Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Chăm sóc sức khỏe ban đầu đạt hiệu quả là mục tiêu quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện cho trẻ trong trường mầm non. Sức khỏe có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ. Để trẻ có sức khỏe vui chơi và học tập người lớn cần tích cực quan tâm, chăm sóc và có những biện pháp vệ sinh phòng ngừa dịch bệnh để bảo vệ sức khỏe cho trẻ. Phòng ngừa bệnh là tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như: nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng, luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường. Đối với trẻ em, cơ thể trẻ còn non yếu về chức năng và và các bộ phận cơ thể, nhất là chức năng tiêu hóa, là giai đoạn trẻ thích ứng với môi trường, nhạy cảm với bệnh tật vì vậy trẻ dễ mắc bệnh truyền nhiễm, nguy cơ gây tử vong cao. Tổ chức tốt hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non sẽ giảm những dịch bệnh, giúp cho trẻ phát triển tốt về thể lực cũng như trí tuệ, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại các trường Mầm non.

Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý thuyết và khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương. Kết quả nghiên cứu lý luận đã trình bày rõ những khái niệm, nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện hiệu quả hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ trong trường mầm non, cũng như trong công tác quản lý hoạt động này. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thực tiễn cũng chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục như:

  • Các trường còn hạn chế trong thực hiện nội dung, hình thức hoạt động phòng ngừa bệnh sởi, bệnh quai bị, tiêu chảy, cảm cúm và viêm đường hô hấp;
  • Các trường hạn chế trong tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các ổ dịch cũ, vùng trọng điểm;
  • Kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học còn hạn chế; các trường chưa xây dựng hiệu quả kế hoạch bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên biện pháp phòng chống dịch bệnh theo mùa;
  • Trong tổ chức thực hiện kế hoạch, các trường chưa thường xuyên cập nhật tình hình học sinh nghỉ học do mắc các bệnh truyền nhiễm và báo ngay cho Phòng GD&ĐT, trạm Y tế xã khi thấy xuất hiện các ca bệnh trong nhà trường; Chưa thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh về Y tế địa phương; Phòng GD-ĐT; Trung tâm Y tế dự phòng xử lý kịp thời không để lây lan trong trường học;
  • Các trường còn hạn chế trong chỉ đạo phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và các lớp, giữa nhà trường với phụ huynh học sinh và các cơ quan hữu quan; Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
  • Công tác kiểm tra thực hiện tốt kế hoạch, giao nhiệm vụ cũng như trong kiểm tra chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh cho các cơ quan địa phương liên quan còn hạn chế trong quá trình thực hiện.

Qua đó, người nghiên cứu đã đề xuất được 5 biện pháp mang tính khả thi và cần thiết khi vận dụng vào trong thực tế, góp phần nâng cao kết quả trong quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương, cụ thể:

  • Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về mục tiêu phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
  • Xây dựng kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học
  • Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế nhằm đáp ứng tốt yêu cầu trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
  • Phối hợp đồng bộ các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
  • Tăng cường công tác kiểm tra phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tình thương yêu và quan tâm đặc biệt. Với Bác, trẻ em là những mầm non, những người chủ tương lai của đất nước. Bác nói: “cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự lập”; “Giáo dục Mầm non tốt sẽ mở đầu cho nền giáo dục tốt”. Vì vậy nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục là nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển sự nghiệp giáo dục Mầm non hiện nay cũng như ươm “những mầm non tươi xanh” cho đất nước.

Trong năm qua, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược con người, góp phần tạo ra nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy, dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn có những chính sách đúng đắn, ưu tiên đầu tư hàng đầu cho sự nghiệp giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Các tổ chức chính trị – xã hội, nhà trường, gia đình và toàn xã hội luôn quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho trẻ. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Mục tiêu của chương giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Thông tư số 28/2023/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2023 sửa đổi bổ sung Thông tư 17/ TT-BGDĐT là giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người, chuẩn bị đầy đủ tâm thế cho trẻ em bước vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi. Vì vậy, một đứa trẻ muốn phát triển toàn diện trẻ phải có được một cơ thể khỏe mạnh từ tinh thần đến thể chất.

Như chúng ta đã biết, sức khỏe là vốn quí của con người, là điều kiện không thể thiếu để giúp cơ thể khỏe mạnh và phát triển tốt. Vì thế chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ là vấn đề cấp thiết hiện nay. Chăm sóc sức khỏe ban đầu đạt hiệu quả là mục tiêu quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện cho trẻ trong trường mầm non. Sức khỏe có vai trò quan trong trong việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ. Vì vậy, để trẻ có sức khỏe vui chơi và học tập người lớn cần tích cực quan tâm, chăm sóc và có những biện pháp vệ sinh phòng chống dịch bệnh để bảo vệ sức khỏe cho trẻ. Đối với trẻ em, cơ thể trẻ còn non yếu về chức năng và và các bộ phận cơ thể, nhất là chức năng tiêu hóa, là giai đoạn trẻ thích ứng với môi trường, nhạy cảm với bệnh tật vì vậy trẻ dễ mắc bệnh truyền nhiễm, nguy cơ gây tử vong cao. Vì vậy, việc tổ chức tốt hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non sẽ giảm những dịch bệnh, giúp cho trẻ phát triển tốt về thể lực cũng như trí tuệ, góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại các trường Mầm non.

Ngày nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, đời sống vật chất và tinh thần cũng được nâng cao. Chính vì vậy việc chăm sóc phòng bệnh trẻ được gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm. Vậy quan tâm chăm sóc phòng bệnh như thế nào là đúng mực, là khoa học để cơ thể trẻ khoẻ mạnh và phát triển tốt? Trước tiên ta phải có một chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý, khoa học. Chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đúng theo khoa học sẽ giúp trẻ phòng chống lại một số dịch bệnh cũng như giúp trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ là mục tiêu cơ bản nhất trong hệ thống mục tiêu quản lý trường mầm non.

Công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ giữ vai trò quan trọng ở trường mầm non, làm tốt các công tác phòng chống dịch bệnh nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Trong thời gian qua, ngành Giáo dục và Đào tạo Bình Dương nói chung và Giáo dục Bến Cát nói riêng đang có những thuận lợi nhất định đồng thời cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là cấp học mầm non nhu cầu gửi trẻ cao do tình hình phát triển nhanh, mạnh các khu – cụm công nghiệp, kéo theo việc hình các khu dân cư đông đúc với tỷ lệ dịch bệnh cũng tăng cao.

Để quản lý các cơ sở mầm non trong thời gian qua thực hiện các giải pháp tăng cường phòng chống dịch bệnh cho trẻ trên địa bàn thị xã Bến Cát, ngành Giáo dục Bến Cát luôn có các giải pháp hướng dẫn chỉ đạo các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo đối với việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn. Tuy nhiên, các giải pháp chưa thật sự được đổi mới, thiếu tính đột phá và nội dung chưa phong phú, chưa phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở, từ đó kết quả đạt được chưa cao, nhất là các trường mầm non, việc chấp hành các quy định về phòng chống dịch bệnh có nơi chưa đồng bộ, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non còn thiếu và còn yếu, đầu tư cơ sở vật chất chưa tương xứng với yêu cầu chăm sóc, giáo dục cũng như phòng dịch bệnh cho trẻ hiện nay.

Trước thực tế đó, nhằm quản lý có hiệu quả hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương”.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non, khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý đối với công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ ở các trường mầm non của địa phương.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

4. Giả thuyết khoa học

Dịch bệnh là mối đe dọa lớn đối các quốc gia trên toàn thế giới. Với toàn xã hội, bởi sự lây lan, và tác hại nó gây ra. Ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sức khoẻ, kinh tế cũng như con người. Vấn đề phòng chống dịch bệnh có tầm quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ ở trường. Tại trường mầm non, nguy cơ yếu tố dịch tễ và nguồn truyền nhiễm là rất lớn. Bởi đây chính là nơi các cháu tham gia học tập, sinh hoạt và vui chơi cùng nhau. Đó là yếu tố thuận lợi làm lây lan dịch bệnh rất nhanh, chỉ cần trong trường có một trẻ mắc bất cứ dịch bệnh truyền nhiễm nào thì dịch bệnh có thể lan nhanh trong trường gây nguy hiểm cho trẻ. Vì vậy, trong thời gian qua thực tế quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã tích cực triển khai thực hiện và đạt được kết quả giúp trẻ đảm bảo an toàn sức khỏe cơ thể và tâm lý, đồng thời hạn chế được một số dịch bệnh trên địa bàn. Nhưng để nâng cao chất lượng của hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non, đảm bảo an toàn cho trẻ em trong các trường mầm non thì cần thiết phải có các biện pháp quản lý mới. Việc thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có những biện pháp quản lý công tác tổ chức thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh một cách khoa học và phù hợp với thực tế giáo dục của địa phương thì sẽ khắc phục hiện tượng dịch bệnh xảy ra trên địa phương một cách hiệu quả.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường MN công lập tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nhằm phòng chống dịch bệnh và nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện cho trẻ.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1. Về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi các trường Mầm non công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương của Hiệu trưởng nhà trường.

6.2. Về thời gian

Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ năm học 2023 – 2024 đến nay.

6.3. Về địa bàn

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường Mầm non công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

7. Phương pháp luận và phương nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

7.1. Phương pháp luận

  • Quan điểm lịch sử – logic

Tiếp cận theo quan điểm lịch sử – logic cho phép người nghiên cứu nhìn nhận khách quan và toàn diện các hiện tượng giáo dục, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các hiện tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó xác định được các con đường tổng hợp tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục. Quan điểm này giúp người nghiên cứu tiếp cận các sự kiện lịch sử để minh họa chứng minh làm sáng tỏ các luận điểm khoa học, các nguyên lý khoa học hay kết quả các công trình nghiên cứu. Dựa trên quan điểm này giúp người nghiên cứu thiết kế mô hình các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non thiết thực, hiệu quả.

  • Quan điểm cấu trúc – hệ thống

Khi nghiên cứu các hiện tượng giáo dục phải xem xét một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối liên hệ trong trạng thái vận động và phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng. Tiếp cận quan điểm này giúp người nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận về quản lý công tác tổ chức thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non và việc thiết kế bảng hỏi cũng như bình luận thực trạng cũng được tiến hành trên cấu trúc đã được thiết lập.

  • Quan điểm thực tiễn

Công tác tổ chức thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non và quản lý công tác này gắn với thực tiễn ở trường mầm non. Việc nghiên cứu theo hướng tiếp cận thực tiễn giúp cho người nghiên cứu xem xét mọi vấn đề, mọi hoạt động xuất phát từ người học, người dạy, cán bộ quản lý giáo dục (CBQL GD)… những người có liên quan trực tiếp đến công tác này.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu.

Nội dung và cách tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai và nghiên cứu thực tiễn.

  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
  • Phương pháp quan sát

Mục đích: Nhằm kết hợp thu thập thêm thông tin từ phía giáo viên, nhân viên, phụ huynh trong quá trình thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh tại lớp, trường. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Nội dung và cách tiến hành: Tham gia dự giờ một số hoạt động chăm sóc giáo dục của GVMN để quan sát, ghi chép cách tổ chức thực hiện về hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ như: quan sát kế hoạch và biện pháp, cách thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ và kết quả thực hiện. Qua đó, làm cơ sở để xây dựng phiếu hỏi, đánh giá một cách khách quan, đầy đủ mức độ thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh từ đó xây dựng bảng khảo sát, đánh giá mức độ thực hiện.

  • Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Nhằm thu thập thêm thông tin từ phía cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về những vấn đề liên quan đến đề tài.

Nội dung và cách tiến hành: Trao đổi, trò chuyện cán bộ quản lý là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng quản lý chuyên môn, giáo viên mầm non để thu thập những thông tin cần thiết xoay quanh vấn đề nghiên cứu.

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài. Phương pháp được sử dụng nhằm mục đích khảo sát thực trạng hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non và thực trạng quản lý thực hiện chương trình này tại các trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

  • Nội dung và cách tiến hành Xây dựng bảng hỏi dưới dạng phiếu thăm dò ý kiến gồm:

Bảng hỏi 1: Dành cho Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên về quản lý thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non và những biện pháp quản lý thực hiện chương trình này cho các trẻ trong độ tuổi mầm non. (Phụ lục 2)

Bảng hỏi 2: Dành cho phụ huynh trường mầm non khảo nghiệm biện pháp, đề xuất, phối hợp thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non. (Phụ lục 1)

  • Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

Mục đích: Nhằm phân tích sản phẩm thu thập thêm thông tin về những vấn đề liên quan đến đề tài thông qua các kết quả hoạt động mà người cán bộ quản lý, giáo viên thực hiện (sổ sách, kế hoạch, phương tiện hoạt động, hiệu quả đạt được..).

Nội dung và cách tiến hành: Thông qua các kết quả hoạt động (sổ sách, kế hoạch, phương tiện hoạt động…) mà người cán bộ quản lý, giáo viên tạo ra, người nghiên cứu có thể nhận ra được tư tưởng, tình cảm, ý chí cũng như năng lực của họ trong quá trình thực hiện.

  • Phương pháp xử lý thông tin Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Mục đích: Nhằm xử lý số liệu điều tra, từ đó làm cơ sở đưa ra những nhận định khách quan về thực trạng công tác tổ chức hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non và thực trạng các biện pháp quản lý công tác tổ chức hoạt động này cho trẻ mầm non.

Nội dung và cách tiến hành: Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý bằng phần mềm SPSS và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trong các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế thế giới, phòng chống dịch bệnh là vấn đề cấp thiết đối với tất cả Quốc gia. Các dịch bệnh như: bệnh sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp, gia tăng về phạm vi và số lượng người mắc bệnh qua từng năm tại nhiều quốc gia. Hiện bệnh lưu hành tại 128 quốc gia, hơn 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ bị mắc bệnh, hàng năm có khoảng 390 triệu người nhiễm bệnh. Tại khu vực Đông Nam Á, có tới 7 trong số 10 nước bị sốt xuất huyết nặng nề, bệnh luôn là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhập viện và tử vong ở trẻ em; từ năm 1980 trở lại đây số mắc sốt xuất huyết đã tăng lên gần gấp 5 lần so với 30 năm về trước. Năm 2024, số mắc bệnh/100.000 dân tại nhiều nước khu vực châu Mỹ và Đông Nam Á ở mức rất cao như: Peru (195), Nicaragua (199), Argentina (121), Brazil (171), Ecuador (49), Malaysia (141), Philippines (33), Lào (30), Singapore (20) (Cục y tê dự phòng, 2024) Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Ngoài bệnh sốt xuất huyết thì trong những năm gần đây, dịch bệnh tay, chân, miệng được ghi nhận đã và đang bùng phát ở nhiều nơi, đặc biệt là tại các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cụ thể, Trung Quốc, Nhật Bản, Hongkong, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam đều đã ghi nhận một số lượng trường hợp mắc bệnh nhất định. Tuy nhiên, Malaysia vẫn là khu vực bùng phát dịch nguy hiểm và được quan tâm hàng đầu. Tính đến ngày 23/7/2025, nước này ghi nhận có khoảng 35.886 ca mắc HFMD, tăng 64,2% so với 1 tuần trước đó. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, chính quyền Malaysia đã nhanh chóng thành lập một lực lượng đặc nhiệm đa ngành, với nhiệm vụ chính là kiềm chế tối đa nguy cơ dịch bệnh lây lan. Đến nay đã có khoảng 469 cơ sở trên địa bàn nước này phải đóng cửa bao gồm: 217 nhà chăm sóc trẻ sơ sinh, 223 trường mẫu giáo, 2 trường học ở tiểu bang Penang và Pahang… Cùng với đó, nhân viên công chức đã được phép nghỉ 5 ngày, các trung tâm mua sắm cũng được ra lệnh vệ sinh toàn bộ xe đẩy chở hàng – nơi ghi nhận là nơi lây truyền HFMD chủ yếu ở Malaysia. Mặc dù nhiều người lớn cũng có thể nhiễm bệnh tay, chân, miệng, nhưng với sức đề kháng mạnh, hầu hết nhóm đối tượng này đều có thể miễn dịch với virus. HFMD lây nhiễm chủ yếu ở trẻ em dưới 10 tuổi, phổ biến nhất là trẻ dưới 5 tuổi.

Nhìn chung, Malaysia nói riêng và các nước nói chung đang nỗ lực triển khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh lây lan. Cụ thể, chính phủ Malaysia đã và đang khẩn trương thúc đẩy vệ sinh cá nhân tốt hơn, tăng cường làm sạch môi trường xung quanh, khử trùng bề mặt bị ô nhiễm và nhanh chóng cách lý trẻ em ra khỏi bạn bè đồng trang lứa ngay khi có dấu hiệu mắc bệnh. Tuy nhiên, có thể nói một trong những cách phòng chống bệnh hiệu quả nhất đơn giản chỉ là giữ bình tĩnh và giữ vệ sinh sạch sẽ.

Ngoài sốt xuất huyết và HFMD thì sởi cũng là một dịch bệnh đang bùng phát mạnh trong năm 2025, đầu năm 2026, dịch sởi đã xảy ra tại một số nước khu vực châu Âu, châu Phi, châu Á, kể cả một số nước đã công bố loại trừ bệnh sởi (Đức và Nga, Hoa Kỳ). Trên toàn thế giới, 98 quốc gia đã báo cáo tăng số ca nhiễm sởi trong năm 2025 so với năm 2024, đẩy lùi những tiến bộ đã đạt được đối với căn bệnh này, một căn bệnh có thể phòng ngừa được nhưng cũng có khả năng gây tử vong. Ukraine, Philippines và Brazil là ba quốc gia tăng số ca nhiễm sởi cao nhất trong khoảng thời gian từ 2024 đến 2025. Chỉ tính riêng ở Ukraine, năm 2025 đã có 35.120 ca mắc sởi. Theo Chính phủ nước này, 24.042 người nữa đã nhiễm sởi trong hai tháng đầu năm 2026. Tại Philippines trong năm nay đã có 12.736 ca nhiễm sởi và 203 ca tử vong, so với 15.599 ca trong năm 2025. Đặc biệt trong những tuần đầu năm 2026, đến ngày 18/2/2026 tại Philippines đã có trên 8.000 trường hợp mắc sởi phải nhập viện và có tới 136 trường hợp tử vong liên quan đến sởi, hầu hết các trường hợp mắc sởi đều không có tiền sử tiêm vắc xin sởi.

Theo ý kiến của Bộ Y tế Philippines, tình trạng dịch sởi gia tăng mạnh tại Philippines trong năm 2026 là do tỷ lệ tiêm phòng vắc xin (bao gồm cả vắc xin sởi) giảm thấp trong năm 2025 và đầu năm 2026. Ngày 15/02/2026, trực tiếp Tổng thống Philippines, Rodrigo Duterte, cũng đã trực tiếp cảnh báo người dân về sự nguy hiểm của bệnh sởi và thúc giục các cha mẹ đưa trẻ đi tiêm phòng sởi cho trẻ.

Cũng như Bà Henrietta H. Fore, Giám đốc điều hành UNICEF cho biết: Những ca nhiễm bệnh này không xảy ra ngay trong một sớm một chiều. Dịch sởi bùng phát ở nhiều nơi mà chúng ta đang chứng kiến ngày hôm nay đã bắt đầu từ năm 2025, nếu không hành động ngay hôm nay thì chúng ta sẽ để lại tai họa cho trẻ em trong tương lai.

1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Năm 2025, Việt Nam có 1.177 ca nhiễm sởi, cao hơn gấp đôi so với năm 2024. Phần lớn các ca nhiễm sởi liên quan đến việc trẻ em chưa được tiêm vắc xin đầy đủ do cha mẹ quyết định trì hoãn việc tiêm vắc xin cho con mình. Cuối năm 2025, Bộ Y tế đã tiến hành tiêm bổ sung vắc xin sởi – rubella cho 4,2 triệu trẻ em từ 1 đến 5 tuổi tại 57 tỉnh thành trên cả nước. UNICEF đã kêu gọi các bậc cha mẹ hãy nỗ lực hơn nữa, tư vấn với các nhân viên y tế nhằm đảm bảo con em mình được tiêm phòng vắc xin đầy đủ theo đúng lịch, giúp phòng bệnh cho trẻ em. UNICEF cũng đã vận động các cơ quan y tế đầu tư đầu tư lâu dài nhằm củng cố niềm tin trong người dân vào tiêm chủng và tập trung nỗ lực để vươn tới những cộng đồng nghèo nhất và thiệt thòi nhất, trong đó có nhóm người dân di cư trong nước.

Đối với bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam giai đoạn từ 2000 – 2022 (có Chương trình mục tiêu quốc gia) tình hình dịch đã giảm so với những năm trước, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 đến 100.000 trường hợp mắc, gần 100 trường hợp tử vong. Trong 7 tháng đầu năm 2024 ghi nhận 58.888 trường hợp mắc (50.497 trường hợp nhập viện), có 17 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ 2023 số trường hợp nhập viện tăng 9,7%. Song số mắc vẫn tập trung chủ yếu tại khu vực miền Nam (64,4%) và miền Trung (19,9%) so với tổng số trường hợp mắc bệnh của cả nước, do đây là khu vực bệnh lưu hành trong nhiều năm qua. Khu vực miền Bắc có tỷ lệ mắc thấp hơn (12,4%), tuy nhiên gần đây có gia tăng số trường hợp mắc tại Hà Nội (số mắc tuyệt đối Hà Nội đứng thứ 3 cả nước, số mắc trên 100.000 dân đứng thứ 19).

Nguyên nhân của sự gia tăng dịch bệnh sốt xuất huyết thời gian qua là do mùa hè đến sớm, nhiệt độ trung bình tại hầu hết các khu vực cao hơn những năm trước, dẫn đến véc tơ truyền bệnh phát triển mạnh; tập quán tích trữ nước của người dân chưa có thay đổi đáng kể; tốc độ đô thị hóa nhanh, môi trường tại các công trình xây dựng, nhà máy, xí nghiệp, nhà trọ, lán trại không được quan tâm xử lý dẫn đến phát sinh các ổ lăng quăng của muỗi truyền bệnh; sự chủ động, phối hợp của người dân và ban ngành đoàn thể trong công tác phòng chống sốt xuất huyết tại một số địa phương chưa cao; việc triển khai biện pháp phun hóa chất và diệt lăng quăng ở khu vực thành thị gặp nhiều khó khăn, không triệt để; nhiều địa phương gặp khó khăn về kinh phí.

Nhận định được diễn biến phức tạp và nguy cơ của dịch bệnh, ngay từ đầu năm Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương quyết liệt các địa phương thực hiện đầy đủ, đồng bộ các hoạt động phòng chống dịch, tập trung chỉ đạo các địa phương triển khai quyết liệt chiến dịch diệt lăng quăng tới tất cả các xã, phường, phun hóa chất chủ động, xử lý trên 96% ổ dịch sốt xuất huyết được phát hiện; 35 tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện chiến dịch diệt lăng quăng (bọ gậy) quy mô lớn; tổ chức đoàn kiểm tra của Lãnh đạo UBND TP, Lãnh đạo Bộ Y tế và các đơn vị Trung ương, tiến hành xử phạt tại Thành phố Hồ Chí Minh (149 trường hợp) và Hà Nội (02 trường hợp); tổ chức 90 lớp tập huấn và tập huấn lại cho cán bộ y tế dự phòng và điều trị từ Trung ương tới địa phương; các địa phương đã tổ chức 3.929 lượt giám sát. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Mới đây nhất, ngày 20/7/2024, tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tăng cường công tác phòng chống sốt xuất huyết với 38 tỉnh trọng điểm phía Nam. Ngày 24/7/2024, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trong mùa mưa lũ và sốt xuất huyết năm 2024 để bàn về những biện pháp ứng phó khẩn cấp với dịch bệnh, tập trung truyền thông hướng dẫn người dân chủ động thực hiện các biện pháp diệt lăng quăng, công tác dự phòng giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh và tiến hành xử lý ổ dịch, đảm bảo đủ vật tư hóa chất phòng chống dịch, công tác điều trị cần phân loại, phân tuyến, thu dụng điều trị bệnh nhân, tránh quá tải và lây nhiễm chéo trong bệnh viện nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự gia tăng số mắc, cũng như các trường hợp tử vong do bệnh sốt xuất huyết.

Bên cạnh sởi và sốt xuất huyết thì dịch bệnh tay chân miệng lưu hành và gặp tại hầu hết 63 tỉnh, thành phố, thường ghi nhận cao vào tháng 9 đến tháng 11 hàng năm, đặc biệt là mùa đầu năm học mới. Theo báo cáo của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, trong 9 tháng đầu năm 2025, cả nước ghi nhận 53.529 trường hợp mắc tay chân miệng, trong đó có 25.845 trường hợp nhập viện và đã có 06 trường hợp tử vong tại 5 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam. So với cùng kỳ năm 2024, số mắc cả nước giảm 25,3%, số trường hợp nhập viện giảm 20,1%, tuy nhiên một số tỉnh, thành phố ghi nhận số mắc tích lũy cao và gia tăng nhanh trong các tuần gần đây như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Đồng Tháp, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Hà Nội. Số mắc tay chân miệng chủ yếu ghi nhận ở khu vực miền Nam

41.218 trường hợp (chiếm 77%), miền Bắc 5.984 trường hợp (chiếm 11,2%), miền Trung 5.392 trường hợp (chiếm 10,1%) và Tây Nguyên 935 trường hợp (chiếm 1,7%). Số mắc tay chân miệng chủ yếu gặp ở trẻ dưới 10 tuổi (chiếm 99,5%), trong đó hay gặp ở nhóm từ 1-5 tuổi, tuổi trẻ đi nhà trẻ và mẫu giáo (chiếm 79%) và dưới 1 tuổi (chiếm 17%). Dự báo dịch bệnh tay chân miệng có nguy cơ gia tăng trong thời gian tới đây do tính chất lây truyền, đặc biệt trong mùa tựu trường, trẻ tập trung vào năm học mới, điều kiện thời tiết thuận lợi, điều kiện vệ sinh chưa đảm bảo là yếu tố thuận lợi cho sự lây lan và phát triển của dịch bệnh. Ngày 27/8/2025, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 4962/BYT-DP chỉ đạo tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh mùa hè – thu, trong đó có bệnh tay chân miệng. Ngày 01/10/2025, Cục Y tế dự phòng đã ban hành Công văn số 1030/DP-DT gửi Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trọng điểm về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng. Bộ Y tế đã chỉ đạo cơ quan y tế địa phương tăng cường công tác giám sát, lấy mẫu xét nghiệm để sớm phát hiện các trường hợp bệnh tại cộng đồng; tổ chức các Đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm; tăng cường công tác truyền thông, phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục và Đào tạo để tổ chức các hoạt động truyền thông sâu rộng phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng tại các trường học, đặc biệt tại các nhà trẻ, trường mẫu giáo về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trong trường học; đồng thời chỉ đạo tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh tay chân miệng trên phạm vi toàn quốc. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu với mục đích thông qua các nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng phòng chống dịch bệnh cho trẻ cũng có khá nhiều. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, quản lý các hoạt động trong trường mầm non lại chưa được nghiên cứu nhiều, được thể hiện ở một vài đề tài.

Đề tài: “Thực trạng công tác quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non tại Quận Bình Tân TPHCM”. Của tác giả Nguyễn Thị Diễm Hằng 2018 Luận văn đã đề cập đến những vấn đề lý luận về quản lý, QLGD, quản lý nhà trường, QLGD mầm non, bệnh béo phì. Đồng thời, luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh béo phì ở trẻ; nguyên nhân, cách phát hiện, tác hại của bệnh béo phì; quản lý việc phòng chống bệnh béo phì cho trẻ ở các trường mầm non. (Nguyễn Thị Diễm Hằng, 2018)

Đề tài:“Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh cho trẻ tại các trường Mầm non trên địa bàn phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên”của tác giả Lê Thị Ngọc Hoa 2022 “Luận văn đã nghiên cứu, điều tra, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động CSSK và PB cho trẻ tại 3 trường MN trên địa bàn phường Quan Triều. Qua đó cho thấy: cả 3 trường đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng CSSK và PB cho trẻ. Tuy nhiên, trong quản lý CSSK và PB cho trẻ tại các trường trên địa bàn phường Quan Triều vẫn còn những hạn chế như: đội ngũ CBQL tuy có trình độ nhưng đào tạo còn chắp vá nên chất lượng chưa tương xứng với trình độ; trong xây dựng kế hoạch còn có những nội dung chưa sâu sát; tổ chức lao động, phân công nhiệm vụ chưa khoa học, phù hợp; việc kiểm tra, đánh giá, đôn đốc NV, GV trong công tác vệ sinh và phòng chống dịch bệnh cho trẻ, hướng dẫn GV, NV sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động CSSK và PB cho trẻ còn hạn chế; hình thức phối hợp với các lực lượng còn chưa đa dạng.

Trên các tạp chí khoa học, các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay cũng có rất nhiều những bài nghiên cứu, những bài báo đề cập đến những nội dung phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Về cơ bản những công trình trên đã đề cập đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, biện pháp quản lý của cộng đồng nói chung chứ chưa có các công trình nghiên cứu sâu về hoạt động và các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trường Mầm non về hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại đơn vị. Và đây cũng là một trong những nội dung được xem là trọng tâm của giáo dục MN và hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng nhằm chăm sóc tốt sức khỏe và giúp trẻ phát triển toàn diện.

Từ những tìm hiểu và phân tích như trên, tác giả cho rằng: việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non phù hợp trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề rất cần thiết, đặc biệt với địa bàn nơi tác giả đang công tác. Do vậy, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi 09 trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát – tỉnh Bình Dương với mong muốn đề xuất các biện pháp nhằm góp phần cùng các nhà trường thực hiện tốt công tác quản lý nhà trường nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, Quản lý trường mầm non

  • Quản lý

Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó. Quản lý rất cần thiết cho tất cả mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người. Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù đó là nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm đó là gì. Có thể nói quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó. K.Marx đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (Nguyễn Văn Lê, 1983)

Điều đó cho thấy rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định. Đây chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt mục tiêu đề ra.

Hoạt động quản lý còn là hoạt động lao động để điều khiển lao động, một loại lao động có ý nghĩa tất yếu và vĩnh hằng với chức năng điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục.

  • Có nhiều tác giả với những phát biểu khác nhau về quản lý, cụ thể như:

W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất” (Hà Sĩ Hồ, 1994)

H.Koonts cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Harol, 1994)

Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H.Fayon viết “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” (Nguyễn Thi Doan, 1996) Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và lý. Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và sửa sang, sắp xếp (lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển.” (Đặng Quốc Bảo, 1997)

Tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp cho rằng “Quản lý là một hoạt động cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chung. Như vậy, hoạt động quản lý là hoạt động chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thể”. (Nguyễn Thị Liên Diệp, 1993)

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu:

  • Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động.
  • Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (Quản lý hành chính, Quản lý văn hóa, Quản lý sản xuất…)
  • Quản lý là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống.
  • Quản lý là một tổ hợp phương pháp tạo nên vận hành của hệ nhằm thực hiện các mục tiêu.
  • Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm hai phân hệ chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
  • Đối tượng quản lý chủ yếu vẫn là con người.

Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hoạt động, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra.

  • Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Khái niệm QLGD được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô cũng có những định nghĩa sau:

Đối với quản lý giáo dục cấp vi mô, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”. (Trần Kiểm, 1997) Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân. (Đinh Văn Vang, 1996)

QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ, Sở và Phòng GD&ĐT đến trường), nhằm mục đích đảm bảo giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như những quy luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục, của sự phát triển về thể chất, về tinh thần của các thế hệ. (Trần Kiểm, 1997)

QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục (khách thể quản lý)  nhằm thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục đặt ra. (Nguyễn Gia Quý, 1996)

Như vậy, các nhà nghiên cứu QLGD đều thống nhất quan niệm: QLGD nói chung (quản lý trường học nói riêng)  là hệ thống những tác động có mục đích, có khoa học, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. (Trần Kiểm, 1997)

QLGD cũng là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, bao gồm kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá các quá trình giáo dục. Thực chất QLGD là quá trình tổ chức, điều chỉnh các yếu tố cơ bản sau:

  • Đường lối, chiến lược và chính sách giáo dục của đất nước.
  • Tập thể các nhà sư phạm (Cán bộ QLGD, giáo viên), trẻ em, gia đình, các đoàn thể và xã hội…
  • Điều kiện cơ sở vật chất (bàn ghế, trường lớp, đồ dùng trang thiết bị dạy học, đồ chơi…).

Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn (mục tiêu) một cách có hiệu quả nhất.

  • Quản lý trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Quản lý trường mầm non là công việc không hề đơn giản bởi nó đòi hỏi người quản lý trang bị cho mình nhiều kỹ năng cần thiết, không chỉ riêng việc phải luôn sẵn sàng xử lý các tình huống rắc rối trong mọi sinh hoạt của trẻ nhỏ.

Tuy nhiên, công việc này cũng mang đến không ít niềm vui ý nghĩa, bởi người quản lý có thể trở thành người tạo nên các dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời trẻ thơ thông qua hoạt động dạy dỗ, chăm sóc của mình.

Nhiệm vụ của quản lý

  • Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và các hoạt động giáo dục khác.
  • Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và quản lý sử dụng tài liệu, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị giáo dục của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường, nhà trẻ.
  • Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền.
  • Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó. Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định.
  • Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định.
  • Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường, nhà trẻ.
  • Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
  • Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định.
  • Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị – xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
  • Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng. (Điều 16, 2022)

QLGD mầm non là hệ thống những tác động có mục đích, có khoa học của các cấp quản lý đến các cơ sở GDMN, nhằm tạo ra những điều kiện tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu đào tạo: Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non.

1.2.2. Trẻ mầm non, dịch bệnh, phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

1.2.2.1 Trẻ mầm non

Căn cứ Điều lệ trường mầm non, trẻ mầm non được hiểu là trẻ có độ tuổi từ 0 đến 6 tuổi.

Theo chương 1 điều 2 khoản 1 Điều lệ trường mầm non: Trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi được nhận vào trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập và được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo mục tiêu, chương trình giáo dục mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành. Trẻ em khuyết tật học hòa nhập theo quy định và được lập kế hoạch giáo dục cá nhân. (Văn bản hợp nhất 04/VBHN-BGDĐT kèm theo điều lệ trường mầm non, 2022)

1.2.2.2. Dịch bệnh

Theo từ điển y khoa thì dịch: là sự xuất bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định.

Bệnh: là quá trình hoạt động không bình thường của cơ thể sinh vật từ nguyên nhân khởi thuỷ đến hậu quả cuối cùng. Bệnh có thể gặp ở người, động vật hay thực vật. Có rất nhiều nguyên nhân sinh ra bệnh, nhưng có thể chia thành ba loại chính:

  • Bệnh do bản thân cơ thể sinh vật có khuyết tật như di truyền bẩm sinh hay rối loạn sinh lý.
  • Bệnh do hoàn cảnh sống của sinh vật khắc nghiệt như quá lạnh, quá nóng, bị ngộ độc, không đủ chất dinh dưỡng.
  • Bệnh do bị các sinh vật khác (nhất là các vi sinh vật) ký sinh.

Dịch bệnh truyền nhiễm thường được gây ra bởi một số yếu tố trong đó có một sự thay đổi trong sinh thái của số lượng vật chủ (ví dụ như sự gia tăng hoặc tăng mật độ của một loài vector), một sự thay đổi di truyền trong các ổ mầm bệnh hoặc bắt đầu của một tác nhân gây bệnh mới nổi (do sự biến đổi các tác nhân gây bệnh hoặc vật chủ). Nói chung, dịch bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch vật chủ hoặc là một tác nhân gây bệnh mới xuất hiện hoặc một mầm bệnh mới nổi đột nhiên giảm xuống dưới đó được tìm thấy trong trạng thái cân bằng đặc hữu và ngưỡng truyền được vượt quá.

Một dịch bệnh có thể được giới hạn trong một không gian; Tuy nhiên, nếu nó lây lan sang các quốc gia hoặc châu lục khác và ảnh hưởng đến số lượng lớn người dân người dân mắc bệnh, nó có thể được gọi là một đại dịch.

Các tuyên bố về một dịch bệnh thường đòi hỏi dựa trên cơ sở về số lượng hay tỷ lệ mới mắc của một bệnh; Dịch bệnh xảy ra do các bệnh nhất định, chẳng hạn như cúm, được định nghĩa là gia tăng đáng kể các trường hợp bị nhiễm, cũng được xác định dựa trên cơ sở này. Vài trường hợp của một bệnh rất hiếm có thể phân loại là một dịch bệnh, còn những trường hợp của các bệnh phổ biến như cảm lạnh thông thường không được coi là dịch bệnh.

Tuy vậy, khái niệm về dịch ngày nay không chỉ giới hạn trong các bệnh truyền nhiễm nữa. Các bệnh ung thư phổi, tai nạn giao thông, tác dụng có hại của thuốc như thalidomide ma túy cũng có thể là những bệnh dịch, mà tác nhân gây bệnh không phải là vi sinh vật. Hiện nay chúng ta phải đối mặt với các bệnh truyền nhiễm, nhưng trong tương lai không xa chúng ta lại phải đương đầu với những vụ dịch của các bệnh không nhiễm trùng đang xảy ra ở các nước phát triển.

Như vậy từ những nội dung trên tóm tắt lại thì Dịch bệnh là sự lây lan nhanh chóng của một bệnh truyền nhiễm với số lượng lớn những người bị nhiễm trong một cồng đồng hoặc một khu vực trong vòng một thời gian ngắn, thường là hai tuần hoặc ít hơn.

1.2.2.3. Phòng chống dịch bệnh trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Theo Philip D.Sloane và Melissa M. Hicks “phòng bệnh là quá trình tránh các bệnh thông qua những can thiệp đặc biệt”. Như vậy, phòng bệnh cho trẻ MN là các hoạt động có chủ định nhằm ngăn ngừa bệnh tật để giữ gìn và tăng cường SK cho trẻ ở trường MN.

Phòng ngừa bệnh là tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như: nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng, luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường.” (Lê Thị Mai Hoa , 2104)

Vì vậy cần xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, với mục tiêu không để dịch bệnh truyền nhiễm lây lan rộng, tích cực, chủ động phát hiện sớm học sinh mắc bệnh và nghi mắc bệnh truyền nhiễm, kiên quyết không để dịch bệnh lây lan rộng trong phạm vi nhà trường.

1.2.3. Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của bậc học mầm non trong giai đoạn hiện nay là đào tạo ra những con người khỏe mạnh, năng động, sáng tạo, phát triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mỹ, lao thì một trong những nhiệm vụ quan trọng người quản lý cần quan tâm là công tác quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh tại trường. Muốn như vậy điều cần thiết là phải kịp thời chỉ đạo từ khâu xây dựng thực hiện kế hoạch đến đầu tư cơ sở vật chất: mua sắm trang thiết bị, đồ dùng cho bếp và cho các lớp đảm bảo an toàn, có lợi với sức khoẻ trẻ. Mua sắm đầy đủ trang thiết bị y tế, thuốc thiết yếu, thuốc sát trùng, xà phòng rửa tay phục vụ cho việc phòng chống bệnh dịch trong toàn trường, chỉ đạo và kiểm tra để tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng khác, huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực giáo dục trong việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ trong nhà trường.

Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh là quá trình thực hiện các chức năng quản lý như hoạch định kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm tra để thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ đạt mục tiêu.

1.3. Hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

1.3.1. Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

Điều 3 – Điều lệ trường mầm non quy định các loại hình của trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập:

Trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục.

Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo công lập do cơ quan Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên. Trường mầm non công lập, Ban giám hiệu do Ủy ban nhân dân quận (thị xã, huyện) chỉ định và bổ nhiệm theo đề bạt của Phòng GD&ĐT cấp quận (thị xã, huyện). Lực lượng CBQL, giáo viên, nhân viên đều do nhà nước điều phối và họ hưởng lương từ ngân sách của nhà nước. Đội ngũ này được gọi là nhân sự trong định biên. Về trang thiết bị và cơ sở vật chất của nhà trường đều thuộc sở hữu của nhà nước. Ban giám hiệu chỉ là người thay mặt nhà nước quản lý về hoạt động giáo dục chứ không được phép sang tên hay chuyển nhượng cho bất kỳ ai làm chủ.

Về mặt chuyên môn, trường mầm non công lập chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng GD&ĐT huyện, thành phố, thị xã. Chương trình GDMN do Bộ GD&ĐT biên soạn. Ban giám hiệu từng trường có trách nhiệm triển khai và chỉ đạo thực hiện. Cấp quản lý trực tiếp về chuyên môn của trường mầm non là Phòng GD&ĐT các huyện, thành phố, thị xã. Trường mầm non thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ trong độ tuổi từ 3 tháng đến 6 tuổi theo nuôi dung, chương trình GDMN.

1.3.2. Đặc điểm trẻ mầm non

Trong quá trình phát triển của trẻ, ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những thay đổi về mặt thể chất và tinh thần rất khác nhau. Hiểu được vấn đề này, các bậc phụ huynh sẽ dễ dàng nắm bắt được nhu cầu cần và đủ để có thể yêu thương, chăm sóc trẻ một cách toàn diện, phù hợp nhất cho trẻ. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Từ 01 đến 06 tuổi được gọi là thời kì răng sữa. Vào thời kì này, trẻ có các đặc điểm tâm sinh lí nổi bật như sau:

  • Về đặc điểm sinh lí

Vào thời kì này trẻ lớn chậm dần, mỗi năm tăng trung bình 2.000g. Chức năng các bộ phận bắt đầu hoàn thiện và tổ chức não trưởng thành 100% lúc trẻ được 06 tuổi;

Trẻ tự điều khiển một số động tác khéo léo hơn và sống tập thể, thích bạn bè. Khi vào mẫu giáo trẻ nói sõi, hát được, ngâm thơ, học đếm, học vẽ…làm quen các kỹ năng

Đây là tuổi răng sữa, trẻ bắt đầu nhai được các thức ăn cứng của người lớn và rất chán ăn đồ lỏng mềm của tuổi nhũ nhi. Vì vậy, trẻ rất dễ chán ăn nếu như mẹ cứ duy trì chế độ ăn sữa và bột. Ở lứa tuổi này hệ thống miễn dịch bắt đầu hoạt động tốt hơn.

  • Về đặc điểm tâm lí

Ở lứa tuổi này, hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ yếu của trẻ, trẻ sẽ học được chức năng của đồ vật xung quanh, nhờ đó mà tâm lí của trẻ phát triển mạnh và cũng học được những quy tắc hành vi trong xã hội.

Từ những hoạt động đó, trẻ nảy sinh nhu cầu dùng ngôn ngữ giao tiếp với người lớn. Cho đến tuổi mẫu giáo thì trò chơi là hoạt động chủ yếu của trẻ giúp hình thành trí tưởng tượng, nhân cách và tư duy.

  • Về bệnh lí thường gặp và cách phòng ngừa

Vào giai đoạn này, trẻ tiếp xúc rộng rãi với môi trường nên dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như: sởi, rebella, ho gà, VGSV… nếu không được tiêm chủng đầy đủ và các dịch bệnh: tay chân miệng, sốt xuất huyết, quai bị, đau mắt đỏ…;

Hệ thống miễn dịch hoạt động tốt hơn, các bệnh nhiễm trùng giảm nhưng dễ mắc các bệnh dị ứng như viêm cầu thận cấp, hen suyễn;

Ngoài ra, ở lứa tuổi tò mò, hiếu động nên trẻ dễ bị các tai nạn như điện giật, bỏng, đuối nước,…;

Do đó, để phòng ngừa các bệnh lí có thể mắc phải, trẻ cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, bổ sung iot trong khẩu phần ăn mỗi ngày; tham gia các chương trình tiêm chủng bảo vệ sức khỏe cũng như tuân thủ khám sức khỏe định kì. Bên cạnh đó, trẻ cũng cần được tham gia các lớp học kĩ năng, phòng ngừa các tình huống khẩn cấp cũng như tai nạn xảy đến bất ngờ trong cuộc sống.

1.3.3. Mục đích hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

  • Để đơn vị chủ động phòng chống các dịch bệnh, bệnh truyền nhiễm nhằm ngăn chặn, không lây lan trong nhà trường.
  • Giúp tập thể cán bộ giáo viên nhân viên có ý thức trách nhiệm thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh trong nhà trường.
  • Nhằm đảm bảo sức khoẻ cho trẻ phát triển tốt khi được nuôi dưỡng chăm sóc tại trường và để tạo niềm tin vững chắc cho phụ huynh khi gởi con vào học tại trường.

1.3.4. Nội dung phòng chống dich bệnh cho trẻ mầm non

Tổ chức các đoàn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống dịch bệnh, công bố dịch, quản lý sử dụng vắc xin trong tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng dịch vụ, công tác y tế trường học, kiểm dịch y tế biên giới, truyền thông – chỉ đạo tuyến,…

Thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra, chỉ đạo, phòng chống dịch bệnh, tập trung vào các dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi hoặc bệnh lưu hành có số người bị nhiễm bệnh, tử vong cao như: MERS-CoV, cúm A (H7N9), cúm A (H5N1), tay chân miệng, sốt xuất huyết, sởi, dại… tại các huyện, thành phố, thị xã.

Kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật cho các bệnh viện về phân tuyến điều trị, phân luồng khám bệnh, cách ly, triển khai các giải pháp phòng, chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện.

  • Tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các ổ dịch cũ, vùng trọng điểm.

Muốn chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo an toàn về sức khỏe cho trẻ, nhà quản lý, giáo viên, người phụ trách y tế phải nắm được kiến thức về nguyên nhân, triệu chứng, các biện pháp phòng tránh cụ thể từng dịch bệnh thường xảy ra với trẻ tại các trường mầm non, nhằm thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Theo thực tế trẻ mầm non thường mắc các bệnh sau: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

  • Bệnh thủy đậu

Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm rất hay lây, có khả năng gây thành dịch, do một loại siêu vi trùng gây ra, bệnh đặt trưng bằng sốt, nổi phát ban kiểu bọng nước ở da và niêm mạc. Đa số bệnh diễn biến lành tính nhưng đôi khi có thể gây tử vong do những biến chứng trầm trọng như viêm não hậu thủy đậu.

  • Nguyên nhân gây bệnh:

Tác nhân gây bệnh là Herpes Varicellae hay Varicella zostervirus (VZV) được Weller phân lập năm 1952. Virus là những tế bào hình tròn đường kính khoảng 150 – 200 nm nhân mang DNA, có vỏ bọc.

Trên lâm sàng, Varicella zoster có thể gây ra hai bệnh khác nhau: đó là bệnh thuỷ đậu và Herpes zoster còn gọi là bệnh zona. Bệnh rất hay lây, 90% tiếp xúc trực tiếp có khả năng lây bệnh. Thời gian lây bắt đầu 24 giờ trước khi có phát ban và kéo dài cho đến khi những nốt đậu đóng mày (trung bình 7 – 8 ngày). Bệnh thuỷ đậu gây miễn dịch vĩnh viễn sau khi bị nhiễm virus lần đầu nhưng cũng có thể bị lần hai và thường gập ở bệnh nhân có tổn thương hệ thống miễn dịch hoặc ở những người có chích ngừa thuỷ đậu.

  • Triệu chứng:

Bệnh nhân có thể sốt nhẹ, hiếm khi sốt cao. Ớn lạnh, chán ăn, quấy khóc, nhức đầu, đôi khi có đau bụng nhẹ, đôi khi có phát ban tạm thời, là những nốt hồng ban kích thước vài mm nổi lên da, xuất hiện khoảng 24 giờ trước khi trở thành bọng nước.

Da nổi những bọng nước hình tròn hoặc hình giọt nước trên viền da màu hồng, bóng, nước có đường kính từ 3 – 10 mm, đầu tiên xuất hiện ở thân mình sau đó lan đến mặt và tứ chi. Bóng nước lúc đầu chứa một chất dịch trong, chứa nhiều virus thuỷ đậu. Sau đó khoảng 24 giờ thì hoá đục, chúng mọc nhiều đợt tren một vùng da nên ta có thể thấy chúng ở nhiều lứa tuổi khác nhau (các nốt đậu không cùng tuổi): từ dạng phát ban đến dạng bóng nước trong, bóng nước đục và dạng đóng mày.

Các nốt đậu có thể mọc ở niêm mạc miệng, niêm mạc hô hấp, niêm mạc tiết niệu, sinh dục, làm cho bệnh nhi khó nuốt, khó thở, tiểu rát, hoặc viêm nhiễm các cơ quan sinh dục. Khi mọc kèm ngứa, bé gãi khiến chúng dễ vỡ và gây nhiễm trùng da, bọng nước càng nhiều bệnh càng nặng.

  • Cách phòng ngừa: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Phát hiện bệnh sớm và cách ly kịp thời. Biện pháp này rất khó đạt hiệu quả cao, bởi vì bệnh có thể lây 24 – 48 giờ trước khi có bọng nước. Khi phát hiện bệnh, cách ly trẻ bệnh, tránh tiếp xúc với người bị bệnh cho đến khi các nốt đậu đóng mày.

  • Tạo miễn dịch chủ động: Bệnh thuỷ đậu là một bệnh lành tính, đa số bệnh tự khỏi nhưng ở những bệnh nhân có hệ thống miễn dịch bị suy giảm bệnh thường trầm trọng, do đó đối tượng này cần được chủng ngừa.
  • Tạo miễn dịch thụ động: Globuline miễn dịch có thể sử dụng những người tiếp xúc với virus nhưng chưa có miễn dịch.
  • Trước kia thuốc chủng ngừa được làm bằng virus sống giảm độc lực có tên OKA – Thuốc đã sử dụng tại Nhật Bản, Triều Tiên, một số nước Châu Âu và nước ta. Khả năng tạo miễn dịch khoảng 85 – 95%. Và thời gian tạo miễn dịch kéo dài. Từ 1 – 6 năm.
  • Hiện nay, tại Việt Nam dùng thuốc Varilrix chủng ngừa cho trẻ: Trẻ em dưới 12 tuổi tiêm 1 mũi. Trẻ trên 12 tuổi tiêm 2 mũi, mỗi mũi cách nhau từ 6 – 8 tuần.
  • Vệ sinh răng miêng, tai, mũi, họng cho trẻ.
  • Phòng chống suy dinh dưỡng.

Thực hiện chế độ vệ sinh tại trường mầm non, vệ sinh đồ dùng đồ chơi, vệ sinh môi trường, thông thoáng phòng, lớp…

  • Bệnh sởi

Bệnh sởi là 1 bệnh truyền nhiễm rất hay lây lan và dễ phát thành dịch do siêu vi trùng gây nên. Bệnh thường gặp ở trẻ em từ 2 – 6 tuổi – lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo với các đặc điểm: Viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc hô hấp, niêm mạc tiêu hoá và phát ban đặc hiệu ngoài da. Tuy là một bệnh có thể chủng ngừa bằng thuốc tiêm chủng nhưng một khi mắc bệnh sởi để lại những biện chứng nặng cho trẻ em.

  • Nguyên nhân gây bệnh:

Do siêu vi trùng gây nên, còn gọi là siêu vi sởi thuộc nhóm RNA Paramyxovirus genus, Morbillivirus chỉ gây biểu hiện phát ban ở khỉ và người. Bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp do các chất tiết ở họng trẻ chứa virus sởi bắn ra ngoài không khí khi trẻ nói chuyện, hắt hơi, ho, v.v…

Người bị nhiễm bệnh virus sởi mắc bệnh có thể lây cho người khác khoảng 9 – 10 ngày khi tiếp xúc, đôi khi có thể sớm hơn khoảng 7 ngày và kéo dài đếm 5 ngày sau khi phát ban. Đây là thời gian cần chú ý để cách ly trẻ bị bệnh để tránh lây lan cho các trẻ khác.

  • Triệu chứng:

Từ 7 – 21 ngày, trung bình là 10 – 12 ngày. Trong thời kỳ này thường không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, nếu có chỉ sốt nhẹ. Kéo dài 4 – 5 ngày và là thời kỳ lây nhất trong các bệnh sốt phát ban. Các biểu hiện chính trong giai đoạn này là:

Sốt: sốt thường thay đổi, có thể sốt nhẹ (38 – 38.5 độ C) hoặc sốt cao (39 – 40 độ C) kèm theo trẻ mệt mỏi, quấy khóc, biếng ăn, ít ngủ. Phát ban đặc hiệu ngoài da: từ đầu tới chân, từ trên xuống dưới.

  • Cách phòng bệnh: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Phát hiện bệnh sớm và cách ly kịp thời: nên đưa trẻ đi khám bệnh nếu nơi có diều kiện có thể tạo miễn dịch thụ động.

  • Tạo miễn dịch chủ động:

Thuốc chủng ngừa siêu vi sởi với siêu vi sống giảm độc lực đã giảm được tỷ lệ mắc bệnh một cách rõ rệt. Chích cho trẻ 9 tháng tuổi mũi 1 và 18 tháng tuổi mũi 2.

Dùng gammaglobulin trong thời kỳ ủ bệnh ở trẻ 0.05ml/kg trong 5 ngày sau khi tiếp xúc có thể ngăn ngừa được bệnh sởi hoặc làm giảm độ nặng của bệnh, nhất là những trẻ có bệnh mãn tính sẵn.

Riêng ơ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hoặc ở những vùng có bệnh sởi lưu hành cao có thể dùng sớm hơn lức trẻ được 9 – 11 tháng tuổi. Thường dùng dưới dạng văcxin tam liên như: TRMÔVAX giúp ngăn ngừa đồng thời cả ba bệnh sởi, quai bị, Rubella chỉ định cho trẻ trên 9 tháng tuổi và tiêm nhắc lại cho những người bị suy giảm miễn dịch. Liều dùng thông thường 0,5ml tiêm dưới da.

  • Khả năng miễn dịch sau khi chích thường cao và kéo dài ít nhất 5 năm. Mức độ an toàn của chủng ngừa cao, ít tác dụng phụ. Không dùng chung các đồ dùng cá nhân với trẻ bị bệnh như khăn mặt, chén đũa…
  • Khử trùng, tẩy uế tốt đồ dùng, đồ chơi trẻ và các chất thải của trẻ bệnh như: phân đàm, chất nôn và dịch tiết khác.
  • Giáo viên và những người trực tiếp chăm sóc trẻ bị bệnh sau khi tiếp xúc phải rửa tay bằng xà bông. Trường hợp đặc biệt cần ngâm tay vào dung dịch sát khuẩn sau khi rửa tay xong.
  • Tuyên truyền phụ huynh Biết nuôi con bằng sữa mẹ: Sữa mẹ không những đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết, phù hợp với khả năng tiêu hoá của trẻ mà còn rất giàu kháng thể phòng chống bệnh cho trẻ.
  • Vệ sinh trường lớp: Virus sởi chỉ bị tiêu diệt bởi tia cực tím (UV), formalin 1/4.000 trong 4 ngày ở nhiệt độ 37 độ C, HP acide và chất khử khuẩn, do vậy cần vệ sinh trường lớp thông thoáng, có ánh nắng, khử trùng đồ dùng, đồ chơi bằng các chất diệt khuẩn đúng phương pháp.
  • Vệ sinh môi trường sống: Bảo vệ môi trường không khí, trồng cây xanh, nhất là trong trường mầm non.

Bệnh sốt xuất huyết Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh nhiễm trùng cấp tính gây nên bởi siêu vi Dengue, dễ lây thành dịch, bệnh căn bản ở trẻ dưới 15 tuổi (chủ yếu trẻ 2 – 12 tuổi). Bệnh có nhiều biểu hiện lâm sàng từ thể nhẹ: Sốt xuất huyết không sốc đến thể nặng sốt xuất huyết có sốc. Nếu sốc, bệnh thường rất nặng, dễ tử vong nhanh nếu không được phát hiện sớm, điều trị, xử trí tích cực và kịp thời.

  • Nguyên nhân gây bệnh:

Siêu vi Dengue thuộc nhóm Arbovirus (Arthropod – borne virus) truyền từ người bệnh sang người lành qua vết đốt của muỗi. Người là nguồn bệnh chính, có 4 types siêu vi gây bệnh cho người: D1, D2, D3, D4.

Trung gian truyền bệnh: muỗi vằn (Aedes Aegypty) là trung gian truyền bệnh chính. Đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng xung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà. Muỗi cái hút máu và truyền bệnh về ban ngày. Sau khi hút máu người bệnh, Aedes Aegypty cái có thể truyền bệnh ngay. Nếu không có cơ hội truyền bệnh, lượng máu đọng lại và siêu vi tiếp tục phát triển trong ống tiêu hoá và tuyến nước bọt, chờ dịp truyền sang người khác. Đa số sau khi hút máu no loại muỗi này đều đậu trong nhà.

  • Triệu chứng:

Sốt: Đột ngột, sốt cao, liên tục trong 5 – 6 ngày và sau đó giảm xuống mức bình thường. Tổng trạng các em bé đều tốt, mặt có lúc ửng đỏ, có thể kèm theo ói mửa và trẻ lớn thường than chóng mặt, nhức đầu hơn những lần bệnh khác.

  • Dấu xuất huyết:

Xuất huyết dưới da: Chấm xuất huyết rải rác hoặc hội tụ thanh từng mảng, vết bầm; Xuất huyết niêm mạc: chảy máu mũi. Miệng, môi, lưỡi, răng; Xuất huyết dạ dày – ruột non: ói máu, đi tiêu phân đen. Trong một số ca không tìm thấy dấu vết xuất huyết.

  • Cách phòng bệnh:

Hiện nay chưa có vắcxin phòng bệnh nên chủ yếu: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

  • Diệt muỗi chống đốt; Huỷ bỏ các dụng cụ chứa nước gần nhà (chén vỡ, gáo dừa, bánh xe…); Phát quang bụi rậm, khai thông cống rãnh; Thay nước các chum, vại chứa nước có nấp đậy; Nuôi cá ăn bọ gậy (cá 7 màu); Dọn dẹp nhà cửa, đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp.
  • Mặc quần áo dài cho trẻ, trường mầm non nên cho trẻ ngủ mùng kể cả ban ngày; Dùng nhang xua muỗi; Phun thuốc khi có dịch; Điều trị triệt để và quản lý bệnh nhân sốt xuất huyết; Phát hiện sớm, có ý thức phòng bệnh.
  • Vệ sinh: Môi trường, nhà ở, trường, lớp học cần sạch sẽ thoáng mát, ngăn nắp, gọn gàng. Tại hội nghị quốc tế về sốt xuất huyết – D tại Tahiti tháng 4/1997, nhiều báo cáo cho thấy sự bùng phát bệnh ở các nước chậm phát triển là do chính phủ địa phương chưa thật sự quan tâm đúng mức về vệ sinh môi trường, các chương trình diệt muỗi và nhất là dân chúng sống đông đúc, chật chội.

Ta biết rằng sốt xuất huyết – D là bệnh nhiễm trùng cấp tính do siêu vi trùng Dengue truyền qua người do muỗi vằn cái Aedes Aegypty và loại muỗi này sống chen lẫn ở các nơi ẩm thấp chật chội và chích vào ban ngày vì vậy để phòng chống có hiệu quả ta cần:

Sử dụng các biện pháp nhằm loại trừ các yếu tố nguy cơ lây bệnh hoặc không cho các yếu tố đó xuất hiện bằng cách nâng cao mức sống kinh tế, y tế, văn hoá, cải thiện môi trường sống, tránh cách sống đông đúc, chật chội.

Tăng cường giáo dục sức khoẻ cho toàn dân, huy động các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền thanh, truyền hình kêu gọi sự hợp tác nhiều ban ngành y tế, giáo dục, kết hợp giữa nhà trường và gia đình. Thông tin để hoàn thành công tác diệt muỗi, diệt lăng quăng. Tránh để muỗi chích ban ngày, vệ sinh môi trường, nhà ở, trường học, …

Tăng cường các biện pháp phát hiện sớm bệnh sốt xuất huyết – D, theo dõi sát và điều trị kịp thời các ca sốc nhầm tránh các trường hợp tử vong.

Gần 30 năm qua, tại miền Nam, bệnh sốt xuất huyết Dengue hàng năm vẫn gây bệnh cho hàng ngàn trẻ em và luôn luôn là nỗi sợ hãi cho các bà mẹ khi con mình mắc bệnh. Trong cơ chế sinh bệnh còn nhiều điều phải nghiên cứu, nhưng với sự hiểu biết hiện tại, chúng ta vẫn có thể cứu sống được rất nhiều bệnh nhi, nếu có phương pháp phòng bệnh tích cực được mọi người tham gia và được phát hiện sớm, xử trí kịp thời.

  • Bệnh tay chân miệng

Hội chứng tay chân miệng là một nhiễm trùng cấp tính do virus gây nên, chủ yếu xảy ra ở trẻ nhũ nhi, trẻ nhà trẻ và mẫu giáo. Bệnh đặc trưng bởi phát ban kiểu bọng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, và viêm loét miệng. Bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa nắng và mưa, dễ gây thành dịch, miền Nam nhiều hơn miền Bắc.

  • Nguyên nhân gây bệnh: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Bệnh tay chân miệng ở trẻ em là một bệnh truyền nhiễm do siêu vi trùng đường ruột Coxsakie gây ra, thường gặp nhất ở trẻ dưới 3 tuổi và ít thấy với những trẻ trên 5 tuổi. Bệnh lý này có thể lây lan rất nhanh thông qua các chất tiết từ đường mũi, miệng, phân hay nước bọt. Cụ thể là do:

Trẻ tiếp xúc hay nuốt phải nước bọt của trẻ mắc bệnh trong quá trình ho, hắt hơi; Do trẻ chơi trong không gian có dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ có bệnh; Lây qua bàn tay của người chăm sóc trẻ (nếu chưa được tiệt khuẩn kĩ lưỡng).

  • Triệu chứng:

Sốt nhẹ hoặc sốt cao liên tục (39 – 40 độ), sử dụng thuốc hạ sốt cũng không hiệu quả. Nổi hồng ban ngay từ khi có dấu hiệu sốt tại các vị trí: lưỡi, lòng bàn tay, bàn chân. Loét miệng với các vết loét có đường kính 4 – 8mm trong miệng, trên lưỡi, vòm miệng khiến trẻ gặp khó khăn khi nuốt, biếng ăn, quấy khóc.

Cách phòng bệnh:

  • Hiện chưa có vắcxin phòng ngừa nên chủ yếu cần phát hiện sớm và cách ly trẻ bệnh kịp thời.
  • Phát hiện trẻ bị bệnh tại lớp: đưa trẻ đến phòng y tế, thông báo cho Ban giám hiệu và phụ huynh đến đón đưa trẻ đi khám, chữa bệnh. Chỉ nhận trẻ vào lớp khi đã khỏi hẳn bệnh, các mụn nước đã lành hẳn, và có chứng thực của bác sĩ điều trị.
  • Nếu phát hiện trẻ bị bệnh tại nhà: phụ huynh phải cho trẻ nghỉ học và đi khám chữa bệnh. Giáo viên, cô bảo mẫu, nhân viên bị bệnh hoặc đang chăm sóc người bệnh truyền nhiễm không được đến trường
  • Nếu có trẻ bị bệnh cần lưu thông tin vào sổ theo dõi và báo ngay cho y tế địa phương khi có hơn 2 trường hợp mắc bệnh tại trường trong vòng 7 ngày cần cân nhắc cho trẻ đến trường hay không.
  • Không nên dùng chung đồ dùng, dụng cụ cá nhân của trẻ như chén, đũa, ly (ca) thìa (muỗng) … và cần khử trùng trước khi dùng cho trẻ.
  • Thường xuyên rửa tay sạch cho trẻ bằng xà phòng, nước sát trùng, khi tay có vết bẩn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi ho, hắt hơi. Người chăm sóc trẻ thường xuyên rửa tay sạch trước và sau khi chăm sóc, ẵm bồng trẻ, sau khi lau chùi vệ sinh….
  • Đối với trẻ nhà trẻ, giáo viên, người chăm sóc trẻ rửa tay cho trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo: giáo viên và phụ huynh hướng dẫn trẻ rửa tay đúng cách, chú ý làm mẫu và sửa sai cho trẻ khi trẻ thực hiện. Luôn có sẵn xà phòng tại khu vực rửa tay, các bồn rửa tay phù hợp với tầm vóc của trẻ, lượng bồn rửa phải đủ cho số lượng học sinh và đảm bảo an toàn cho trẻ.
  • Giáo dục duy trì các thói quen vệ sinh văn minh cho trẻ.
  • Lớp học, nhà cửa phải sạch sẽ thông gió thoáng khí.
  • Vệ sinh làm sạch khử trùng đồ đạc, đồ chơi, môi trường lớp học, nhà cửa. Cần vệ sinh hàng ngày, khử trùng hàng tuần
  • Vệ sinh: dùng chất hóa học làm giảm mầm bệnh đạt ngưỡng an toàn
  • Làm sạch: lau chùi bằng nước xà phòng hoặc các chất lau nhà để làm giảm đất, bụi, chất hữu cơ, vi khuẩn sẽ giảm mầm bệnh.Tại trường mầm non, gia đình cần thường xuyên lau chùi sạch mỗi ngày.
  • Khử trùng: dùng hóa chất làm giảm số vi sinh vật tới mức không nguy hiểm đến sức khỏe, nhưng không diệt được hoàn toàn các dạng bào tử (SPORE). Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
  • Vệ sinh môi trường đất, nước, không khí, vệ sinh phân, nước, rác và khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên nhà bếp và các giáo viên mầm non.
  • Thực hiện ba sạch, bốn diệt và thực hiện tốt các nội quy, quy chế vệ sinh của trường, của ngành
  • Xử lý phân an toàn vì virus có thể tồn tại trong phân của trẻ đến một tháng
  • Ngoài ra bệnh còn lây qua đường hô hấp, do đó chú ý vệ răng miệng, tai mũi họng và vệ sinh môi trường, không khí trong trường mầm non, tránh tiếp xúc với trẻ bị bệnh hoặc nghi trẻ bệnh. Hạn chế tiếp xúc với các chất tiết của đường tiêu hóa và hô hấp.
  • Phối hợp giữa cá nhân, gia đình, nhà trường, y tế và giáo dịc để phòng bệnh tốt.Thực hiện tốt chế độ dinh dưỡng hợp lý, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Thực hiện tốt chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ.
  • Cải thiện môi trường sống tốt, giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ, chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ nêu cao khẩu hiệu “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Bệnh quai bị

Quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi gây ra. Đặt trưng bởi: sưng và đau tuyến nước bọt (chủ yếu là tuyến tai), đôi khi kéo theo viêm tuyến sinh dục, viêm màng não và một số cơ quan khác.

  • Nguyên nhân gây bệnh:

Bệnh quai bị do siêu vi gây ra, siêu vi thuộc nhóm paramyxovirus. Virus quai bị hình cầu, bộ gen RNA và nucleocapsiss đối xứng xoắn. Virus có màng bọc ngoài bị phá huỷ ở nhiệt độ 560C trong 20 phút. Người là ký chủ duy nhất của siêu vi quai bị. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, có thể gây thành dịch nhỏ thường giới hạn trong tập thể, trường học. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 5 – 9 tuổi, hiếm gặp ở các trẻ nhỏ hơn 2 tuổi. Bệnh lây chủ yếu qua nước bọt bị nhiễm trùng văng ra ngoài khi trẻ nói chuyện, ho, hắt hơi

  • Triệu chứng:

Suy nhược, kém ăn, khó chịu, trẻ quấy khóc; Sốt nhẹ, không kèm lạnh run; Đau họng và đau góc hàm; Đau 3 điểm Rillet – Barther: mỏm chũm, khớp thái dương hàm, góc hàm dưới; Sau đó tuyến mang tai to dần và đau nhức; Tuyến mang tai sưng to (70%) và đau nhức một bên, cao điểm 1 tuần, sau đó nhỏ lại; Tuyến sưng lan ra vùng trước tai, mỏm chũm, lan đến cung dưới xương gò má rơi xuống dưới hàm và làm mất rãnh dưới hàm, da trên tuyến đỏ.

Vài trường hợp, tuyến dưới hàm và cằm xưng to, có khi lan ra trước ngực gây phù trước xương ức; Các triệu chứng đi kèm: sốt 38 – 390C, đau đầu, chán ăn, khó nuốt, khó nói, đau bụng, khó chịu và đau nhiều khi nhai, hoặc khi uống nước có vị chua.

  • Cách phòng ngừa: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Phát hiện sớm và cách ly kịp thời tránh lây lan; Miễn dịch chủ động: chủng ngừa quai bị; Có kết quả với thuốc chủng siêu vi sống giảm độc lực, an toàn, không gây sốt, tạo kháng thể cao, bảo vệ 75 – 95%, kháng thể bảo vệ tồn tại ít nhất 10 năm, không tương tác với vắcxin sởi, thuỷ đậu, Rubella được chích cùng lúc.

Miễn dịch thụ động: Globuline miễn dịch chống quai bị 2 – 4,5 ml tiêm bắp cho người tiếp xúc.

Phòng chống bệnh suy dinh dưỡng cho trẻ: biết nuôi con bằng sữa mẹ, dinh dưỡng hợp lý nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ.

Vệ sinh cá nhân: răng miệng, tai, mũi, họng cho bé, vệ sinh đồ dùng, đồ chơi và thực hiện tốt các chế độ vệ sinh trường lớp, môi trường.

Kết hợp giữa gia đình, nhà trường, y tế và giáo dục để phòng bệnh tốt nhất cho trẻ: Tuyên truyền, giáo dục cho gia đình phụ huynh hiểu biết về bệnh và dịch bệnh cùng các biện pháp phòng tránh. Quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi gây Đặc trưng bởi: sưng và đau tuyến nước bọt (chủ yếu là tuyến tai), đôi khi kéo theo viêm tuyến sinh dục, viêm màng não và một số cơ quan khác. Do vậy, cần chủng ngừa cho bé và hiểu biết về bệnh để phòng bệnh tốt hơn.

  • Bệnh tiêu chảy cấp

Tiêu chảy là khi phân có sự thay đổi về tính chất và số lần thải phân (chủ yếu là tính chất). Nếu trẻ đi phân lỏng hay nước từ 3 lần trở trong một ngày là bị tiêu chảy. Đi phân thành khuôn nhiều lần trong ngày không phải là tiêu chảy. Tiêu chảy cấp: là khi bệnh chỉ kéo dài vài ngày, không quá 14 ngày.

  • Nguyên nhân gây bệnh:

Nguyên nhân gây ra bệnh tiêu chảy, trong đó có nguyên nhân do virus, vi khuẩn, nguy hiểm nhất là tiêu chảy do phẩy khuẩn tả (còn gọi là bệnh tả). Bệnh lây theo đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn, bệnh có liên quan chặt chẽ với điều kiện môi trường, nước, an toàn thực phẩm và thói quen vệ sinh của người dân.

Những người có nguy cơ cao dễ mắc bệnh tiêu chảy: những người ăn uống và sống gần với người bị tiêu chảy dễ mắc bệnh nếu không áp dụng các biện pháp phòng bệnh; dân cư tại những khu vực sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh, đổ thẳng phân ra cống, mương, ao, hồ, sông, suối, sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm.

Những người có thói quen ăn uống không hợp vệ sinh, hay ăn rau sống, thủy hải sản chưa nấu chín kỹ cũng có nguy cơ mắc bệnh. Ngoài ra, dân cư tại khu vực bị ngập lụt và sau ngập lụt cũng dễ mắc bệnh

  • Triệu chứng:

Bệnh có một số triệu chứng điển hình: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Đầy bụng, sôi bụng; Tiêu chảy liên tục, nhiều lần, lúc đầu phân lỏng, sau toàn nước (trong trường hợp bị bệnh tả: phân toàn nước đục như nước vo gạo).

Nôn, lúc đầu nôn ra thức ăn, sau chỉ nôn ra toàn nước trong hoặc màu vàng nhạt; người mệt lả, có thể bị chuột rút, biểu hiện tình trạng mất nước từ nhẹ đến nặng như: khát nước, da khô, nhăn nheo, hốc hác, mắt trũng, mạch nhanh, huyết áp hạ, có khi không đo được huyết áp, tiểu tiện ít hoặc vô niệu, chân tay lạnh… và có thể dẫn đến tử vong.

  • Cách phòng ngừa:

Sử dụng nguồn nước sạch: trong vệ sinh ăn uống. Nước uống cho trẻ cần đun sôi để nguội, không cho trẻ uống nước lã; Đảm bảo vệ sinh môi trường: sử dụng hố xí hợp vệ sinh, quản lý phân, nước, rác tốt. Xử lý phân trẻ an toàn tránhh lây lan.

  • Vệ sinh cá nhân: dạy trẻ đảm bảo vệ sinh cá nhân

Rửa tay đúng cách sạch bằng xà phòng dưới vòi nước sạch là biện pháp phòng bệnh đơn giản mà có hiệu quả cao.

Tập cho trẻ có thói quen rửa tay trước khi ăn, sau khi chơi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh.Trước khi đi ngủ, rửa tay, rửa mặt.

Phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ: bệnh suy dinh dưỡng cũng là yếu tố thuận lợi gây nên bệnh tiêu chảy và suy giảm miễn dịch, dễ bị viêm ruột, nhung mao ruột teo, các men tiêu hóa giảm dần, gây kém hấp thu và tiêu chảy. Do đó điều trị tiêu chảy nên song song điều trị suy dinh dưỡng bằng cách duy trì chế độ ăn, bù nước điện giải, vẫn tiếp tục bú mẹ và có chế độ dinh dưỡng hợp lý thông thường theo độ tuổi.

Tiêm phòng, chủng ngừa đúng lịch và đầy đủ các bệnh nguy hiểm cho trẻ dưới 5 tuổi, nhất là phòng bệnh sởi cho trẻ. Vì khi mắc bệnh sởi hoặc sau khi khỏi bệnh sởi trẻ dễ bị tiêu chảy hay lao nặng khiến trẻ dễ tử Tiêm vắc xin sởi có thể phòng được tiêu chảy Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Không nên dùng kháng sinh đường uống kéo dài; Sử dụng hố xí hợp vệ sinh, xử lý an toàn phân của trẻ, nhất là tại trường lớp mầm non…

  • Bệnh cảm cúm

Bệnh cảm cúm – hay thường gọi là bệnh ‘cúm’ – là một bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng đến mũi, cổ họng và – đôi khi ảnh hưởng đến phổi. Đây là loại bệnh có khả năng lây nhiễm cao và lây lan từ người này sang người khác qua việc dùng chung đồ uống và dao kéo, tiếp xúc trực tiếp, và ho hay hắt hơi. (Các vi khuẩn cúm không quan tâm đến việc chúng lây lan khi tiếp xúc hay trong không khí, miễn là chúng chạm được đến vật tiếp xúc!)

  • Nguyên nhân gây bệnh:

Bệnh cảm cúm ở trẻ thông thường là do nhiễm trùng đường hô hấp gây ra bởi một trong hơn 100 virus. Các virus ở mũi, vòm họng là thủ phạm chính và được được đánh giá cao trong việc truyền nhiễm loại bệnh này, 2 loại chính có thể gây ra cảm cúm là Enteroviruses và Coxsackieviruses.

Khi trẻ đã bị nhiễm virus gây bệnh, thì có thể bị cảm cúm rải rác trong suốt đời mình. Virus cảm cúm thông thường xâm nhập vào cơ thể của bé thông qua miệng hoặc mũi.

Trong môi trường luôn tồn tại loại virus có thể gây bệnh, đặc biệt khi có ai đó bị bệnh hắt hơi, nói chuyện, ho, nếu trẻ tiếp xúc với bầu không khí đó thì rất dễ bị lây bệnh.

Do người mang mầm bệnh hoặc đang bị bệnh tiếp xúc trực tiếp với trẻ, hoặc trên bề mặt đồ vật, một số virus sống được trên những bề mặt khá lâu, nếu bé chạm tay vào thì sẽ bị nhiễm bệnh.

  • Triệu chứng:

Khi trẻ tiếp xúc với mầm bệnh, sau khoảng 2 ngày thì có những dấu hiệu đầu tiên như bắt đầu sốt, có cảm giác ớn lạnh, nhức đầu, đau các cơ bắp, chóng mặt, chán ăn, trẻ thấy mệt mỏi, không chịu chơi, ho và đau họng, bị chảy nước mũi, đau tai, đôi khi thấy buồn nôn…

Sau khoảng 5 ngày, sốt và các triệu chứng khác của bệnh cảm cúm ở trẻ đã biến mất, nhưng ho và tình trạng mệt mỏi, uể oải vẫn kéo dài. Tất cả các triệu chứng sẽ biến mất tròng 1-2 tuần, tuy nhiên bệnh này có thể dẫn đến viêm phổi và các biến chứng khác có thể đe dọa đến tính mạng, đặc biệt là đối với trẻ sơ sinh.

  • Cách phòng ngừa:
  • Tăng cường vệ sinh cá nhân:

Thường xuyên rửa tay kỹ bằng xà phòng với nước sạch, tránh tối đa việc chùi tay lên mắt và mũi.

Che miệng và mũi khi ho và hắt hơi, tốt nhất bằng khăn vải hoặc khăn giấy để giảm phát tán dịch theo đường hô hấp, sau đó hủy hoặc giặt khăn thật sạch bằng xà phòng. Không khạc nhổ bừa bãi.

  • Hạn chế tiếp xúc với nguồn bệnh: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Tránh tiếp xúc với người bị bệnh. Khi cần thiết phải tiếp xúc với người bị bệnh thì phải đeo khẩu trang y tế.

Hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc biệt tại những phòng chật hẹp,.

  • Tăng cường sức khỏe và khả năng phòng bệnh:

Hàng ngày sử dụng các dung dịch sát khuẩn đường mũi, mắt (bằng dung dịch Natriclorid 0,9%), họng (súc miệng Fluor hoặc nước muối pha loãng ở nhà).

Đảm bảo nơi ở, nơi làm việc, học tập thông thoáng, sạch sẽ, nhiều ánh sáng. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường như xà phòng, nước Javel, cồn 70 độ…

Ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, kết hợp tập thể dục thường xuyên để tăng cường sức đề kháng, bảo vệ cơ thể.

Trong gia đình khi có người có biểu hiện triệu chứng của cúm cần đưa ngay tới cơ sở y tế gần nhất để có biện pháp điều trị và cách ly kịp thời.

  • Bệnh viêm đường hô hấp

Bệnh viêm đường hô hấp là tình trạng các cơ quan, bộ phận thuộc đường hô hấp như mũi, họng, hầu, thanh quản và các cơ quan khác bị viêm nhiễm. Do quá trình học tập và làm việc thường xuyên tiếp xúc với môi trường nhiều vi khuẩn, virus, môi trường ô nhiễm và các yếu tố nguy cơ khác. Đây là một căn bệnh phổ biến hiện nay, với tỉ lệ mắc bệnh chiếm tới 65% dân số. Trong đó tỉ lệ tử vong chiếm 2% do không điều trị kịp thời dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Bệnh thường gặp ở đối tượng trẻ em, trẻ sơ sinh vì hệ miễn dịch của bé chưa được hoàn thiện. Ngoài ra người lớn cũng dễ mắc bệnh, đặc biệt là những người thường tiếp xúc trong môi trường độc hại, nhiều khói bụi, hóa chất,… nếu không phát hiện và điều trị bệnh kịp thời rất dễ gây ra biến chứng và có thể tử vong.

  • Nguyên nhân gây bệnh: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Viêm đường hô hấp ở trẻ em dưới 5 tuổi hầu hết do nhiễm virút, hầu hết là những loại virút lành tính, một số loại virút đáng chú ý là virút hợp bào hô hấp (RSV), virút cúm, virút sởi, Adenovirus (còn gọi là virút hạch), Rhinovirus, Enterovirus, Cornavirus…

Trẻ không được nuôi dưỡng bằng nguồn sữa mẹ; Trẻ thường xuyên ăn lạnh, uống lạnh hoặc gia đình sử dụng máy điều hòa không hợp lý cũng tạo điều kiện thuận lợi khiến trẻ dễ bị bệnh; Gia tăng tình trạng ô nhiễm với khói bụi trong nhà, khói thuốc lá cũng là nguồn ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ em, nhất là trẻ nhỏ.

Thời tiết lạnh, thay đổi thất thường là điều kiện thuận lợi gây bệnh viêm đường hô hấp ở trẻ em, đặc biệt là khi thời tiết chuyển mùa; Nhà cửa chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là các yếu tố nguy cơ gây viêm đường hô hấp ở trẻ ở trẻ em.

  • Triệu chứng:

Các biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp cấp ở trẻ em rất đa dạng và ở nhiều mức độ khác nhau. Thông thường, trẻ bắt đầu với các triệu chứng ho, sốt, chảy mũi, nghẹt mũi, rồi sau đó là thở nhanh, cánh mũi phập phồng, nặng hơn nữa là nhìn thấy lồng ngực bị rút lõm trong khi thở vào, thở rít, tím tái. Nếu không được xử trí kịp thời trẻ có thể hôn mê, co giật… hoặc thậm chí có thể gây tử vong cho trẻ.

Một đặc điểm cần lưu ý là diễn biến của trẻ từ mức độ nhẹ sang nặng rất nhanh do đó việc đánh giá, phân loại, xác định điều trị kịp thời là rất quan trọng; Tùy theo vị trí, tác nhân gây bệnh, lứa tuổi và cơ địa của trẻ mà bệnh biểu hiện với nhiều mức độ khác nhau

  • Cách phòng ngừa:

Đảm bảo cho trẻ được bú mẹ đầy đủ và ăn dặm đúng; Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch. Với các bệnh lây lan cấp tính cần được cách ly và dập tắt ngay, không được để dịch bệnh lan tràn ở các nhóm trẻ hay các lớp học.

Phải luôn giữ ấm cho trẻ, nhất là mùa lạnh, đặc biệt cần chú ý giữ ấm cổ, ngực và đôi chân; Giáo viên thực hiện tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ: Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Không cho trẻ chơi, ngủ những nơi gió lùa, mùa lạnh đóng bớt cửa, mùa hè tránh để nhiễm lạnh vì thấm nhiều mồ hôi, hoặc nằm ngủ dưới quạt máy quá lạnh, quá lâu. Trẻ đang nóng ra mồ hôi, không cho trẻ tắm ngay bằng nước lạnh, tắm xong phải lau khô mới mặc quần áo.

  • Nâng cao sức khỏe cho trẻ bằng chế độ ăn uống hàng ngày, nên cho trẻ ăn đủ chất đạm, đường, béo, vitamin và muối khoáng, bú sữa mẹ. Cho trẻ ăn các loại rau quả tươi đề phòng bệnh suy dinh dưỡng, còi xương…
  • Vệ sinh răng miệng, tai mũi họng cho trẻ. Hàng ngày, các cô cần giúp và giáo dục trẻ có ý thức súc miệng, đánh răng thường xuyên, giữ vệ sinh cá nhân cho trẻ.
  • Đảm bảo trường lớp thông thoáng, đảm bảo vệ sinh môi trường nhà cửa, trường lớp sạch sẽ, thoáng mát.

Giáo dục sức khỏe thường xuyên, liên tục tạo điều kiện cho cán bộ y tế cơ sở, các bà mẹ và các cô nuôi dạy trẻ phát hiện kịp thời các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tinh ở trẻ. Kết hợp tốt giữa gia đình, nhà trường, y tế và giáo dục phòng bệnh cho trẻ.

  • Bệnh đau mắt hột

Bệnh đau mắt hột là bệnh viêm màng tiết hợp – giác mạc có tính chất kinh niên, lây lan, do một loại virus gây nên, thể hiện trên lâm sàng bằng thẩm lậu, hột, gai máu, thường kết thúc bằng sẹo. Tuy là bệnh của màng tiếp hợp song các dấu hiệu có thể lan cả xuống giác mạc vào màng tiết hợp nhãn cầu và các đường dẫn nước mắt. Bệnh đau mắt hột thường ở cả 2 mắt, mi trên hay nặng hơn mi dưới.

Đau mắt hột là một bệnh có tính chất xã hội vì: Rất phổ biến, Rất hay lây, Các biến chứng của bệnh có thể đưa đến mùa loà.

  • Nguyên nhân gây bệnh:

Nguyên nhân chủ yếu làm cho bệnh đau mắt hột lây lan, phát triển do thiếu vệ sinh trong ăn ở, lao động như:

Rửa mắt, tắm bằng nước ao, hồ rất dễ bị đau mắt đỏ. Do đó dễ đau mắt hột; Dùng chung khăn mặt, thau rửa mặt với người đau mắt hột dễ lây bệnh. Trong gia đình có 1 người đau mắt hột dùng khăn chung, thau rửa mặt có thể cả nhà bị đau mắt hột.

Hố xí không hợp vệ sinh, rác rưởi không đậy, ruồi, nhặng sinh đẻ nhanh. Ruồi là vật trung gian truyền bệnh từ người này sang người kia; Các vườn trẻ mẫu giáo, trường học, nếu không giữ vệ sinh cũng là ổ lây bệnh đau mắt hột; Khi đau mắt đỏ không chữa ngay cũng dễ dẫn tới đau mắt hột.

  • Triệu chứng:

Bệnh đau mắt hột biểu hiện chủ yếu ở kết mạc và giác mạc.

Ở kết mạc, các tổn thương cơ bản là hột, thâm nhiễm và sẹo. Trong chuẩn đoán và đánh giá bệnh, phải xét đến 3 yếu tố này và cần tìm thấy ở diện kết mạc sụn mi trên (lật mi trên) Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Hột: Khi mới xuất hiện, hột là những chấm trắng tròn, rải rác trên diện kết mạc sụn mi, thường nằm cạnh các nhánh mạch máu. Khi đã phát triển, hột to ra và nỗi trên bề mặt, tạo thành hình bán cầu màu xám nhạt.

Thâm nhiễm: Khi viêm mắt hột tăng mạnh, kết mạc bị thâm nhiễm, có biểu hiện đục, dày lên và đỏ (do kèm xung huyết). Thâm nhiễm có thể che mờ hoặc lấp khuyết các mạch máu.

Sẹo: Trên kết mạc sụn mi xuất hiện những gách trắng mảnh, ngắn, dài, rải rác. Về sau phát triển thành những vết đậm đặc, nhiều nhánh, có thể nối nhau thành từng màng lưới hoặc kết lại thành mảng rộng.

Hột ở rìa (vết tích): Là triệu chứng hoặc di chứng đặc hiệu của bênh đau mắt hột. Hột rìa có hình tròn, dẹt hơn ở kết mạc, màu xám hơi nâu, thường xếp thành dãy như chuỗi hạt dọc theo rìa giác mạc trên, nhưng đôi khi chỉ có 2, 3 hột. Di tích của hột ở đó cũng hình tròn hơi lõm. Màng máu. Biểu hiện vùng trên cùng của giác mạc là một vùng đục, xám nhạt, có mạch máu từ rìa xâm nhập vào, song hành như hàng rào.

  • Điều trị:

Khi trẻ mắc các bệnh trên cần đưa trẻ ngày đến các cơ quan y tế để điều trị kịp thời trước khi có biến chứng xảy ra.

  • Cách phòng ngừa:

Bệnh mắt hột là một bệnh có tính xã hội, gây ra tỷ lệ mù loà cao. Để giải quyết vấn đề bệnh mắt hột ở Việt Nam, không phải đơn thuần chỉ là công việc của nghành y tế, mà phải có sự đóng góp của các ngành, các đoàn thể như giáo dục, thanh niên, phụ nữ, giáo viên mầm non.

Muốn thanh toán bệnh mắt hột phải tiến hành công tác phòng bệnh cụ thể là:

  • Tuyên truyền giáo dục ý thức vệ sinh, giải quyết tốt các vấn đề: nước, phân, rác, dùng khăn sạch và diệt ruồi.
  • Điều trị cho những người bị bệnh mắt hột đang ở giai đoạn còn lây để dễ dập tắt ổ lây. Chữa bệnh tức là phòng bệnh.
  • Tích cực nhỏ thuốc, phòng bệnh cho trẻ ở nhà trẻ, mẫu giáo, học sinh phổ thông. Các trường học phải tổ chức khám bệnh, điều trị mắt hột cho học sinh và gia đình, giáo dục cho học sinh hiểu biết về mắt hột.
  • Đảm bảo ba sạch và quản lý phân, nước, rác thật tốt.
  • Sử dụng nước sạch để rửa mặt và tắm gội cho trẻ, cùng với việc giáo dục ý thức và thói quen vệ sinh cho trẻ.
  • Dùng khăn riêng và đồ dùng riêng.
  • Khăn mặt phải được trụng nước sôi hoặc hấp, phơi nắng ít nhất hai lần trong tuần.

Trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội phải được coi là nền tảng đẩy lùi bệnh đau mắt hột trong các quần thể nhân dân, vì đó là một điều kiện hàng đầu cho việc phòng bệnh tích cực cho trẻ. (Phạm Thị Nhuận, 2021), (Lê Thị Mai Hoa – Trần Văn Dần, 2015).

1.3.5. Hình thức hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

  • Phối hợp với y tế trường học và cơ quan y tế địa phương để nắm tình hình dịch bệnh trên địa bàn, phối hợp để thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh.
  • Tổ chức tuyên truyền cùng phụ huynh để phụ huynh nắm rõ tầm quan trọng và tình hình dịch bệnh để cùng nhà trường phối hợp thực hiện tốt việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ.
  • Thường xuyên cập nhật thông tin báo cáo về cấp trên kịp thời khi có biểu hiện dịch bệnh xảy ra.
  • Chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục hàng ngày lồng ghép các chuyên đề để giúp trẻ có thói quen giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt.
  • Tích cực vệ sinh lớp học, đảm bảo môi trường thông thoáng, sạch sẽ và an toàn cho trẻ.
  • Đẩy mạnh công tác phối hợp cùng phụ huynh giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hằng ngày hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.
  • Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.
  • Kiểm tra sức khoẻ trẻ vào mỗi sáng khi đón trẻ để phát hiện kịp thời trường hợp khi có bệnh xảy ra.
  • Thường xuyên khử khuẩn bằng thuốc sát khuẩn…. của y tế theo hướng dẫn.
  • Tuyệt đối bảo đảm sử dụng đồ dùng vệ sinh các nhân của trẻ theo qui định có ký hiệu rõ ràng.
  • Tuyệt đối không chứa nước trong nhà vệ sinh, trong khu vực trẻ hoạt động (Nếu giáo viên vi phạm sẽ bị kỷ luật).
  • Cho trẻ rửa tay thường xuyên bằng xà phòng theo 6 bước qui định của y tế, hướng dẫn trẻ che miệng khi ho hoặc hắc hơi.
  • Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.

1.3.6. Các điều kiện thực hiện hoạt động phòng chống dich bệnh cho trẻ mầm non

  • Các giáo viên phải đảm báo trình độ hiểu biết về phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non qua đó nắm bắt được tình trạng thường ngày của trẻ
  • Trang thiết bị phục vụ nhu cầu vui chơi, học tập của trẻ phảm đảm bảo vệ sinh an toàn, các dụng cụ phục vụ ăn uống, ngủ nghỉ phải vệ sinh sạch sẽ để đảm bảo trẻ không bị nhiễm bệnh từ đó.
  • Điều kiện cơ sở vật chất phòng hoc, sân bãi vui chơi, hệ thống nước sinh hoạt phải đảm bảo tiêu chuẩn về phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non.

1.4. Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

1.4.1. Chủ thể quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng Trường Mầm non được quy định tại Quyết định 14/2015/QĐ-BGDĐT Điều lệ Trường Mầm non và được sửa đổi tại Thông tư 44/2017/TT-BGDĐT, cụ thể như sau: (Thông tư 44/2017/TT- BGDĐT)

  • Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
  • Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó. Đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
  • Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
  • Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường, nhà trẻ;
  • Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;
  • Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng.
  • Xây dựng kế hoạch kiểm tra vệ sinh môi trường trong ngoài nhóm lớp.
  • Kiểm tra đồ dùng đồ chơi của trẻ trong các nhóm lớp.
  • Xây dựng thực hiện lịch vệ sinh cụ thể, hàng tuần có kiểm tra đánh giá.
  • Kiểm tra việc thực hiện bếp ăn tăng cường các nhóm chất dinh dưỡng tăng cường sức đề kháng cho trẻ.
  • Hợp đồng thực phẩm có nguồn gốc, kiểm dịch rõ ràng, đặc biệt là các loại thịt, trứng, cá.
  • Phối hợp với y tế trường học và cơ quan y tế địa phương để nắm tình hình dịch bệnh trên đia bàn, phối hợp để thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh.
  • Tổ chức tuyên truyền cùng phụ huynh để phụ huynh nắm rõ tầm quan trọng và tình hình dịch bệnh để cùng nhà trường phối hợp thực hiện tốt việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ.
  • Như vậy trong trường mầm non Hiệu Trưởng có quyền hạn, trách nhiệm quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn, quản lý các hoạt động trong và ngoài nhà trường; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước.

1.4.2. Ý nghĩa của quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Việc phòng quản lý phòng chống chống dịch bệnh cho trẻ trong trường mầm non là công việc rất cần thiết và không được chủ quan trong thời điểm hiện nay, đòi hỏi người quản lý phải chú trọng đặc biệt quan tâm, tổ chức kết hợp cho giáo viên và phụ huynh luôn theo dõi sức khỏe cho trẻ một cách thường xuyên. Vì nguy cơ xảy ra dịch bệnh với trẻ có thể xảy ra bất kì lúc nào, nếu chúng ta không chủ động phòng tránh. Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, sẽ giúp trẻ có một cơ thể khoẻ mạnh, để trẻ tích cực tham gia các hoạt động học tập và phát triển.

1.4.3. Chức năng của quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

  • Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

Hiệu trưởng trường củng cố Ban chỉ đạo phòng chống bệnh, tổ chức họp thường xuyên, đột xuất để nắm tình hình dịch bệnh và phân công cho các thành viên trong Ban chỉ đạo, để công tác phòng chống dịch bệnh đạt hiệu quả cao nhất.

Lập kế hoạch phân công cho từng thành viên thực hiện và tổ chức giám sát nhằm đôn đốc, nhắc nhở mọi người tham gia phòng chống dịch bệnh một cách tích cực.

Xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh cho trẻ trong năm học:

  • Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

Ban giám hiệu luôn quan tâm chỉ đạo công tác chăm sóc sức khoẻ và phòng chống dịch bệnh,góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ trong nhà trường. Xây dựng kế hoạch và đôn đốc các lớp, các bộ phận trong trường thực hiện tốt kế hoạch.

Phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và các lớp, giữa nhà trường với phụ huynh học sinh và các cơ quan hữu quan.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc trẻ, phòng chống dịch bệnh của trường đầy đủ, đúng tiêu chuẩn quy định của ngành. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Giáo viên, nhân viên nghiêm túc chấp hành quy chế, quy định của ngành về nuôi dưỡng trẻ và phòng chống dịch bệnh trong nhà trường. Có tinh thần trách nhiệm trong công việc, yêu nghề, mến trẻ, tận tình chăm sóc nuôi dưỡng, dạy dỗ trẻ.

Bồi dưỡng kiến thức chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng và phòng chống dịch bệnh cho giáo viên, nhân viên toàn trường. Phối hợp y tế tuyên truyền kiến thức phòng chống dịch bệnh cho giáo viên, nhân viên và phụ huynh theo định kỳ hàng năm, nhất là những đợt dịch. Tham gia các lớp học, các cuộc hội thảo của Sở, của Phòng tổ chức. Cập nhật kịp thời và tìm hiểu kiến thức trong sách, báo, tạp chí, trên mạng Internet… Thực hiện tốt công tác phối kết hợp giữa các bộ phận trong nhà trường và với các cơ quan hữu quan: Sở giáo dục, sở y tế, y tế xã/phường, trung tâm y tế

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền: Bệnh dịch có ảnh hưởng lớn đến tính mạng con người và cả cộng đồng, đặc biệt là trẻ em sức đề kháng còn rất yếu nên dễ mắc. Trong trường học số người tập trung đông, nhiều thành phần phức tạp do đó việc tuyên truyền giáo dục ý thức phòng bệnh là cần thiết. Đặc biệt là với phụ huynh học sinh: Có các bảng tuyên truyền ở lớp, ở những nơi mọi người hay qua lại trong trường, hoặc trao đổi trực tiếp với phụ huynh, qua website trường…

Bên cạnh đó việc bảo đảm cho các cháu được an toàn, khỏe mạnh là rất quan trọng. Đồng thời chế độ dinh dưỡng đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, cân đối các chất, đủ vitamin và khoáng chất cũng rất cần thiết để trẻ phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần. Do đó phải hướng dẫn cho các lớp lồng ghép vào chương trình giáo dục trẻ và tuyên truyền với phụ huynh học sinh nội dung việc chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng. Tư vấn cho phụ huynh về cách lựa chọn thực phẩm, lên thực đơn phù hợp với trẻ – đảm bảo cân đối, đủ chất, đủ lượng và ATVSTP.

Xây dựng môi trường thân thiện: An toàn mọi lúc mọi nơi cho trẻ, thường xuyên kiểm tra và bảo dưỡng đồ dùng đồ chơi, vệ sinh môi trường sạch đẹp, thông thoáng, tạo môi trường an toàn – xanh – sạch – đẹp phù hợp, gần gũi với trẻ từ ở lớp học, nhà vệ sinh, bếp, đến môi trường xung quanh: đồ dùng, đồ chơi tự tạo, bố trí sắp xếp lớp luôn đảm bảo vệ sinh phòng chống dịch bệnh cho trẻ.

Thường xuyên nhắc nhở phụ huynh quan tâm đến tiêm chủng phòng bệnh, rà soát tiền sử tiêm chủng của trẻ để cho trẻ đi tiêm đầy đủ. Bên cạnh đó, thường xuyên tổ chức tổng vệ sinh cuối tuần. Tại các lớp học được tăng cường thông khí, ánh sáng tự nhiên bằng cách mở cửa sổ, cửa ra vào, tạo một môi trường an toàn – thân thiện.

Đồng thời, ngành cũng tuyên truyền tới toàn thể phụ huynh, giáo viên những khuyến cáo của Trung tâm Y tế dự phòng. Đó là: Tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ và đúng lịch, giữ ấm cơ thể khi thời tiết chuyển lạnh, ủ ấm cho trẻ em khi ra ngoài trời; sáng sớm phải mặc đủ ấm, ăn uống đủ chất, đảm bảo dinh dưỡng, ăn nhiều hoa quả; đảm bảo vệ sinh cá nhân…Việc quản lý phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non là rất cần thiết. Để thực hiện hiệu quả, thiết nghĩ, cần sự phối hợp chặt chẽ của nhà trường, giáo viên, phụ huynh và tất cả các ban ngành. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

  • Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch và phân công trách nhiệm công việc cụ thể cho các thành viên trong Ban chỉ đạo y tế trường học việc thực hiện phòng, chống dịch bệnh theo từng năm.

Tuyên truyền giáo dục cho tất cả CBGV-NV và học sinh và cha mẹ học sinh biết về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.

Phải vệ sinh trường lớp hàng ngày và phối hợp với Trạm Y tế xã phun xịt thuốc khử trùng khuôn viên trường thường xuyên để phòng các bệnh truyền nhiễm.

Thường xuyên cập nhật tình hình học sinh nghỉ học do mắc các bệnh truyền nhiễm và báo ngay cho Phòng GD&ĐT, trạm Y tế xã khi thấy xuất hiện các ca bệnh trong nhà trường.

Giáo viên chủ nhiệm tăng cường các biện pháp quản lý học sinh, thông báo kịp thời cho cha mẹ học sinh các trường hợp học sinh có dấu hiệu mắc bệnh.

Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh về Y tế địa phương; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Trung tâm Y tế dự phòng nhằm có hướng xử lý kịp thời không để lây lan trong trường học.

  • Kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

Đảm bảo tính trung thực khi đánh giá kết quả công tác phòng chống dich bệnh cho trẻ; không vì thành tích mà phô trương, hình thức, gây lãng phí thời gian và vật chất.

Quy trình kiểm tra phải được thực hiện đầy đủ từ khâu chuẩn bị, tiến hành kiểm tra cho đến phân tích, đánh giá kết luận, kiến nghị và lưu trữ hồ sơ.

Kế hoạch, kết quả kiểm tra, đánh giá phải được công khai hóa, thực hiện dân chủ, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong nhà trường tham gia tích cực vào công tác kiểm tra và tự kiểm tra.

Người hiệu trưởng quản lý trường học bằng kế hoạch và thông qua các quyết định quản lý. Vì vậy, tất cả các kế hoạch, quyết định đó đều phải được kiểm tra một cách chu đáo, có hiệu quả, xem xét mức độ thực hiện, kết quả đạt được.

  • Nội dung kiểm tra đánh giá Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

Kiểm tra trong quản lý trường học là hoạt động nghiệp vụ quản lý của người hiệu trưởng nhằm theo dõi, xem xét, phát hiện, kiểm nghiệm quá trình diễn biến và kết quả của các hoạt động giáo dục trong phạm vi nội bộ trường học. Đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục đó có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, quy chế đề ra hay không. Phát hiện những ưu điểm để động viên, khuyến khích hoặc những thiếu sót, lệch lạc để có những biện pháp uốn nắn, giúp đỡ và điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường.

Công tác kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, liên tục từ đầu năm đến cuối năm học có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống đồng thời phải linh hoạt, nhạy bén thích ứng với tình hình, hoàn cảnh cụ thể của đơn vị.

Hình thức kiểm tra đánh giá

  • Hàng tháng nhà trường yêu cầu các tổ đưa vào kế hoạch triển khai giáo viên thực hiện.
  • Hàng quý nhà trường có kế hoạch kiểm tra, và kiểm tra đột xuất việc xây dựng và bảo vệ môi trường của các lớp.
  • Xây dựng môi trường và giáo dục môi trường cho trẻ là một trong những nội dung đưa vào xếp loại thi đua đối với CBGVNV.
  • Để thực hiện tốt kế hoạch trên, hiệu trưởng nhà trường giao nhiệm vụ cho các thành viên trong quyết định thành lập ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh của trường căn cứ thực hiện.

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non

1.5.1. Những yếu tố khách quan

  • Yếu tố kinh tế – Xã hội

Dịch bệnh được biết đến như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dịch bệnh không chỉ tồn tại ở những nước phát triển mà còn đang có xu hướng tăng nhanh ở những nước đang phát triển. Dịch bệnh xuất hiện song hành trong quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra một cách chóng mặt. Mặt khác, do điều kiện sống, điều kiện lao động đã có nhiều thay đổi, sự biến đối thời tiết, đã góp phần làm tăng tỉ lệ dịch bệnh ở trẻ em.

  • Yếu tố gia đình 

Gia đình, người thân có ảnh hưởng rất lớn tới trẻ em khi giáo dục ý thức phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Việc gia đình chăm sốc, bảo vệ sức khỏe cho con mình, ý thức tuân thủ các quy đinh y tế đối với trẻ em ra sao,… đều có ảnh hưởng trực tiếp tới việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ.

  • Môi trường sinh hoạt của nhà trường và gia đình

Để trẻ không phát sinh các mầm móng gây bệnh thì nhà trường và gia đình phải đặc biệt chăm sóc kỹ nơi học tập, nơi sinh hoạt của trẻ. Vì môi trường là yếu tố phát sinh ra dịch bệnh lớn nhất cho trẻ.

1.5.2. Những yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

  • Giáo viên

Giáo viên thường xuyên tiếp xúc, trao đổi với phụ huynh trẻ để thực hiện tốt việc phối hợp với gia đình về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

Đa số giáo viên mầm non nắm vững nội dung, phương pháp về chăm sóc giáo dục trẻ, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số cô mới qua lớp đào tạo sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo do đó còn hạn chế về năng lực chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ.

  • Sự liên kết giữa gia đình và nhà trường

Giữa gia đình và nhà trường chưa có sự phối hợp, liên kết thật chặt chẽ để tiến hành các biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ.

Nhiều trường mầm non chưa có kinh nghiệm trong việc triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học chăm sóc, nuôi dạy trẻ cho các bậc cha mẹ.

  • Thiết bị y tế trong nhà trường

Đa số các trường đều chưa đáp ứng đủ điều kiện tốt nhất về thiết bị y tế để phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Thiết bị y tế đảm bảo thì khả năng phòng chống, chăm sóc các bệnh cho trẻ tốt hơn.

Tiểu kết chương 1

Sức khỏe là vốn quý giá nhất và có ý nghĩa sống còn với con người, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo. Ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần. Người CBQL trường mầm non cần có kế hoạch cụ thể, rõ ràng để tổ chức có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trong đó công tác phòng, chống dịch bệnh là rất quan trọng và cần thiết. Để làm tốt công tác này, CBQL cần thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý giáo dục: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra – đánh giá. Trong các chức năng này thì xây dựng kế hoạch là việc làm quan trọng và cần thiết của nhà quản lý, là thao tác của hoạt động sáng tạo, là kim chỉ nam để giúp người quản lý giải quyết một vấn đề nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra. Từ đó, người CBQL tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non như tăng cường công tác tuyên truyền kiến thức về các dịch bệnh cho phụ huynh, đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, phối hợp tốt với các lực lượng ngoài xã hội cùng tham gia. Trong quản lý công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non, việc kiểm tra – đánh giá rất quan trọng vì nó giúp hiệu trưởng nắm được tình hình thực hiện kế hoạch việc phòng, chống dịch bệnh cho trẻ để kịp thời điều chỉnh hoặc có biện pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ. Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537