Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội, văn hóa và giáo dục của tỉnh Ninh Thuận
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội và văn hóa tỉnh Ninh Thuận
2.1.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội
Ninh Thuận là tỉnh ven biển nằm ở gần cực nam khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, miền Trung của Việt Nam, được tái lập tháng 4/1992 từ tỉnh Thuận Hải, có diện tích tự nhiên 3.358 km2; Thủ phủ của Ninh Thuận là thành phố Phan Rang-Tháp Chàm; dân số toàn tỉnh 181.788 hộ/722.689 khẩu (tính đến tháng 3/2022); có 06 huyện và 01 thành phố, trong đó, huyện Bác Ái thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh có 28 xã, thị trấn; trong đó có 14 xã khu vực III, 14 xã khu vực I (Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025); Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo có 01 xã (Quyết định số 353/QĐ-TTg ngày 15/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2021-2025). Theo Quyết định số 1127/QĐ-TTg ngày 14/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các dân tộc còn gặp khó khăn, có khó khăn đặc thù, giai đoạn 2021-2025, tại Ninh Thuận gồm: Dân tộc Raglai, Cơ Ho, Chăm; với 71 thôn đặc biệt khó khăn (Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025). Tỉnh Ninh Thuận có 32 dân tộc thiểu số, với 38.431 hộ/170.566 khẩu, chiếm 23,6% dân số toàn tỉnh (dân tộc Raglai 17.762/76.295 khẩu, chiếm 10,6% dân số toàn tỉnh; dân tộc Chăm 19.239 hộ/85.343 khẩu, chiếm 11,8% dân số toàn tỉnh; dân tộc Hoa 974 hộ/3.759 khẩu, chiếm 0,52% dân số toàn tỉnh; các dân tộc thiểu số khác 728 hộ/3.828 khẩu, chiếm 0,53% dân số toàn tỉnh). (Hộ nghèo dân tộc thiểu số 8.635 hộ/38.860 khẩu, chiếm 22,8% so với hộ DTTS; Hộ cận nghèo dân tộc thiểu số 4.687 hộ/22.753 khẩu, chiếm 13,3% so với hộ DTTS) (Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 27/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc phê duyệt, điều chỉnh kết quả tổng rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2021 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận).
2.1.1.2. Kinh tế – xã hội
Về tình hình kinh tế – xã hội năm 2022 của tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực; Về cơ cấu kinh tế (GRDP) năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 28,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,6%; khu vực dịch vụ chiếm 30,7%; thuế sản phẩm chiếm 5,3% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2021 là: 29,5%; 35,6%; 29,2%; 5,7%). GRDP bình quân đầu người năm 2022 đạt 76,8 triệu đồng, tăng 7,1 triệu so với năm 2021.
- Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 110 triệu USD, tăng 15,0% so với năm 2021.
- Chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2022 tăng 4,17% so với cùng kỳ năm 2021.
- Dân số trung bình là 598.683 người, tăng 0,44% so với năm 2021.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả tỉnh năm 2022 ước tính là 337,2 nghìn người, trong đó: lao động nam 190,1 nghìn người, chiếm 56,4% tổng số và lao động nữ 147,1 nghìn người, chiếm 43,6%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị 119,8 nghìn người, chiếm 35,5% và khu vực nông thôn 217,4 nghìn người, chiếm 64,5%. Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của cả tỉnh năm 2022 ước tính là 328,3 nghìn người, tăng 13,1 nghìn người so với năm trước, trong đó: lao động làm việc trong khu vực Nông, lâm, thủy sản là 131,3 nghìn người, tăng 1,2 nghìn người; khu vực Công nghiệp và Xây dựng là 72,3 nghìn người, tăng 2,3 nghìn người; khu vực Dịch vụ là 124,7 nghìn người, tăng 9,6 nghìn người.
2.1.2. Tình hình giáo dục, đào tạo của tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Tính đến tháng 12/2022, tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 144 trường, trong đó: trường phổ thông là 121/211 trường (Tiểu học 80 trường, THCS 32 trường, THPT 09 trường) đạt tỷ lệ 57,3%; trường mầm non 23/89 trường, đạt tỷ lệ 25,8%.
Chất lượng giáo dục năm học 2021-2022: Tỷ lệ xếp loại Học tập đối với lớp 6 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 từ Đạt trở lên chiếm 94,5%, xếp học lực từ Trung bình trở lên cấp THCS (đối với lớp 7,8,9) đạt 94,7%, cấp THPT đạt 95,5%; tỷ lệ xếp loại Rèn luyện đối với lớp 6 từ Đạt trở lên chiếm 99,9%, xếp loại Hạnh kiểm từ Trung bình trở lên đối với cấp THCS (đối với lớp 7,8,9) đạt 99,9%, cấp THPT đạt 99,8%; tỷ lệ tốt nghiệp cấp THCS toàn tỉnh đạt 99,9%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cấp THPT toàn tỉnh đạt 95,7%.
Tình hình năm học 2022-2023: toàn tỉnh có 302 cơ sở giáo dục, đào tạo (trong đó có 28 trường ngoài công lập); bao gồm 89 trường cấp Mầm non (trong đó có 26 trường ngoài công lập), 128 trường Tiểu học, 44 trường THCS, 13 trường THPT, 14 trường liên cấp TH-THCS, 04 trường liên cấp THCS -THPT, 02 trường liên cấp TH-THCS-THPT (ngoài công lập), 05 trường phổ thông dân tộc nội trú, 01 trường chuyên, 02 Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Hướng nghiệp. Tổng số học sinh toàn tỉnh đầu năm học 2022-2023 là 148.707 HS, so với cùng kỳ tăng 3.498 HS (trong đó: cấp Mầm non 27.527 trẻ; Tiểu học 63.416 HS; THCS 38.744 HS: THPT 18.022 HS).
2.1.3. Khái quát về các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận
Trường PTDTNT được tổ chức và hoạt động theo các quy định của Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) và các quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BGDĐT ngày 23/02/2023 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Tỉnh Ninh Thuận có 05 trường PTDTNT, trong đó PTDTNT THCS có 03 trường, liên cấp PTDTNT THCS-THPT có 01 trường và PTDTNT THPT có 01 trường; gồm 48 lớp, với 1.471/1.528 học sinh, giảm 57 học sinh so với đầu năm học. Trong đó, Cấp trung học phổ thông có 15 lớp với 461/479 HS (trong đó DTTS 457 em), giảm 18 học sinh so với đầu năm học; Cấp trung học cơ sở có 33 lớp, với 1.010/1.049 HS (trong đó DTTS 1.002 em), giảm 39 học sinh so với đầu năm học. Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trường PTDTNT năm học 2022-2023 là 173 người; trong đó cán bộ quản lý 14 người (DTTS 03 người), giáo viên giảng dạy 110 người (DTTS 19 người), nhân viên 50 người (DTTS 19 người); trình độ đào tạo của CBQL và GV có trình độ Thạc sĩ trở lên 14 người, Cử nhân 112 người và Cao đẳng 04 người. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số được học ở các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 10,54% tổng số học sinh dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh (1.459/13.842).
Về đội ngũ nhà giáo trường phổ thông dân tộc nội trú: CBQL, GV các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận được đào tạo chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. CBQL được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về giáo dục nên nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách dân tộc, có năng lực quản lý, có uy tín trong tập thể sư phạm và học sinh. Đội ngũ giáo viên có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống chuẩn mực, có tinh thần và trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và chăm sóc học sinh dân tộc, thực hiện tốt quy chế ngành Giáo dục, luôn có ý thức học hỏi, ý chí vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Bảng 2. 1. Thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL, GV các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận
Dựa vào Bảng 2.1, cho thấy trình độ đào tạo của CBQL, GV các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận có trình độ Thạc sỹ chiếm tỷ lệ 11,29%, cơ bản đảm bảo theo quy định của trường chuẩn quốc gia; Phần đông CBQL, GV giảng dạy tại các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận là người dân tộc Kinh, số ít còn lại là người dân tộc Chăm và Raglai. Trong đó CBQL có 03/14 người là dân tộc Chăm (tỉ lệ 2,14%), GV giảng dạy 19/110 là người dân tộc thiểu số (tỉ lệ 17,3%) nên còn gặp không ít khó khăn trong GDVHDT cho học sinh, đặc biệt trong giao tiếp nói tiếng dân tộc thiểu số.
- Về học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Học sinh trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận hầu hết là người dân tộc Raglai, số học sinh dân tộc Chăm chiếm tỷ lệ 35% và dân tộc Kinh chiếm rất ít chỉ khoảng 5%. Do học sinh chỉ có 3 dân tộc, vốn đã sống đan xen với nhau giữa đồng bằng, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nên các em đều có hiểu biết và cảm thụ được văn hóa của các dân tộc khác, đây là điều kiện thuận lợi trong việc giáo dục VHDT cho học sinh trong nhà trường.
- Bảng 2. 2. Chất lượng giáo dục 2 mặt ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận
Từ bảng 2.2 trên cho thấy chất lượng giáo dục ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận về hạnh kiểm/kết quả rèn luyện xếp loại khá, tốt chiếm tỷ lệ 97,6%, về học lực/kết quả học tập xếp loại giỏi/tốt, khá chiếm tỷ lệ 55,54%, đã khẳng định thương hiệu của các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận, nơi đào tạo cán bộ nguồn cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
Với mục tiêu của trường PTDTNT là nơi tạo nguồn đào tạo cán bộ phục vụ vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Do đó, trong những năm học gần đây, các trường PTDTNT luôn phấn đấu nâng dần chất lượng giáo dục của đơn vị mình.
2.1.4. Vài nét về văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận là mái nhà chung của 33 dân tộc anh em, gồm các dân tộc: Kinh, Chăm, Raglai, Cơ Ho, Hoa, …với dân số 722.689 khẩu. Họ cùng nhau sinh sống từ nhiều thế kỷ, tạo nên cho Ninh Thuận có nhiều nét đặc thù về văn hóa dân tộc, lễ hội truyền thống ở địa phương. Những hoạt động, văn hóa dân tộc, lễ hội diễn ra xuyên suốt gần như quanh năm trên khắp địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Mỗi dân tộc có những lễ hội độc đáo riêng, trong các Lễ hội của các dân tộc ở Ninh Thuận, ấn tượng nhất và cũng là “thương hiệu” của du lịch Ninh Thuận, chính là Lễ hội Katê của đồng bào dân tộc Chăm theo đạo Bàlamôn, Lễ hội Katê mỗi năm tổ chức một lần, diễn ra vào tháng 7 lịch Chăm hàng năm, để tượng nhớ các vị thần linh và dâng lễ vật cúng ông bà tổ tiên với lòng thành kính cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội Katê của đồng bào Chăm đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2017, lễ hội kéo dài trong ba ngày, với nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ truyền thống đặc sắc. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Tính đến năm 2022, Ninh Thuận có 239 di tích được kiểm kê trên địa bàn toàn tỉnh, gồm các loại hình: Đình làng, chùa, miếu, nhà thờ, lăng (lăng thờ cá Voi/cá Ông), tháp Chăm, thánh đường Hồi giáo, đền thờ của người Chăm, phế tích và bia ký Chăm, di tích lịch sử cách mạng, danh lam thắng cảnh…Đến tháng 6/2019, toàn tỉnh có 60 di sản văn hóa đã được lập hồ sơ trình xếp hạng và chứng nhận ở các cấp. Cụ thể: có 02 Di tích quốc gia đặc biệt (tháp Hòa Lai xây dựng thế kỷ thứ 9 và tháp Po Klong Garai xây dựng thế kỷ thứ 13), 15 di sản cấp quốc gia, trong đó 12 di tích quốc gia, 03 di sản lễ hội và nghề truyền thống được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm Bàu trúc; Lễ hội Katê của đồng bào Chăm và Lễ Bỏ mả của đồng bào Raglai); 43 di tích cấp tỉnh, trong đó 02 danh lam thắng cảnh (Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái), 02 di sản văn hóa cấp tỉnh và 39 di tích đình, đền, lăng, miếu khác; đặc biệt vào ngày 29/11/2022 tại phiên họp của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 17 của UNESCO diễn ra tại Rabat, Vương quốc Maroc, di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, cần bảo vệ khẩn cấp.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng hoạt động GDVHDT và quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDVHDT tại các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Đề tài tập trung khảo sát 04 nội dung cụ thể sau:
- Nhận thức của CBQL, GV và HS về hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
- Thực trạng hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
- Thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
2.2.3. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng và đối tượng khảo sát
Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi sử dụng 02 mẫu khảo sát:
- Mẫu 1: Dành cho CBQL, GV của 05 trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận (Phụ lục1).
- Mẫu 2: Dành cho HS của 05 trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận (Phụ lục 1.2).
Để tiến hành khảo sá t thực trạng hoạt động GDVHDT và công tác quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận, chúng tôi đã hỏi ý kiến CBQL, GV, HS. Số lượng đối tượng khảo sát được trình bày ở bảng 2.3 dưới đây:
- Bảng 2. 3.Bảng thống kê số lượng khảo sát
Chúng tôi tiến hành lấy phiếu thăm dò ý kiến của 57,1% CBQL (08/14), 73,6% GV (81/110) và 27% HS (297/1.099) của 05 trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận để tìm hiểu thực trạng GDVHDT cho học sinh. Đặc điểm của đối tượng khảo sát trình bày ở bảng 2.4, 2.5 như sau:
Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát.
- Bảng 2. 4. Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Theo số liệu Bảng 2.4 cho thấy đối tượng khảo sát là CBQL, GV có sự chênh lệch giữa giới tính nam và nữ. Cụ thể: nam là 33,7%, nữ là 66,3%. Điều này phản ánh tình hình thực tế ở các trường PTDTNT số lượng CBQL, GV nữ nhiều hơn so với CBQL, GV nam. Về độ tuổi từ 30 đến dưới 40 tuổi chiếm đến 49,4%. Thâm niên công tác của các đối tượng tập trung khoảng từ 10 đến dưới 20 năm với tỉ lệ 49,4%; thâm niên công tác quản lý từ 10 đến 20 năm chiếm tỷ lệ cao 40,0%. CBQL, GV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn là 91% và trên chuẩn là 7,9%.
Đặc điểm học sinh được khảo sát.
- Bảng 2. 5. Đặc điểm học sinh được khảo sát
Với 297 học sinh được khảo sát, trong đó có 174 học sinh là Đoàn thanh niên chiếm tỉ lệ 58,6%. Học sinh nam và học sinh nữ được khảo sát có tỉ lệ 45,5% và 54,5%; Điều này phản ánh tình hình thực tế ở các trường PTDTNT số lượng học sinh nữ nhiều hơn so với học sinh nam. Tập trung khảo sát học sinh khối 7, 8, 9, 11 và 12 (do khối 6 và khối 10 là học sinh đầu cấp nên không khảo sát); cụ thể, khối 7 là 15,2%, khối 8 là 16,8%, khối 9 là 20,2%, khối 11 là 21,2% và khối 12 là 26,6%.
Như vậy, qua phân tích ở các bảng 2.3, 2.4, 2.5 cho thấy đối tượng khảo sát đa dạng, phong phú về độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo, vị trí công tác…cho phép đề tài thu thập được thông tin đa chiều về thực trạng hoạt động GDVHDT và thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
Đối với phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng là CBQL (05), GV (05), HS (05) của 05 trường PTDTNT đồng ý trả lời phỏng vấn nhằm thu thập các thông tin định tính hỗ trợ cho kết quả nghiên cứu khảo sát. Chúng tôi đã tiến hành mã hóa đối tượng được phỏng vấn đối với CBQL: CBQL01, CBQL02, CBQL03, CBQL04, CBQL05; đối với GV: GV01, GV02, GV03, GV04, GV05; đối với HS: HS01, HS02, HS03, HS04, HS05.
Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lí như kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh có liên quan đến hoạt động GDVHDT của 05 trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
2.2.4. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo
Để kiểm tra độ tin cậy thang đo, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 20 nhằm xác định hệ số Cronbach Alpha. Để tính Cronbach Alpha cho một thang đo thì thang đo phải có tối thiểu là ba biến đo lường (biến quan sát). Alpha của Cronbach thường nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Thang đo có hệ số Cronbach Alpha ≥ 0.6 là thang đo chấp nhận được về mặt độ tin cậy.
Kết quả kiểm tra độ tin cậy của các thang đo hoạt động GDVHDT cho học sinh ở trường PTDTNT trình bày ở bảng 2.6:
- Bảng 2. 6. Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo công tác quản lý hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh ở trường PTDTNT trình bày ở bảng 2.7:
- Bảng 2. 7. Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo công tác quản lý
Như vậy, với kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo được trình bày ở trên đã phản ánh một cách đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm và không có sự trùng lắp giữa các biến quan sát. Chúng tôi kết luận rằng: thang đo có độ tin cậy tốt.
2.2.5. Qui ước thang đo
Thang đo sử dụng trong 02 phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %.
Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức độ.
Giá trị trung bình giữa các khoảng = (Max – Min)/n = (5-1)/5 = 0.8
Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng 2.8 sau:
- Bảng 2. 8. Quy ước mức đánh giá, phân tích số liệu động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
2.3. Thực trạng về hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
2.3.1.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của
hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú GDVHDT cho học sinh là nhiệm vụ đặc thù, quan trọng trong các trường PTDTNT.
Thực hiện có hiệu quả hoạt động GDVHDT sẽ góp phần quan trọng trong việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện. Góp phần vào việc giữ gìn, bảo tồn và phát triển các truyền thống tốt đẹp của VHDT. GDVHDT trong nhà trường giúp các em hiểu các em là ai và môi trường văn hóa mà các em được sinh ra. Giáo dục đó giúp các em hiểu giá trị của mỗi dân tộc, sự tự tôn dân tộc và sự tôn trọng các dân tộc khác. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Chúng tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của CBQL, GV qua phiếu khảo sát đối với 89 người “Ý kiến của Thầy/Cô giáo về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh tại trường PTDTNT”, kết quả thu được ở bảng 2.9 như sau:
- Bảng 2. 9. Ý kiến của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT
Nhìn vào bảng 2.9 trên ta thấy đa số cán bộ quản lý, giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh (79/89, tỉ lệ 88,76% số người được hỏi ý kiến). Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý, giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động GDVHDT (11,2% số người được hỏi ý kiến cho là ít quan trọng).
Người nghiên cứu cũng tiến hành thăm dò ý kiến của học sinh qua phiếu khảo sát đối với 297 em “Ý kiến của em về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh tại Trường mà em đang học tập”, kết quả thu được trình bày ở bảng 2.10 như sau:
- Bảng 2. 10. Ý kiến của học sinh về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh
Qua kết quả khảo sát bảng 2.10 có thể thấy đa số học sinh nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh (260/297, tỉ lệ 87,54% số học sinh được hỏi ý kiến). Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động GDVHDT (12,5% số học sinh được hỏi ý kiến cho rằng ít quan trọng). Điều này có nghĩa là, các em chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của hoạt động GDVHDT.
Việc CBQL, GV, HS nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt động GDVHDT cho học sinh sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người quản lý trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động GDVHDT trong nhà trường.
2.3.1.2. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về ý nghĩa giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú
Hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng. Để tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi đã tiến hành thăm dò ý kiến của CBQL, GV và HS qua phiếu khảo sát đối với 386 người “Quan niệm của Thầy/Cô, học sinh về ý nghĩa của hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh tại trường PTDTNT” kết quả thu được ở bảng 2.11 như sau:
- Bảng 2. 11. Ý kiến của CBQL, GV, HS về ý nghĩa GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận có ĐTB chung là 3,28, ứng với mức đồng ý một phần. Độ lệch chuẩn cao (từ 1,091 đến 1,437) có nghĩa là ý kiến của CBQL, GV, HS phân tán và chưa có hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT. Trong các nội dung khảo sát, 2 nội dung được CBQL, GV, HS đánh giá cao là: Hình thành ý thức trách nhiệm giữ gìn và phát huy bản sắc VHDT và Hoạt động GDVHDT giúp học sinh được tiếp cận, giao lưu học hỏi với các giá trị văn hóa, hiện tượng văn hóa của các dân tộc khác.
Hoạt động GDVHDT góp phần giáo dục toàn diện học sinh cả về trí, đức, thể, mỹ được CBQL, GV, HS đánh giá thấp nhất trong tất cả ý nghĩa GDVHDT cho học sinh được khảo sát.
Như vậy, kết quả khảo sát CBQL, GV và HS cho thấy, đa số CBQL, GV và HS đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận. Tuy nhiên ý kiến của các đối tượng khảo sát chưa đồng thuận, một bộ phận CBQL, GV và HS chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT. Cần thực hiện các biện pháp nâng cao nhận thức cho toàn thể CBQL, GV và HS về vấn đề này.
2.3.2. Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Mục tiêu là kết quả dự kiến đạt được, việc đưa ra mục tiêu đúng đắn và phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động GDVHDT trong nhà trường. Tác giả đã tiến hành khảo sát CBQL, GV, HS về thực trạng thực hiện mục tiêu hoạt động GDVHDT cho học sinh PTDTNT tỉnh Ninh Thuận và kết quả thu được trình bày ở bảng số 2.12 sau đây:
- Bảng 2. 12. Ý kiến CBQL, GV, HS về thực trạng thực hiện mục tiêu GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận
Kết quả khảo sát ở bảng 2.12 cho thấy: CBQL, GV, HS được khảo sát cho rằng, mục tiêu GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận chỉ đạt ở mức trung bình (ĐTB chung là 3,05); trong đó mục tiêu “Góp phần thực hiện bảo tồn và phát triển VHDT” đạt kết quả tốt hơn cả với điểm trung bình là 3,17 (ĐLC 1,326). Mục tiêu tiếp theo là “Góp phần thực hiện giáo dục hòa nhập và thân thiện” với điểm trung bình 3,06 (ĐLC 1,326). Tuy nhiên các mục tiêu này cũng chỉ đạt mức trung bình, theo ý kiến của CBQL, GV, HS. Đạt kết quả thấp nhất là mục tiêu: “Góp phần phát triển bền vững nhân cách cho thế hệ trẻ nói chung, học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú nói riêng”. Độ lệch chuẩn trong các nội dung hỏi ý kiến đều lớn hơn 1, có nghĩa là các ý kiến của CBQL, GV, HS phân tán.
Như vậy, mục tiêu của hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận đã đạt được kết quả nhất định. Tuy nhiên, các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận cần thực hiện tốt hơn các mục tiêu, hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng tiếp cận, khai thác tri thức và vốn văn hóa truyền thống của địa phương để tiếp thu, học hỏi, vận dụng trong hoạt động hiện tại cũng như sau này. Qua đó, bồi dưỡng ý thức dân tộc, nâng cao thái độ trân trọng di sản văn hóa dân tộc, hình thành ở học sinh tình cảm trong sáng, cao đẹp, yêu thương, gắn bó với cộng đồng.
2.3.3. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú
Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV, HS về thực trạng nội dung GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận được thể hiện qua bảng 2.13 như sau:
- Bảng 2. 13. Thực trạng nội dung GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận
Kết quả khảo sát ở bảng 2.13 cho thấy CBQL, GV, HS được khảo sát cho rằng, nội dung GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT mức độ thực hiện thường xuyên với điểm trung bình chung là 3,66 (ĐLC 0,866) và kết quả đạt được ở mức Khá, với ĐTB chung là 3,65 (Độ lêch chuẩn 0,794); trong đó nội dung “Giáo dục học sinh về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số” đạt kết quả tốt hơn cả với điểm trung bình 3,87 (ĐLC 0,772). Tất cả nội dung GDVHDT đều được CBQL, GV và HS đánh giá thực hiện thường xuyên và đạt kết quả khá. Độ lệch chuẩn đều nhỏ hơn 1 cho thấy, các ý kiến khá tương đồng. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Như vậy, nội dung của hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận đã đạt được kết quả rất đáng kể. Do đó, các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận cần phát huy tốt hơn các nội dung GDVHDT cho học sinh, góp phần làm phong phú 3 lĩnh vực trong văn hóa: Văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần.
2.3.4. Thực trạng sử dụng phương pháp và hình thức giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú
Phương pháp và hình thức giáo dục có ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tiếp nhận những nội dung của nhà giáo dục muốn truyền đạt tới học sinh. Do đó, để GDVHDT được tốt đòi hỏi nhà trường cần có phương pháp, hình thức phù hợp.
2.3.4.1. Phương pháp giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh
Kết quả khảo sát lấy ý kiến của CBQL, GV, HS về thực trạng sử dụng phương pháp GDVHDT cho học sinh các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận được thể hiện qua bảng 2.14 sau:
- Bảng 2. 14. Thực trạng phương pháp GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận
Kết quả khảo sát ở bảng 2.14 cho thấy thực trạng về phương pháp GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT ở mức độ thường xuyên, với ĐTB chung 3,53 (ĐLC 0,793) và kết quả đạt được ở mức khá, với ĐTB chung 3,65 (ĐLC 0,914). Trong đó, phương pháp “Tổ chức tết dân tộc, lễ hội, tổ chức các câu lạc bộ (câu lạc bộ múa, câu lạc bộ Mã la…), hội thi bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, hội diễn văn nghệ, thi trình diễn trang phục dân tộc, trưng bày bản sắc văn hóa của các dân tộc” được CBQL, GV, HS đánh giá cao nhất, có ĐTB 3,80 (ĐLC 0,786).
Mỗi phương pháp thực hiện GDVHDT cho học sinh đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Tuy nhiên, làm thế nào để phát huy được các thế mạnh của mỗi phương pháp còn tùy thuộc vào người vận dụng. Các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận cần duy trì thường xuyên phối hợp sử dụng các phương pháp GDVHDT và nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp giáo dục này hơn nữa.
2.3.4.2. Hình thức giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh
Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV, HS về thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục VHDT ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận được thể hiện qua bảng 2.15 sau:
- Bảng 2. 15. Thực trạng hình thức GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT
Kết quả khảo sát ở bảng 2.15 cho thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Về mức độ thực hiện: Các hình thức GDVHDT được CBQL, GV, HS đánh giá với ĐTB chung là 3,38 ứng với mức thỉnh thoảng thực hiện. Tuy nhiên, hình thức “Giáo dục VHDT cho học sinh PTDTNT được thực hiện trong giờ sinh hoạt chủ nhiệm lớp” được cho là thực hiện thường xuyên với ĐTB là 3,48 (ĐLC 0,915). Hai hình thức còn lại được đánh giá thỉnh thoảng thực hiện là “GDVHDT bằng con đường học tập, lồng ghép qua các môn học: GDCD, Lịch sử, Địa lý” và “Giáo dục VHDT cho học sinh PTDTNT thông qua các HĐGD NGLL”.
Về kết quả thực hiện: Các hình thức GDVHDT được CBQL, GV, HS đánh giá với ĐTB chung là 3,38 ứng với mức độ đạt trung bình (ĐLC 0,926). Trong các hình thức GDVHDT chỉ có hình thức “Giáo dục VHDT cho học sinh PTDTNT thông qua các HĐGD NGLL” được CBQL, GV, HS đánh giá thực hiện khá.
- Các hình thức còn lại chỉ đạt mức trung bình.
Các hình thức thực hiện GDVHDT cho học sinh của các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận gần như tương tự nhau. Trong quá trình tổ chức chủ yếu lồng ghép qua các môn học, qua các hoạt động GDNGLL hoặc chỉ đề cập nội dung GDVHDT một cách thoáng qua, chưa khắc sâu đối với học sinh. Nhà trường chưa tổ chức GDVHDT một cách chuyên biệt. Thực tế, trong quá trình giáo dục, nhà trường chỉ tập trung xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện; tập trung công tác giáo dục 02 mặt (học lực và hạnh kiểm) đối với học sinh. Các trường vẫn chưa quan tâm đến diễn biến tâm lí, tinh thần, thái độ của học sinh. Công tác tuyên truyền cho CBQL, GV và HS chưa được thực hiện tốt.
Một số trường PTDTNT hiện nay đều có thành lập Câu lạc bộ Mã la, tuy nhiên hoạt động chưa hiệu quả. Để hoạt động GDVHDT được đi vào thực chất, hiệu quả, các trường PTDTNT cần phải sử dụng nhiều hình thức GDVHDT như tuyên truyền dưới cờ, ngoại khóa trải nghiệm, hoạt động Câu lạc bộ văn nghệ, Câu lạc bộ Tiếng dân tộc,…mời nghệ nhân ở địa phương tới truyền dạy cho học sinh một số loại hình văn hóa truyền thống như dân ca, dân vũ, nghề thủ công, Mã la.
2.3.5. Thực trạng điều kiện thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Điều kiện có liên quan rất lớn đến các hoạt động giáo dục trong nhà trường nói chung và thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh nói riêng. Điều kiện tốt sẽ góp phần rất lớn vào sự thành công của nhà giáo dục và ngược lại. Bảng 2.16 trình bày kết quả khảo sát CBQL, GV, HS về thực trạng điều kiện thực hiện GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận:
- Bảng 2. 16. Thực trạng điều kiện thực hiện GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận
Kết quả khảo sát ở bảng 2.16 cho thấy, các điều kiện cần thiết cho hoạt động GDVHDT được nhận xét đánh giá ở mức khá với điểm trung bình 3,53 và Độ lệch chuẩn là 0,825. Trong các điều kiện được khảo sát thì Khu nội trú có diện tích sử dụng tối thiểu 6m2/học sinh cho hoạt động GDVHDT được đánh giá đảm bảo (ĐTB 3,83). Thực tế hiện nay, hầu hết các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận đều có Khu nội trú cho học sinh đảm bảo để thực hiện GDVHDT cho học sinh, đây là điều kiện thuận lợi nhất giúp các trường PTDTNT triển khai thực hiện tốt GDVHDT cho học sinh. Được sự quan tâm của Nhà nước và ngành Giáo dục tỉnh Ninh Thuận, kinh phí hoạt động giáo dục nói chung, GDVHDT nói riêng ở các trường PTDTNT luôn được bảo đảm.
Điều kiện thực hiện GDVHDT được đánh giá ở mức trung bình thuộc nhóm điều kiện Xây dựng môi trường văn hóa là “Các mục tiêu và chính sách, các chuẩn mực và nội quy” và “Nghi thức và hành vi, đồng phục” với điểm trung bình 3,39.
Như vậy, nhìn chung điều kiện GDVHDT ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên cần chú ý nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng phòng sinh hoạt văn hóa nhằm thực hiện có hiệu quả GDVHDT cho học sinh. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
2.3.6. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh trường PTDTNT là một trong những hoạt động không thể thiếu được trong các nhà trường. Kết quả khảo sát CBQL, GV, HS về thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trình bày ở bảng 2.17 như sau:
- Bảng 2. 17. Ý kiến của CBQL, GV, HS về thực trạng thực hiện kiểm tra, đánh kết quả GDVHDT cho HS trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận
về nội dung kiểm tra được đánh giá ở mức độ thỉnh thoảng với điểm trung bình 3,39; còn hình thức kiểm tra được đánh giá ở mức độ thực hiện thường xuyên.
Kết quả đạt được cao nhất và thường xuyên về nội dung kiểm tra được các trường thực hiện là “Ý thức sử dụng trang phục, ngôn ngữ dân tộc trong các hoạt động tập thể” với điểm trung bình là 3,49 (ĐLC 0,863); còn hình thức kiểm tra được đánh giá cao là kiểm tra đột xuất với điểm trung bình 3,49.
Hiện nay các trường PTDTNT đều có đồng phục dân tộc, phổ biến nhất là đồng phục của dân tộc Chăm và Raglai, được các trường PTDTNT quy định mặc trong buổi chào cờ đầu tuần. Bên cạnh đó, trong các ngày lễ tết các tiết mục văn hóa, văn nghệ đều có tiết mục với những điệu múa và trang phục dân tộc đã góp phần giáo dục ý thức sử dụng trang phục, bảo tồn văn hóa dân tộc trong học sinh.
Nội dung kiểm tra được đánh giá là thực hiện chưa hiệu quả nhất là “Thái độ tôn trọng tập tục, ngôn ngữ, phong cách và trang phục của dân tộc khác” với điểm trung bình là 3,21. Điều này cho thấy các trường PTDTNT thực hiện chưa được tốt công tác tuyên truyền cho học sinh, các em không chỉ tôn trọng tập tục, trang phục dân tộc mình mà còn phải biết tôn trọng tập tục, trang phục các dân tộc khác nhau. Cũng cho thấy các trường chưa có nhiều hình thức phù hợp để GDVHDT cho học sinh. Để học sinh có thái độ tôn trọng các phong tục, tập quán giữa dân tộc Kinh, Chăm, Raglai, Hoa,… các trường phải phối hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương tích cực cho học sinh chăm sóc và phát huy các giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng, thăm nhà Bảo tàng dân tộc trong đó trưng bày các biểu tượng văn hóa các dân tộc, từ đó tăng hiểu biết, kiến thức của học sinh về các dân tộc khác nhau.
Qua nghiên cứu sản phẩm hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT, có thể nhận định hầu hết các trường PTDTNT đều có hồ sơ quản lý hoạt động GDVHDT như kế hoạch, biên bản, có sơ kết, tổng kết về hoạt động GDVHDT, có sản phẩm học sinh được lưu trữ đầy đủ, có đánh giá rút kinh nghiệm và báo cáo định kỳ hoạt động GDVHDT.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Để tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT, tác giả đã tiến hành thăm dò ý kiến của CBQL, GV và đối tượng khác qua phiếu khảo sát đối với 89 người với câu hỏi: “Quan niệm của Thầy/Cô về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh tại trường PTDTNT”. Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 2.18 như sau:
- Bảng 2. 18. Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT
Nhìn vào bảng 2.18 trên ta thấy đa số cán bộ quản lý, giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh (79/89, tỉ lệ 88,76% số người được hỏi ý kiến). Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý, giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDVHDT (11,2% số người được hỏi ý kiến coi quản lý hoạt động GDVHDT là ít quan trọng).
Việc CBQL, GV nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người quản lý trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động GDVHDT trong nhà trường. Vì vậy, cần có biệp pháp làm cho CBQL, GV nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn về vấn đề này.
2.4.2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhằm tổ chức các hoạt động GDVHDT cho học sinh trong nhà trường để đạt được mục tiêu GDVHDT đề ra. Quản lý hoạt động giáo dục hóa dân tộc bao gồm nhiều nội dung: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua hoạt động dạy học; Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp; Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm; Quản lý các điều kiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
Dạy học là con đường nhanh nhất, thường xuyên và hiệu quả khá tốt trong việc GDVHDT cho học sinh. Việc GDVHDT qua con đường dạy học thường được thực hiện qua tích hợp vào nội dung bài học. Bảng 2.19 trình bày kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua con đường dạy học tại trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận:
- Bảng 2. 19. Thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua hoạt động dạy học tại trường PTDTNT
Kết quả bảng 2.19 cho thấy, ý kiến của CBQL, GV đánh giá quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua con đường dạy học thực hiện tại các trường hiện nay ở mức độ khá (ĐTB chung là 3,43). ĐLC là 0,799, nhỏ hơn 1 có nghĩa là các ý kiến khá đồng thuận. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Nội dung quản lý được đánh giá cao nhất là “Chỉ đạo giáo viên tổ chức hoạt động dạy học lồng ghép, tích hợp giáo dục” có điểm trung bình 3,70, được đánh giá ở mức khá. Việc xây dựng mục tiêu dạy học đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ luôn được lãnh đạo các trường chỉ đạo thực hiện trong thời gian qua. Theo đó mục tiêu dạy học phải đảm bảo các mức độ nhận biết, hiểu và vận dụng, đồng thời phải nêu lên được những nội dung cần tích hợp giáo dục học sinh. Việc tích hợp được hiệu trưởng các trường chỉ đạo lồng ghép vào các nội dung bài dạy phù hợp tránh “gượng ép”, “khập khiểng”. Tiếp theo là nội dung “Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục VHDT” và “Chỉ đạo xây dựng đề kiểm tra giữa kì, cuối kì có nội dung GDVH dân tộc” được đánh giá ở mức khá. Còn nội dung “Chỉ đạo giáo viên chuẩn bị bài giảng của mình (hình thức giáo dục, nội dung giáo dục) với các ví dụ thực tiễn ở địa phương, làm cho học sinh nhận thức được những giá trị VHDT cần được gìn giữ và phát huy” có điểm trung bình thấp nhất 3,19 được đánh giá ở mức trung bình. Ngoài ra, các nội dung “Hiệu trưởng xác định rõ và quán triệt cho giáo viên về mục tiêu của GDVHDT cho học sinh ở trường PTDTNT” và “Kiểm tra, đánh giá kết quả GDVHDT qua các môn học ở cuối học kì, cuối năm học” cũng chỉ được đánh giá mức trung bình. Như vậy, để nâng cao kết quả GDVHDT cho học sinh, lãnh đạo các trường PTDTNT cần quan tâm hơn nữa trong tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động GDVHDT thông qua hoạt động dạy học vì như đã trình bày ở trên dạy học là hoạt động trung tâm, là con đường nhanh nhất, thường xuyên và hiệu quả khá tốt trong việc GDVHDT cho học sinh.
2.4.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Các HĐNGLL giúp học sinh “vừa học, vừa chơi”, thông qua các hoạt động này học sinh có thể vừa tiếp thu được các tri thức khoa học, kiến thức về VHDT đồng thời cũng giúp các em giảm stress sau những giờ học căng thẳng. Để tổ chức các HĐNGLL, lực lượng quan trọng nhất trong nhà trường chính là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh qua các HĐNGLL tại các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận trình bày ở bảng 2.20 như sau:
- Bảng 2. 20. Thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua các HĐNGLL
Trung bình (ĐTB chung là 3,38) ĐLC là 0,776, nhỏ hơn 1 cho thấy các ý kiến khá tương đồng. Trong các nội dung được đánh giá, chỉ có 2 nội dung được đánh giá mức khá là “Sơ kết, tổng kết hoạt động GDVHDT thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” với điểm trung bình 3,58 và nội dung “Tổ chức, chỉ đạo lồng ghép nội dung GDVHDT trong các tiết HĐNGLL theo chủ điểm phù hợp với các tháng” với ĐTB là 3,57. Các nội dung còn lại đều được CBQL, GV đánh giá thực hiện mức trung bình, trong đó nội dung được nhận định là thấp nhất là “Phát động các đợt thi đua, tổ chức các sân chơi, các hoạt động giao lưu, tuyên truyền, các hoạt động nhân đạo, hoạt động lao động công ích, tình nguyện nhằm nâng cao nhận thức về ý nghĩa của GDVHDT cho học sinh” với điểm trung bình 3,18; tiếp theo là nội dung “Tổ chức cho học sinh tham quan các di tích lịch sử, các di tích văn hóa, làng nghề để GDVHDT” với điểm trung bình 3,21 và nội dung “Phân công trách nhiệm rõ ràng trong tổ chức các hoạt động GDVHDT với sự tham gia của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” với điểm trung bình 3,39.
Như vậy, việc GDVHDT cho học sinh thông qua tiết HĐNGLL đã được CBQL chỉ đạo thực hiện khá đồng bộ ở các trường PTDTNT.
2.4.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
GVCN có vai trò rất quan trọng trong giáo dục nhân cách học sinh nói chung và GDVHDT nói riêng. GVCN là người trực tiếp thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với học sinh, là người cha, người mẹ, người anh, người chị, cũng là người bạn với học sinh nên mọi sự tác động của GVCN có ảnh hưởng rất lớn đối với thái độ, hành vi của các em. Vì thế nếu làm tốt công tác chỉ đạo GVCN sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả GDVHDT cho học sinh. Bảng 2.21 trình bày kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm:
- Bảng 2. 21. Thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm
Kết quả khảo sát bảng 2.21 cho thấy, các nội dung được CBQL và GV nhận định là thực hiện ở mức trung bình với ĐTB chung 3,32; ĐLC 0,721. Trong các nội dung, có 1 nội dung là “Chỉ đạo GVCN phối hợp tốt với cha mẹ học sinh để GDVHDT” được đánh giá cao nhất, với điểm trung bình là 3,56, ứng với mức khá. Trên thực tế, hầu hết các trường PTDTNT đều có chỉ đạo GVCN xây dựng kế hoạch hoạt động năm, tháng cụ thể có nội dung phối hợp với cha mẹ học sinh để giáo dục học sinh nói chung, GDVHDT cho học sinh nói riêng. Điều này giúp cho GVCN chủ động hơn trong việc lựa chọn nội dung và tìm ra các giải pháp hiệu quả trong quá trình giáo dục học sinh. Bên cạnh đó, GVCN đã phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức các phong trào thi đua, các hoạt động xã hội, giao lưu, hoạt động công ích, tình nguyện và tổ chức cho học sinh đi tham quan, trải nghiệm các di tích lịch sử, di tích văn hóa đã góp phần quan trọng trong quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh. Tuy nhiên cần “Tăng cường phối hợp giữa GVCN với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong công tác GDVHDT cho học sinh”.
Nội dung “Tổ chức bồi dưỡng kiến thức VHDT, nhất là VHDT thiểu số cho GVCN” là nội dung khá cần thiết trong việc chỉ đạo GVCN của CBQL trong công tác GDVHDT. Tuy nhiên, nội dung này chỉ được đánh giá là thực hiện ở mức độ trung bình. GVCN là người thường xuyên giáo dục học sinh qua các tiết sinh hoạt ngoại khóa, giờ sinh hoạt lớp cho nên hơn ai hết GVCN phải nắm vững các kiến thức về phong tục tập quán, các lễ hội của dân tộc để từ đó có thể tuyên truyền trong học sinh. Do đó, việc bồi dưỡng kiến thức về VHDT, nhất là VHDT thiểu số là hết sức cần thiết. Qua khảo sát thực trạng cho thấy, nội dung này chưa nhận được nhiều sự quan tâm của lãnh đạo các trường PTDTNT. Các trường hiện nay vẫn thường nặng về bồi dưỡng các kiến thức về nội dung các môn học. Do đó, để thực hiện tốt quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh cần quan tâm hơn đến bồi dưỡng kiến thức về VHDT cho GVCN lớp trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Nội dung “Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDVHDT thông qua công tác chủ nhiệm” có điểm trung bình thấp nhất trong các nội dung được khảo sát (điểm trung bình là 3,02). Điều này cho thấy các trường chưa làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá GVCN về công tác GDVHDT cho học sinh. Vì vậy chưa thúc đẩy GVCN tích cực trong hoạt động GDVHDT cho học sinh.
2.4.5. Thực trạng quản lý các điều kiện giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú
Các điều kiện có vai trò quan trọng để thực hiện hiệu quả giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh tại trường PTDTNT, như cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính, các trang thiết bị phục vụ dạy và học, công tác phối hợp,….Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lý các điều kiện giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh được trình bày ở bảng 2.22 như sau:
- Bảng 2. 22. Thực trạng quản lý các điều kiện GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT
Kết quả bảng 2.22 cho thấy, các nội dung được CBQL, GV nhận định là thực hiện ở mức trung bình, với điểm trung bình là 3,37; ĐLC 0,826. Trong các nội dung có 06 được đánh giá ở mức khá, nội dung “Xây dựng nguồn tài liệu phong phú, cung cấp đầy đủ lượng sách báo và tạp chí phục vụ hoạt động GDVHDT” được đánh giá cao nhất, với điểm trung bình 3,62 và ĐLC 0,746. Còn nội dung “Xây dựng nếp sống văn hóa trong trường PTDTNT theo nét đẹp phong tục tập quán của các dân tộc (trang phục, giao tiếp, ứng xử…)”, được đánh giá thấp nhất, với điểm trung bình 2,92 (ĐLC 0,980), ở mức đạt trung bình.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường Phổ thông dân tộc nội trú
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh. Trước tiên, đó chính là sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương; các văn bản hướng dẫn về thực hiện nhiệm vụ đối với giáo dục dân tộc của ngành giáo dục và đào tạo. Về phía học sinh, các em ý thức được công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình; về phía phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến công tác GDVHDT cho học sinh; về phía nhà trường, xem đây là nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục đặc thù, quản lý hoạt động GDVHDT…
Kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh được trình bày ở bảng 2.23 sau đây đã thể hiện về mức độ ảnh hưởng:
- Bảng 2. 23. Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Kết quả bảng 2.23 cho thấy, kết quả khảo sát các yếu tố khách quan được CBQL và GV nhận định là mức ảnh hưởng khá, với điểm trung bình chung 3,68; ĐLC 0,847. Trong các nội dung, có 01 nội dung “Sự phối hợp của các lực lượng giáo dục” được nhận định ảnh hưởng cao nhất, với điểm trung bình 3,83, ứng với mức ảnh hưởng khá. Tiếp theo là yếu tố “Cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho hoạt động GDVHDT cho học sinh”. Còn nội dung “Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục về hoạt động GDVHDT cho học sinh” được nhận định ảnh hưởng ở mức thấp nhất, với điểm trung bình 3,30, ứng với mức ảnh hưởng trung bình. Kết quả khảo sát ở mục 2.3 cho thấy, tại các trường PTDTNT, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho hoạt động GDVHDT cho học sinh và sự phối hợp của các lực lượng trong GDVHDT cho học sinh chưa cao. Vì vậy, cần đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật và phối hợp tốt các lực lượng giáo dục trong GDVHDT cho học sinh.
Đối với nhóm yếu tố chủ quan, các nội dung được CBQL và GV nhận định mức ảnh hưởng thấp hơn so với nhóm yếu tố khách quan với điểm trung bình 3,40, ứng với mức ảnh hưởng trung bình. Trong các nhóm yếu tố chủ quan, có nội dung “Năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên trong tổ chức thực hiện GDVHDT cho học sinh” được đánh giá là ảnh hưởng nhiều hơn cả với điểm trung bình là 3,76, ảnh hưởng mức khá.
Hiện nay, năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên là một yếu tố hết sức quan trọng góp phần không nhỏ chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung, GDVHDT nói riêng. Giáo viên là những người trực tiếp giáo dục học sinh thông qua các tiết dạy trên lớp, các hoạt động ngoại khóa và các hình thức giáo dục khác. Cho nên muốn truyền tải những nội dung GDVHDT đến học sinh một cách hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có tâm, có lòng nhiệt thành và một nền tảng kiến thức vững chắc và kỹ năng sư phạm vững vàng mới có thể thực hiện được.
Nội dung “Tính tích cực, tự giác, tự giáo dục của người học” có điểm trung bình 3,25 thấp nhất trong nhóm yếu tố khách quan. Đây là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong nhà trường nói chung và GDVHDT nói riêng; có thể thấy học sinh trong các trường PTDTNT chưa có nhận thức đúng đắn, đầy đủ, toàn diện và chưa chủ động, tích cực, tự giác trong các hoạt động giáo dục của nhà trường, đặc biệt là hoạt động GDVHDT.
Như vậy, nhìn chung về các yếu tố khách quan và chủ quan đều có ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận từ mức trung bình đến khá. Đây là cơ sở để người nghiên cứu phân tích nguyên nhân của thực trạng GDVHDT và quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Ninh Thuận
Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu hồ sơ về thực trạng hoạt động GDVHDT và quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận, tác giả xác định những ưu điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân của thực trạng như sau.
2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
- Về hoạt động GDVHDT cho học sinh:
Đa số CBQL, GV, HS các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động GDVHDT cho học sinh.
Các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã đạt được kết quả nhất định trong thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức và kiểm tra, đánh giá kết quả GDVHDT cho học sinh.
Nhìn chung điều kiện GDVHDT ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận đáp ứng yêu cầu. Được sự quan tâm của Nhà nước và ngành GD tỉnh Ninh Thuận, kinh phí hoạt động giáo dục nói chung, GDVHDT nói riêng ở các trường PTDTNT luôn được bảo đảm.
- Về quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh:
Đa số CBQL, GV các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận nhận thức được tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người quản lý trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động GDVHDT trong nhà trường.
Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh được thực hiện thông qua hoạt động dạy học, thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thông qua công tác chủ nhiệm và quản lý các điều kiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh đã được các trường PTDTNT triển khai và đạt kết quả nhất định.
CBQL các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận có sự quan tâm, chỉ đạo thực hiện việc GDVHDT cho học sinh thông qua hoạt động dạy học đã chỉ đạo giáo viên tổ chức hoạt động dạy học lồng ghép, tích hợp GDVHDT; tổ chức các phong trào thi đua gắn với giáo dục các giá trị VHDT trong giáo viên, học sinh; thực hiện đầy đủ các nội dung quản lý, như lập kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung, sử dụng các phương pháp, phương tiện và hình thức, kiểm tra, đánh giá, quản lý điều kiện thực hiện, phối hợp các lực lượng giáo dục.
2.6.2. Hạn chế
- Về hoạt động GDVHDT cho học sinh Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Một bộ phận CBQL, GV, HS chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động GDVHDT cho học sinh.
Kết quả thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức GDVHDT chưa cao. Điều kiện thực hiện GDVHDT được đánh giá ở mức trung bình thuộc nhóm điều kiện “Xây dựng môi trường văn hóa”.
- Về quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh:
Một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh.
CBQL chưa quan tâm nhiều đến công tác kiểm tra, đánh giá của GVCN về triển khai hoạt động GDVHDT cho học sinh.
CBQL ở các trường PTDTNT chưa thực hiện tốt nhiệm vụ “Xây dựng nếp sống văn hóa trong trường PTDTNT theo nét đẹp phong tục tập quán của các dân tộc (trang phục, giao tiếp, ứng xử…)”.
Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức hiệu quả hoạt động GDVHDT cho học sinh còn chưa kịp thời, thường xuyên, đồng bộ, thiếu sự nhất quán giữa nhà trường và các tổ chức đoàn thể, xã hội và phụ huynh học sinh.
Cơ bản điều kiện GDVHDT ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận đáp ứng yêu cầu. Tuy nhiên cần chú ý nâng cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng phòng sinh hoạt văn hóa nhằm thực hiện có hiệu quả GDVHDT cho học sinh.
2.6.3. Nguyên nhân
- Nguyên nhân của ưu điểm:
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương và các cấp quản lý giáo dục về GDVHDT, trong đó có sự phối hợp của các lực lượng giáo dục, sự đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT.
Các trường PTDTNT đã nhận thức rõ nhiệm vụ giáo dục đặc thù. Cán bộ quản lý, giáo viên quan tâm thực hiện hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh.
Đa số học sinh học tập và sinh hoạt tại trường nên rất thuận lợi để các trường PTDTNT tổ chức hoạt động GDVHDT.
- Nguyên nhân của hạn chế: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận:
Nhận thức về hoạt động GDVHDT cho học sinh của một bộ phận CBQL, GV và HS còn hạn chế. Kiến thức am hiểu về văn hóa dân tộc của CBQL, GV chưa toàn diện, sâu sắc.
Sự kết hợp giáo dục giữa 03 môi trường Gia đình-Nhà trường và Xã hội đối với GDVHDT còn hạn chế, tình hình kinh tế của địa phương còn khó khăn nên chưa huy động được các nguồn lực trong hoạt động GDVHDT cho học sinh.
Kinh phí dành cho hoạt động GDVHDT cho học sinh còn ít, chưa được đầu tư xây dựng phòng truyền thống, phòng sinh hoạt tập thể.
Kết luận chương 2
Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, Đề tài tập trung khảo sát các nội dung cụ thể sau: Nhận thức của CBQL, GV và HS về hoạt động giáo dục VHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận; Thực trạng hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận; Thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận; Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động GDVHDT cho học sinh tại các trường PTDTNT đã được quan tâm. Đa số CBQL, GV và HS đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng của hoạt động GDVHDT.
Đội ngũ CBQL, GV, HS có trách nhiệm, có ý thức và quan điểm khá tương đồng trong việc thực hiện theo mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và kiểm tra đánh giá kết quả GDVHDT cho học sinh.
Song một bộ phận nhỏ giáo viên, học sinh chưa có nhận thức đúng, đầy đủ về ý nghĩa, mục tiêu, nội dung và tầm quan trọng của GDVHDT, nên trong hành động vẫn còn những hạn chế nhất định. Trong hoạt động GDVHDT, hình thức, phương pháp giáo dục chưa được đánh giá cao, cả về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện.
Quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường PTDTNT là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhằm tổ chức các hoạt động GDVHDT cho học sinh trong nhà trường để đạt được mục tiêu GDVHDT đề ra. Quản lý hoạt động giáo dục hóa dân tộc bao gồm nhiều nội dung: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua hoạt động dạy học; Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp; Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm; Quản lý các điều kiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Mặc dù đa số CBQL, GV đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh song kết quả thực hiện chưa cao, chỉ đạt mức từ trung bình đến khá.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDVHDT, các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến thực trạng quản lý nhiều hơn các yếu tố khách quan.
Kết quả phân tích thực trạng quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh ở các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động GDVHDT cho học sinh trường các trường PTDTNT tỉnh Ninh Thuận được trình bày ở chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục văn hóa dân tộc cho HS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

