khá phổ biến ở một số thị trường du lịch trọng điểm như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Thừa Thiên – Huế, Ðà Nẵng, Khánh Hòa… Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Kinh doanh các dịch vụ du lịch “chui” không chỉ tiềm ẩn nhiều rủi ro với du khách mà còn khiến môi trường kinh doanh các dịch vụ du lịch trở nên thiếu lành mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hình ảnh và uy tín thương hiệu của ngành dịch vụ du lịch Việt Nam. Thời gian qua, mặc dù ngành du lịch và các cơ quan chức năng thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành, nhưng vẫn chưa thể chặn đứng những diễn biến ngày càng tinh vi của hoạt động kinh doanh các dịch vụ du lịch “chui”. Việc tái phạm của những đơn vị đã từng bị xử lý vi phạm cũng cho thấy công tác xử phạt chưa đủ sức răn đe hoặc chưa đủ mạnh để các tổ chức, cá nhân ko tái phạm. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp cho nên để có thể chấn chỉnh hiệu quả tình trạng kinh doanh lữ hành trái phép, rất cần sự phối hợp liên ngành chặt chẽ, đồng bộ. Song song công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên của cơ quan quản lý, còn cần sự phối hợp của các đơn vị hải quan, quản lý xuất nhập cảnh, biên phòng và những ban, ngành liên quan trong việc hậu kiểm đối với các công ty dẫn khách tại cửa khẩu hay tại các khu du lịch trọng điểm. Việc quản lý, giám sát cũng cần được tiến hành mở rộng trên môi trường mạng, để nhanh chóng phát hiện những nội dung quảng cáo bán tua không đúng chức năng đăng ký của các đơn vị. Bên cạnh đó cũng cần sự phối hợp của du khách trong việc cung cấp các thông tin kịp thời về các sai phạm của các tổ chức, cá nhân cung cập các dịch vụ du lịch không đúng với chức năng nhiệm vụ, sai so với quảng cáo…Du khách cũng cần nâng cao sự thận trọng trong việc kiểm tra đầy đủ các thông tin về các sản phẩm dịch vụ du lịch của các nhà cung cấp đảm bảo đồng tiền bỏ ra tương xứng với giá trị được nhận về.

Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát của các cơ quan ban ngành cần phải được thực hiện liên tục thường xuyên qua nhiều hình thức:

Thể hiện bằng các văn bản dưới luật, trong đó quy định rõ các dịch vụ du lịch được phép kinh doanh. Điều kiện cấp phép kinh doanh các dịch vụ du lịch cho các cá nhân, tổ chức… và các chế tài xử phạt cần phải được rõ ràng đủ sức răn đe cũng như phân xử môt cách công minh, đúng người đúng tội. Các cơ quan ban ngành cần thực hiện thường xuyên việc tuyên truyền tới các cá nhân tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch và khách du lịch, để từ đó cả bên cung cấp dịch vụ và bên mua dịch vụ đều nắm rõ các quy định, nhiệm vụ, quyền lợi của mình. Cung cấp một cách công khai các đường dây nóng, số điện thoại, mail, qua mạng online… dịch vụ tố cáo các nhà cung cấp dịch vụ du lịch đang làm sai chức năng nhiệm vụ hay lừa đảo du khách bằng các dịch vụ du lịch không đúng như quảng cáo.

Song song với phát triển du lịch, việc quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch theo định hướng quy hoạch và vấn đề đảm bảo an toàn cho du khách là nhiệm vụ rất quan trọng và là yêu cầu hàng đầu được đặt ra trong chương trình phát triển du lịch bền vững của địa phương. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cần thường xuyên chỉ đạo các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch luôn quan tâm và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở các đơn vị, tăng cường các biện pháp để đảm bảo an toàn cho du khách, nhất là các hoạt động dịch vụ, du thuyền trên sông nước. Thanh tra Sở cũng cần thường xuyên phối hợp các ngành có liên quan để kiểm tra, chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch để đảm bảo hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch từng bước được ổn định, cung cấp sản phẩm du lịch có chất lượng, đáp ứng yêu cầu đa dạng và đảm bảo an toàn cho du khách khi đến tham quan tại địa phương.

Yêu cầu cần phải có những giải pháp đồng bộ để chấn chỉnh, lập lại trật tự trong hoạt động du lịch trên địa bàn.

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, triển khai thực hiện Quy chế về quản lý các dịch vụ du lịch trên địa bàn. Tổ chức tuyên truyền vận động cán bộ, quần chúng nhân dân, nâng cao nhận thức, tích cực tham gia phong trào ứng xử văn minh, giữ gìn trật tự trị an, vệ sinh môi trường, không tham gia hoặc tiếp tay cho các hành vi xâm hại đến du khách tại các khu, điểm tham quan du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Hai là, tăng cường phối hợp với các ngành, tổ dân phố có liên quan để làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch. Dịch vụ du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính đa ngành và xã hội hoá cao, nên phát triển các dịch vụ du lịch cần có sự tham gia, phối hợp đồng bộ của các ngành, các cấp và cộng đồng. Vì vậy, cần tăng cường công tác phối hợp với các ban, ngành có liên quan để kiểm tra, giám sát hoạt động cung cấp các dịch vụ du lịch tại các địa bàn, nhất là vào các ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ tại điểm du lịch tập trung đông du khách; giải quyết tình trạng cò mồi, tranh giành khách, ép giá, bán hàng không niêm yết giá, vệ sinh môi trường ô nhiễm,… tại các khu, điểm du lịch và các cơ sở dịch vụ du lịch.

Ba là, nâng cao vai trò quản lý của chính quyền địa phương trong việc quản lý các hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch trên địa bàn đã được phân cấp quản lý. Có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, gây phiền hà cho du khách, làm ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch của địa phương.

Bốn là, xây dựng sản phẩm, dịch vụ du lịch có chất lượng, xây dựng chương trình tham quan du lịch với sản phẩm đặc trưng địa phương và có chất lượng. Niêm yết công khai giá bán hàng và dịch vụ; nâng cao chất lượng phục vụ, chú trọng đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, phong cách ứng xử, giao tiếp văn minh, mến khách cho đội ngũ nhân viên phục vụ, nhất là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch.

Năm là, phát huy vai trò của Hiệp hội Du lịch địa phương, xây dựng mối liên kết, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong trong công tác giữ gìn an ninh trật tự, bảo đảm an toàn cho du khách, chống chèo kéo, ép giá khách du lịch, nhất là thống nhất giá các chương trình tour nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, văn minh, góp phần phát triển ngành du lịch tại địa phương .

Trong quá trình thực hiện các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch sẽ phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình lưu trú, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch không lành mạnh, trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương. Do đó, chính quyền cấp thành phố trực thuộc trung ương phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch nhằm phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra. Kiểm tra, kiểm soát là tổng thể các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước nhằm phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm, thông qua đó để nắm được những khó khăn, trở ngại của các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch nhằm thúc đẩy hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch địa phương phát triển đúng hướng và vững chắc. Việc kiểm tra, kiểm soát gồm: Kiểm tra, giám sát; thanh tra chuyên ngành du lịch và thanh tra nhà nước; xử lý vi phạm. Thông qua các hình thức này có thể đánh giá chuẩn xác và xác định các can thiệp cần thiết của nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch ở thành phố. Kiểm tra, kiểm soát hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch cần sâu sát, kịp thời, nhưng không làm ảnh hưởng đến các hoạt động này.

1.2.3  Chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là các cơ quan Nhà nước bao gồm: Chính phủ, Bộ, các cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương…Phần này sẽ tập trung phân tích về trách nhiệm của các Chủ thể đối với công việc quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch bao gồm:

1.2.3.1 Trách nhiệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của Chính phủ

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về các dịch vụ du lịch và giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về các dịch vụ du lịch nói riêng và ngành du lịch Việt Nam nói chung; bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về du lịch; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch; danh mục các địa điểm tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia.

Bộ văn hóa, thể thao và du lịch sẽ có trách nhiệm lên các kế hoạch triển khai và phát triển ngành du lịch phù hợp với nền kinh tế đang phát triển của Việt nam cũng như thế giới trong đó khai thác từ các nguồn tài nguyên sẵn có của Việt Nam cũng như các nền văn hóa lâu đời đặc trưng của Việt Nam từ đó sẽ xây dựng kế hoạch tổng thể cho ngành du lịch Việt Nam. Bên cạnh xây dựng các chính sách thu hút, xã hội hóa các dịch vụ du lịch tới cộng đồng vừa đảm bảo thu hút đa dạng các thành phần tham gia cung cấp dịch vụ du lịch nhưng vẫn đảm bảo các quy phạm của pháp luật Việt Nam cũng như phải phù hợp với văn hóa, thuần phong mỹ tục của Việt nam từ xa xưa.

Điều phối, liên kết các hoạt động du lịch liên quốc gia, liên vùng, liên tỉnh.

Bộ văn hóa, thể thao và du lịch là cơ quan kết nối (đầu mối) làm việc với các vùng miền trên toàn quốc và liên kết với các Quốc gia trên thế giới nhằm giao lưu, quảng bá văn hóa du lịch, các dịch vụ du lịch của Việt nam đến tất cả các địa phương trong toàn quốc và thế giới. Việc làm này, sẽ là cây cầu kết nối liền mạch vẻ đẹp, văn hóa của tất cả các vùng miền với nhau. Từ đó, tạo ra gói sản phẩm dịch vụ đa dạng và toàn vẹn, đáp ứng nhu cầu của tất cả các du khách trong và ngoài nước. Mang đến cho du khách được trải nghiệm một dịch vụ trọn gói cũng như giúp du khách biết đến các thông tin du lịch của Việt Nam đặc biệt là của Hà Nội (một trong những địa điểm nổi bật của Việt Nam với nghìn năm văn hiến, đậm đà bản sắc dân tộc…). Việc kết nối du lịch như trên, cũng sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia dung cấp dịch vụ du lịch được gắn kết với nhau hơn, đảm bảo cung cấp đến du khách các dịch vụ liền mạch, với chất lượng dịch vụ tốt nhất, và giúp du khách có thể so sánh chất lượng của dịch vụ du lịch giữa các nhà cung cấp với nhau. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Phối hợp với các cơ quan có liên quan, tổ chức xã hội – nghề nghiệp về cung cấp các dịch vụ du lịch cũng như phổ biến, giáo dục pháp luật cho các tổ chức cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ du lịch.

Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xây dựng các chương trình hướng dẫn, giáo dục và phổ biến các quy định về việc cung cấp các dịch vụ du lịch cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ du lịch cho khách hàng thông qua việc kết hợp với các tổ chức xã hội trong và ngoài nước, các cơ quan hội phụ nữ, đoàn thanh niên, UBND các cấp tổ chức các lớp học để hướng dẫn và phổ biến đến các nhà cung cấp dịch vụ du lịch theo từng địa bàn cụ thể. Thông qua đó, các nhà cung cấp dịch vụ du lịch cũng dễ dàng hiểu hơn về các quy định, các văn bản dưới luật quy định về các điều kiện thỏa mãn khi cung cấp dịch vụ du lịch đến khách hàng đảm bảo đáp ứng sự hài lòng của khách du lịch trong và ngoài nước cũng như đảm bảo an toàn tuyệt đối cho khách du lịch. Bên cạnh, việc đảm bảo thuần phong mỹ tục, khai thác tối đa các văn hóa đặc trưng của từng địa phương đến khách du lịch một cách có khoa học, hợp lý… để hướng tới việc phù hợp tới từng đối tượng khách hàng cụ thể.

Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ du lịch như: hướng dẫn về giao dịch điện tử trong lĩnh vực du lịch.

Đây là một sản phẩm dịch vụ mang hàm lượng công nghệ cao (CN 4.0) hiện nay. Sản phẩm này hỗ trợ khách du lịch trên toàn thế giới có thể dễ dàng kết nối và tìm kiếm các địa điểm du lịch thăm quan, ăn, ở, giải trí…Đặc biệt có thể giúp các khách du lịch thế giới khi đến Hà Nội dễ dàng tự tìm kiếm các phương tiện đi lại, tìm hiểu nền văn hóa thông qua các phong tục tập quán hàng ngày của người dân Hà Nội…từ đó dễ dàng tham gia vào tất cả các chương trình du lịch trên địa bàn Hà Nội một cách dễ dàng.

Ví dụ: Hà Nội đã cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ du lịch hiện đại cho khách du lịch khi đến thăm Hà Nội như: Bản đồ điện tử về HN, mua vé tự động (xe bus citi tour…) hệ thống liên lạc tự động với an ninh để đảm bảo an toàn cho du khách nước ngoài, hệ thống cung cấp nước uống, đồ ăn nhẹ tự động trên các tuyến phố cổ Hà Nội…

Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để hỗ trợ các nhà cung cấp dịch vụ thiết kế các dịch vụ du lịch hợp lý. 

Đây là hoạt động thường xuyên của Chính Phủ để đảm bảo đánh giá được các nguồn tài nguyên thiên nhiên được khai thác cho các hoạt động du lịch được bền vững, tránh trường hợp người dân tự phát, tự khai thác dẫn đến nguồn tài nguyên bị cạn kiệt và không thể tái tạo, hoặc gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, Chính Phủ cũng sẽ phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu các phương án thay thế trong trường hợp nguồn tài nguyên thiên nhiên không có khả năng tái tạo.

Thực hiện hợp tác quốc tế về cung cấp các dịch vụ du lịch.

Chính Phủ sẽ đóng vai trò trong việc hợp tác với Quốc tế trong việc quảng bá hình ảnh của VN đến với thế giới từ đó sẽ hợp tác với thế giới cung cấp các dịch vụ du lịch tốt nhất tới khách du lịch. Các dịch vụ du lịch này sẽ được dựa trên nền tảng của Việt Nam (thiên nhiên, văn hóa VN…con người…) và các sản phẩm công nghệ hiện đại của thế giới. Từ đó, sẽ tạo nên một không gian với đầy đủ sắc thái văn hóa đến từ thế giới đồng thời hỗ trợ VN khai thác tốt nhất tiềm năng thiên nhiên sẵn có tại Việt Nam.

Quản lý, tổ chức thực hiện việc cấp, thu hồi giấy phép, thẻ hướng dẫn viên du lịch và các văn bản chứng nhận khác về hoạt động du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Hoạt động hướng dẫn viên du lịch là một sản phẩm dịch vụ của du lịch. Chính vì vậy, các hướng dẫn viên du lịch phải được tham gia các lớp đào tạo bài bản về lịch sử, văn hóa của đất nước nói chung và Hà nội nói riêng. Từ đó mới có thể chia sẻ một cách chính xác nhất các thông tin về VN tới các du khách quốc tế. Khi các hướng dẫn viên du lịch nắm vững được thông tin về lịch sử, văn hóa của VN thì chắc chắn họ sẽ thổi hồn vào trong những lời nói giới thiệu về VN từ đó sẽ thu hút nhiều hơn các khách du lịch muốn đến thăm VN.

Xã hội hóa hoạt động đầu tư, phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến du lịch, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch.

Việc tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch trong nền kinh tế đang phát triển như hiện nay thì càng cần phải có sự đầu tư rất lớn từ công nghệ, kinh tế, con người… bao gồm: tiền đầu tư, kinh nghiệm, sự hiểu biết, năng lực của từng nhà cung cấp… do vậy xã hội hóa các nguồn đầu tư và phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch ngày càng được Chính phủ chú trọng, cũng như tạo nhiều chính sách thông thoáng cho các nhà đầu tư tham gia quá trình cung cấp dịch vụ du lịch.

Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cung cấp các dịch vụ du lịch không theo quy định.

Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm trong việc cung cấp các dịch vụ du lịch thì sẽ bị Cơ quan chức năng yêu cầu giải trình, khắc phục hậu quả và xử lý vi phạm theo quy định của luật. Bên cạnh đó, Cơ quan chức năng cũng thành lập các đường dây nóng để tiếp thu lắng nghe các ý kiến đóng góp của khách du lịch, cũng như các khiếu nại về sai phạm trong việc cung cấp dịch vụ du lịch đến khách hàng. Từ đó, sẽ có các biện pháp giải quyết kịp thời nhằm khắc phục hậu quả cũng như lấy lại lòng tin của du khách, đặc biệt là du khách quốc tế.

1.2.3.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của Bộ, cơ quan ngang Bộ

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ quan nhà nước có liên quan ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ du lịch; huy động nguồn lực, thu hút đầu tư phát triển các dịch vụ du lịch; lồng ghép các nội dung liên quan đến phát triển các dịch vụ du lịch trong các chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Trách nhiệm của các cơ quan ngang bộ (ở đây là Bộ kế hoạch đầu tư phối hợp với bộ văn hóa thể thao & du lịch) ban hành các chính sách ưu đãi như chính sách miễn, giảm thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất…), làm việc với các địa phương như UBND cấp xã, huyện, tỉnh… và các đoàn thể như hội phụ nữ, các hiệp hội… để cùng phối hợp tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các nhà đầu tư cung cấp các sản phẩm dịch vụ du lịch tại địa phương. Cụ thể tại Hà Nội: Các cơ quan ban ngành phối kết hợp với các UBND cấp phường, quận, thành phố và các tổ dân phố trong việc vận động người dân cùng tham gia giữ gìn ý thức vệ sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ du lịch được thuận lợi trong các hoạt động kinh doanh, cung cấp đến du khách các sản phẩm dịch vụ đặc trưng Hà Nội; dưới sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ quan nhà nước có liên quan ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách về tài chính, thuế và hải quan nhằm tạo điều kiện phát triển các lĩnh vực cung cấp dịch vụ du lịch; bảo đảm nguồn lực tài chính cho các hoạt động xúc tiến sản phẩm dịch vụ du lịch quốc gia.

Các chính sách tài chính luôn là động lực thu hút và sự lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước muốn tham gia đầu tư vào Việt Nam để cung cấp đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ hiện đại và tiện nghi. Trong các năm gần đây, có rất nhiều các tập đoàn uy tín quốc tế đã đầu tư vào Việt Nam các khu resorts, khu nghỉ dưỡng 5 sao cao cấp đáp ứng được các nhu cầu của các vị khách thượng lưu. Sự hình thành các khu nghĩ dưỡng cao cấp này đã giúp Việt Nam đang dần thay đổi hình ảnh với quốc tế, từ đó đã thu hút ngày càng nhiều lượt du khách quốc tế đến với Việt Nam, đặc biệt Việt Nam gần đây đã đăng cai tổ chức thành công hai lần hội nghị thượng đỉnh APEC (tại Hà Nội và Đà Nẵng). Với sự linh động trong các chính sách tài chính, thuế, hải quan của Việt Nam đã và đang tiếp tục là môi trường đầu tư hấp dẫn và an toàn cho các nhà đầu tư trong và nước ngoài. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ quan nhà nước có liên quan ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách khuyến khích sản xuất, cung cấp hàng hóa, đồ lưu niệm, hàng thủ công, dịch vụ chất lượng cao để phát triển đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ du lịch, xây dựng hệ thống cửa hàng miễn thuế phục vụ khách du lịch tại một số địa bàn du lịch trọng điểm; lồng ghép xúc tiến du lịch trong xúc tiến thương mại.

Đây là hoạt động gắn chặt giữa việc đưa văn hóa truyền thống của người Việt Nam đến với du khách quốc tế thông qua các sản phẩm lưu niệm mang tính biểu tượng đặc trưng của người Việt. Ví dụ: tại Hà Nội xuất hiện nhiều các cửa hàng lưu niệm tại Bờ Hồ, các cửa hàng này có thể được sở hữu bởi nhà nước, hoặc tư nhân đã được quy hoạch một cách tổng thể bởi cơ quan nhà nước theo từng vị trí tuyến phố cụ thể để tạo nên net riêng của Hà Nội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho du khách dễ dàng tìm mua.  Bên cạnh đó, một số sản phẩm đặc trưng của Việt Nam nếu bán cho khách quốc tế cũng sẽ được hoàn thuế VAT, tạo kích thích cung cầu của du khách và các nhà sản xuất.

1.2.3.3 Trách nhiệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của Ủy ban nhân dân các cấp

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương.

Với nội dung trên, UBND cấp tỉnh, quận… sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng và người dân thực hiện quy hoạch phát triển du lịch theo từng địa phương, định hướng cho người dân nên phát triển du lịch theo hướng nên đầu tư để cung cấp các sản phẩm dịch vụ du lịch cụ thể nào để phù hợp với các đặc điểm tự nhiên vốn có của các địa phương. Ví dụ: tại Hà Nội, là nơi nghìn năm văn hiến nên có rất nhiều các di sản văn hóa, các thói quen thể hiện qua các nếp sống sinh hoạt hàng ngày của người dân… một số các làn điệu dân ca, các món ăn đậm nét truyền thống của người Hà Nội… sẽ được UBND các quận, cùng phối hợp với các cơ quan chính quyền, các tổ chức, đoàn thể hướng dẫn người dân tham gia phát triển các thế mạnh vốn có. Ngoài ra, còn phối hợp với một số tổ chức phi chính phủ về bảo tồn các nền văn hóa vùng miền tổ chức các buổi hội thảo, khóa huấn luyện đến người dân để nắm được cách thức phát triển du lịch thông qua việc am hiểu sở thích của các du khách và biết được các sản phẩm du lịch nào phù hợp để cung cấp tới du khách. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Ủy ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  1. Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các chính sách ưu đãi, thu hút các nhà đầu tư tham gia cung cấp đa dạng hóa các dịch vụ du lịch để khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch của địa phương;
  2. Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, an toàn trong khâu cung cấp dịch vụ ăn uống cho khách du lịch;
  3. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân trong việc cung cấp các dịch vụ du lịch bảo đảm môi trường du lịch thân thiện, lành mạnh và văn minh;
  4. Tổ chức bố trí nơi dừng, đỗ cho các phương tiện giao thông đã được cấp biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch để tiếp cận điểm tham quan các dịch vụ du lịch,
  5. Tổ chức tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của khách du lịch đối với các cá nhân, tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch không đúng cam kết, ảnh hưởng đến sức khỏe, tiền bạc của du khách.

1.2.4. Vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch

Vai trò của dịch vụ du lịch là cầu nối khách du lịch với điểm đến, dịch vụ du lịch tạo nên sức hấp dẫn, giữ chân và là yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch quay trở lại. Chất lượng của dịch vụ du lịch phản ảnh chất lượng về du lịch và là yếu tố cấu thành lên chất lượng du lịch. Tương ứng với điều này, vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tạo nên sự gắn kết và dòng chảy liền mạch giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch và du khách. Vai trò của quản lý nhà nước đối với dịch vụ du lịch nhằm thúc đẩy các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch địa phương phát triển mạnh mẽ và bền vững. Đồng thời, chúng ta cần xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, xác định rõ mức độ và hình thức can thiệp vào nền kinh tế nhằm khai thác triệt để các lợi thế, đồng thời khắc phục những thất bại của nhà nước lẫn thị trường trong việc điều hành của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Trên thực tế chúng ta cần xác định vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là định hướng cho các dịch vụ du lịch phát triển và khai thác lợi thế tối đa để mang lại lợi nhuận đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế trên cơ sở phát triển bền vững. quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch có vai trò tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch; đưa các dịch vụ du lịch phát triển theo định hướng chung, thúc đẩy các hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch phát triển; hạn chế, tiến tới xóa bỏ các hiện tượng không lành mạnh, mặt trái của cung cấp dịch vụ du lịch qua các hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch như (mại dâm, văn hóa đồi trụy, nghiện hút). quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch không phải cầm tay chỉ việc, theo kế hoạch thầm kín, mà quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch là tạo ra một môi trường cho các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch phát triển và nhận thức chung về ích lợi của các hoạt động này trong cộng đồng. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng của quản lý nhà nước đối với dịch vụ du lịch là xây dựng môi trường an ninh chính trị, an toàn xã hội, cùng với đó là yếu tố kinh tế, thành quả của các ngành kinh tế khác và đường lối phát triển các dịch vụ du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Vai trò của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch cần xác định rõ các công việc cần phải làm, đưa ra các giải pháp kiến nghị lên Chính phủ để đảm bảo mục tiêu các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch đi theo đúng hướng phát triển bền vững. Qua đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện 6 nhiệm vụ và giải pháp:

Nghiên cứu, phát triển sản phẩm dịch vụ du lịch chủ đạo như du lịch phổ cổ, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề; định vị điểm đến có sức hấp dẫn cao. Mở rộng phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch mới, có tiềm năng như du lịch công vụ, du lịch cộng đồng, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, du lịch vui chơi giải trí, công viên chuyên đề, tham dự sự kiện, trình diễn nghệ thuật đặc trưng của địa phương.

1, Tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực cung cấp đa dạng hóa dịch vụ du lịch, gồm nhân lực quản lý, quản trị và lao động nghề:

  • Tăng cường năng lực đào tạo của hệ thống các cơ sở đào tạo cung cấp các sản phẩm du lịch. Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên về dịch vụ du lịch.
  • Xây dựng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ du lịch. Khuyến khích việc đào tạo tại doanh nghiệp du lịch, các cơ sở đào tạo ngoài công lập và các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Tăng cường hợp tác quốc tế về phát triển nguồn nhân lực dịch vụ du lịch, tiếp thu trình độ công nghệ tiên tiến quốc tế.

2. Phát triển và nâng cao các cơ sở lưu trú có chất lượng cao và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch:

  • Rà soát các quy định pháp luật về dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan; bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ các quy định không hợp lý, không còn phù hợp; cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính; cải thiện hơn quyền tự do kinh doanh, tăng mức độ an toàn và giảm chi phí kinh doanh.
  • Xem xét tiến độ đầu tư phát triển các trung tâm, công trình hạ tầng hiện có; xác định những khó khăn, vướng mắc; trực tiếp hỗ trợ giải quyết, đồng thời, khuyến khích đẩy nhanh tiến độ đầu tư mở rộng.
  • Nghiên cứu thuê tư vấn (tư vấn chuyên nghiệp nước ngoài) xây dựng quy hoạch sử dụng các tài nguyên du lịch (thiên nhiên và văn hóa, làng nghề, các sản phẩm truyền thống…); xây dựng các trung tâm, điểm du lịch; thực hiện đấu thầu xây dựng, sử dụng và phát triển tài nguyên du lịch theo hình thức hợp tác công – tư (PPP),…tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ du lịch cho du khách trong và ngoài nước. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.
  • Thu hút đầu tư phát triển sản phẩm dịch vụ du lịch quy mô lớn, chất lượng cao tại các địa bàn trọng điểm và khu vực động lực phát triển dịch vụ du lịch, trước mắt là tại các khu vực có định hướng phát triển trở thành các khu vực đặc trưng của địa phương.
  • Tiêu chuẩn hóa và kiểm soát chất lượng sản phẩm dịch vụ dịch vụ và các điều kiện, tiện nghi phục vụ du lịch, bảo đảm an toàn, an ninh, vệ sinh môi trường và phát triển bền vững.
  • Tiếp tục rà soát, xây dựng hệ thống nhà vệ sinh, trạm dừng nghỉ, nhà hàng, cơ sở mua sắm bảo đảm yêu cầu phục vụ khách du lịch trên địa bàn.
  • Tăng cường tính kết nối và đảm bảo sự đồng bộ về chất lượng trong chuỗi cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch. Tạo ra các chuỗi cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch giữa các nhà cung ứng với nhau (mắt xích của đầu ra, đầu vào) được liên kết chặt chẽ. Từ đó, các du khách cũng sẽ được hưởng một sản phẩm du lịch trọn gói và liền mạch.

3. Phát triển dịch vụ du lịch bền vững:

  • Nghiên cứu, xây dựng và ban hành bộ tiêu chí phát triển dịch vụ du lịch bền vững (dựa trên các chuẩn mực, kinh nghiệm quốc tế đã được khách hàng ghi nhận và đánh giá cao).
  • Nghiên cứu, đề xuất cơ chế để người dân và giới khoa học tích cực tham gia phản biện quy hoạch, dự án và giám sát tuân thủ trong quá trình thực hiện của các tổ chức, cá nhân tham gia vào đầu tư cung ứng các dịch vụ du lịch.

4. Tăng cường xúc tiến, quảng bá sản phẩm dịch vụ du lịch của địa phương:

  • Đổi mới và đa dạng hóa phương thức xúc tiến du lịch; tăng cường xúc tiến du lịch thông qua việc khuyến khích các công ty lữ hành quốc tế trải nghiệm tận hưởng các sản phẩm dịch vụ du lịch tại địa phương.
  • Khuyến khích các doanh nghiệp mở văn phòng tiếp thị du lịch ở nước ngoài, tham gia các hội chợ du lịch quốc tế lớn, các chiến dịch quảng cáo trên các phương tiện truyền thông quốc tế, quốc gia, các hoạt động e-marketing; chú trọng hoạt động tiếp thị các dịch vụ du lịch tại các thị trường nguồn.
  • Tuyên truyền về ý nghĩa và tầm quan trọng của kết nối, hợp tác, chia sẻ lợi ích giữa các đối tác trong chuỗi dịch vụ du lịch.
  • Biên soạn tài liệu và tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền phát triển dịch vụ du lịch cộng đồng, lan truyền và nâng cao nhận thức về chất lượng dịch vụ du lịch cộng đồng.
  • Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường.
  • Xây dựng cơ chế tập trung nguồn lực cho hoạt động xúc tiến dịch vụ du lịch quốc gia, bảo đảm hoạt động linh hoạt, liên kết chặt chẽ với các ngành, địa phương và doanh nghiệp trong việc cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch.
  • Tăng cường nguồn lực từ Quỹ hỗ trợ phát triển dịch vụ du lịch cho công tác xúc tiến quảng bá dịch vụ du lịch của địa phương.

5. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch:

  • Triển khai áp dụng mạnh mẽ bộ tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch ở các địa bàn.
  • Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển dịch vụ du lịch thông minh.

1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm đối với thành phố Hà Nội Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

1.3.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của thành phố Nha Trang.

Nha Trang là địa bàn hội tụ đậm nét các yếu tố nền tảng cho một trung tâm du lịch biển quốc tế bao gồm đô thị phát triển với đầy đủ các giá trị văn hóa, nhân văn được đánh giá cao, môi trường khá trong sạch, con người hiền hòa, nhã nhặn… kết hợp với các giá trị về cảnh quan thiên nhiên kỳ thú của vịnh, biển, núi, sông, vùng ngập mặn, cảnh quan sinh thái nông nghiệp trù phú, hệ sinh thái biển đa dạng. Thành phố có nhiều di sản văn hóa lịch sử quý giá như Tháp Bà Ponagar, Viện Pasteur, Viện Hải dương học…

Đã từ lâu Nha Trang được nhìn nhận là một tâm điểm du lịch biển lớn của cả nước, với bờ vịnh được vinh danh là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới và thêm khu du lịch Bãi Dài nằm cạnh vịnh Cam Ranh đang dần hình thành. Dựa vào lợi thế mà thiên nhiên ban tặng, cùng với sự nỗ lực không ngừng, đến nay Nha Trang đã tạo dựng được thương hiệu cho riêng mình khi hình thành và củng cố được những giá trị, nền tảng du lịch vững chắc.

Bên cạnh đó Nha Trang đã có bề dày kinh nghiệm tổ chức các sự kiện lớn mang tầm vóc quốc gia, quốc tế. Đáng kể nhất là Festival Biển được tổ chức theo định kỳ 2 năm/lần, khởi động từ năm 2003 và đã trở thành lời hẹn ngọt ngào với du khách mỗi khi hè về, vào những năm lẻ. Các cuộc thi sắc đẹp trong nước và quốc tế được tổ chức ở Nha Trang nhiều nhất so với các địa phương trong cả nước, trong đó có ba lần tổ chức cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam, một lần tổ chức cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ thế giới vào năm 2015… Gần đây nhất, Nha Trang được chọn là nơi tổ chức hoạt động khởi đầu của Năm APEC Việt Nam 2023 với Hội nghị các quan chức cao cấp Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình dương lần thứ nhất (SOM 1)…

Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch Khánh Hòa, năm 2024, địa phương đã đón 6,3 triệu lượt du khách, trong đó khách quốc tế đạt hơn 2,7 triệu lượt, tổng doanh thu từ hoạt động du lịch đạt trên 20.520 tỷ đồng. Các dịch vụ du lịch tại nơi đây cũng tương đối đa dạng như: 735 cơ sở lưu trú du lịch với trên 38.600 phòng, trong đó tổng số khách sạn, khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao là 111 cơ sở với 20.028 phòng, đạt tỷ lệ 51,8%, có khả năng cung cấp dịch vụ lưu trú chất lượng cao. Bên cạnh dịch vụ du lịch về cơ sở lưu trú, Nha Trang phát triển rất mạnh các nhà hàng, cơ sở ăn uống cho khách du lịch, các khu vui chơi giải trí, hàng hoá lưu niệm, đặc sản vùng miền và đặc biệt là tour du lịch lữ hành. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Trên cơ sở phát triển mạnh mẽ các loại hình dịch vụ du lịch như trên thì Nha Trang gần đây xuất hiện tình trạng “xuống cấp” của một số tour du lịch, như tour du lịch trên sông Cái, tour du lịch 4 đảo trên vịnh Nha Trang. Việc phát triển quá nhiều vào dịch vụ lưu trú , nghỉ dưỡng đã đưa Nha Trang đến tình trạng “thừa khách sạn”, thiếu các dịch vụ cho du khách vui chơi. Các dịch vụ du lịch về cơ sở lưu trú đã xuất hiện tượng “đôn sao” và tiến hành quảng cáo để thu hút khách du lịch. Theo báo cáo mới đây của Sở Tài chính Khánh Hòa, qua kiểm tra 10 khách sạn có tiêu chuẩn sao, chỉ có 5 khách sạn đã được công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn sao (hạng sao), 5 khách sạn còn lại chưa đạt tiêu chuẩn sao, chưa làm thủ tục cấp sao nhưng quảng cáo đạt chuẩn 2 sao, 3 sao, thậm chí 4 sao để câu khách.  Tình trạng “chặt chém” về giá trong dịch vụ ăn uống của du khách. Những vụ việc “lùm xùm” diễn ra ở Nhà hàng Hưng Phát (đường Trần Phú, thành phố Nha Trang), Nhà hàng Tháp Bà làng Chài (đường Phạm Văn Đồng) tuy không phải là chuyện phổ biến ở Nha Trang, nhưng đã tạo “tiếng xấu” cho cả ngành du lịch, buộc nhiều ngành phải vào cuộc với mục đích chuyện này không tái diễn.

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch đối với Hải Phòng.

Nhắc đến các dịch vụ du lịch của Hải Phòng, chúng ta thường chỉ nghĩ đến dịch vụ thăm quan thắng cảnh tại đảo Cát Bà hay bãi biển Đồ Sơn vì Hải Phòng là một trong những thành phố biển lớn nhất nước ta. Tuy nhiên, ngoài những địa danh đã nổi tiếng từ rất lâu như vậy, du lịch Hải Phòng còn có rất nhiều nét hấp dẫn từ văn hóa, đời sống, cảnh quan thiên nhiên. Hải Phòng cũng đã gặt hái được rất nhiều thành công trong việc cung cấp các dịch vụ du lịch đến du khách. Các cơ quan ban ngành đã tạo điều kiện thông thoáng thu hút nhà đầu tư vào Hải Phòng để đầu tư các dịch vụ du lịch đặc sắc của cảng biển cũng như tận dụng lợi thế của thiên nhiên mang lại nét đẹp duyên dáng và đặc sắc cho riêng Hải Phòng. Sự thành công của cơ quan nhà nước về dịch vụ du lịch Hải Phòng đã được khẳng định trong những năm gần đây như:

  • Thứ nhất, việc nắm bắt được thời cơ để có những định hướng phát triển dịch vụ du lịch cho phù hợp với tình hình thức tế của thành phố; triển khai thực hiện tốt pháp luật và các chính sách phát triển dịch vụ du lịch nhằm tạo lập môi trường pháp lý, kinh tế, xã hội và kết cấu hạ tầng thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ du lịch ở địa phương.
  • Thứ hai, trong quá trình phát triển, Hải Phòng đã và đang triển khai nhiều chính sách đồng bộ, đặc biệt là chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào khai thác ngày càng có hiệu quả các tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch địa phương. Thành phố cũng rà soát, bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện quy hoạch phát triển dịch vụ du lịch, nhất là quy hoạch chi tiết các dịch vụ nghỉ dưỡng, phân loại tuyến du lịch ở các vùng du lịch trọng điểm để cung cấp cho khách du lịch dễ dàng lựa chọn các gói dịch vụ du lịch phù hợp, kêu gọi các dự án đầu tư xây dựng cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch.
  • Thứ ba, chú trọng đầu tư, tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử – văn hóa, danh thắng và xây dựng công trình văn hóa, thể thao tạo điểm nhấn, ấn tượng phục vụ du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng.
  • Thứ tư, kiểm tra, giám sát thường xuyên việc thực hiện kế hoạch quản lý và có những điều chỉnh kịp thời.

Tuy vậy, việc quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở Hải Phòng cũng còn những hạn chế như đội ngũ những người làm công tác quản lý dịch vụ du lịch thiếu và yếu; tình hình cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch còn phức tạp; nhân lực phục vụ trong dịch vụ du lịch thiếu, chất lượng, trình độ chuyên môn chưa đảm bảo; hoạt động xúc tiến và quảng bá dịch vụ du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, chưa mang tính chuyên nghiệp. Đặc biệt tệ nạn tại các điểm kinh doanh cơ sở lưu trú còn mang tính đối phó chưa tuân thủ về an toàn phòng cháy chữa cháy, trật tự xã hội. Đặc biệt các khu lưu trú tại Đồ Sơn vẫn diễn ra tình trạng kinh doanh mại dâm trái phép. Tình trạng an toàn thực phẩm tại các nhà hàng ven biên Đồ Sơn chưa thực sự được đảm bảo cho du khách.

1.3.3. Một số bài học kinh nghiệm cho quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở thành phố Hà Nội. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Từ thành công và hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch của hai địa phương Nha Trang và Hải Phòng, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho thành phố Hà Nội như sau:

Một là, phải xây dựng được quy hoạch tổng thể để phát triển các dịch vụ du lịch cho thời gian dài, hợp lý; có chiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng, thúc đẩy hoạt động cung cấp các dịch vụ du lịch phát triển vững chắc. Để phát triển hoạt động cung cấp các dịch vụ du lịch, chính quyền thành phố cần phải đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng quy hoạch dài hạn. Công tác này thực hiện tốt sẽ gia tăng những lợi ích từ các dịch vụ du lịch cho cộng đồng, doanh nghiệp và giảm thiểu những tác động tiêu cực mà hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch có thể gây ra. Thực hiện công tác này tốt sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch, khắc phục những hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Ngoài ra, việc lập chiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng dịch vụ du lịch tại Hà Nội sẽ thiết lập được các mục tiêu và tìm ra giải pháp để thực hiện được mục tiêu đó; tạo sự thống nhất trong phát triển hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch tổng thể của thành phố, thiết lập các mối liên kết giữa hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch với hoạt động của các ngành kinh tế khác; đưa ra những định hướng cơ bản về quy mô phát triển dịch vụ du lịch.

Hai là, ban hành các chính sách để đa dạng hóa các dịch vụ du lịch, đồng thời tạo ra các dịch vụ du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách. Việc đa dạng hóa các dịch vụ du lịch và tạo ra dịch vụ du lịch đặc thù của địa phương sẽ thu hút nhiều du khách đến với Hà Nội. Do đó, chính quyền thành phố cần tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ du lịch được phát triển đa dạng, phong phú các dịch vụ du lịch, tạo ra dịch vụ mới mang tính đặc thù.

Ba là, hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch và quan tâm đến việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong cung ứng dịch vụ du lịch. Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của cơ quan tham mưu về quản lý dịch vụ du lịch. Để cơ quan này phát huy được vai trò, thể hiện tốt chức năng của mình trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, cần phải quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, áp dụng các hình thức điều động, luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ có điều kiện tiếp cận thực tiễn, đồng thời cần phải thường xuyên tổ chức các cuộc giao lưu với các địa phương, tỉnh bạn để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong quản lý, tổ chức điều hành hoạt động cung ứng các dịch vụ du lịch. Coi trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn, kiến thức về cung cấp dịch vụ du lịch đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng cao của du lịch trong HNQT. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

Bốn là, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến các dịch vụ du lịch, và đẩy mạnh sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các vùng, các doanh nghiệp để phát triển đa dạng hóa các dịch vụ du lịch. Có thể nói, làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá dịch vụ du lịch là một trong những kinh nghiệm quan trọng để thúc đẩy phát triển cung cấp đa dạng hóa dịch vụ du lịch phát triển. Mục đích của tuyên truyền, xúc tiến dịch vụ du lịch là nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm của dịch vụ du lịch của địa phương đến với du khách và tìm kiếm thị trường tiềm năng, từ đó thu hút khách đến tham quan nhiều hơn. Ngoài ra, cần bố trí nguồn kinh phí hợp lý đối với công tác này. Trong bối cảnh HNQT hiện nay, quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch phải coi trọng sự liên kết, hợp tác với các địa phương, vùng, các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch để hỗ trợ, bổ sung cho nhau, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch. Liên kết càng chặt chẽ, bền vững càng làm tăng sức mạnh tổng hợp, nâng cao sức cạnh tranh và càng mở rộng khả năng thu hút khách.

Năm là, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động cung cấp các dịch vụ du lịch. Qua thực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch ở hai địa phương trên cho thấy, cùng với sự phát triển nhanh của các dịch vụ du lịch thì các vấn đề tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động cung cấp các dịch vụ du lịch cũng nảy sinh và phát triển nhanh chóng. Vì vậy, cần phải thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát để ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, giúp hoạt động cung cấp các dịch vụ du lịch phát triển lành mạnh. Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Nội dung chương 1 nói về cơ sở lý luận chung đối với quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, bao hàm các khái niệm chung về quản lý nhà nước, khái niệm về du lịch và dịch vụ du lịch. Các phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn. Đánh giá, phân tích nội dung của quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch. Qua đó, hiểu được các khái niệm, vai trò và trách nhiệm của các chủ thể quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của dịch vụ du lịch là yếu tố cấu thành lên chất lượng du lịch.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch Hà Nội

One thought on “Luận văn: Quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch trên tại Hà Nội

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước về dịch vụ du lịch tại Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *