Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trong trường MN công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điện bàn nghiên cứu
2.1.1. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế- xã hội ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Thị xã Bến Cát được thành lập năm 2020 theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ, là nơi có vị trí cách trung tâm hành chính tỉnh khoảng 19 km. Phía Bắc thị xã giáp với huyện Dầu Tiếng và huyện Bàu Bàng, phía Nam giáp với thành phố Thủ Dầu Một, phía Đông giáp với thị xã Tân Uyên và huyện Bàu Bàng, phía Tây giáp với huyện Củ Chi – thành phố Hồ Chí Minh. Thị xã có tổng diện tích tự nhiện lớn khoảng 23.442,24 ha, với 8 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 5 phường: Chánh Phú Hòa, Hòa Lợi, Mỹ Phước, Tân Định, Thới Hòa, 03 xã: An Điền, An Tây, Phú An, và 44 khu, ấp. Tính đến cuối năm 2025 có tổng dân số tăng đạt đến 269.988 người. Bên cạnh đó, trên địa bàn thị xã Bến Cát đang hình thành một số khu đô thị mới khu đô thị Bên Cát Golden Land, khu đô thị Đông Bình Dương, Mỹ Phước 1, Mỹ Phước 2, Mỹ Phước 3, Mỹ Phước 4 và nhiều khu đô thị khác.Tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn thị xã Bên Cát, trong năm 2025 tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã là 23.5%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa – dịch vụ – nông nghiệp. Ngoài ra, để thu hút đầu tư các dự án trong và ngoài nước, Bến Cát tiếp tục có nhiều chính sách ưu đãi, cải cách hành chính, tổ chức đối thoại doanh nghiệp, giải đáp kiến nghị của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn. Thị xã có vị trí địa lí gần hai con sông Sài Gòn và Thị Tính chảy qua, thị xã có trữ lượng lớn khoáng sản phi kim loại như cao lanh, đất sét, đất làm gạch ngói, sỏi đỏ, nước mầm phong phú. Hệ thống đường thủy phát triển bên cạnh hỗ trợ cho trồng trọt nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn trái phát triển. Tuy nhiên đây là vùng thấp, có nhiều sông nước tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều mầm bệnh phát triển, đặc biệt là bệnh sốt xuất huyết, thủy đậu, sởi… Công tác phòng chống cũng trở nên khó khăn hơn khi vào mùa mưa, lũ. (UBND Thị xã Bến Cát, 2026)
2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục mầm non ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Thị xã Bến Cát là nơi có dân cư đa dạng, phức tạp, tập trung nhiều người lao động ở khắp cả nước tìm về sinh sống lập nghiệp, từ đó nhu cầu học tập của con em người lao động tăng cao hàng năm. Chính vì vậy, lãnh đạo, ban ngành trên địa phương không ngừng nâng cao, xây dựng mới cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy học, đặc biệt là xây mới và mở rộng nhiều trường mầm non đạt chất lượng cao. Tính đến nay, thị xã Bến Cát có nhiều trường mầm non – mẫu giáo được đầu tư xây dựng cũng như trang bị thêm những thiết bị dạy học mới, chất lượng, hiện đại đáp ứng môi trường giáo dục lấy người học làm trung tâm. Các trường trên địa bàn thị xã được phân bố hợp lý về số lượng trường MN và MG với 43 trường (9 trường công lập và 34 trường tư thục), đồng thời số phòng học, cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập trong và ngoài lớp học đáp ứng được nhu cầu học tập của hơn 16.814 trẻ và hoạt động dạy của 1.643 giáo viên, cán bộ quản lý. Trong năm học 2025 – 2026 toàn thị xã có 100% trường mầm non, mẫu giáo công lập và 91.17% trường ngoài công lập đã hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục, và 8/9 trường mầm non đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia chiếm 88.9%. Hầu như trẻ theo học tại các trường trên địa bàn đều được bảo đảm an toàn về thể chất, tinh thần và không xảy ra dịch bệnh hay ngộ độc, cũng như thực hiện tốt các biện pháp nuôi dưỡng kết hợp với can thiệp nhằm cải thiện trẻ suy dinh dưỡng, béo phì với kết quả cao. Đồng thời, các cơ sở GDMN phối hợp Y tế thường xuyên triển khai thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh, phòng dịch cho trẻ nhất là bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, phòng chống bệnh sốt phát ban nghi sởi. Ngoài ra, để đảm bảo không để trường hợp trẻ bị dịch bệnh xảy ra trong năm học, Phòng giáo dục và Đào tạo phối hợp trung tâm y tế chỉ đạo các cơ sở GDMN phối hợp với y tế đại phương thực hiện tốt trong công tác theo dõi, khám sức khỏe định kỳ, phát hiện và phòng bệnh kịp thời cho trẻ, cũng như phối hợp thực hiện tốt chiến dịch uống Vitamin A nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ. (Phòng Giáo dục và Đào tạo, 2026).
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
2.2.1. Mục đích khảo sát thực trạng
Nhằm phân tích và đánh giá xác thực về việc quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, để tìm ra những nguyên nhân hạn chế góp phần xây dựng những biện pháp phù hợp nâng cao chất lượng trong công tác quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
2.2.2. Khách thể khảo sát
Người nghiên cứu thực hiện khảo sát tại 09/09 trường mầm non công lập với 200 giáo viên và cán bộ quản lý, và 100 phụ huynh trẻ được phân bổ trong bảng dưới đây như: (Phòng GD&ĐT Bến Cát, 2025)
- Bảng 2.1. Các trường mầm non tham gia khảo sát
Người nghiên cứu lập danh sách các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát để tiến hành khảo sát, kết quả thu được từ các phiếu hợp lệ trong các trường khảo sát thể hiện được số lượng giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh trẻ tham gia. Trong đó, trường MN Hướng Dương có số lượng giáo viên, cán bộ quản lý, cũng như phụ huynh trẻ tham gia nhiều nhất, với 20%% là GV và CBQL, và 19% là PH. Theo đó là trường MN An Điền (12.5% GV, CBQL, và 15% PH) tham gia khảo sát. Trường MG An Tây (12% GV, CBQL và 6% PH), các trường MN Thới Hòa, MG Tân Định với 10% GV,CBQL. Trường MN Hòa Lợi có 7.5% GV, CBQL tham gia, đây là trường có số lượng GV,CBQL tham gia ít nhất có thể quy mô, cơ cấu nguồn lực của nhà trường thấp hơn so với những trường còn lại.
- Bảng 2.2. Thông tin về mẫu khảo sát
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.2 cho thấy sự tham gia tích cực từ các đối tượng khảo sát, cũng như trình độ chuyên môn và thâm niên công tác, cụ thể: Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Số lượng các đối tượng tham gia khảo sát từ các trường khá đầy đủ. Đặc biệt là số lượng cán bộ quản lý với 33%, trong đó TTCM chiếm 11%, Phó Hiệu trưởng 7% và Hiệu trưởng là 5%. Khi tiến hành khảo sát, người nghiên cứu đã trực tiếp gặp lãnh đạo các trường để xin phép khảo sát cho người nghiên cứu đề tài, với sự cho phép và hỗ trợ nhiệt tình từ lãnh đạo nhà trường, từ cán bộ, giáo viên đã giúp cho công tác khảo sát thành công tốt và đầy đủ các đối tượng tham gia.
Trình độ chuyên môn: Trung cấp chiếm 47.5%, cao đẳng chiếm 40.5%, cử nhân chiếm 12%, tuy trình độ đội ngũ giáo viên tại các trường chưa cao, chủ yếu tập trung nhiều ở trung cấp và cao đẳng, nhưng phần lớn đã đáp ứng yêu cầu trong tổ chức giáo dục nhà trường.
Thâm niên công tác: Số lượng giáo viên, cán bộ quản lý có thâm niên từ 1 đến dưới 5 năm là cao nhất với 64%, trong khi từ 5 đến dưới 10 năm chiếm 32.5% và thấp nhất là 3.5% đối với những giáo viên, cán bộ quản lý có thâm niên trên 10 năm. Qua đó, giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bên Cát, Bình Dương tuy thời gian làm việc chưa nhiều những là đội ngũ nhiệt tình, yêu nghề, đoàn kết, và tích cực trong bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu trong các hoạt động giáo dục, cũng như hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ, đây là hoạt động cần có sự kết hợp, đoàn kết từ các lực lượng.
2.2.3. Nội dung khảo sát
Đề tài thực hiện khảo sát với các nội dung như: Nhận thức của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh trẻ về mục đích của hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường trên địa bàn thị xã Bến Cát; Thực hiện nội dung, hình thức hoạt động, công tác kiểm tra đánh giá trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ; Nhận thức đúng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý về ý nghĩa quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh; Kết quả thực hiện về xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; Những ảnh hưởng từ các yếu tố, nguyên nhân đến kết quả thực hiện công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường MN.
2.2.4. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận trong chương 1, người nghiên cứu thiết kế phiếu hỏi để khảo sát thông qua phương pháp điều tra giáo dục và kết hợp phương pháp phỏng vấn để thu thập thêm thông tin định tính làm sáng tỏ thêm cho dữ liệu định lượng. Người nghiên cứu sử dụng các bảng hỏi đã được thiết kế để khảo sát tại 10 trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo cách ngẫu nhiên, các bảng hỏi để khảo sát được thể hiện theo phụ lục 1.1; 1.2; 1.3. Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2026
2.2.5. Xử lý kết quả khảo sát
Sau khi thu thập đầy đủ các phiếu khảo sát hợp lệ từ tháng 6 năm 2026, người nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 25.0 để thực hiện xử lý và phân tích dữ liệu theo các chỉ số phần trăm, điểm trung bình và độ lệch chuẩn, đồng thời để thống nhất trong xếp loại các mức độ đánh giá, người nghiên cứu đưa ra bảng quy ước thang đo theo điểm trung bình như sau:
- Bảng 2.3. Bảng quy ước mức độ của thang đó theo điểm trung bình
Bảng quy ước này được sử dụng trong quá trình phân tích các số liệu thống kê thực trạng chương 2 hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ, và công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
2.3. Thực trạng hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.3.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh trẻ trong phòng chống dịch bệnh Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về tầm quan trọng trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh trẻ trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng 2.4 như sau:
- Bảng 2.4. Thực trạng nhận thức tầm quan trọng trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Phần lớn các đối tượng tham gia đánh giá cao mức độ quan trọng về tâm quan trọng trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ, các ý kiến đều tập trung ở mức quan trọng và rất quan trọng. Trong đó, ở mức độ quan trọng có 43.5% là giáo viên và cán bộ tham gia đánh giá, và 39% đối với phụ huynh đánh giá, đây là mức độ có nhiều đối tượng lựa chọn nhất. Theo đó là mức rất quan trọng có 34.5% là giáo viên và cán bộ lựa chọn và 34% là phụ huynh lựa chọn. Trong khi đó, mức độ bình thường có 22% là đối với giáo viên và cán bộ quản lý lựa chọn và phụ huynh là 27%. Như vậy, các lực lượng giáo dục trong nhà trường và phụ huynh học sinh đã quan tâm đến hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ, đây là điều kiện thuận lợi giúp nhà trường triển khai tốt các hoạt động phối hợp, hỗ trợ trong phòng chống dịch bệnh, xây dựng những phương án dự phòng hiệu quả giúp trẻ mạnh khỏe và phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
- Bảng 2.5. Thực trạng nhận thức về mục đích hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo kết quả trên, các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá cao về mức độ đồng ý trong các mục đích thực hiện hoạt động phòng chống tại trường mầm non, điểm trung bình trong các trường hợp thấp nhất là 3.67 điểm đối với phụ huynh đánh giá, và cao nhất là 3.90 điểm đối với giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá. Độ lệch chuẩn trong các nội dung đánh giá thấp dao động từ 0.584 đến 0.764 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá các nội dung này. Trong kết quả phỏng vấn một số giáo viên tại các trường cho thấy, các giáo viên đồng nhất rằng “hoạt động phòng chống dịch bệnh tốt không những giúp cho trẻ phát triển tốt, ý thức phòng bệnh cho trẻ các của giáo viên, phụ huynh được nâng cao mà còn là điều kiện giúp nhà trường nâng cao uy tín, chất lượng giáo dục”. Như vậy, việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ trong nhà trường đã giúp ngăn ngừa, không lây lan trong nhà trường, cũng như giúp cho tập thể giáo viên nâng cao trình độ, ý thức phòng ngừa hiệu quả, đặc biệt hoạt động phòng chống dịch bệnh tốt sẽ giúp trẻ tránh được những căn bệnh nguy hiểm, trẻ được phát triển bình thường và phụ huynh yên tâm khi cho con đến trường.
- Bảng 2.6. Thực trạng nhận thức về ý nghĩa trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo kết quả thống kê trên cho thấy, các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá cao với điểm trung bình từ 2.60 đến 3.86 điểm đạt mức 3, và 4. Riêng ý nghĩa “Nâng cao ý thức về sức khỏe của các em cũng như cộng đồng chung”có điểm trung bình 2.60 điểm thấp nhất trong các nội dung đánh giá, độ lệch chuẩn trong trường hợp này rất thấp 0.555 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát ở mức bình thường. Như vậy, việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường MN không chỉ có sự quan tâm từ các lực lượng trong nhà trường mà còn có sự quan tâm từ các lực lượng ngoài nhà trường, phần lớn là những phụ huynh trẻ, họ luôn xem công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo trẻ tránh được bệnh, đảm bảo trẻ mạnh khỏe và tham gia vào các hoạt động vui chơi, lao động và học tập tại trường.
2.3.2. Thực trạng nội dung hoạt động phòng chống dịch bệnh trong nhà trường mầm non
Kết quả khảo sát về thực trạng thực hiện nội dung hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh trẻ được thể hiện trong bảng 2.7 như sau:
- Bảng 2.7. Thực trạng về thực hiện nội dung hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo bản 2.7 cho thấy, các nội dung “phòng ngừa bệnh thủy đậu; phòng ngừa bệnh tay chân miệng; phòng ngừa bệnh tiêu chảy cấp; phòng ngừa bệnh đau mắt hột”có điểm trung bình ở mức 4, mức độ khá trong thang đo, độ lệch chuẩn trong các trường hợp này thấp thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát. Qua kết quả phỏng vấn cho thấy, nhiều giáo viên đồng ý là “nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động phòng bệnh với những nội dung phòng những bệnh tay chân miệng, đau mắt hột, bệnh thủy đậu”, bởi lẻ đây là những bệnh nguy hiểm cho trẻ và nhiều di chứng khác. Như vậy, các trường không chỉ thực hiện thường xuyên về những nội dung này mà còn mang lại kết quả khá cao. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Bên cạnh đó, các nội dung như “Hoạt động phòng ngừa bệnh xuất huyết; Hoạt động phòng ngừa bệnh quai bị; phòng ngừa bệnh cảm cúm; bệnh viêm đường hô hấp”có điểm trung bình thấp và khác biệt trong đánh giá giữa giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh trẻ, điểm trung bình của phụ huynh cao hơn đạt ở mức 4, mức khá trong thang đo, nhưng đối với giáo viên, cán bộ quản lý là chưa đạt, điểm trung bình chỉ ở mức 2, mức yếu trong kết quả thực hiện các nội dung này. Qua phỏng vấn một số phụ huynh trẻ, hầu hết họ cho rằng “vì bận công việc, không ai trông trẻ để đi làm nên mặc dù biết con bệnh nhưng vẫn để con đi học, và mang theo thuốc để nhờ giáo viên cho uống, và xem những bệnh như cảm cúm, viêm đường hô hấp là bệnh thông thường”, tuy nhiên đối với giáo viên thì họ cho rằng “khi trẻ bị bệnh cảm cúm, viêm đường hô hấp có sức lây nhiễm rất nhanh và khuyên phụ huynh để con dưỡng bệnh ở nhà”. Chính vì vậy, chưa có sự thống nhất trong quá trình điều trị và phòng bệnh cho trẻ giữa gia đình và nhà trường, tạo nên kết quả mang lại không theo kỳ vọng. Đây là những khó khăn mà nhà trường cần có giải pháp khắc phụ trong thời gian tới.
Ngoài ra, nội dung “phòng ngừa bệnh sởi”cũng có điểm trung bình thấp với 2.09 điểm, đạt mức 2 trong đánh giá giữa giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh, độ lệch chuẩn cũng thấp dao động từ 0.6 đến 0.8 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá giữa các đối tượng. Khi phỏng vấn một số giáo viên “trong các bệnh nhất là bệnh sởi nhiều phụ huynh chủ quan không tiêm phòng cho bé theo tiêu chuẩn quy định, nên khi trong lớp có bé bị bệnh là các bé cũng lây theo”. Như vậy, việc phòng bệnh ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát tuy đã thực hiện nhưng vẫn còn một số bệnh chưa thực hiện tốt, nhất là các nội dung liên quan đến bệnh xuất huyết, quai bị, cảm cúm, viêm đường hô hấp, đặc biệt là bệnh sởi cần được nhà trường quan tâm hơn và có những phương án phòng bệnh tốt hơn.
2.3.3. Thực trạng hình thức phòng chống dịch bệnh trong nhà trường mầm non
Kết quả khảo sát về hình thức thực hiện trong hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh trẻ được thể hiện trong bảng như sau:
- Bảng 2.8. Thực trạng về thực hiện hình thức hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.8 cho thấy, “Thường xuyên cập nhật thông tin báo cáo về cấp trên kịp thời khi có biểu hiện dịch bệnh xảy ra; Tích cực vệ sinh lớp học, đảm bảo môi trường thông thoáng, sạch sẽ và an toàn cho trẻ; Cho trẻ rửa tay thường xuyên bằng xà phòng theo 6 bước qui định của y tế, hướng dẫn trẻ che miệng khi ho hoặc hắt hơi”và “Tuyệt đối bảo đảm sử dụng đồ dùng vệ sinh các nhân của trẻ theo qui định có ký hiệu rõ ràng”các hình thức có điểm trung bình khá cao dao động mức 4, mức độ khá trong thang đo hiệu quả. Như vậy, các trường MN trên địa bàn đã sử dụng khá hiệu quả các hình thức như cập nhật thông tin về tình hình bệnh của bé, đảm bảo vệ sinh đồ dùng, đảm bảo an toàn cho trẻ khi tham gia các hoạt động giáo dục và chăm sóc tại trường. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Tuy nhiên, trong hình thức “Phối hợp với y tế trường học và cơ quan y tế địa phương để nắm tình hình dịch bệnh trên địa bàn”có điểm trung bình 1.82 điểm đối với giáo viên và cán bộ đánh giá, và 2.13 điểm đối với phụ huynh trẻ đánh giá, trong các trường hợp đều đạt mức 2, mức độ yếu về kết quả thực hiện. Qua phỏng vấn với một số giáo viên và cán bộ quản lý là những tổ trưởng chuyên môn, họ cho rằng “nhà trường cũng đã triển khai nhiều biện pháp về phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại trường nhưng chưa làm lại hiệu quả, giữa nhà trường và các cơ quan chủ quản, địa phương chưa thống nhất cách phòng bệnh, và xem nhẹ việc phòng tránh bệnh cho trẻ”. Chính vì vậy, để phòng bệnh hiệu quả cho trẻ, nhà trường cần có những biện pháp mạnh, cần khảo sát tình hình, môi trường sống và tổ chức phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường thực hiện nghiêm túc các biện pháp, và thống nhất các biện pháp phòng bệnh cho trẻ.
Ngoài ra, các hình thức “Chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục hàng ngày lồng ghép các chuyên đề để giúp trẻ có thói quen giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt; Kiểm tra sức khoẻ trẻ vào mỗi sáng khi đón trẻ để phát hiện kịp thời trường hợp khi có bệnh xảy ra; Đẩy mạnh công tác phối hợp cùng phụ huynh giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hằng ngày hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh”có điểm trung bình thấp và chưa có sự thống nhất giữa các đối tượng tham gia khảo sát, trường hợp “chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục hàng ngày có lồng ghép với vệ sinh, phòng bệnh”đối tượng là phụ huynh đánh giá thấp hơn các lực lượng trong nhà trường, bởi chưa có sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong các hoạt động. Chính vì vậy, “Đẩy mạnh công tác phối hợp cùng phụ huynh giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hằng ngày hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người bệnh”có điểm trung bình thấp nhất có điểm trung bình 1.47 điểm đối với giáo viên và cán bộ quản lý 1.47 và 1.70 điểm đối với phụ huynh cho thấy công tác phối hợp với phụ huynh và nhà trường trong phòng chống dịch bệnh nói chung còn nhiều hạn chế. Như vậy, tuy các trường thực hiện hiệu quả các hình thức về cập nhật thông tin về bệnh của trẻ, đảm bảo an toàn trẻ và vệ sinh đồ dùng, đồ chơi cho trẻ, nhưng các hình thức đẩy mạnh phối hợp giữa các lực lượng y tế trường, cơ quan y tế địa phương và gia đình còn nhiều hạn chế, kết quả mang lại chưa cao.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
2.4.1. Thực trạng nhận thức về ý nghĩa quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non
Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức ý nghĩa quan trọng trong quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương của cán bộ quản lý, giáo viên được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.9. Thực trạng nhận thức của giáo viên cán bộ quản lý trong công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Từ bảng 2.9 cho thấy, các nội dung “Giúp đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý nâng cao khả năng phòng chống dịch bệnh cho trẻ tốt; Giúp phụ huynh nâng cao nhận thức trong việc phòng chống dịch bệnh cho trẻ; Giúp trẻ có một cơ thể khỏe mạnh, tham gia tốt trong các hoạt động giáo dục nhà trường”có điểm trung bình dao động từ 3.60 điểm đến 3.72 điểm, đạt mức 4, mức độ đồng ý cao. Độ lệch chuẩn rất thấp từ 0.485 đến 0.768 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá giữa các đối tượng tham giaa khảo sát tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Qua phỏng vấn một số giáo viên, cán bộ quản lý tại các trường tham gia khảo sát, GV3, GV5, TH1, HT4 cho rằng “nhà trường luôn quan tâm và sử dụng mọi biện pháp nhắc nhở, động viên và hướng dẫn đến phụ huynh nhằm giúp người thân của trẻ ý thức hơn và có những cách giữ cho trẻ không tiếp xúc với mầm bệnh, trẻ mạnh khỏe và phát triển tốt”. Như vậy, nhà trường luôn quan tâm đến việc phòng bệnh cho trẻ và ý thức rằng công tác phòng bệnh cho trẻ mang lại ý nghĩa rất quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện, tạo niềm tin cho phụ huynh khi mang trẻ đến trường.
2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.10. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.10 cho thấy, việc “Bổ sung, trang thiết bị y tế, cơ số thuốc thiết yếu và dự trù hoá chất dung dịch phòng chống dịch bệnh”có điểm trung bình 3.59 điểm, đạt mức 4, mức độ khá trong thang đo. Độ lệch chuẩn trong trường hợp này thấp 0.612 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát. Qua phỏng vấn một số cán bộ quản lý trong các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, họ cho rằng “để thực hiện công tác trang bị đầy đủ về trang thiết bị y tế, thuốc thiết yếu và dự trù hóa chất dung dịch trong phòng chống dịch bệnh, nhà trường thường xuyên xác định nhu cầu sử dụng, tình trạng trang thiết bị, hóa chất để xây dựng kế hoạch trang bị, mua mới”. Như vậy, trong việc thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ, các trường đã có sự chuẩn bị đầy đủ về thuốc thiết yếu và dự trù hóa chất đáp ứng nhu cầu phòng chống dịch bệnh tại trường mầm non.
Tương tự, trong “Xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh chung; Kiểm tra, rà soát loại bỏ, bổ sung đồ dùng, dụng cụ học tập, đồ chơi ngoài trời ở các khu lớp; Tạo các mục, đầu sổ, hồ sơ theo dõi sức khoẻ trẻ, cài đặt phần mềm quản lý sức khoẻ; Tuyên truyền biện pháp phòng chống dịch bệnh, và các bệnh thường mắc ở trẻ nhỏ” và “Tăng cường kiểm tra vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và việc lưu mẫu nghiệm thức ăn hàng ngày của các bếp”có điểm trung bình cũng ở mức 4, mức độ khá về kết quả thực hiện. Qua đó, các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát đã xây dựng kế hoạch trong phòng chống các bệnh, cũng như kế hoạch trong việc sử dụng công nghệ để hỗ trợ cho công tác quản lý, theo dõi dịch bệnh tại trường và kế hoạch kiểm tra đánh giá nhằm đảm bảo an toàn trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ.
Tuy nhiên, “Xây dựng kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học”và “Bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên, biện pháp phòng chống dịch bệnh theo mùa”chưa được đánh giá cao, điểm trung bình trong các trường hợp từ 1.72 điểm đến 1.90 điểm, độ lệch chuẩn 0.5 và 0.6 thể hiện sự đồng nhất cao trong quan điểm đánh giá của các đối tượng ở mức yếu, kém về kết quả thực hiện trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Qua phỏng vấn một số giáo viên và cán bộ quản lý trong các trường, HT1, HT4 và TTCM2 cho rằng, “nhà trường đang gặp khó khăn về tài chính nên thiếu kinh phí để tổ chức lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên cũng như cho cán bộ quản lý về khả năng phòng chống dịch bệnh, khả năng phát hiện và đưa ra những phương án dự phòng hiệu quả.” Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Như vậy, các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát tuy đã thực hiện thường xuyên trong việc xây dựng kế hoạch cho hoạt động phòng tránh dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã, nhưng kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học cũng như kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, nhân viên về nâng cao khả năng phòng chống bệnh, đặc biệt là trong phòng chống bệnh theo mùa là chưa hiệu quả trên địa bàn.
2.4.3. Thực trạng tổ chức hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non
Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.11. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.11 cho thấy, việc tổ chức thực hiện kế hoạch của Hiệu trưởng tại các trường MN trên địa bàn thị xã đã mang lại hiệu quả trong việc phân công, giao nhiệm vụ cho các giáo viên thực hiện phòng chống dịch bệnh cho trẻ, cụ thể như: “Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch và phân công trách nhiệm công việc cụ thể cho các thành viên trong Ban chỉ đạo y tế trường học việc thực hiện phòng, chống dịch bệnh theo từng năm; Tuyên truyền giáo dục cho tất cả CBGV-NV và trẻ và cha mẹ trẻ biết về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; Phải vệ sinh trường lớp hàng ngày và phối hợp với Trạm Y tế xã phun xịt thuốc khử trùng khuôn viên trường thường xuyên để phòng các bệnh truyền nhiễm; Giáo viên chủ nhiệm tăng cường các biện pháp quản lý trẻ, thông báo kịp thời cho cha mẹ trẻ các trường hợp trẻ có dấu hiệu mắc bệnh”các tiêu chí được đánh giá với điểm trung bình từ 3.27 điểm đến 3.83 điểm đạt mức 3, và 4, riêng công tác tổ chức phân công nhiệm vụ cho các cá nhân trong Ban chỉ đạo Y tế trường thực hiện phòng chống dịch bệnh có điểm trung bình thấp, ứng với mức 3, mức độ trung bình. Độ lệch chuẩn thấp thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá giữa các đối tượng tham gia khảo sát tại các trường mầm non. Như vậy, trong công tác tổ chức, Hiệu trưởng nhà trường thực hiện hiệu quả việc truyên truyền giáo dục cho tất cả cá nhân, bộ phận liên quan trong phòng dịch bệnh biết cách phòng tránh dịch, cũng như giao trách nhiệm trong phân công, công tác giữ vệ sinh trường lớp và tăng cường các biện pháp quản lý học sinh, kịp thời báo cáo cho nhà trường những trường hợp bệnh ở trẻ.
Tuy nhiên, việc “Thường xuyên cập nhật tình hình học sinh nghỉ học do mắc các bệnh truyền nhiễm và báo ngay cho Phòng GD&ĐT, trạm Y tế xã khi thấy xuất hiện các ca bệnh trong nhà trường; Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh về Y tế địa phương; Phòng GD-ĐT; Trung tâm Y tế dự phòng xử lý kịp thời không để lây lan trong trường học”có điểm trung bình trong đánh giá thấp ở mức 1, mức độ kém hiệu quả cho công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Đồng thời, qua kết quả phỏng vấn một số cán bộ quản lý cho rằng “tuy nhà trường đã triển khai kế hoạch theo dõi và phát hiện bệnh của trẻ trong lớp, lý do trẻ nghỉ học đến các cá nhân phụ trách lớp, các bộ phận đã cập nhật tốt thông tin về trường hợp bệnh của trẻ, nhưng để báo cáo kịp thời đến các cơ quan, hữu quan, phòng Y tế trong khu vực còn nhiều khó khăn trong quá trình phối hợp chia sẽ thông tin. Như vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động phòng bệnh cho trẻ tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát tuy được thực hiện tốt việc phân nhiệm, theo dõi và phương án xử lý trong nhà trường, việc phối hợp giữa các lực lượng để chia sẻ thông tin, cập nhật thường xuyên những trường hợp bệnh của trẻ đến các bộ phận Y tế địa phương và các bộ phận liên quan chưa đồng bộ và chưa thật sự hiệu quả.
2.4.4. Thực trạng chỉ đạo hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Kết quả khảo sát thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.12. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo bảng thống kê 2.12 cho thấy, “Ban giám hiệu luôn quan tâm chỉ đạo công tác chăm sóc sức khoẻ và phòng chống dịch bệnh”có điểm trung bình cao với 3.61 điểm đạt mức 4, mức độ khá hiệu quả trong công tác quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường. Độ lệch chuẩn thấp 0.9334 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá từ các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ, nhằm mang lại chất lượng giáo dục nhà trường.
Bên cạnh đó, trong chỉ đạo “Đôn đốc các lớp, các bộ phận trong trường thực hiện tốt kế hoạch; Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc trẻ, phòng chống dịch bệnh của trường đầy đủ, đúng tiêu chuẩn quy định của ngành; Động viên đội ngũ giáo viên tích cực trong công việc, yêu nghề, mến trẻ, tận tình chăm sóc nuôi dưỡng, dạy dỗ trẻ”cũng mang lại kết quả, điểm trung bình trong đánh giá ở mức 4, mức độ khá trong thang đo về kết quả thực hiện. Độ lệch chuẩn từ 0.751 đến 0.900 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá. Các trường thường xuyên đôn đốc, cũng như khích lệ và động viên các bộ phận thực hiện hiện quả việc chấp hành các quy định, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, tích cực trong công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Tuy nhiên, công tác chỉ đạo còn hạn chế trong “Phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và các lớp, giữa nhà trường với phụ huynh học sinh và các cơ quan hữu quan”có điểm trung bình thấp ở mức 1, mức kém trong thang đo kết quả thực hiện. Qua phỏng vấn một số giáo viên, phần lớn họ cho rằng “công tác phối hợp giữa các lực lượng chưa đồng nhất về phương án chăm sóc trẻ cũng như trong phòng bệnh. Như việc tiêm ngừa Sởi cho trẻ có trẻ được tiêm và trẻ không được tiêm, khi hỏi ra thì gia đình cũng không biết là đã tiêm ngừa hay chưa, đặc biệt khi trẻ bị bệnh phụ huynh vẫn mang con đến trường”. Chính vì vậy, tuy các trường đã thực hiện chỉ đạo trong công tác phối hợp phòng dịch bệnh cho trẻ, thường xuyên khích lệ, khen thưởng giáo viên để động viên tinh thần làm việc cho họ tốt hơn, tuy nhiên công tác chỉ đạo chưa nhất quán, chưa tận tình, chưa quyết liệt vì mục tiêu phòng bệnh giúp trẻ phát triển. Trong thời gian tới để thực hiện tốt hoạt động phòng bệnh cho trẻ, các trường cần phải quan tâm hơn, nhất quán trong chỉ đạo các bộ phận tích cực trong công tác tổ chức phối hợp tốt giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm nâng cao kết quả chăm sóc và phòng bệnh hiệu quả cho trẻ.
2.4.5. Thực trạng kiểm tra thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non
Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra thực hiện kế kế hoạch thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.13. Thực trạng kiểm tra thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Công tác kiểm tra đánh giá hoạt động phòng bệnh của Hiệu trưởng các trường được đánh giá cao trong một số tiêu chí như “Theo dõi, xem xét, phát hiện, kiểm nghiệm quá trình diễn biến và kết quả của các hoạt động; Đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục đó có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, quy chế đề ra hay không; Công tác kiểm tra phải được tiến hành từ đầu năm đến cuối năm học có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống đồng thời phải linh hoạt”cũng như trong mức độ thực hiện “Hàng quý nhà trường có kế hoạch kiểm tra, và kiểm tra đột xuất việc xây dựng và bảo vệ môi trường của các lớp”có điểm trung bình dao động từ 3.6 điểm đến 3.84 điểm đạt mức 4, mức độ khá trong thực hiện kiểm tra đánh giá hoạt động. Công tác kiểm tra được thực hiện thường xuyên, định kỳ, có mục đích, có kế hoạch và linh hoạt, cũng như kiểm tra các bộ phận, cá nhân xem xét, phát hiện diễn biến bệnh của trẻ. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Ngoài ra, kiểm tra việc “hiệu trưởng giao nhiệm vụ cho các thành viên quyết định thành lập ban kiểm tra phòng chống dịch bệnh của trường căn cứ thực hiện; Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh cho các cơ quan địa phương liên quan”cũng được thực hiện, nhưng có điểm trung bình từ 1.73 điểm đến 1.80 điểm thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát tại các trường. Cho thấy, công tác kiểm tra việc giao nhiệm vụ, thành lập Ban phòng chống dịch bệnh cho trẻ còn nhiều hạn chế, cũng như kiểm tra thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kịp thời phát hiện trẻ có dấu hiệu bệnh cho các bộ phận, cơ quan ngoài nhà trường có biện pháp khắc phục cũng còn hạn chế, chưa mang lại kết quả như mong đợi.
Kết quả khảo sát về thực trạng kiểm tra đánh giá trong hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh trẻ được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.14. Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.14 cho thấy, công tác kiểm tra đánh giá trong hoạt động phòng chống các bệnh cho trẻ được thực hiện hiệu quả, công tác tổ chức các đoàn thanh tra, giám sát hỗ trợ các bộ phận, cá nhân trong nhà trường về kỹ thuật xử lý, phân tuyến điều trị, triển khai các giải pháp, với điểm trung bình trong đánh giá dao động từ 3.37 đến 3.70 điểm, đạt mức 3, và 4 trong thang đo hiệu quả. Tuy nhiên “Tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các ổ dịch cũ, vùng trọng điểm”có điểm trung bình trong đánh giá của giáo viên và cán bộ quản lý 1.71 điểm ở mức 1, mức độ kém, và đối với phụ huynh trẻ 1.74 cũng đạt mức 1, mức độ kém. Qua phỏng vấn một số giáo viên, phần lớn cho rằng “nhà trường tuy tổ chức và thực hiện nhiều biện pháp, phối hợp kiểm tra đánh giá tìm ra những nguyên nhân để khắc phục và phương án phòng bệnh, nhưng trong quá trình thực hiện chưa có sự đồng bộ, công tác kiểm tra mang tính đối phó, và lúng túng khi có dịch xảy ra, nhất là những nơi có dân cư đông và hay xuất hiện dịch”. Như vậy, trong quá trình thực hiện phòng chống dịch bệnh, các trường cần tăng cường công tác phòng chống dịch ở những vùng có dịch, đông dân cư.
2.5. Thực trạng các yếu tổ ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh trong trường mầm non Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Kết quả khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.15. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.15 cho thấy, các yếu tố khách quan như: “Môi trường kinh tế – xã hội của địa phương; Môi trường sinh hoạt của nhà trường và gia đình; Sự quan tâm, ý thức của gia đình”được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá cao với điểm trung bình từ 3.77 đến 3.98 điểm đạt mức 4, ứng với mức độ khả ảnh hưởng. Như vậy, trong công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bên Cát, tỉnh Bình Dương các trường MN cần quan tâm đến việc xây dựng các biện pháp phòng dịch bệnh cho trẻ gắn liền với tình hình phát triển kinh tế xã nội, phù hợp với điều kiện nhà trường và trong phối hợp giữa các lực lượng giáo dục nhà trường với phụ huynh trẻ nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phát hiện, xây dựng kế hoạch và phương án phòng chống hiệu quả, giúp trẻ phát triển toàn diện.
Ngoài ra, các yếu tố chủ quan như “Vai trò, năng lực của giáo viên; Sự liên kết giữa gia đình và nhà trường; Thiết bị Y tế trong nhà trường”các yếu tố cũng được đánh giá cao với điểm trung bình ứng với mức 4, mức độ khá ảnh hưởng đến hiệu quả trong công tác phòng dịch bệnh cho trẻ. Bởi lẽ, sự nhiệt tình, khả năng suy luận và phát hiện bệnh của trẻ sớm sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc báo cáo, cập nhật thông tin kịp thời đến từng bộ phận và có những biện pháp phối hợp tốt với gia đình trong chăm sóc, phòng bệnh cho trẻ tốt hơn. Bên cạnh đó, trang thiết bị y tế trong nhà trường đầy đủ sẽ giúp các bộ phận theo dõi, phòng và chăm sóc khi trẻ bị bệnh hiệu quả.
2.6. Đánh giá chung công tác quản lý hoạt động phòng cống dịch bệnh cho trẻ trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát
2.6.1. Ưu điểm
Các trường trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có đội ngũ giáo viên trẻ, yêu nghề, chịu khó trong quá trình tham gia các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như trong hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh trẻ luôn quan tâm đến hoạt động phòng bệnh của nhà trường cũng như luôn có ý thức chấp hành quy định và mục đích quan trọng của công tác phòng bệnh cho trẻ mang lại. Các trường đã thực hiện khá về những nội dung trong phòng bệnh thường gặp cho trẻ với những hình thức như: thường xuyên cập nhận thông tin, tổ chức tuyên truyền, tích cực đảm bảo trong vệ sinh môi trường trẻ.
Trong công tác quản lý, các trường đã xây dựng kế hoạch thực hiện bổ sung, trang thiết bị y tế, cơ số thuốc thiết yếu và dự trù hoá chất dung dịch phòng chống dịch bệnh, xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh chung, cũng như kế hoạch kiểm tra, bổ sung trang thiết bị theo dõi phòng chống dịch cho trẻ. Đồng thời, trong công tác tổ chức và chỉ đạo cũng mang lại hiệu quả cao trong đôn đốc, động viên các bộ phận giữ gìn vệ sinh, đảm bảo an toàn cho trẻ và thực hiện nghiêm trong phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại trường.
2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
Bên cạnh những ưu điểm trong công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ, các trường đã gặp một số hạn chế, khó khăn như:
- Các trường còn hạn chế trong thực hiện nội dung hoạt động phòng ngừa bệnh sởi, bệnh quai bị, tiêu chảy, cảm cúm và viêm đường hô hấp;
- Hình thức phối hợp với y tế trường học và cơ quan y tế địa phương để nắm tình hình dịch bệnh trên địa bàn còn nhiều hạn chế, cũng như trong công tác phối hợp cùng phụ huynh giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hằng ngày hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh;
- Các trường hạn chế trong tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các ổ dịch cũ, vùng trọng điểm;
- Kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học còn hạn chế; các trường chưa xây dựng hiệu quả kế hoạch bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên biện pháp phòng chống dịch bệnh theo mùa;
- Trong tổ chức thực hiện kế hoạch, các trường chưa thường xuyên cập nhật tình hình học sinh nghỉ học do mắc các bệnh truyền nhiễm và báo ngay cho Phòng GD&ĐT, trạm Y tế xã khi thấy xuất hiện các ca bệnh trong nhà trường; Chưa thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh về Y tế địa phương; Phòng GD-ĐT; Trung tâm Y tế dự phòng xử lý kịp thời không để lây lan trong trường học;
- Các trường còn hạn chế trong chỉ đạo phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và các lớp, giữa nhà trường với phụ huynh học sinh và các cơ quan hữu quan;
- Công tác kiểm tra thực hiện tốt kế hoạch, giao nhiệm vụ cũng như trong kiểm tra chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh cho các cơ quan địa phương liên quan còn hạn chế trong quá trình thực hiện.
Tiểu kết chương 2
Trong chương này, người nghiên cứu đã phân tích thực trạng trong công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Kết quả phân tích cho thấy, quá trình thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường cũng như trong công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có nhiều thuận lợi và những ưu điểm cần được phát huy và nhân rộng, nhưng bên cạnh đó công tác phòng dịch bệnh cho trẻ MN vẫn tồn tại nhiều hạn chế phải được khắc phục trong thời gian tới. Ngoài những hạn chế về việc thực hiện nội dung, hình thức, kiểm tra đánh giá trong hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ đối với đội ngũ giáo viên mà những hạn chế thiếu sót còn thể hiện trong quá trình thực hiện xây dựng kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra đánh giá trong công tác thực hiện hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường MN trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Từ kết quả nghiên cứu trên, người nghiên cứu đã xây dựng những biện pháp phù hợp nhằm khắc phục hạn chế thiếu sót từ thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ mầm non tại các trường. Mỗi biện pháp được thể hiện trong chương 3 với mục tiêu, nội dung, cách thực hiện và điều kiện thực hiện cụ thể góp phần nâng cao chất lượng trong giáo dục trong trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương. Luận văn: Thực trạng quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ MN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

