Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây dựng được nền văn hóa phong phú, đa dạng, mang tính đặc trưng và độc đáo. Các giá trị văn hóa ấy được tạo nên từ các hoạt động vật chất và tinh thần của mỗi con người Việt Nam qua lịch sử phát triển hàng nghìn năm của dân tộc. Đã góp phần khẳng định với các quốc gia, các dân tộc khác trên thế giới một đất nước, một dân tộc Việt Nam có ý chí mạnh mẽ, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm; cần cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó trong quá trình học tập, lao động. Góp phần hình thành nên nền văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc (VHDT) của Việt Nam, còn có sự đóng góp của văn hóa 54 dân tộc anh em trên dãi đất hình chữ S. Mỗi dân tộc đều có bản sắc đặc trưng riêng của mình và chính sự thống nhất, hòa quyện vào nhau của các giá trị văn hóa 54 dân tộc ấy đã tạo ra một dân tộc Việt Nam có văn hóa đặc trưng và độc đáo.
Hiện nay, quá trình hội nhập và phát triển của đất nước diễn ra mạnh mẽ, từ đó, những luồng văn hóa ngoại lai ngày càng xâm nhập sâu rộng vào đời sống xã hội. Bên cạnh những giá trị văn hóa mới mang tính tích cực thì cũng có nhiều giá trị văn hóa tiêu cực gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hóa truyền thống. Lối sống cá nhân, ích kỉ, tự tư, tự lợi ngày càng làm phai mờ nét đẹp “lá lành đùm lá rách”, những sản phẩm văn hóa phẩm đồi trụy, các trang web đen tràn lan trên mạng internet, những phim ảnh đầy cảnh bạo lực đã ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống của thế hệ trẻ, làm gia tăng các loại tội phạm trong xã hội, đặc biệt ở lứa tuổi vị thành niên. Đáng chú ý và lo ngại là nguy cơ phai mờ, biến dạng bản sắc VHDT. Do vậy, việc giáo dục VHDT cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài.
Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong công cuộc xây dựng đất nước, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội X (2006) của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.
Ngày 12/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1909/QĐ-TTg Về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, trong đó nêu rõ mục tiêu chung: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, các đối tượng chính sách và yếu thế; chú trọng phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 01/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường triển khai công tác xây dựng văn hóa học đường, trong đó nêu rõ “Giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên về tình cảm, tình yêu quê hương đất nước; bảo tồn những giá trị văn hóa, lịch sử của cộng đồng các dân tộc; xây dựng, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam”. Như vậy, xây dựng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và qui định trong các văn bản pháp lý. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Thông tư số 04/2023/TT-BGDĐT ngày 23/02/2023 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú, nhiệm vụ giáo dục văn hóa dân tộc được quy định rõ tại Điều 14, Khoản 1, 2: “1. Trường PTDTNT tổ chức các hoạt động giáo dục quy định tại Điều lệ trường trung học để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, đồng thời tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường các kỹ năng cho học sinh dân tộc nội trú; 2. Hoạt động giáo dục đặc thù trong trường PTDTNT bao gồm các hoạt động giáo dục về văn hóa các dân tộc, nghề truyền thống, giáo dục kỹ năng sống phù hợp với học sinh dân tộc nội trú”.
Tại Ninh Thuận, các trường phổ thông nói chung và trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) nói riêng đã triển khai giáo dục văn hóa dân tộc (GDVHDT) cho học sinh và đạt được một số kết quả tích cực nhất định. Hầu hết các trường đều có tổ chức tích hợp nội dung GDVHDT cho học sinh qua các môn học, qua giáo dục kĩ năng sống. Tuy nhiên, giáo dục văn hóa dân tộc còn chưa được quan tâm đúng mức, thường xuyên; việc thực hiện còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội và các tổ chức đoàn thể trong trường học thiếu chặt chẽ; nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở một số nơi còn bất cập, thiếu hấp dẫn. Công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cán bộ quản lý (CBQL) nhà trường về giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh chưa cụ thể, nội dung và hình thức tổ chức giáo dục còn hạn chế, chưa đạt quả tốt.
Xuất phát từ những lý do trên và mong muốn của bản thân tìm được biện pháp cần thiết, khả thi để quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh, tôi chọn đề tài nghiên cứu về “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường PTDTNT, đề tài khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận, từ đó đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận, góp phần vào việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
- Quản lý các hoạt động giáo dục cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
- Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung đi sâu phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận. Chủ thể quản lý là hiệu trưởng trường PTDTNT.
- Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng tại 05 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận gồm: Trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) Trung học cơ sở (THCS) Ninh Sơn, Trường PTDTNT THCS Ninh Phước, Trường PTDTNT THCS Thuận Bắc, Trường PTDTNT Pi Năng Tắc và Trường PTDTNT THPT Ninh Thuận.
- Phạm vi về thời gian: Tiến hành khảo sát thực trạng từ năm học 2021-2022 đến năm học 2022-2023.
5. Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận đã đạt được một số kết quả nhất định về hình thức tổ chức, chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục qua các môn học và hoạt động giáo dục khác. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được chú trọng, còn hạn chế, bất cập về thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh. Nếu khảo sát, đánh giá đúng thực trạng về công tác quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận thì người nghiên cứu có thể đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận có tính cần thiết và khả thi cao, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở trường phổ thông dân tộc nội trú.
- Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài này, người nghiên cứu phối hợp sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Phương pháp nghiên cứu lý luận được sử dụng để nghiên cứu tài liệu như: sách, giáo trình, báo, tạp chí khoa học chuyên ngành, đề tài, luận văn, các văn kiện của Đảng và Nhà nước…để thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu. Trong đề tài này tác giả sử dụng nhiều nhất là phương pháp đọc tài liệu liên quan đến đề tài này với phân tích – tổng hợp tài liệu, phân loại tài liệu. Từ đó, hệ thống hóa cơ sở lí luận của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Sử dụng phiếu hỏi để ghi nhận những đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận, thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú. Người nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp này để khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất.
Nội dung: Trong đề tài này người nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên đơn với số lượng cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh của 05 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận phù hợp, phản ánh được tổng thể.
Cách thức tiến hành: Trong đề tài sử dụng bảng hỏi cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh 05 trường phổ thông dân tộc nội trú. Sau khi đã chọn được mẫu, tiến hành phát phiếu khảo sát.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích: Lấy ý kiến trực tiếp của các nhà quản lý giáo dục và giáo viên về thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh và quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận nhằm so sánh, đối chiếu với dữ liệu từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Nội dung: Trong phạm vi đề tài này người nghiên cứu sử dụng phỏng vấn sâu cán bộ quản lý bao gồm hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên của 05 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú.
Cách thức tiến hành: tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý và giáo viên ở 05 trường phổ thông dân tộc nội trú, cụ thể như sau: Mỗi trường người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, hai tổ trưởng chuyên môn và giáo viên.
7.2.3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động
Thông qua kế hoạch hoạt động, hồ sơ quản lý, kế hoạch giáo dục của giáo viên ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận để thu thập thông tin, đánh giá thực trạng. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Phương pháp này dùng để điều tra, khảo sát tình hình thực hiện công tác GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT cũng như thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận hiện nay, tạo tiền đề cho việc đề xuất biện pháp quản lý mang tính thực tiễn và khả thi cao.
7.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 20 và phần mềm Microsoft Office Excel 2010 để tính các giá trị như sau: tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tính % để mô tả kết quả thực trạng, vẽ biểu đồ…Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được từ quá trình điều tra.
Mục đích: Xử lý các dữ liệu sau khi tiến hành khảo sát nhằm đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận. Từ đó đưa ra những biện pháp cần thiết và khả thi về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú.
Nội dung: Đối với dữ liệu định lượng: sử dụng phương pháp thống kế toán học bằng phần mềm SPSS để phân tích những dữ liệu về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận với các tần số, tần suất, giá trị tần suất, điểm trung bình (TB) và độ lệch chuẩn (ĐLC).
Đối với dữ liệu định tính: các cuộc phỏng vấn sẽ được phân tích bằng phương pháp trích lọc nội dung theo từng phần nghiên cứu. Các nội dung này được sử dụng phối hợp với dữ liệu định lượng để làm rõ hơn thực trạng nghiên cứu.
Cách thức tiến hành:
- Đối với dữ liệu định lượng: Sau khi thu phiếu khảo sát, người nghiên cứu tiến hành nhập và xử lý dữ liệu bằng phương pháp thống kê toán học phần mềm SPSS.
- Đối với dữ liệu định tính: Phân tích dữ liệu thu thập được bằng phương pháp trích lọc nội dung, đối chiếu để làm rõ một số nội dung từ kết quả định lượng.
8. Đóng góp của đề tài luận văn Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú.
Về thực tiễn: Đề tài là cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà quản lý xây dựng các kế hoạch, chính sách nhằm quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận ngày càng tốt hơn. Đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu đề tài này.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường phổ thông dân tộc nội trú.
- Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận.
- Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Ở mỗi quốc gia đều có truyền thống lịch sử, nền văn hóa riêng cho nên giáo dục ở mỗi nước đều có những nét độc đáo riêng:
Trung Quốc đặt ra mục tiêu của cải cách giáo dục là làm cho học sinh nắm được kiến thức, có lòng yêu nước và quý trọng văn hóa dân tộc, tinh thần trách nhiệm với xã hội, có tinh thần nhân văn, có tâm hồn và thể chất khỏe mạnh. Trung Quốc cho rằng, sự phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc hiện nay đã đến giai đoạn phải chuyển hướng đòi hỏi đối với giáo dục, từ chỗ trước đây đặt trọng tâm chú ý nhiều đến giáo dục nền tảng, đại chúng thì nay phải chuyển trọng tâm chú ý sang giáo dục đào tạo đội ngũ nhân tài cho mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước (Nguyễn Trần Bạt, 2005).
Nhật Bản, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, giáo dục đa văn hóa (multicultural education) bắt đầu được quan tâm. Đặc biệt, kể từ khi UNESCO đưa ra khuyến cáo về giáo dục hiểu biết, hợp tác quốc tế vào năm 1974, thì “giáo dục hiểu biết quốc tế” của Nhật Bản trong chương trình phổ thông chuyển trọng tâm từ “hiểu biết về nước khác” sang “lý giải đa văn hóa”. Theo đó, học sinh được tìm hiểu văn hóa của những tộc người sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Nhật Bản và cả văn hóa của những dân tộc, quốc gia khác ngoài người Nhật, nước Nhật; từ đó hình thành nên thái độ tôn trọng sự khác biệt về văn hóa. Họ cho rằng để con người có thể chung sống hòa bình thì việc cùng nhau đối thoại, thừa nhận, lý giải, hiểu biết và tôn trọng đa văn hóa là tất yếu. Trong quan niệm của những người làm chương trình giáo dục và các nhà thực hành giáo dục Nhật Bản, “đa văn hóa” ở đây không phải là văn hóa chung chung, trừu tượng mà là văn hóa ăn, mặc, ở; và giá trị quan của các tập đoàn, nhóm người, cộng đồng đã được hình thành, sở hữu, truyền thừa, chia sẻ qua nhiều thế hệ và bồi đắp nên nền tảng tinh thần của các tập đoàn, nhóm, cộng đồng này. Nói cách khác, họ coi đây là “văn hóa” có “tính thường ngày”. Theo họ, việc tăng cường giáo dục đa văn hóa là một cách hiệu quả để ngăn ngừa, xóa bỏ ý thức phân biệt đối xử đối với văn hóa nước ngoài, tư tưởng bài ngoại ở người Nhật hoặc sự phân biệt đối xử bất công đối với con người, văn hóa đến từ thế giới thứ ba.
Wang Gung-Wu trong cuốn China and Southeast Asia-Myths, threats, and culture (Trung Quốc và Đông Nam Á-Huyền thoại, đe dọa và văn hóa, 1999) đã tìm hiểu về sự giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Đông Nam Á qua những cái mà ông gọi là “những điều thần bí, những mối đe dọa và văn hóa”. Trong cuốn Building Cultural Nationalism in Malaysia: Identily, representation and citizenship (Xây dựng chủ nghĩa dân tộc văn hóa ở Malaysia: Bản sắc, thể hiện và tính công dân, 2004), Timothy Daniels đã phân tích quá trình hình thành văn hóa công dân Malaysia với những giá trị mà tác giả gọi là “chủ nghĩa dân tộc văn hóa”. Để định hướng xã hội, nhà nước Singapore đã tuyên bố “Năm quan điểm chung về giá trị văn hóa đạo đức” mà mọi người dân cần phải noi theo, gồm: (1) Quốc gia trên hết, xã hội đầu tiên; (2) Gia đình là gốc, xã hội là thân; (3) Quan tâm giống nhau, đồng cam cộng khổ; (4) Tìm cái đồng, gạt cái bất đồng, hiệp thương cùng hiểu biết; (5) Chủng tộc hài hòa, tôn giáo khoan dung (Singapore, 1997). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của các tác giả, có thể thấy giáo dục văn hóa dân tộc rất được quan tâm và bị tác động bởi rất nhiều yếu tố. Có thể kể đến như: kinh tế, các mối quan hệ tiếp biến giữa các nền văn hóa, giữa trong và ngoài nước, giữa yếu tố lịch sử và đương đại trong quá trình phát triển và hội nhập.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia với lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, có 54 dân tộc cùng chung sống. Với bề dày lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự phong phú trong đời sống vật chất, tinh thần và sự đa dạng về các tộc người cùng chung sống xen kẻ, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để phát triển đã tạo nên một bản sắc văn hóa Việt Nam vô cùng độc đáo.
Để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa ấy, nhiều Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Nhà nước đã đề cập đến giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t1, tr.143).
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào với phong trào cách mạng Việt Nam, chú trọng đến việc giáo dục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Điều đó được thể hiện trong các tác phẩm của Người (Hồ Chí Minh, 1970, 1992). Người đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hóa là “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” (Hồ Chí Minh, 1996). Quan điểm của Người được thể hiện rõ ràng “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu” (Hồ Chí Minh, 1996).
Người yêu cầu phải biết giữ gìn vốn văn hóa quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hóa dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Người nêu rõ sức mạnh đặc biệt của văn hóa đối với sự phát triển của dân tộc “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Người khẳng định: “Trong sự nghiệp kiến thiết đất nước, có bốn lĩnh vực cần phải coi trọng ngang nhau là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội”. Đó là quan điểm nhất quán thể hiện tầm nhìn thời đại của Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Người mà sau này Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017).
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ở các góc độ tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả, tác phẩm trong nước như “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” (Trần Văn Giàu, 1980), tác phẩm: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (Trần Ngọc Thêm, 1999, 2001); đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hóa học. Với quan điểm dân tộc học, GS.TS. Phan Hữu Dật có tác phẩm “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam” (Phan Hữu Dật, 2004). Tác giả Nguyễn Hồng Hà “Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo dục thế hệ trẻ ” (Nguyễn Hồng Hà, 2001). Bên cạnh đó, có một số đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về giáo dục văn hóa dân tộc. Có thể kể đến một số nghiên cứu sau: tác giả Phạm Đức Long (2009) với đề tài “Biện pháp quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La”. Đề tài “Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên” của Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên (2012). Tác giả Phạm Lệ Thanh (2014) với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên”. Tác giả đã trình bày Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú. Phân tích thực trạng hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Điện Biên. Tác giả Trần Quý (2020) với đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh tại các trường Phổ thông dân tộc bán trú huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam”. Đề tài đã phát hiện, đánh giá được thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh tại các trường Phổ thông dân tộc bán trú huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh tại các trường Phổ thông dân tộc bán trú huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam.
Như vậy đã có các tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó. Cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giữ gìn văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập nhưng đối tượng không phải là giáo dục học sinh.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi, chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Tôi hi vọng rằng, những đóng góp của đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận” góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh phổ thông dân tộc nội trú nói chung và PTDTNT tỉnh Ninh Thuận nói riêng.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
1.2.1. Khái niệm trường phổ thông dân tộc nội trú
Trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) được Nhà nước thành lập cho học sinh là người dân tộc thiểu số, học sinh thuộc gia đình định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm mục tiêu tạo nguồn đào tạo nhân lực có chất lượng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023).
1.2.2. Khái niệm hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
1.2.2.1. Khái niệm giáo dục
Đa số các giáo trình giáo dục học Việt Nam đều cho rằng “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” (Phạm Viết Vượng, 2000).
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ.
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
Như vậy, giáo dục là hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm mà các thế hệ trước đó đã tích lũy được, hình thành nhân cách của con người theo những yêu cầu của xã hội, chuẩn bị cho họ có kiến thức, tâm thế tham gia vào cuộc sống xã hội và hoạt động lao động sản xuất.
1.2.2.2. Khái niệm văn hóa, văn hóa dân tộc
Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần xã hội tạo ra và thể hiện trình độ phát triển nhất định của xã hội.
Tháng Tám năm 1943, Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.458). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam đã định nghĩa văn hoá: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 1999). Trong luận văn, người nghiên cứu sử dụng khái niệm văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm như đã trình bày ở trên.
Văn hóa dân tộc bao gồm giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc sáng tạo trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó. Tùy tình hình vận động và phát triển của mỗi dân tộc mà quy mô và bề dày sáng tạo văn hóa của từng dân tộc có khác nhau. Dù vậy thì mỗi dân tộc có những giá trị sáng tạo riêng, tình hình văn hóa mang tính đặc trưng và đều khẳng định sức sống mãnh liệt của những sáng tạo ấy.
Như vậy, văn hóa dân tộc là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần mang bản sắc riêng của dân tộc, do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Từ các khái niệm trình bày ở trên, theo tác giả: Hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục trong truyền thụ các giá trị vật chất và tinh thần mang bản sắc riêng của dân tộc cho học sinh trong nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường.
1.2.3. Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Quản lý là việc quản trị của một tổ chức, cho dù đó là một doanh nghiệp, một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Thuật ngữ “quản lý” cũng có thể chỉ những người quản lý một tổ chức.
Như vậy, quản lý là hệ thống những tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức. Từ khái niệm hoạt động GDVHDT và khái niệm quản lý, theo tác giả luận văn: Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhằm tổ chức các hoạt động GDVHDT cho học sinh trong nhà trường để đạt được mục tiêu GDVHDT đề ra.
Quản lý hoạt động giáo dục hóa dân tộc bao gồm nhiều nội dung: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua hoạt động dạy học; Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp; Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua xây dựng môi trường văn hoá nhà trường.
1.3. Lý luận về giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
1.3.1. Đặc điểm của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
- Đặc điểm tình cảm của học sinh dân tộc
Học sinh dân tộc có đặc điểm tâm lí chung như những học sinh phổ thông khác. Song bên cạnh đó, các em cũng có những đặc điểm riêng. Theo tác giả Nguyễn Văn Sáng thì đặc điểm tình cảm của học sinh dân tộc như sau:
Tình cảm của các em học sinh dân tộc rất chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, không có hiện tượng quanh co. Tình cảm của các em rất thầm kín, ít bộc lộ ra ngoài. Chúng ta khó thấy học sinh dân tộc biểu lộ tình cảm của mình một cách rõ rệt, sôi nổi, mạnh mẽ. Sự biểu lộ tình cảm tương đối ổn định, kéo dài đến các lứa tuổi sau, thậm chí cả những thanh niên trưởng thành.
Các em học sinh dân tộc ở trường PTDTNT còn những nét ngây thơ, chưa nhận biết rõ ràng tình cảm và hành vi của mình, cũng như chưa biết xây dựng mối quan hệ với bạn khác giới. Do vậy, các em cần được giúp đỡ để hiểu đúng đắn về sự phát triển tình cảm, không làm cho các em e ngại, xấu hổ, bi quan dẫn đến bỏ học. Đây cũng là lứa tuổi khó khăn về tâm lí, đặc biệt là vấn đề tình cảm. Tình cảm của các em còn mang tính bồng bột, dễ xúc động, dễ vui buồn, nếu bị trách mắng không đúng dễ gây sự tổn thương cho các em. Hoặc một lời phê bình của thầy cô giáo, hay bị yêu cầu nhận khuyết điểm một cách thô bạo thì dễ nảy sinh những phản ứng khó lường từ học sinh (Hoàng Gia Trang, 2015).
- Đặc điểm tính cách của học sinh dân tộc
Tính cách của học sinh dân tộc cũng có đặc điểm chung của tâm lí lứa tuổi, song cũng có một số đặc điểm tính cách riêng như sau:
Các em sống rất hồn nhiên, giản dị, thật thà, chất phác. Trong quan hệ với mọi người, các em rất trung thực, ít có sự gian dối. Các em thường nghĩ thế nào thì nói ra tương ứng, không có thêm bớt nội dung câu chuyện. Vốn mộc mạc, chân thành nên các em muốn mọi người tôn trọng các em trong mọi trường hợp và không muốn ai xúc phạm mình.
Nét tính cách khác điển hình của học sinh dân tộc là rụt rè, ít nói, tự ti và ngại giao tiếp với người lạ.
Học sinh dân tộc có lòng tự trọng cao, đặc biệt là hay tự ái và tủi thân. Nếu các em cảm thấy mình không được tôn trọng, hoặc thái độ đối xử của giáo viên không thân thiện thì có thể dẫn đến việc các em sẽ bỏ học.
Một đặc điểm tính cách quan trọng nữa của học sinh dân tộc là dễ tin người, song cũng dễ nghi ngờ. Khi các em đã tin tưởng ai thì dường như không có bất cứ sự e ngại nào nữa. Tuy nhiên, nếu các em phát hiện ra mình bị lừa dối thì niềm tin đó không thể nào lấy lại được nữa. Học sinh dân tộc không ưa dối trá mà thường là thẳng thắn, chân thật. Khi đã tin và yêu quý ai thì sẵn sàng giúp đỡ người khác nhiệt tình (Hoàng Gia Trang, 2015). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
- Đặc điểm giao tiếp của học sinh dân tộc
Trong giao tiếp, học sinh dân tộc ít người bộc lộ cảm xúc rõ rệt, song thiếu kĩ năng định vị. Khi giao tiếp với người thân, với bạn bè, các em đều thẳng thắn, bình đẳng, lời nói ít quan tâm đến chủ ngữ. Gặp người lạ, các em khó tiếp xúc, ngại trao đổi, chủ yếu là tò mò, quan sát. Kĩ năng định hướng trong giao tiếp của học sinh dân tộc ít người chưa được định hình chắc chắn. Mặc dù sinh sống với nhiều dân tộc khác, song điều này không làm biến đổi nhiều về phong cách giao tiếp của học sinh dân tộc.
Như vậy, có thể thấy, trong giao tiếp, học sinh dân tộc thường rụt rè, chưa mạnh dạn trong các hoạt động, chưa chủ động trong các mối quan hệ giao tiếp. Điều này cản trở sự tiếp xúc và thiết lập các mối quan hệ mới (Hoàng Gia Trang, 2015).
- Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh dân tộc
Ngoài các đặc điểm tâm sinh lí chung của lứa tuổi trung học phổ thông, học sinh PTDTNT còn có những đặc điểm riêng: Ở lứa tuổi này về thể lực học sinh dân tộc thiểu số có phần trội hơn học sinh người Kinh. Trong quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội, các em coi trọng tín nghĩa, thẳng thắn, yêu ghét rạch ròi, các em yêu lao động, quý trọng thầy trò, tình bạn trung thực, gắn bó, trong học tập và rèn luyện ở môi trường nội trú, phần lớn các em có tâm lý tự ti, mặc cảm, hay đôi khi có tính tự ái dân tộc khá cao, tính cách này thể hiện nhiều trong các sinh hoạt tập thể vui chơi giải trí. Vì là học sinh dân tộc thiểu số có ngôn ngữ, phong tục tập quán sinh hoạt riêng, hơn nữa, khả năng tư duy và nhận thức có mặt hạn chế nên còn tư tưởng ngại học, sợ học; các em thường thích sống tự do, không thích bị ràng buộc bởi nề nếp, quy định tập thể, nhiều thói quen chưa tốt như tác phong lề mề, chậm chạp, thiếu ngăn nắp. Tình cảm của học sinh dân tộc thiểu số thầm kín, ít biểu hiện ra ngoài một cách mạnh mẽ, khi hòa nhập với cuộc sống tập thể các em còn bỡ ngỡ, lúng túng (Hoàng Gia Trang, 2015).
Các đặc điểm của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trình bày trên đây đòi hỏi các nhà giáo dục cần chú ý trong quá trình GDVHDT cho học sinh.
1.3.2. Ý nghĩa của hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú là hoạt động có ý nghĩa quan trọng:
- Hoạt động GDVHDT góp phần giáo dục toàn diện học sinh cả về trí, đức, thể, mỹ.
- Hoạt động GDVHDT nâng cao hiểu biết của học sinh về các giá trị VHDT, bồi dưỡng ở học sinh tình cảm trân trọng, yêu quý các giá trị văn hóa truyền thống, hình thành ý thức trách nhiệm giữ gìn và phát huy bản sắc VHDT.
- Hoạt động GDVHDT giúp học sinh được tiếp cận, giao lưu học hỏi với các giá trị văn hóa, hiện tượng văn hóa của các dân tộc khá
1.3.3. Mục tiêu giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Giáo dục VHDT cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa. Đảng ta xác định: “Văn hóa là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hóa”, vì vậy “phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được công cuộc cải tạo xã hội” và “Đảng tiên phong phải lãnh đạo văn hóa tiên phong”; đồng thời, đề ra ba nguyên tắc cuộc vận động văn hóa mới: Dân tộc, đại chúng, khoa học. Đặc biệt, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng xác định một trong sáu đặc trưng của xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”. Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm cho thế giới quan Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Đồng thời, kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người; chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Bảo vệ và phát huy giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.143).
Giáo dục VHDT là góp phần phát triển bền vững nhân cách cho thế hệ trẻ nói chung, học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú nói riêng. Chính vì thế, trong điều kiện hiện nay, để “bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” và hình thành mẫu hình người thanh niên của thời kỳ mới: vừa biết giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa biết làm giàu văn hóa dân tộc bằng những giá trị, những tinh hoa văn hóa nhân loại, là hiện thân tiêu biểu của các giá trị văn hóa Việt Nam…, tham gia tích cực và có hiệu quả việc giữ gìn và phát huy VHDT, để làm được điều đó cần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống và VHDT, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho thanh niên. Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên thông qua việc đẩy mạnh các phong trào thi đua. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi để thế hệ trẻ, học sinh học tập, rèn luyện. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
GDVHDT góp phần thực hiện giáo dục hòa nhập và thân thiện. Trường PTDTNT tạo điều kiện để học sinh được thể nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đồng thời giúp học sinh tiếp xúc, giao lưu văn hóa của các dân tộc khác. Thông qua các hoạt động đó, học sinh sẽ hiểu biết nhau, tôn trọng nhau và thật sự sống với nhau bằng thái độ và tình cảm thân thiện. Nhờ giáo dục văn hóa mà học sinh có được một môi trường tập thể trong lành, giúp các em gắn bó với nhau, cùng nhau trưởng thành.
GDVHDT trong trường PTDTNT góp phần thực hiện bảo tồn và phát triển VHDT. Mỗi học sinh trường PTDTNT là đại diện văn hóa của một dân tộc, một vùng quê. Trường PTDTNT tạo điều kiện để học sinh được tiếp xúc và thể nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình để mạch chảy văn hóa không ngừng được nuôi dưỡng và lớn mạnh. Trường PTDTNT tổ chức các hoạt động tìm hiểu, thể hiện, giao lưu văn hóa để học sinh trao đổi học tập và cùng tham gia vào việc bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa mà học sinh trường PTDTNT vẫn là người con của dân tộc, hiểu biết và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.
1.3.4. Nội dung giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục trong việc truyền thụ các giá trị vật chất và tinh thần mang bản sắc riêng của dân tộc cho học sinh trong nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường. Hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh tại trường PTDTNT là hoạt động giáo dục đặc thù. Khoản 2, điều 14 Qui chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT nêu rõ: Hoạt động giáo dục đặc thù trong trường PTDTNT bao gồm các hoạt động giáo dục về văn hóa các dân tộc, nghề truyền thống, giáo dục kỹ năng sống phù hợp với học sinh dân tộc nội trú (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023).
Khoản 3, Điều 14 Thông tư số 04/2023/TT-BGDĐT ngày 23/02/2023 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú, quy định về hoạt động giáo dục đặc thù như sau: “Hằng năm, trường PTDTNT xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù thông qua các hình thức: sinh hoạt tập thể, văn nghệ, thể thao, câu lạc bộ, giao lưu với các trường phổ thông và lao động, trải nghiệm hướng nghiệp có hướng dẫn của giáo viên, nhân viên nhà trường” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023).
Những nội dung giáo dục VHDT cho học sinh trường PTDTNT rất phong phú bao gồm các phương diện văn hóa, các giá trị văn hóa. Cụ thể như sau:
- Giáo dục học sinh về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số
Truyền thống của dân tộc và bản sắc VHDT của các dân tộc thiểu số thể hiện qua chữ viết, phong tục, tập quán, kiến trúc nhà cửa, nơi sinh hoạt cộng đồng, các nghề thủ công mỹ nghệ, trang phục, ẩm thực, âm nhạc, múa hát, trò chơi dân gian…
- 1- Chữ viết: đưa chương trình dạy tiếng dân tộc Chăm, Raglai vào dạy trong nhà trường.
- 2- Lễ tục: Lễ hội (lễ tết cổ truyền, lễ hội dân gian), nghi lễ tín ngưỡng, tập tục (cưới xin), tập quán (tập quán cư trú, tổ chức cộng đồng, nghi thức giao tiếp). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
- 3- Kiến trúc: Kiến trúc nhà ở, nơi sinh hoạt cộng đồng (nhà sàn, nhà văn hóa), nơi thờ tự (đình, chùa, tháp, miếu).
- 4- Thủ công mỹ nghệ: Các nghề thủ công truyền thống (dệt thổ cẩm, gốm), các làng nghề truyền thống.
- 5- Trang phục truyền thống: Y phục của nam và nữ (quần áo, khăn), đồ dùng sinh hoạt.
- 6- Ẩm thực: Văn hóa ăn, uống, các món ăn truyền thống.
- 7- Ngôn ngữ: Ngữ, từ vựng, ngữ pháp, phong cách.
- 8- Văn học: Văn học dân gian. + Thần thoại, sử thi, truyền thuyết. + Truyện cổ tích, truyện cười, thơ. + Ca dao, tục ngữ.
- 9- Âm nhạc: Dân ca, nhạc dân gian, nhạc cụ truyền thống.
- 10- Vũ: Các điệu múa dân gian.
- 11- Trò chơi: Các trò chơi dân gian.
Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc, về xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao nhận thức cho học sinh về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động giáo dục VHDT.
Công tác dân tộc trong giai đoạn mới được Đảng đánh giá, nhìn nhận một cách khoa học, khách quan, đó là: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, 2003).
Tập trung tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc qua bản Hiến pháp 2013. Hiến pháp năm 2013, tại các Điều có nêu như: Điều 5, Khoản 2 “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”; Khoản 4 “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”; Điều 58, Khoản 1 “…có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn”; Điều 61, Khoản 3 “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và các vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn…”; Điều 70, Khoản 5 “…Quốc hội quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước”.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều chính sách lớn về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã được ban hành thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, như Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội khóa XIV về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030; Quyết định số 1014/QĐ-TTg ngày 14/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình MTQG phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030.
- Giáo dục ứng xử văn hóa trong môi trường học tập và sinh hoạt đa văn hóa cho học sinh PTDTNT
Mỗi học sinh trường PTDTNT là đại diện văn hóa của một vùng quê, một dân tộc. Các em khác biệt về nhận thức, văn hóa, nếp sống, ứng xử,…Các em được học tập, sinh hoạt trong môi trường nội trú. Chính vì vậy cần thiết phải giáo dục lối ứng xử văn hóa cho các em phù hợp với nét đẹp của VHDT. Các nội dung giáo dục văn hóa ứng xử có thể cụ thể như: khiêm tốn, thật thà, cần cù, sáng tạo, có ý chí vươn lên; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; quan niệm đúng đắn về tình bạn, tình yêu; bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường; phòng tránh các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; văn hóa ứng xử, giao tiếp với bạn bè, thầy cô.
- Giáo dục học sinh thái độ trân trọng di sản văn hóa dân tộc, bảo tồn và phát triển văn hóa và truyền thống dân tộc
Trường PTDTNT cần trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, những hiểu biết về vốn văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, tổ chức hoạt động trưng bày, giới thiệu về các lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, trò chơi dân gian, dân ca, dân vũ và các đặc sản địa phương… Qua đó, học sinh có thái độ trân trọng các di sản VHDT, từng bước hình thành ở học sinh lòng tự hào dân tộc, thái độ tự tin khi giới thiệu những giá trị văn hóa của dân tộc mình với các dân tộc khác, làm nên tiếng nói đa dạng, phong phú trong nền văn hóa thống nhất của dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng môi trường học tập và sinh hoạt đậm đà bản sắc dân tộc; tổ chức đời sống nội trú văn minh, tiến bộ phù hợp với truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Học sinh trường PTDTNT học tập, sinh hoạt cả ngày trong trường nên cách bài trí, sắp xếp chỗ ăn, ở, ngủ, nghỉ của học sinh cần tạo nên sự thân thiện và gần gũi với kiến trúc VHDT ở quê nhà. Sử dụng một số vật liệu, vật phẩm VHDT để trang trí, trưng bày, phối cảnh hình thành nét đẹp thẩm mỹ và đậm đà bản sắc với môi trường xung quanh…
1.3.5. Phương pháp, hình thức giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
1.3.5.1. Phương pháp giáo dục
Giáo dục VHDT chủ yếu được thực hiện trong lồng ghép, tích hợp trong các môn học và tích hợp trong các chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa. Thực hiện tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức VHDT và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học để học sinh nhận thức và thực hành vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong đó có thực tiễn VHDT.
Nhờ tích hợp mà các bộ môn đều có thể tham gia vào việc GDVHDT cho học sinh.
Trong đó, việc tích hợp GDVHDT có hiệu quả nhất là các môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân (Giáo dục kinh tế và pháp luật), Sinh học, Công nghệ.
Các phương pháp được sử dụng phổ biến trong giáo dục VHDT là:
- Thuyết trình về VHDT, lồng ghép, tích hợp giáo dục VHDT qua các môn học;
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, tham quan, khảo sát tìm hiểu thực tế tại các bản làng;
- Thảo luận, trao đổi khai thác kinh nghiệm thực tế, truyền thống văn hóa vốn có của học sinh;
- Tổ chức cho học sinh sưu tầm ca dao, dân ca các dân tộc thiểu số, tìm hiểu về các loại nhạc cụ dân tộc, học cách sử dụng một số loại nhạc cụ dân tộc, tìm hiểu văn hóa ẩm thực của các dân tộc;
- Tổ chức tết dân tộc, lễ hội, tổ chức các câu lạc bộ (câu lạc bộ múa, câu lạc bộ Mã la…), hội thi bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, hội diễn văn nghệ, thi trình diễn trang phục dân tộc, trưng bày bản sắc văn hóa của các dân tộc;
- Tổ chức giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong trường phổ thông dân tộc nội trú, thực hành các nghề thủ công truyền thống;
- Liên hoan văn nghệ và trò chơi dân gian;
- Mời nghệ nhân trên địa bàn đến truyền dạy văn hóa dân tộc cho học sinh.
1.3.5.2. Hình thức giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Cần tổ chức các hoạt động GDVHDT với các hình thức đa dạng và phong phú. Theo đặc điểm hoạt động của trường PTDTNT, việc tổ chức hoạt động GDVHDT có thể chia thành hai phạm vi hoạt động cơ bản là GDVHDT trong giờ học và GDVHDT ngoài giờ lên lớp. Hai phạm vi này đều thống nhất một mục tiêu nhưng cách thức và phương pháp thì khác nhau.
- Tổ chức hoạt động GDVHDT trong giờ học:
Trong giờ học, GDVHDT được thực hiện qua các môn học với nhiều cách thức, phương pháp khác nhau. Tùy thuộc vào mức độ quan hệ giữa môn học với hiện tượng VHDT mà các môn học tham gia vào việc GDVHDT khác nhau. Nhìn chung cách thức của các môn học tham gia vào GDVHDT theo cách lồng ghép và tích hợp.
Hiện nay, do việc tổ chức dạy học trong trường PTDTNT thống nhất với chương trình phổ thông nên các nội dung giáo dục đặc thù, các nội dung GDVHDT đều không được bố trí chính thức trong chương trình. Việc GDVHDT đều phải thực hiện lồng ghép theo điều kiện và khả năng thực hiện của từng địa phương, từng cơ sở giáo dục. Việc lồng ghép có thể được thực hiện theo các mức độ khác nhau tùy mối quan hệ kiến thức, tùy đặc điểm quy mô của hiện tượng VHDT hoặc tùy khả năng của giáo viên.
Giáo dục VHDT còn được thực hiện trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm: Trong chương trình giáo dục phổ thông, tiết sinh hoạt lớp được quy định như một tiết học bắt buộc; trong đó giáo viên chủ nhiệm được hưởng số tiết kiêm nhiệm theo quy định (4 tiết/tuần) và học sinh thực hiện đủ thời lượng của một tiết học là 45 phút/tiết.
- Tổ chức hoạt động GDVHDT ngoài giờ học:
Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL): học sinh trường PTDTNT được tổ chức học tập, nuôi dạy theo hệ thống quản lý suốt cả ngày tại trường. Ngoài thời gian học sinh học tập trên lớp theo chương trình giáo dục chính thức của cấp học, thời gian còn lại đều là thời gian ngoài giờ lên lớp. Thời gian ngoài giờ lên lớp chiếm dung lượng lớn trong tổng số thời gian của học sinh tại trường PTDTNT. HĐNGLL được tổ chức theo nhiều hình thức, thực hiện nhiều nhiệm vụ giáo dục nhằm nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và phẩm chất đạo đức, hình thành năng lực và kỹ năng sống cho học sinh. Hoạt động ngoài giờ lên lớp giữ vai trò quan trọng trong giáo dục toàn diện học sinh trường PTDTNT. Vì vậy, giáo dục VHDT được thực hiện thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
1.3.6. Điều kiện giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, tài liệu giáo dục: Trường PTDTNT có cơ sở vật chất, thiết bị theo quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú và đảm bảo tiêu chí của trường chuẩn quốc gia, ngoài ra còn có các hạng mục sau:
- Khu nội trú có diện tích sử dụng tối thiểu 6m2/học sinh.
- Phòng ở nội trú, nhà ăn cho học sinh và các trang thiết bị kèm theo.
- Nhà công vụ cho giáo viên.
- Nhà sinh hoạt, GDVHDT với các thiết bị kèm theo.
- Phòng học và thiết bị giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông, nghề truyền thống của các dân tộc phù hợp với địa phương.
Trường PTDTNT phải đảm bảo thư viện trang bị đầy đủ Tạp chí báo ảnh “Dân tộc và Miền núi” với song ngữ Việt – Chăm để giúp học sinh dân tộc Chăm tự hào về nét chữ của dân tộc mình; đồng thời Tạp chí báo ảnh Dân tộc và Miền núi là kho thông tin về nét đẹp văn hóa các dân tộc anh em trong cả nước để học sinh được tìm hiểu, những lễ hội, phong tục, những cảnh đẹp, những gương người tốt, việc tốt của người dân tộc trong học tập rèn luyện, trong xây dựng cuộc sống nhằm khơi gợi lòng tự hào dân tộc trong các em học sinh. Nhà trường cần xây dựng nguồn tài liệu phong phú, cung cấp đầy đủ lượng sách báo và tạp chí phục vụ hoạt động GDVHDT; Trang bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ công tác tuyên truyền, dạy học GDVHDT.
Trường PTDTNT phải đảm bảo có phòng truyền thống, phòng sinh hoạt văn hóa dân tộc trang bị cơ bản các sản vật truyền thống của dân tộc để giáo dục học sinh ý thức cần gìn giữ và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình.
Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội: Nhà trường cần phối hợp với chính quyền địa phương để giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh, với trường PTDTNT chủ yếu là học sinh dân tộc Raglai, do đó nhà trường phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, địa phương mời các nghệ nhân để dạy nhạc cụ truyền thống của dân tộc, như Mã la của dân tộc Raglai. Mã la là nhạc cụ truyền thống có tính “hồn cốt”, gắn liền với đời sống của đồng bào dân tộc Raglai Ninh Thuận. Nhằm góp phần bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số Raglai nói chung và các loại nhạc cụ nói riêng, trong đó có Mã la, trường PTDTNT cần quan tâm về giá trị, ý nghĩa của nhạc cụ Mã la, giúp cho thế hệ trẻ, nhất là học sinh dân tộc thiểu số hiểu rõ hơn về loại nhạc cụ truyền thống của cha ông để lại; giá trị, ý nghĩa, vị trí của Mã la trong đời sống tinh thần của người Raglai, cũng như kỹ thuật cơ bản để chơi mã la. Từ đó thêm trân trọng và nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo tồn và phát huy các loại nhạc cụ truyền thống của dân tộc trong đời sống hiện đại.
Xây dựng môi trường văn hóa: Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, tài liệu và sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để GDVHDT cho học sinh, trường PTDTNT cũng cần quan tâm về môi trường văn hóa của nhà trường. Văn hóa nhà trường là hệ thống các chuẩn mực, giá trị, niềm tin, nghi thức, biểu tượng và những tiểu sử, sự kiện làm nên bộ mặt riêng của nhà trường. Đó là một loạt những kì vọng không viết thành văn được hình thành trong suốt chặng đường phát triển của nhà trường do giáo viên, lãnh đạo nhà trường, cha mẹ và các thế hệ học sinh cùng nhau vun đắp. Nội dung cơ bản của việc xây dựng văn hóa nhà trường: Dựa trên cơ sở của “Các yếu tố cấu thành văn hóa nhà trường” và “Các yếu tố ảnh hưởng văn hóa nhà trường” có thể xác định các nội dung cơ bản của việc xây dựng văn hóa nhà trường, đó là:
- Các mục tiêu và chính sách, các chuẩn mực và nội quy.
- Biểu tượng, các giá trị truyền thống của nhà trường.
- Niềm tin, các loại thái độ, cảm xúc và ước muốn cá nhân.
- Các mối quan hệ giữa các nhóm và các thành viên.
- Nghi thức và hành vi, đồng phục.
Như vậy để GDVHDT cho học sinh, trường PTDTNT cần phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, tài liệu; sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường; tài chính phải đảm bảo và xây dựng môi trường văn hóa của nhà trường để học sinh được học tập, rèn luyện, cống hiến và trưởng thành.
1.3.7. Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Kiểm tra, đánh giá là một khâu cuối cùng của bất kì hoạt động giáo dục nào. Nhờ có kiểm tra, đánh giá chúng ta có thể phát hiện những vấn đề về nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện trong quá trình thực hiện các hoạt động GDVHDT, từ đó nhìn nhận được những ưu điểm, hạn chế cũng như đưa ra nguyên nhân và giải pháp mới tốt hơn trong thời gian tới. Kiểm tra cũng góp phần khuyến khích, động viên những cá nhân thực hiện tốt, đồng thời phát hiện, ngăn chặn những sai sót xảy ra.
Trong trường PTDTNT việc đánh giá học sinh cũng giống với các trường phổ thông, được thực hiện theo các thông tư hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hoạt động GDVHDT trong nhà trường xét về mục tiêu chung là nhằm giáo dục các giá trị đạo đức của học sinh. Cho nên, đánh giá kết quả hoạt động GDVHDT là một kênh thông tin để giáo viên đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh.
Một số nội dung cần kiểm tra, đánh giá trong hoạt động GDVHDT ở học sinh là:
- Thái độ tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.
- Ý thức sử dụng trang phục, ngôn ngữ dân tộc trong các hoạt động tập thể.
- Ý thức, hành vi quảng bá những sản phẩm văn hóa và phong tục tập quán của dân tộc mình.
- Thái độ tôn trọng tập tục, ngôn ngữ, phong cách và trang phục của dân tộc khác.
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú
1.4.1. Tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Quản lý hoạt động GDVHDT trong trường phổ thông dân tộc nội trú thể hiện nhất quán quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, của Bộ GDĐT. Cụ thể Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 1657/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 1515/QĐ-BGDĐT ngày 30/5/2023 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về Ban hành Kế hoạch triển khai của Bộ GDĐT thực hiện Quyết định số 1657/QĐ-TTg ngày 30/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045; Thông tư số 04/2023/TT-BGDĐT ngày 23/02/2023 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú đã quy định cụ thể với từng đối tượng, từng nhiệm vụ trong GDVHDT; Văn bản số 4466/BGDĐT-GDDT ngày 13/9/2022 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2022-2023 đối với giáo dục dân tộc, trong đó nhiệm vụ chung, đó là “Ưu tiên nguồn lực để đầu tư và phát triển giáo dục dân tộc;…tăng cường các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục vùng DTTS, miền núi, nhất là các trường phổ thông dân tộc nội trú;… nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh vùng DTTS, miền núi; đổi mới và tăng cường công tác quản lý giáo dục dân tộc…”. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhằm tổ chức các hoạt động GDVHDT cho học sinh trong nhà trường để đạt được mục tiêu GDVHDT đề ra. Quản lý hoạt động GDVHDT được thực hiện thông qua các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý hoạt động GDVHDT có tác dụng định hướng và phối hợp các lực lượng để thực hiện hiệu quả hoạt động GDVHDT.
Giáo dục VHDT cho học sinh là nhiệm vụ đặc thù, quan trọng trong các trường PTDTNT. Thực hiện có hiệu quả hoạt động giáo dục VHDT sẽ góp phần quan trọng trong việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện. Vì vậy các nhà trường cần quan tâm đổi mới công tác quản lý, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động này nhằm tạo sức hấp dẫn, thu hút học sinh tham gia.
1.4.2. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua hoạt động dạy học là tác động quản lý của hiệu trưởng tới đội ngũ giáo viên để giáo viên thực hiện lồng ghép, tích hợp giáo dục VHDT trong giờ dạy của mình. Cụ thể gồm các công việc quản lý sau:
Hiệu trưởng cần xác định rõ và quán triệt cho giáo viên về mục tiêu của GDVHDT cho học sinh ở trường PTDTNT. Các mục tiêu này thể hiện trong các nội dung hoạt động giảng dạy (từ việc soạn bài, giảng dạy trên lớp và kiểm tra đánh giá học sinh).
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên: Chỉ đạo giáo viên gắn bài giảng của mình (hình thức giáo dục, nội dung giáo dục) với các ví dụ thực tiễn ở địa phương, thông qua đó làm cho học sinh nhận thức được những giá trị VHDT cần được gìn giữ và phát huy.
Quản lý giờ lên lớp của giáo viên: Chỉ đạo giáo viên tổ chức hoạt động dạy học có lồng ghép, tích hợp giáo dục VHDT theo hướng hình thành cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng để có điều kiện học tập suốt đời và học tập ở mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh.
Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường PTDTNT theo hướng nghiên cứu bài học, đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục VHDT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Chỉ đạo xây dựng đề kiểm tra giữa kì, cuối kì có nội dung GDVHDT.
Kiểm tra, đánh giá kết quả GDVHDT qua các môn học ở cuối học kì, cuối năm học.
1.4.3. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động GDVHDT nói riêng cho học sinh nhà trường. Nhà trường cần phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với các nội dung hoạt động GDVHDT cụ thể như: Liên kết chương trình, kế hoạch hoạt động của Đoàn thanh niên với kế hoạch của nhà trường, các bộ phận có liên quan trong việc thực hiện hoạt động GDVHDT; Phân công trách nhiệm rõ ràng trong tổ chức các hoạt động GDVHDT với sự tham gia của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Phối hợp giữa Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động GDVHDT và đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh; Triển khai thực hiện các phong trào, các hoạt động xã hội, văn hóa văn nghệ mang tính GDVHDT; Tổ chức các cuộc thi, các hoạt động biểu diễn văn hóa-văn nghệ trong nhà trường nhằm GDVHDT; Phát động các đợt thi đua, tổ chức các sân chơi, các hoạt động giao lưu, tuyên truyền, các hoạt động nhân đạo, hoạt động lao động công ích, tình nguyện nhằm nâng cao nhận thức về ý nghĩa của GDVHDT cho học sinh; Tổ chức cho học sinh tham quan các di tích lịch sử, các di tích văn hóa, làng nghề để GDVHDT; Tổ chức, chỉ đạo lồng ghép nội dung GDVHDT trong các tiết HĐNGLL theo chủ điểm phù hợp với các tháng; Sơ kết, tổng kết hoạt động GDVHDT thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
1.4.4. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm
Trường PTDTNT là nơi tập trung học tập của con em đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, nơi đời sống kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, phong tục, tập quán còn lạc hậu. Điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn, hụt hẫng về kiến thức do vậy cần có sự quan tâm đặc biệt của nhà trường và các thầy cô giáo. Công tác chủ nhiệm trong trường PTDTNT có vai trò, vị trí quan trọng, vừa là người tổ chức thực hiện nhiệm vụ của nhà trường, vừa là người xây dựng kế hoạch hoạt động của lớp, xây dựng tập thể lớp vững mạnh đoàn kết giữa các dân tộc, vừa là người thổi vào tâm hồn các em những kiến thức mới, những ước mơ khát vọng, vươn tới một tương lai tốt đẹp. Để thực hiện tốt công tác quản lý hoạt giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường PTDTNT, nhà trường cần:
- Chỉ đạo GVCN đề ra mục tiêu GDVHDT trong xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của năm học và kế hoạch hàng tháng.
- Chỉ đạo GVCN phối hợp tốt với cha mẹ học sinh để GDVHDT.
- Tăng cường phối hợp giữa GVCN với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong công tác GDVHDT cho học sinh.
- Tổ chức bồi dưỡng kiến thức VHDT, nhất là VHDT thiểu số cho giáo viên chủ nhiệm.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDVHDT thông qua công tác chủ nhiệm.
1.4.5. Quản lý các điều kiện giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Điều 14 Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BGDĐT có quy định: “Hoạt động giáo dục đặc thù: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
- Trường PTDTNT tổ chức các hoạt động giáo dục quy định tại Điều lệ trường trung học để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, đồng thời tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường các kỹ năng cho học sinh dân tộc nội trú.
- Hoạt động giáo dục đặc thù trong trường PTDTNT bao gồm các hoạt động giáo dục về văn hóa các dân tộc, nghề truyền thống, giáo dục kỹ năng sống phù hợp với học sinh dân tộc nội trú.
- Hằng năm, trường PTDTNT xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù thông qua các hình thức: sinh hoạt tập thể, văn nghệ, thể thao, câu lạc bộ, giao lưu với các trường phổ thông và lao động, trải nghiệm hướng nghiệp có hướng dẫn của giáo viên, nhân viên nhà trường.
- Trường PTDTNT thực hiện công tác xã hội trong trường học, công tác tư vấn tâm lý cho học sinh theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phù hợp với học sinh dân tộc nội trú sống xa gia đình; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường.”
Mục 1.3.6 trình bày các điều kiện GDVHDT gồm: Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, tài liệu giáo dục; Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; Môi trường văn hóa.
Như vậy quản lý các điều kiện giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường PTDTNT cần thực hiện các công việc sau:
- Xây dựng phòng truyền thống nhà trường, thư viện văn hóa để trưng bày, lưu giữ, quảng bá các sản phẩm VHDT do học sinh sưu tầm, hoặc sáng tạo đáp ứng nhu cầu sử dụng lâu dài và kịp thời của các hoạt động giáo dục VHDT.
- Xây dựng nguồn tài liệu phong phú, cung cấp đầy đủ lượng sách báo và tạp chí phục vụ hoạt động GDVHDT.
- Trang bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ công tác tuyên truyền, dạy học GDVHDT.
- Gia tăng nguồn lực tài chính cho công tác tuyên truyền, GDVHDT.
- Liên kết, phối hợp với cơ quan chuyên môn như Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc của tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin của huyện, các tổ chức, cá nhân để phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh.
- Thực hiện tốt việc huy động sự tham gia của cộng đồng đối với hoạt động giáo dục VHDT thông qua việc mời các trí thức địa phương, nghệ nhân, già làng, người có uy tín trong cộng đồng tham gia hoạt động giáo dục VHDT, truyền dạy văn hóa truyền thống cho học sinh của nhà trường.
- Tổ chức, chỉ đạo phối hợp giữa các cán bộ giáo viên, giữa các tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm với tổ chức Đoàn thanh niên, Ban đại diện cha mẹ học sinh trong hoạt động GDVHDT cho học sinh.
- Xây dựng tập thể sư phạm có truyền thống văn hóa, có trách nhiệm với việc bảo tồn và phát triển VHDT, có trách nhiệm với việc giáo dục VHDT cho học sinh.
- Xây dựng nếp sống văn hóa trong trường PTDTNT theo nét đẹp phong tục tập quán của các dân tộc (trang phục, giao tiếp, ứng xử…).
- Thường xuyên kiểm tra các điều kiện giáo dục VHDT, đảm bảo các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc GDVHDT cho học sinh có hiệu quả.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
1.5.1. Yếu tố khách quan
Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục về hoạt động GDVHDT cho học sinh.
Hoạt động GDVHDT cho học sinh sẽ có những thuận lợi to lớn nếu có chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước và các văn bản điều hành của các cấp quản lý giáo dục, nó sẽ tạo nên một sự thống nhất chung và là động lực thúc đẩy việc GDVHDT cho học sinh ngày càng được quan tâm và phát triển.
Lý luận và thực tiễn hiện nay cho thấy, Đảng, Nhà nước đã có rất nhiều Nghị quyết, Quyết định nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc VHDT. Trong đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (16/7/1998) là Nghị quyết có vai trò đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thời kì đổi mới.
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã phát động trong toàn ngành phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để tăng cường công tác GDVHDT cho học sinh.
Tất cả các văn bản chỉ đạo của các cấp chính là những cơ sở pháp lý để hiệu trưởng các trường phổ thông nói chung và PTDTNT nói riêng đề ra những biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả GDVHDT cho học sinh.
- Truyền thống văn hóa, đời sống kinh tế, xã hội của địa phương, môi trường giáo dục gia đình
Truyền thống văn hóa, đời sống kinh tế, xã hội của địa phương, môi trường giáo dục gia đình là các yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PDTNT. Nó có thể thúc đẩy cũng như kìm hãm các hoạt động này.
Trong các yếu tố trên, gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Bởi vì, nhân cách của một con người chịu ảnh hưởng và bị chi phối sớm nhất là ở trong gia đình. Gia đình chính là cái nôi lưu giữ truyền thống VHDT qua các thế hệ. Nếu một gia đình có ông bà, cha mẹ sống mẫu mực, biết vun đắp các giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp cho con cháu thì việc GDVH cho các em trong nhà trường chắc chắn sẽ nhanh chóng đem lại hiệu quả. Do đó, để GDVHDT cho học sinh, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, bản sắc VHDT, tín ngưỡng làm cho các giá trị đó ngày càng tỏa sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đẹp cho thế hệ con cháu.
- Sự phối hợp của các lực lượng giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Để giáo dục nhân cách một con người đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các lực lượng giáo dục, bởi vì con người có tham gia hoạt động, giao tiếp, giao lưu với nhiều đối tượng, nhiều môi trường khác nhau, các môi trường đó gồm nhà trường, gia đình và xã hội, nên đòi hỏi phải có sự hợp tác thống nhất, sự kết hợp nhịp nhàng và đồng bộ, hỗ trợ nhau giữa ba môi trường giáo dục ấy. Sự phối hợp giáo dục đòi hỏi phải thường xuyên, liên tục, tác động mạnh mẽ vào quá trình phát triển nhân cách toàn diện của học sinh. Để thực hiện được sự phối hợp giáo dục học sinh đòi hỏi thầy cô giáo, phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội phải có nhận thức đúng đắn và thống nhất thực hiện thì mới mang lại hiệu quả.
- Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho hoạt động GDVHDT cho học sinh
Ngoài các yếu tố khách quan nêu trên, để tổ chức tốt hoạt động GDVHDT cho học sinh, đòi hỏi các nhà trường phải đảm bảo về cơ sở vật chất.
Cơ sở vật chất được hiểu là tất cả các phương tiện được sử dụng cho mục đích giảng dạy, học tập và các hoạt động GDVHDT liên quan đến bồi dưỡng, đào tạo tại trường nhằm giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy và học sinh nâng cao khả năng tiếp thu, lĩnh hội, trải nghiệm kiến thức, đồng thời rèn luyện và hoàn thiện các kỹ năng cần thiết trong quá trình học tập tại trường.
Được học tập trong một môi trường có cơ sở vật chất khang trang mang ý nghĩa khá lớn đối với các em học sinh. Các em sẽ quen dần với môi trường hiện đại, tiêu chuẩn và chất lượng cao. Từ đó, sự kỳ vọng về chất lượng cuộc sống cũng như công việc sẽ được nâng lên theo thời gian. Nhờ vậy, khi trưởng thành, cho dù làm việc trong bất cứ lĩnh vực nào, với vai trò gì, các em sẽ có những tiêu chuẩn nhất định với bản thân, tạo động lực phát triển năng lực một cách mạnh mẽ.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật bao gồm từ việc xây dựng trường lớp, không gian trường học được tính toán kỹ lưỡng đến các trang thiết bị hiện đại phục vụ trong quá trình học tập, giảng dạy và GDVHDT. Đây cũng chính là đặc trưng quan trọng của một ngôi trường hiện đại. Cơ sở vật chất – kỹ thuật trước tiên phải tạo ra không gian học tập và sinh hoạt thoải mái. Điều này có nghĩa là các tiêu chuẩn về nhiệt độ, vệ sinh không khí, ánh sáng và âm thanh đều phải được đảm bảo. Ngoài ra, từng vật dụng như bàn ghế, tủ đồ, bảng, dụng cụ học tập… Cũng phải đảm bảo về mặt kích thước để phù hợp với tầm nhìn và vóc dáng học sinh ở từng lứa tuổi. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
1.5.2. Yếu tố chủ quan
- Nhận thức và năng lực của hiệu trưởng nhà trường
Trong trường PTDTNT, hiệu trưởng là người đứng đầu trong lãnh đạo, quản lý điều hành mọi hoạt động dạy học và giáo dục. Do đó, nếu người hiệu trưởng thể hiện tốt vai trò và có nhận thức đúng đắn về GDVHDT cho học sinh sẽ quản lý hoạt động GDVHDT có hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra. Từ lý luận và thực tiễn cho thấy, để tổ chức tốt các hoạt động GDVHDT cho học sinh, hiệu trưởng không những có kiến thức về văn hóa các dân tộc, có lòng nhiệt huyết với công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc cho các thế hệ học sinh mà còn phải có năng lực quản lý tốt để có thể chỉ đạo, tổ chức, điều hành các lực lượng trong nhà trường thực hiện tốt các hoạt động GDVHDT.
- Năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên trong tổ chức thực hiện GDVHDT cho học sinh
Giáo viên chính là người trực tiếp tổ chức GDVHDT cho học sinh thông qua nội dung các bài học liên quan, các HĐNGLL, trải nghiệm cho nên giáo viên có vai trò quan trọng trong việc truyền cảm hứng nhận thức, hình thành tình cảm và mong muốn thực hiện các hình thức giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc. Giáo viên thiếu vốn sống về VHDT, không nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa trong giáo dục thế hệ trẻ thì sẽ ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động giáo dục của nhà trường.
Trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước và sự thay đổi nhanh chóng của thế giới như hiện nay, có nhiều văn hóa ngoại lai xâm nhập vào nước ta, bên cạnh những mặt tốt thì có nhiều mặt còn hạn chế, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm và thái độ sống của học sinh. Do đó, giáo viên phải không ngừng tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng đổi mới, sáng tạo trong dạy học và giáo dục học sinh thì mới có thể giúp học sinh có những kiến thức bổ ích, thực tế và có sức thuyết phục.
- Tính tích cực, tự giác, tự giáo dục của người học
Suy cho cùng, mọi sự giáo dục muốn đạt được hiệu quả thì nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất chính là bản thân người được giáo dục. Sự tích cực, tự giác, tự bồi dưỡng của học sinh sẽ giúp các em khám phá được nhiều kiến thức mới, thậm chí những tri thức đó không phải do các em tiếp nhận từ giáo viên mà từ những nguồn khác. Sự tích cực, tự giác, tự bồi dưỡng của các em sẽ làm cho các hoạt động giáo dục trong nhà trường trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Nếu học sinh thiếu tính tự học, tự giáo dục thì sự tác động của giáo viên rất khó đem lại hiệu quả. Mọi sự giáo dục sẽ không đem lại hiệu quả nếu thiếu sự tự giáo dục.
- Nội dung, hình thức, phương pháp và phương tiện tổ chức hoạt động GDVHDT cho học sinh.
Nội dung tổ chức hoạt động GDVHDT phải có tính thực tế, phù hợp, thiết thực thì sẽ kích thích học sinh tham gia học tập, rèn luyện, đem lại hiệu quả.
Hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động GDVHDT phải phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh, kích thích học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục và hình thành ý thức tự học, tự giáo dục ở các em.
Phương tiện dạy học phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu cho việc tổ chức dạy học và giáo dục, chúng ta không thể mong muốn học sinh biết cách sử dụng nhạc cụ dân tộc nhưng lại không có một hình ảnh, video clip hay nhạc cụ thực tế để học sinh có thể học tập.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục trong truyền thụ các giá trị vật chất và tinh thần mang bản sắc riêng của dân tộc cho học sinh trong nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Giáo dục VHDT cho học sinh trường PTDTNT có những đặc trưng về nội dung, phương pháp, hình thức và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện hoạt động. Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhằm tổ chức các hoạt động GDVHDT cho học sinh trong nhà trường để đạt được mục tiêu GDVHDT đề ra. Nội dung quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT bao gồm:
- Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua hoạt động dạy học.
- Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm.
- Quản lý các điều kiện giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú.
Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung và GDVHDT cho học sinh các trường PTDTNT nói riêng trong thời kì mới cần phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú. Kết quả nghiên cứu lí luận về hoạt động giáo dục VHDT và quản lý hoạt động giáo dục VHDT là cơ sở khoa học để người nghiên cứu xây dựng bộ công cụ khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho HS […]