Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường trung học cơ sở Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, đó là nền tảng, cơ sở, tiền đề để quyết định sự phồn vinh của mỗi quốc gia.

Quan điểm của Đảng ta nêu rõ [2]: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết; Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Từ quan điểm chỉ đạo trên, yêu cầu đặt ra cho ngành Giáo dục là phải tập trung hơn nữa vào chất lượng giáo dục, nhất là quan tâm đến vấn đề giáo dục Kĩ năng sống cho thế hệ trẻ, trong đó có học sinh Trung học cơ sở.

Giáo dục Kĩ năng sống cho thanh thiếu niên là vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, đặc biệt ở các quốc gia phát triển như: Hoa Kì, Pháp, Thụy Sỹ, Canada, Trung Quốc,….

Ở Việt Nam, với mục đích đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kịp thời sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 29/QĐ-BGD&ĐT ngày 20/7/2010 và Kế hoạch số 453/KH-BGD&ĐT ngày 30/7/2010 về tập huấn và triển khai giáo dục kỹ năng sống thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, nhằm nâng cao các kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đồng thời nhằm hạn chế các tệ nạn xã hội đang có nguy cơ xâm nhập vào học đường thông qua các HĐTN. Trong quá trình tiến hành đổi mới chương trình phổ thông, BGD&ĐT đặc biệt quan tâm việc đến phương pháp và mục tiêu giáo dục được UNESCO đề xuất theo hướng tiếp cận kỹ năng sống: Học để biết, học để làm, học để khẳng định mình và học để cùng chung sống.

Vấn đề giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh ngày càng nhận được sự quan tâm từ các cấp quản lý giáo dục và các nhà khoa học, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến phương diện lý luận và thực tiễn của việc rèn Kĩ năng sống. Kết quả của hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh được xem là thước đo hiệu quả, chất lượng đào tạo.

Kỹ năng sống giúp con người có nhận thức và hành động đúng đắn phù hợp với sự phát triển của đời sống xã hội. Người có kỹ năng sống phù hợp sẽ vững vàng hơn trước những khó khăn thử thách; có thái độ ứng xử và giải quyết vấn đề một cách thấu đáo và tích cực. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở là thật sự cần thiết, giúp các em rèn luyện bản thân để có những hành vi đúng đắn phù hợp có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.

Cầu Giấy là một quận nội thành Hà Nội, được thành lập hơn 20 năm (Ngày 22 tháng 11 năm 1996) [22], có tốc độ đô thị hoá cao. Định hướng giáo dục các em học sinh nằm trong định hướng của Đảng, Chính phủ và lãnh đạo Thành phố Hà Nội, như đã được nhấn mạnh trong Chương trình 04-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội khóa XVI “Phát triển văn hóa – xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh giai đoạn 2016 – 2020” là cần quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục kỹ năng sống, tiếp tục thực hiện “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh trong học sinh Thủ đô”.

Trong những năm qua, vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Quận Cầu Giấy nói chung và việc tổ chức giáo dục KNS cho học sinh ở trường Trung học Cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy nói riêng đã được quan tâm thực hiện theo hướng dẫn của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên, bước đầu đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc tổ chức giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh thông qua HĐTN chưa được triển khai rộng rãi, đồng bộ ở các lớp học trong nhà trường cũng như chưa được tiến hành đều đặn, thường xuyên theo kế hoạch. Bởi vậy, chất lượng và hiệu quả của hoạt động này chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng này là do chưa có biện pháp quản lý giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh thông qua các HĐTN một cách phù hợp, trên cơ sở những nghiên cứu có hệ thống.

Từ những lý do về lý luận và thực tiễn giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt dộng giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội” với mong muốn kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trường trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐTN cho học sinh trường trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh Trung học cơ sở.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh ở trường trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

3.2. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho HS trường Trung học cơ sở theo hướng trải nghiệm.

4. Câu hỏi nghiên cứu

  • Thực trạng hoạt động GD Kĩ năng sống, quản lý hoạt động GD Kĩ năng sống và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng – quận Cầu Giấy – thành phố Hà Nội đang diễn ra như thế nào?
  • Trước thực trạng khảo sát được, cần đề xuất những biện pháp gì để quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng – quận Cầu Giấy – thành phố Hà Nội đạt hiệu quả cao hơn?

5. Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua, vấn đề quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh ở trường trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã được tiến hành và đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn những điểm hạn chế, bất cập, cần cải tiến. Tuy nhiên, vẫn chưa có một minh chứng khoa học đầy đủ nào để khẳng định vấn đề này. Vì vậy, cần phải thực hiện một nghiên cứu mang tính hệ thống trên cơ sở đánh giá thực trạng để từ đó đề xuất được các biện pháp quản lý khoa học và phù hợp với thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh, thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Hệ thống hóa lý lu n quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường phổ thông theo hướng trải nghiệm.
  • Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

  • Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội trong 3 năm học năm học 2016 – 2017, 2017 – 2018 và 2018 – 2019.
  • Giới hạn địa bàn: Đề tài tập trung khảo sát tại trường Trung học cơ sở Dịch Vọng Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  • Giới hạn khách thể khảo sát: Đề tài khảo sát 110 người trong đó 10 cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn); 10 người làm công tác tổ chức Đoàn, Đội; 25 giáo viên, 50 học sinh và 15 phụ huynh học sinh ở trường trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập, tổng hợp, phân tích, các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các văn bản về chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, Chính phủ, các cấp giáo dục; các tài liệu khoa học, các đề tài … để xác định vấn đề nghiên cứu, khái quát cơ sở lý luận, xây dựng khung lý luận của đề tài.

8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiến

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

  • Mục tiêu: tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh
  • Đối tượng: cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn), giáo viên (giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, Tổng phụ trách), học sinh và phụ huynh HS trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
  • Nội dung: xây dựng bảng hỏi với các loại câu hỏi đóng, mở phù hợp với từng nhóm khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh, học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Phương pháp phỏng vấn:

  • Mục tiêu: Tìm hiểu thông tin của công tác quản lý giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh của trường thông qua trải nghiệm thực tiễn.
  • Đối tượng: Trò chuyện, trao đổi, tọa đàm với các nhà quản lý giáo dục giáo viên và học sinh trong nhà trường về việc triển khai, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của trường thông qua trải nghiệm thực tiễn.
  • Nội dung: Việc triển khai và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của trường thông qua trải nghiệm thực tiễn.

Phương pháp quan sát, đánh giá các hoạt động cụ thể:

  • Mục tiêu: Tiến hành thu thập thông tin có liên quan đến thực trạng quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong nhà trường.
  • Đối tượng: Tham dự và quan sát trực tiếp việc triển khai các kế hoạch hoạt động, kế hoạch sinh hoạt chủ điểm vào thứ hai hàng tuần, …
  • Nội dung: Việc quản lý tổ chức giáo dục Kĩ năng sống thông qua trải nghiệm thực tiễn cho học sinh trong nhà trường.

Nhóm phương pháp bổ trợ: Sau khi khảo sát thực trạng, tác giả tiến hành xử lý, phân tích các số liệu của đề tài bằng phần mềm SPSS 16.0.

9. Những đóng góp của đề tài

  • Về lý luận:

Góp phần phát triển lý luận về hoạt động giáo dục Kĩ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở theo hướng trải nghiệm. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Làm rõ thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội. Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

  • Về thực tiễn:

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội nhằm nâng cao kết quả chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh.

10. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài được trình bày trong 3 chương đó là:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh ở trường trung học cơ sở.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
  • Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan

1.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước

Theo WHO, giáo dục Kĩ năng sống xuất hiện ở hàng loạt các chương trình giáo dục như phòng ngừa lạm dụng chất gây nghiện, mang thai tuổi vị thành niên, phòng ngừa bắt nạt, … Giáo dục Kĩ năng sống thông qua các chương trình đã thể hiện giá trị của các Kĩ năng sống, gắn liền với cuộc sống hàng ngày trong việc thúc đẩy, đảm bảo sức khỏe tinh thần, thể chất, mối quan hệ xã hội và hành vi của mỗi người. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Năm 1993 – 1997, WHO đã đưa ra hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục Kĩ năng sống cho trẻ em và trẻ vị thành niên, hướng đến kết hợp thực hiện giáo dục Kĩ năng sống trong các trường học. Các cam kết quốc tế về Kĩ năng sống đã được đưa vào các văn kiện quan trọng trên toàn cầu cũng như trong các chính sách và chiến lược của nhiều quốc gia. Điều này đã dẫn tới sự mở rộng nhanh chóng các sáng kiến về giáo dục Kĩ năng sống với nhiều nội dung, quy mô, cách tiếp cận, thực hiện giáo dục Kĩ năng sống phong phú.

UNICEF đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ việc giới thiệu giáo dục Kĩ năng sống thông qua các hướng dẫn về Kĩ năng sống, giáo dục Kĩ năng sống. Giáo dục Kĩ năng sống đã được đưa vào các trường học chính quy theo nhiều cách khác nhau, theo chủ đề mới, hoặc được kết hợp giảng dạy trong các môn học ở mức độ khác nhau.

Định hướng giáo dục Kĩ năng sống trong thực tiễn UNESCO đã xác định các nguyên tắc cơ bản như đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân…

Ở Mỹ, Bộ Lao động Mỹ và Hiệp hội đào tạo và Phát triển Mỹ đã xác định 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc (kỹ năng giải quyết vấn đề; thuyết trình; tư duy sáng tạo; đặt mục tiêu, tạo động lực làm việc; làm việc đồng đội; đàm phán; tổ chức công việc hiệu quả; phát triển cá nhân và sự nghiệp; lãnh đạo bản thân; quản lý bản thân và tinh thần tự tôn; giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ; lắng nghe; học và tự học).

Ở Đông Nam Á, những năm đầu thập niên 90, một số nước Châu Á như: Lào, Campuchia, Malaysia, Indonexia, Thái Lan, Ấn Độ,… cũng đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy Kĩ năng sống ở các bậc học phổ thông. Các nước đã xây dựng, thiết kế chương trình giáo dục và trang bị Kĩ năng sống, như tích hợp, lồng ghép vào chương trình dạy học, vào các môn học và các chương trình khác.

Mặc dù cùng xuất phát từ quan niệm chung về kỹ năng sống của UNESCO hoặc WHO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kỹ năng sống ở các nước không giống nhau, thể hiện những nét đặc thù chung và nét riêng của từng quốc gia. Nhìn chung việc triển khai giáo dục kỹ năng sống ở các quốc gia chưa thật toàn diện và sâu sắc, còn thiếu kinh nghiệm và chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kỹ năng sống.

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Trong quá trình giáo dục, hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho HS là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng, chính vì vậy, vấn đề giáo dục Kĩ năng sống cho thế hệ trẻ được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

Trong giáo dục học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra nội dung giáo dục toàn diện gồm trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục. Bác nhắc nhở giáo dục cần phù hợp với thực tế, “Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện”, đồng thời Bác chú trọng việc vận dụng kiến thức vào thực tế “Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không làm được”. Với nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”.

Luật Giáo dục 2019 (Điều 29) xác định mục tiêu của giáo dục phổ thông là nhằm phát triển toàn diện cho người học về trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính sáng tạo và năng động; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân.

Trong chương trình giáo dục và đào tạo, ngành giáo dục đã đưa giáo dục Kĩ năng sống vào hệ thống giáo dục (chính quy và không chính quy). Đề cập đến vấn đề Kĩ năng sống nói chung và kỹ năng trong nhà trường nói riêng như đã có một số công trình nghiên cứu trong nước như: “Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân [47]; “Kỹ năng sống cho vị tuổi thành niên” của tác giả Nguyễn Thị Oanh [48]; “Giáo dục kỹ năng sống trong môn Giáo dục công dân ở trường Trung học cơ sở” của tác giả Đặng Thúy Anh – Lê Minh Châu; đề cập đến vấn đề xã hội hoá giáo dục Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên địa bàn xã phường, tác giả Nguyễn Thanh Bình viết cuốn “Chuyên đề giáo dục Kĩ năng sống” – (2009) [8].

Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Hoàng Minh, Đinh Thị Kim Thoa đề cập đến vấn đề giáo dục Kĩ năng sống cho HS trong tập bài giảng “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở”; Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Văn Tính, Đinh Thị Kim Thoa, Vũ Phương Liên với tài liệu “Giáo dục giá trị – Kỹ năng sống cho HS phổ thông” [44] …. Các tài liệu này hướng đến đẩy mạnh và tăng cường giáo dục Kĩ năng sống, tổ chức giáo dục Kĩ năng sống cho HS theo tinh thần xã hội hoá.

Tóm lại, tìm hiểu về vấn đề giáo dục Kĩ năng sống, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, từ chỗ phân tích làm rõ thực trạng của vấn đề giáo dục Kĩ năng sống các công trình này đã đề xuất các biện pháp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh, sinh viên.

Thực tế hiện nay ở các trường Trung học cơ sở việc giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh mới chỉ được thực hiện ở mức độ tích hợp ở một số môn học như Công nghệ, Giáo dục công dân, việc giáo dục Kĩ năng sống thông qua các hoạt động tập thể, hoạt động GDNGLL trong nhà trường chưa thực sự được quan tâm đúng mức và chưa mang lại hiệu quả cao.

1.2. Một số khái niệm Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

1.2.1. Quản lý

Khái niệm quản lý được đề cập với nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau.

Thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Harold Kontz đã xác định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, quản lý đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về tiền bạc, thời gian, và sự bất mãn cá nhân ít nhất.

Trong từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXBGD, 1998) quản lý được định nghĩa là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.

Quản lý theo góc nhìn của tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [40].

Cũng nói về quản lý, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí viết: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [45].

Hoạt động quản lý ngày nay được định nghĩa rõ hơn đó là quá trình vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để đạt đến mục tiêu của tổ chức. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên quan niệm quản lý giáo dục thường được đề cập theo hai cấp độ chủ yếu là quản lý vĩ mô và quản lý vi mô.

Cấp độ vĩ mô: quản lý giáo dục được hiểu là việc chủ thể quản lý tác động có mục đích, có kế hoạch vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Cấp độ vi mô: quản lý giáo dục được hiểu là việc chủ thể quản lý tác động có mục đích, có kế hoạch vào hệ thống giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các bộ phận phối hợp hoạt động, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã đề ra.

Quản lý giáo dục vừa là một hiện tượng xã hội, vừa là một loại quá trình xã hội, đồng thời cũng là một hệ thống xã hội. Đây là một lĩnh vực khoa học có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội và đến nay khoa học này ngày càng được quan tâm, hoàn thiện để đáp ứng sự phát triển của xã hội.

1.2.3. Kỹ năng, kỹ năng sống Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Kỹ năng

Theo từ điển Tiếng Việt “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [30]. Kỹ năng là khả năng thực hiện những thao tác được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trải nghiệm của bản thân.

  • Kỹ năng sống

Khái niệm kỹ năng sống được diễn đạt theo những quan niệm, những cách khác nhau: Theo WHO – Tổ chức Y tế thế giới, Kĩ năng sống là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng giao tiếp, đó là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả trước những tình huống hàng ngày [60].

Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF): “KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng”, UNICEF cũng nhấn mạnh rằng kỹ năng không hình thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tại trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ [60].

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2008) [57]: “KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu kỹ năng sống là năng lực tâm lí – xã hội của mỗi cá nhân, những năng lực đó giúp mỗi chúng ta làm chủ bản thân và có khả năng ứng xử phù hợp với mọi người và ứng phó tích cực trước các tình huống. Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội.

  • Phân loại Kĩ năng sống.

Hệ thống các Kĩ năng sống cần dược giáo dục cho người học theo cách nhìn nhận của WHO gồm:

  • Nhóm kỹ năng nhận thức: bao gồm KN tư duy phê phán, xác định giá trị, đặt mục tiêu, khả năng sáng tạo, tư duy phân tích, nhận thức hậu quả, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,…
  • Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc bao gồm một số kỹ năng: Ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lý, kỹ năng tự giám sát và tự điều chỉnh,…
  • Nhóm kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác, gồm các kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp, tính quyết đoán, từ kỹ năng cảm thông, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng hợp tác, khả năng nhận thấy sự thiện cảm của người khác, ….

Theo UNESCO [59], kỹ năng sống phải được phân chia thành các nhóm kỹ năng sau:

  • Nhóm kỹ năng chung: đó là nhóm kỹ năng cơ bản mà mỗi người đều có thể thích ứng với cuộc sống chung với các kỹ năng như kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội.
  • Nhóm kỹ năng chuyên biệt: đó là nhóm kỹ năng được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: các kỹ năng liên quan đến giới và giới tính, các kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, các kỹ năng về vấn đề xã hội, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, …

UNESCO phân loại Kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột giáo dục gồm: Học để biết gồm các kỹ năng tư duy; Học để làm gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ; Học để làm người gồm các kỹ năng cá nhân; Học để sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Mọi sự phân loại chỉ là tương đối, các kỹ năng sống có liên quan chặt chẽ đến nhau.

Ở Việt Nam, năm 2010 Bộ Giáo dục – Đào tạo đã ban hành tài liệu hướng dẫn tích hợp các Kĩ năng sống trong một số môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp, trong đó giới thiệu 21 Kĩ năng sống cơ bản và cần thiết cho học sinh trong.

Ở Việt Nam, trong giáo dục chính quy Kĩ năng sống thường được phân loại theo mối quan hệ gồm 3 nhóm: Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình; Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác; Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả.

1.2.4. Hoạt dộng giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục Kĩ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể đến học sinh nhằm trang bị cho HS có những kiến thức về cuộc sống, hành vi ứng xử phù hợp trong các tình huống và các mối quan hệ xã hội, từ đó có sự phát triển nhân cách đúng đắn và thích ứng tốt nhất với môi trường sống.

Giáo dục Kĩ năng sống là quá trình hình thành những hành vi tích cực, lành mạnh và thay đổi những hành vi tiêu cực trên cơ sở giúp người học có kiến thức, thái độ và các kỹ năng thích hợp, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội.

Hoạt động giáo dục kỹ năng sống thường gắn liền với các chương trình giáo dục đa dạng trong nhà trường, với sự tham gia của tất cả các lực lượng giáo dục. Kĩ năng sống được hình thành trong suốt quá trình học tập và rèn luyện của mỗi cá nhân, diễn ra cả trong và ngoài nhà trường.

Giáo dục Kĩ năng sống cho HS là giáo dục những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp các em có thể chuyển tải những gì mình đã biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống [23].

Sự quan tâm, tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: Nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội sẽ đạt được kết quả tốt trong công tác giáo dục Kĩ năng sống cho HS. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Đối với học sinh Trung học cơ sở, nội dung giáo dục Kĩ năng sống cần tập trung vào một số kỹ năng cơ bản cần thiết như sau:

  • Kỹ năng giao tiếp ứng xử;
  • Kỹ năng từ chối, phòng ngừa cám dỗ;
  • Kỹ năng biết sống lành mạnh, phòng chống tai tệ nạn xã hội;
  • Kỹ năng biết tự nhận thức đúng bản thân;
  • Kỹ năng biết xác định mục tiêu phù hợp;
  • Kỹ năng tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề;
  • Kỹ năng kiên định;

Giáo dục Kĩ năng sống cho HS Trung học cơ sở cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

  • Tương tác: Ở nguyên tắc này, GV cần tổ chức cho HS tham gia các hoạt động, tương tác giữa HS với GV, HS với HS trong quá trình giáo dục.
  • Trải nghiệm: Chủ thể giáo dục cho HS được trải nghiệm qua các tình huống thực tế để từ đó người học rút ra bài học cho bản thân.
  • Tiến trình: GD Kĩ năng sống đòi hỏi phải có cả quá trình, từ nhận thức đến hình thành thái độ và thay đổi hành vi.
  • Thay đổi hành vi: Từ việc tham gia các hoạt động trải nghiệm, người học có những kiến thức thực tiễn, từ đó thay đổi hành vi, định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình.

Thời gian – môi trường giáo dục: Việc Giáo dục kỹ năng sống cần thực hiện ở mọi nơi, mọi thời điểm, dưới sự tác động tổng hợp của môi trường giáo dục và thực hiện càng sớm càng tốt. Giáo viên không nên cứng nhắc về thời gian, địa điểm hay quy mô thực hiện Giáo dục kỹ năng sống.

1.2.5 Quản lý hoạt dộng giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Trải nghiệm

Theo Từ điển Tiếng Việt [30]: Trải nghiệm được hiểu đơn giản nhất là những gì con người từng kinh qua thực tế, từng biết, từng chịu. Trải nghiệm mang lại cho con người kinh nghiệm phong phú bởi khi trải nghiệm, ta đã trải qua con đường “thử” và “sai”. Người trải nghiệm nhiều sẽ có nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống cho bản thân, giúp con người hình thành năng lực, phẩm chất sống.

Trải nghiệm có nhiều dạng khác nhau, tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau như phạm vi diễn ra hoạt động, đặc điểm của hoạt động hay nội dung giáo dục thông qua hoạt động…

  • Học tập thông qua trải nghiệm là học tập thông qua sự phản ánh về việc làm, thường tương phản với học vẹt, giáo khoa.
  • Học tập trải nghiệm có liên quan nhưng không đồng nhất với giáo dục thực nghiệm, học tập hành động, học tập khám phá hay học tập dịch vụ.

Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh, không nhất thiết phải là hoạt động quy mô lớn, ở ngoài trời… Người học tham gia vào các hoạt động trên lớp học, được tương tác với con người, sự vật, được làm những cái mới mẻ mà trước đó chưa từng làm, chưa từng nói, người học sẽ rút ra được kinh nghiệm cho bản thân đó cũng là trải nghiệm. Việc các em tư duy, động não về những cái chưa biết, cái mới cũng được cho là trải nghiệm. Từ quan điểm này khi tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh nói chung, hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói riêng, giáo viên không nên cứng nhắc về thời gian, địa điểm hay quy mô thực hiện.

  • Hoạt động trải nghiệm

Hoạt động trải nghiệm (cấp tiểu học) và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (cấp Trung học cơ sở và cấp Trung học phổ thông) là hoạt động giáo dục bắt buộc được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12.

Hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là các hoạt động giáo dục có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường, đó là hoạt động do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện. Người học từ việc được tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học các em có thể v n dụng thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống diễn ra ở nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi của mình; thông qua đó, người học chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành những tri thức mới, những hiểu biết mới, kỹ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, với môi trường xung quanh và nghề nghiệp tương lai.

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo hướng trải nghiệm là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở nhà trường nhằm tác động đến phương thức trải nghiệm được áp dụng trong quá trình Giáo dục kỹ năng sống đối với học sinh. Đối tượng được áp dụng nội dung quản lý chính là các lực lượng tham gia vào quá trình đó, chủ yếu là học sinh và giáo viên (tùy từng nội dung, giáo viên bộ môn hoặc giáo viên chủ nhiệm, hoặc cả hai tham gia chính vào hoạt động này cùng học sinh). Mối quan hệ qua lại giữa học sinh và giáo viên trong quá trình triển khai phương thức là yếu tố cần thiết để phản ánh hoạt động quản lý này. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

1.3. Hoạt động Giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

1.3.1. Đổi mới giáo dục phổ thông và yêu cầu Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở

Xã hội ngày càng phát triển, càng hiện đại thì con người càng phải đối diện với những mặt trái to lớn từ môi trường (tự nhiên – xã hội – con người).

  • Chính vì vậy, ngành giáo dục cần phải có những thay đổi phù hợp với môi trường hoàn cảnh mới.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, HS đứng trước những tác động tích cực và tiêu cực đan xen, phải đứng trước nhiều sự lựa chọn, đương đầu với những áp lực, thử thách nếu không được hướng dẫn, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, ứng phó không lành mạnh, dễ mắc các tệ nạn xã hội, sống khép mình, ích kỉ, thiếu các kỹ năng như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng kiểm soát cảm xúc…

Nghị quyết số 29 NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới giáo dục toàn diện đã đặt ra nhiều yêu cầu mới trong sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo hiện nay, đòi hỏi các cấp, các ngành và toàn thể xã hội cần phải có cái nhìn tổng quan hơn về nền giáo dục đương thời [2].

Đổi mới giáo dục phổ thông hướng đến mục tiêu chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức cho học sinh sang chủ yếu là trang bị những phẩm chất và năng lực công dân. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng phải đổi mới chuyển sang phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học.

Đổi mới giáo dục phổ thông cần hướng đến việc giúp thế hệ trẻ có được đầy đủ kỹ năng sống cần thiết, từ đó giúp các em đứng trước thềm hội nhập quốc tế phải tự tin; năng động và sáng tạo; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như phải có một số kỹ năng: sống khoẻ, sống lành mạnh, sống có ích, giỏi lập trình, giỏi Tiếng Anh… Giáo dục Kĩ năng sống có tác động tích cực trong quá trình dạy và học, góp phần to lớn vào việc thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.

Ngành Giáo dục và Đào tạo đã và đang có những định hướng tích cực để đưa Kĩ năng sống vào giảng dạy tại các bậc học. Qua việc rèn luyện Kĩ năng sống giúp HS tự quản, tự giác, gắn bó với nhau trong tập thể, giúp nhau học tập, rèn luyện đạo đức tốt trong nhà trường và học tập ngày càng tiến bộ.

1.3.2. Hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Để thống nhất trong quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua HĐTN, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản có tính chất chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện, đây là cơ sở, là hành lang pháp lý để các lực lượng thực hiện tốt việc Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua HĐTN. Có thể kể đến một số văn bản sau: Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009; Công văn số 4026/BGDĐT-GDCTHSSV ngày 01/9/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc “Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”… Từ đó chỉ ra quản lý giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh Trung học cơ sở bao gồm các nội dung sau:

  • Mục dích giáo dục kỹ năng sống cho HS ở trường Trung học cơ sở thông qua hoạt dộng trải nghiệm

Để giáo dục trước hết nhà giáo dục phải căn cứ vào mục đích chung của hệ thống giáo dục, từ đó đưa ra các mục đích cụ thể cho từng hoạt động giáo dục. Nhà quản lý phải quản lý mục đích của nhà giáo dục đặt ra, đánh giá xem có phù hợp với mục tiêu chung không, phù hợp với lứa tuổi, với điều kiện cụ thể không…

  • Nội dung giáo dục Kĩ năng sống cho HS ở trường Trung học cơ sở thông qua hoạt dộng trải nghiệm

Thực hiện đúng nội dung hướng dẫn chỉ đạo của các cấp quản lý cao hơn từ Bộ, Sở cho đến Ngành giáo dục của địa phương. Chỉ đạo đội ngũ xây dựng chương trình, thực hiện các nội dung giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh. Việc kiểm tra kết quả đạt được của hoạt động.

  • Phương pháp giáo dục Kĩ năng sống cho HS ở trường Trung học cơ sở thông qua hoạt dộng trải nghiệm.

HĐTN rất đa dạng, phong phú, phương pháp giáo dục Kĩ năng sống cũng hết sức đa dạng, tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung giáo dục, tuỳ thuộc vào đối tượng giáo dục và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, tuỳ thuộc vào bản thân nhà giáo dục. Tuy nhiên, để đảm bảo sự thống nhất nhưng vẫn phát huy được sự sáng tạo của mỗi nhà trường, mỗi nhà giáo dục thì phải có sự quản lý chặt chẽ. Quản lý phương pháp giáo dục là xem xét sự hợp lí, bảo đảm tính khoa học của mỗi phương pháp trong quá trình tổ chức các HĐTN. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Hình thức tổ chức giáo dục Kĩ năng sống cho HS ở trường Trung học cơ sở thông qua hoạt dộng trải nghiệm

Giáo dục Kĩ năng sống hiện nay trong trường phổ thông được thực hiện chủ yếu qua 2 hình thức: Giáo dục Kĩ năng sống thông qua việc lồng ghép, tích hợp vào các môn học, bài học trong chương trình giáo dục của nhà trường.

Giáo dục Kĩ năng sống thông qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp như câu lạc bộ, diễn đàn, sân khấu hóa (kịch, thơ, múa rối, tiểu phẩm, hát, múa…), tổ chức cho HS tham gia tham quan dã ngoại, thể dục thể thao, các cuộc thi/hội thi, các hoạt động nhân đạo, tình nguyện, cộng đồng; sinh hoạt theo chủ đề.

Mặc dù hình thức tổ chức giáo dục Kĩ năng sống rất đa dạng, mỗi hình thức đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Việc lựa chọn hình thức tổ chức sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, phù hợp với mục tiêu và nội dung đã đề ra, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và hoàn cảnh cụ thể của mỗi loại hình hoạt động lại phụ thuộc vào công tác quản lý. Yêu cầu giáo viên và học sinh lựa chọn hình thức nào, tại sao phải lựa chọn hình thức đó là cả một vấn đề nghệ thuật trong công tác quản lý.

  • Việc kiểm tra đánh giá quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học cơ sở thông qua hoạt dộng trải nghiệm

Quản lý việc kiểm tra đánh giá quá trình giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học cơ sở thông qua HĐTN là việc làm rất quan trọng. Bởi lẽ cách đánh giá chất lượng giáo dục chính xác, đầy đủ, khách quan quá trình học tập rèn luyện Kĩ năng sống của HS sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục đồng thời đáp ứng mục tiêu giáo dục thực tiễn đã đề ra. Qua kiểm tra đánh giá, GV khích lệ HS phát huy các mặt mạnh, khắc phục các mặt yếu của bản thân để từ đó có điều chỉnh theo hướng tích cực.

  • Mục đích của giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), ba thành tố hợp thành năng lực của con người gồm đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ. Mục đích của hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho HS nhằm thay đổi nhận thức, hành vi của HS từ chỗ thụ động, có thể mang đến rủi ro và hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, có tác dụng tích cực đến chất lượng giáo dục, chất lượng cuộc sống. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Nội dung giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

Theo công văn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28 tháng 1 năm 2015 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục Kĩ năng sống tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, thì nội dung giáo dục Kĩ năng sống là giáo dục cho người học những kỹ năng cơ bản, cần thiết, hướng tới hình thành những thói quen tốt giúp người học thành công, đảm bảo vừa phù hợp với thực tiễn và thuần phong mỹ tục Việt Nam vừa hội nhập quốc tế trong giai đoạn công nghiệp hoá đất nước.

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục các trường Trung học cơ sở nên tập trung giáo dục những Kĩ năng sống cho HS như sau:

Kỹ năng tự nhận thức: là khả năng con người có thể ý thức rõ ràng về chính bản thân mình, như cảm xúc, tính cách, các mối quan hệ xã hội sở thích,… để từ đó biết phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu trong tổ chức cuộc sống và mối quan hệ với mọi người.

Kỹ năng xác định giá trị: là khả năng xác định giá trị của bản thân mình để sống và hành động theo giá trị đó.

Kỹ năng kiểm soát cảm xúc: là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình, hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc (đối với bản thân mình và đối với người khác) và biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp với các tình huống.

Kỹ năng thể hiện sự tự tin: là khả năng con người có niềm tin vào bản thân, có suy nghĩ tích cực, lạc quan trong cuộc sống và cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.

Kỹ năng giao tiếp: đây là một trong những kỹ năng mềm cực kì quan trọng, góp phần to lớn quyết định thành công của hoạt động giao tiếp. Đó là khả năng ứng xử, đối đáp phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa để giao tiếp hiệu quả.

Kỹ năng thể hiện sự cảm thông: là khả năng cá nhân có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác để từ đó chấp nhận và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ.

Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn: là kỹ năng giải quyết những bất đồng, những bất bình, những tình huống xung đột, tranh cãi với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó trong cuộc sống.

Kỹ năng hợp tác: là khả năng cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm, kỹ năng này đòi hỏi mỗi thành viên cần biết chia sẻ trách nhiệm, cam kết và hợp tác.

Kỹ năng ra quyết định: là khả năng của cá nhân biết phân tích tình hình trên cơ sở đó lựa chọn phương án tối ưu để vận dụng giải quyết kịp thời những vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống.

Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ: là khả năng cá nhân giữ bình tĩnh, kiên nhẫn, không sợ hãi khi gặp sự cố không mong muốn, ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ, xác định người giúp đỡ và biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp với người hỗ trợ mình.

Kỹ năng lắng nghe tích cực: là kỹ năng quan trọng trong việc phát triển mối quan hệ, ở đó cá nhân biết thể hiện sự tập trung chú ý và quan tâm lắng nghe ý kiến của người khác, cho ý kiến phản hồi, chấp nhận và thông cảm với vấn đề người nói.

Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả: là khả năng cá nhân biết sắp xếp các công việc và tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm để mang lại hiệu quả tốt nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Kỹ năng tự phục vụ bản thân: Là khả năng mỗi cá nhân tự xác định và trang bị cho mình những kỹ năng phục vụ chính mình.

Kỹ năng tự học: Tự học là khả năng con người biết tự tìm tòi, khám phá những điều mình muốn biết không cần nhờ vào sự trợ giúp của người khác như: Tự xây dựng kế hoạch và mục tiêu cho việc học tập của bản thân; nghiên cứu tài liệu, chọn lọc thông tin, kiến thức; học cách ghi nhớ có chọn lọc; tự kiểm tra kiến thức [18].

Các kỹ năng sống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau phát triển. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho HS có các biểu hiện khác nhau theo từng cấp học, từng lứa tuổi và trình độ cá nhân. Giáo dục kỹ năng sống cần vận dụng linh hoạt tùy theo từng đối tượng, hoạt động giáo dục và hoàn cảnh điều kiện cụ thể.

1.3.3. Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

  • Phương pháp giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

Phương pháp tiếp cận trong giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở đã được khái quát gồm [19]:

Phương pháp tiếp cận cùng tham gia: tạo sự tương tác giữa giáo viên -học sinh, học sinh – học sinh và tăng cường sự tham gia của HS trong học tập, thực hành kỹ năng.

Phương pháp tiếp cận hướng vào người học: là phương pháp chủ thể giáo dục thực hiện dựa vào kiến thức, kinh nghiệm sống và hướng vào đáp ứng nhu cầu của người học. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Phương pháp tiếp cận hoạt động: tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động để xây dựng hành vi/ thay đổi hành vi.

Trong giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở, sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học cụ thể phù hợp với các phương pháp tiếp cận trên là:

Phương pháp đóng vai: Tổ chức cho HS thực hành, đóng vai làm thử một số cách ứng xử trong một tình huống (tình huống giả định hoặc tình huống thật). HS được khuyến khích nghiên cứu tình huống, tìm hiểu nhân vật rồi ứng biến phản ứng của các nhân vật

Phương pháp dạy học nhóm: Thực hiện dạy học nhóm, HS được chia thành các nhóm cùng trao đổi, thảo luận để đưa ra suy nghĩ, quan điểm, quyết định và cùng nhau giải quyết một vấn đề, nhiệm vụ được giao, giúp các em phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác và giao tiếp.

Phương pháp giải quyết vấn đề: GV tập dượt cho HS khả năng phát hiện, xem xét, phân tích vấn đề từ một tình huống trong học tập hoặc trong thực tiễn và xác định cách giải quyết, xử lí vấn đề /tình huống đó một cách có hiệu quả. Tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau:

  • Sơ đồ 1.1. Phương pháp giải quyết vấn đề

Phương pháp dự án: Thực hiện phương pháp này, người dạy giao cho người học thực hiện một nhiệm vụ học tập gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành. Người học thực hiện nhiệm vụ học tập và có sản phẩm báo cáo.

Phương pháp trò chơi: Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó, giúp cho các em rèn luyện và phát triển sự bình tĩnh tự tin, tư duy sáng tạo.

Phương pháp đàm thoại: Người dạy tổ chức đối thoại, trao đổi ý kiến, tranh luận giữa thầy với cả lớp hoặc giữa những người học với nhau, thông qua đó người học được củng cố, bổ sung, mở rộng kiến thức, có được tri thức mới, cách nhận thức mới, cách giải quyết vấn đề mới.

Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin dựa trên quá trình giao tiếp của người phỏng vấn và người (những người) được phỏng vấn theo một mục đích định sắn. Trong quá trình phỏng vấn, các câu hỏi (có thể ở dạng gợi mở vấn đề) thường được sử dụng để tiến hành phỏng vấn.

Phương pháp vấn đáp, nêu vấn đề: Phương pháp này được thực thông qua hệ thống câu hỏi được thiết lập một cách lôgic và các câu trả lời về một chủ đề nhất định. Trong quá trình trả lời các câu hỏi do GV dẫn dắt, HS có cơ hội trình bày suy nghĩ, ý tưởng của mình. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Và các kĩ thuật

Kĩ thuật khăn trải bàn: Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách chia HS thành các nhóm nhỏ (từ 4 đến 6 người). Hoạt động 1, hoạt động cá nhân, mối thành viên viết các ý tưởng của mình vào phần cạnh “khăn trải bàn”. Hoạt động 2, tiến hành thảo luận nhóm, trình bày ý tưởng chung vào phần chính giữa “khăn trải bàn”. Kĩ thuật này giúp HS thể hiện, rèn luyện khả năng hợp tác, giao tiếp, giải quyết bất đồng, ra quyết định,…

Kĩ thuật mảnh ghép: GV phân nhóm, phân công mỗi nhóm thảo luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề của nội dung học tập. Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, tiếp tục thảo luận như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề khác nhau, giúp các em có khả năng phân tích,…

Kĩ thuật động não: Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó, giúp cho các em rèn luyện kỹ năng tư duy sáng tạo, tự tin, trình bày suy nghĩ, ý tưởng.

Kĩ thuật chia nhóm: Kỹ năng này giúp các em có cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp, đồng thời rèn luyện một số kỹ năng thông qua hoạt động nhóm.

Kĩ thuật giao nhiệm vụ: Giao nhiệm vụ cho HS một cách cụ thể, rõ ràng về nội dung, địa điểm, thời gian, phương tiện thực hiện, sản phẩm, cách trình bày đánh giá. Kĩ thuật này giúp HS có được kỹ năng đảm nhận nhiệm vụ, giải quyết vấn đề,…

Kĩ thuật trình bày 1 phút: Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết kiến thức đã học, đặt câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp, kĩ thuật trình bày 1 phút giúp các em rèn luyện tư duy, trình bày, quản lý thời gian,…

Kĩ thuật hỏi và trả lời: Đây là kĩ thuật dạy học giúp cho HS có thể rèn luyện khả năng đặt câu hỏi, trình bày, lắng nghe tích cực, tự tin, giao tiếp,… thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi.

Kĩ thuật hỏi chuyên gia: Trong đó HS đóng vai trò, tạo thành các nhóm “chuyên gia” về một chủ đề nhất định và có trách nhiệm giúp các bạn trong lớp tìm hiểu về vấn đề đó, giúp cho các em khả năng lắng nghe tích cực, tự tin, giao tiếp, tư duy sáng tạo, quản lý thời gian. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Kĩ thuật sơ đồ tư duy: Việc ứng dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy giúp HS rèn luyện tư duy sáng tạo, phê phán, hợp tác, trình bày suy nghĩ, ý tưởng.

Việc áp dụng các phương pháp, kỹ năng trên giúp cho các em HS có cơ hội rèn luyện những kỹ năng khác nhau thông qua công tác giảng dạy và trong một số hoạt động ngoài giờ lên lớp.

  • Hình thức tổ chức giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

Hình thức tổ chức Giáo dục kỹ năng sống được tiến hành theo công văn số 463/BGDĐT – GDTX ngày 28 tháng 1 năm 2015 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục Kĩ năng sống tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên [19]:

Giáo dục Kĩ năng sống thông qua việc tích hợp vào các môn học và các hoạt động giáo dục; đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy – học theo hướng tăng cường hoạt động học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; Giáo dục Kĩ năng sống thông qua việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường.

Tại bậc Trung học cơ sở, tiếp cận Kĩ năng sống thể hiện qua đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy và học, tích hợp giáo dục Kĩ năng sống qua một số môn có tiềm năng. “Giáo dục Kĩ năng sống cho HS được triển khai thông qua tích hợp và liên môn các môn học, trong đó có các môn học như Giáo dục công dân, Sinh học, Ngữ Văn, Địa lý và đặc biệt là thông qua nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

  • Có thể tóm tắt các hình thức giáo dục Kĩ năng sống như sau:

Tích hợp, gắn với các hoạt động học tập như: Tích hợp với các môn học thông qua thảo luận nhóm, thực hành, thi tìm hiểu theo chủ đề, …

Giáo dục Kĩ năng sống gắn với các hoạt động giáo dục thể chất như: tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động thể dục thể thao như cầu lông, bóng đá, bóng chuyền, …, tham gia các trò chơi dân gian…

Giáo dục Kĩ năng sống gắn với các hoạt động giáo dục thẩm mĩ như: tổ chức các cuộc thi nhân dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn (20/11, 8/3, ngày thành lập Đội, ngày thành lập Đoàn, ngày sinh nhật Bác…) với các hình thức như thi vẽ, báo tường, trang trí lớp, văn nghệ …

Giáo dục Kĩ năng sống gắn với các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương. Giáo dục Kĩ năng sống gắn với các hoạt động của tổ chức Đội.

Hoạt động giáo dục của Giáo viên chủ nhiệm: Sinh hoạt lớp, dạy bộ tài liệu “giáo dục nếp sống thanh lịch – văn minh người Hà Nội”, hướng nghiệp dạy nghề…

Hoạt động xã hội như hoạt động từ thiện, hoạt động bảo vệ môi trường…. Các hoạt động này đều góp phần tạo cơ hội cho các em HS Trung học cơ sở rèn luyện một số kỹ năng.

1.3.4. Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Lực lượng giáo dục (LLGD) bao gồm Lực lượng giáo dục trong nhà trường và LLGD ngoài nhà trường.

Lực lượng giáo dục trong nhà trường bao gồm: Ban Giám hiệu nhà trường; Các lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội trong nhà trường; GV làm công tác chủ nhiệm và GV giảng dạy bộ môn. Lực lượng giáo dục trong nhà trường chính là lực lượng hoạch định kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo các hoạt động và giám sát, kiểm tra các hoạt động giáo dục trong nhà trường.

“Để đảm bảo các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục kỹ năng sống nói riêng đạt hiệu quả thì lực lượng giáo dục trong nhà trường phải đảm bảo các điều kiện như:

  • Đảm bảo đủ về số lượng để tiến hành giáo dục Kĩ năng sống cho học
  • Đảm bảo về chất lượng đội ngũ cán bộ, GV và các lực lượng đoàn thể tham gia vào quá trình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Lực lượng giáo dục ngoài nhà trường bao gồm: Cơ quan quản lí giáo dục các cấp; Ban phụ trách thiếu nhi phường, các đoàn thể Đảng, Đoàn Thanh niên, Ban chăm sóc giáo dục trẻ em phường; Các tổ chức đoàn thể khác; Phụ huynh học sinh.

Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục tạo ra sự thống nhất trong việc hình thành và phát triển Kĩ năng sống của HS Trung học cơ sở. Nếu không có sự thống nhất giữa này thì sẽ cũng không có được sự đồng thuận, thống nhất trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho các em HS” [4].

1.3.5. Yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

  • Về tài liệu tham khảo

Có thể thấy, trong lĩnh vực giáo dục, thông tin và tài liệu có vai trò hết sức quan trọng, giúp lực lượng giáo dục, các nhà quản lí giáo dục thực hiện mục tiêu giáo dục của mình. Các tài liệu giảng dạy, sách tham khảo được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành sẽ là một trong những nguồn tư liệu quan trọng đối với công tác giảng dạy Kĩ năng sống. Bên cạnh đó, các tư liệu của các nhà nghiên cứu, giảng viên, các sách tham khảo, tài liệu của các tổ chức quốc tế cũng sẽ là nguồn tư liệu quý báu đóng góp vào sự phong phú của các tài liệu giáo dục Kĩ năng sống. “Đối với công tác giáo dục kỹ năng sống, thông tin có vai trò và mục đích như sau: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Xây dựng và phổ biến các mục tiêu giáo dục Kĩ năng sống và quản lí giáo dục Kĩ năng sống.
  • Lập kế hoạch giáo dục Kĩ năng sống và quản lí giáo dục Kĩ năng sống để đạt được mục tiêu quản lí giáo dục kỹ năng sống.
  • Tổ chức nguồn nhân lực và các nguồn lực khác hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu giáo dục Kĩ năng sống.
  • Lựa chọn đánh giá nhân lực tổ chức thực hiện giáo dục Kĩ năng sống.
  • Lãnh đạo, hướng dẫn, điều khiển, thúc đẩy và tạo môi trường thuận lợi cho việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của các lực lượng giáo dục tham gia giáo dục Kĩ năng sống.
  • Kiểm tra thực hiện giáo dục Kĩ năng sống.

Sách “Tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường” là cẩm nang dành cho Giáo viên chủ nhiệm, nhà quản lý, những lực lượng nòng cốt thực hiện chương trình GD Kĩ năng sống. Trong thư viện của mỗi nhà trường cần trang bị đầy đủ các loại sách tham khảo bổ trợ cho các môn học, sách về pháp luật, về Bác Hồ, để GV lựa chọn nội dung cho các hoạt động.

  • Về tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Điều kiện tổ chức và phương tiện tốt sẽ mang lại hiệu quả tốt cho hoạt động. Hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cần những thiết bị tối thiểu như kinh phí hoạt động, loa đài, âm ly, đàn, dụng cụ thể thao.

Các Kĩ năng sống của học sinh được phát triển tốt nếu học sinh được trải nghiệm qua các hình thức các hoạt động giáo dục phong phú, đa dạng. Có được nguồn tài chính, cơ sở vật chất tốt sẽ giúp cho cán bộ quản lí, GV triển khai các hoạt động phù hợp, phong phú, đa dạng với các phương tiện dạy học hiện đại, tạo nên hiệu quả giáo dục cao. Vì vậy, để công tác giáo dục Kĩ năng sống đạt hiệu quả cao, nhà trường cần có kế hoạch đầu tư nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục Kĩ năng sống. Tuy nhiên, cũng cần phải hết sức chú ý đến việc tận dụng cơ sở vật chất hiện có để phát huy hết tiềm năng của nhà trường, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, đoàn thể.

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

1.4.1 Sự cần thiết phải quản lý hoạt dộng giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

  • Xét từ góc độ xã hội Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Trong giáo dục Kĩ năng sống, UNESCO đã xác định những lĩnh vực cần được quan tâm đặc biệt gồm:

Liên quan đến việc làm: Các chương trình giáo dục Kĩ năng sống trong giáo dục nghề nghiệp thường không tồn tại độc lập mà được tích hợp vào các chương trình dạy kỹ năng nghề nghiệp, tăng cường cơ hội học tập, chuẩn bị cho cá nhân bước vào thế giới công việc bằng việc đồng thời tăng cường tính hiệu quả và sự phù hợp của cá nhân với các kỹ năng nghề được đào tạo.

Liên quan đến sức khỏe, HIV/AIDS và lạm dụng ma túy: hội nghị Giáo dục thế giới đã nh n thức được nhu cầu cấp bách hiện nay là đấu tranh với đại dịch HIV/AIDS, chương trình này cung cấp các thông tin cơ bản và giúp thanh thiếu niên phát triển những Kĩ năng sống cần thiết để bảo vệ sức khỏe.

Liên quan đến xung đột, bạo lực: Thông qua giáo dục những cá nhân có kiến thức, giá trị, thái độ và các Kĩ năng sống cần thiết để xây dựng nền móng cho lòng tôn trọng quyền con người, các nguyên tắc dân chủ và chống lại tội ác, bạo lực. Tiếp cận Kĩ năng sống tạo ra một mô hình mà mỗi người có thể phát triển các kỹ năng tư duy phê phán, phân tích, ra quyết định (học để biết); sáng tạo, tự trọng, thiện chí (học để tự khẳng định mình); giải quyết xung đột, giao tiếp sống với người khác, hợp tác và cam kết xã hội (học để chung sống với mọi người); giải quyết ổn thỏa đối với mọi việc khác nhau (học để làm).

  • Xét từ góc độ giáo dục

Thực hiện giáo dục Kĩ năng sống thông qua phương pháp lấy người học làm trung tâm, phương pháp dạy học tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò tham gia chủ động, tự giác của người học, khi người học cảm thấy họ được tham gia vào các vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và học tập tích cực hơn.

  • Xét từ góc độ văn hóa, chính trị

Giáo dục Kĩ năng sống góp phần tích cực vào việc giải quyết những nhu cầu và quyền của con người. Quyền công dân được ghi rõ trong pháp luật Việt Nam và pháp lu t quốc tế.

  • Xét theo yêu cầu của sự phát triển bền vững

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) [2] nêu rõ: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Trong hoạt động quản lý của lãnh đạo nhà trường, quản lý hoạt động Giáo dục kỹ năng sống là một phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện HS.

Tuy nhiên, việc quản lý và chỉ đạo thực hiện hoạt động Giáo dục kỹ năng sống ở các Trung học cơ sở hiện nay chưa triệt để, hiệu quả chưa cao. Nhiều GV trong các trường vẫn còn thờ ơ với hoạt động Giáo dục kỹ năng sống, chưa có nhận thức đúng về vai trò của vấn đề này đối với HS, chưa có những phương pháp, hình thức tổ chức Giáo dục kỹ năng sống phù hợp để mang lại hiệu quả cao trong việc rèn luyện nhân cách, đạo đức cho các em.

Quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh, đặc biệt chú trọng giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở là việc làm cần thiết để góp phần quan trọng trong việc giáo dục toàn diện HS.

1.4.2. Vai trò của Hiệu trưởng trong hoạt dộng giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

Quyền hạn của hiệu trưởng gắn với các hoạt động giáo dục trong nhà trường được quy định Tại điều 26, khoản 1 điều 19 điều lệ nhà trường [16].

Các hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản chuẩn bị cho HS tiếp tục học ở các cấp học cao hơn hoặc đi vào thực tế cuộc sống lao động.

Hiệu trưởng là người đứng đầu đơn vị trường học, là người lãnh đạo nhà trường và cũng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường. Vai trò của Hiệu trưởng trong hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở thể hiện ở những điểm sau:

  • Tổ chức xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh nhà trường. Sắp xếp công việc phù hợp cho các tổ chức, các thành viên trong nhà trường, phân cấp quản lý cho các thành viên.
  • Chỉ đạo tổ chuyên môn tích hợp giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học.
  • Chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm lồng ghép nội dung giáo dục Kĩ năng sống vào giờ sinh hoạt lớp và các hoạt động tập thể theo chủ điểm nhân dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn.
  • Chỉ đạo phối kết hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể trong trường (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội Thiêu niên tiền phong Hồ Chí Minh…) tổ chức các hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh.
  • Phối kết hợp với lực lượng ngoài nhà trường thực hiện nội dung giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh như: Chính quyền địa phương, trung tâm văn hóa, phòng văn hóa, phòng giáo dục, phụ huynh HS.
  • Tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá, hình thành mối quan hệ giữa các bộ phận, các cá nhân trong thực hiện kế hoạch.
  • Huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực vào hoạt động giáo dục kỹ năng sống.

1.4.3. Nội dung quản lý hoạt dộng giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh các trường Trung học cơ sở

Hiệu trưởng giữ vai trò quản lý chỉ đạo công tác giáo dục Kĩ năng sống trong nhà trường thông qua công tác xây dựng kế hoạch giáo dục.

Việc xây dựng kế hoạch là một công đoạn không thể thiếu được trong quản lý bất kì một công tác nào của người hiệu trưởng. Có xây dựng kế hoạch, người Hiệu trưởng mới xác định được mục tiêu sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần đạt,… Tránh trường hợp được chăng hay chớ, tới đâu hay tới đó.

Để việc xây dựng kế hoạch giáo dục được tốt, người Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở tình hình cụ thể của học sinh, của đội ngũ giáo viên trường mình trong năm học, của địa phương mà trường đóng để định ra nội dung, yêu cầu, biện pháp cho thích hợp. Việc nắm tình hình thực tế đội ngũ giáo viên và học sinh, phải bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và tình hình có tính chất thời sự, tình hình cá biệt, có thể ảnh hưởng tiêu cực ít nhiều đối với tập thể học sinh trường. Từ đó, nhà trường sẽ có những kế hoạch hợp lý, cụ thể, khả thi để giáo dục Kĩ năng sống cho HS trường mình.

Kế hoạch được xây dựng bao gồm cả các yếu tố nhân lực, vật lực và kiểm tra, đánh giá.

  • Tổ chức hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

“Hiệu trưởng cùng với các cán bộ lãnh đạo cần quản lý tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ GV, quản lý tốt các hoạt động trường, lớp trong giáo dục Kĩ năng sống sao cho giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh là công việc và trách nhiệm của mỗi GV, của toàn thể các thành viên trong nhà trường. Hiệu trưởng cần làm cho tập thể sư phạm của nhà trường nhận thức được rằng giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh là việc làm cấp thiết, cần tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi, trong tất cả các hoạt động đều có thể và phải thực hiện yêu cầu này” [46]. Bên cạnh đó, Hiệu trưởng sẽ tổ chức, xây dựng các lực lượng và điều kiện giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh. “Hiệu trưởng phải giúp cho mỗi GV nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề nhưng vẻ vang của mình là đào tạo con người, để GV phải thương yêu học sinh thật sự, phải có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, bản thân thầy cô phải là tấm gương cho học sinh noi theo, phải tin tưởng, tôn trọng học sinh thì mới có thể giáo dục tốt được” [46].

Hiệu trưởng cũng cần quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động lao động, hoạt động học tập ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt tập thể, … Đây là những hoạt động có nhiều thuận lợi để giáo dục, rèn luyện học sinh các Kĩ năng sống trong thực tế, có tính tương tác cao. Hiệu trưởng phải có kế hoạch cụ thể, quan tâm tổ chức tốt đối với các hoạt động này. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Chỉ đạo hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh trường Trung học cơ sở

Việc chỉ đạo giáo dục Kĩ năng sống cần được tiến hành ở các lĩnh vực sau:

  • Chỉ đạo giáo dục Kĩ năng sống cho HS thông qua các môn văn hoá cơ bản theo quy định.
  • Chỉ đạo giáo dục Kĩ năng sống thông qua các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
  • Chỉ đạo nâng cao chất lượng GV, năng lực của các lực lượng tham gia giáo dục Kĩ năng sống trong nhà trường.
  • Chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục đồng thời phối hợp các lực lượng trong giáo dục Kĩ năng sống cho HS.

Như vậy, công tác chỉ đạo giáo dục Kĩ năng sống phải toàn diện trên mọi lĩnh vực và tuân thủ theo những nguyên tắc để phù hợp với các em Trung học cơ sở, phù hợp với thực tiễn, yêu cầu về phát triển kỹ năng của các em.

  • Tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trong trường Trung học cơ sở

Hiện nay, việc đánh giá, xếp loại học sinh được thực hiện theo Thông tư số 58/2011/TT-BGD&ĐT ngày 12/12/2011 của Bộ GD&ĐT. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua trải nghiệm là một trong những nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh. Mức độ chủ động, tích cực của học sinh khi tham gia các hoạt động giáo dục Kĩ năng sống được xem là kênh thông tin để GV đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh.

Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh thông qua trải nghiệm thực hiện ở tất cả các khâu: lập kế hoạch kiểm tra đánh giá; tổ chức thực hiện việc kiểm tra đánh giá, kết quả và sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá trong bình xét hạnh kiểm, các danh hiệu thi đua, khen thưởng cho học sinh…, từ đó tác động đến tất cả các bộ phận của hoạt động giáo dục Kĩ năng sống từ cán bộ quản lý đến GV, nhân viên, phụ huynh và học sinh thấy được nó như một nhu cầu, hoạt động ý nghĩa thiết thực chứ không rơi vào hình thức, quá tải.

Việc kiểm tra là phản ánh thực trạng tình hình, kết quả thực hiện hoạt động giáo dục Kĩ năng sống sau khi triển khai kế hoạch thực hiện. Công tác kiểm tra, đánh giá nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng hoạt động giáo dục Kĩ năng sống trong nhà trường. Thông qua hoạt động kiểm tra đánh giá, người Hiệu trưởng kịp thời phát hiện, điều chỉnh, sửa đổi những sai lệch trong công tác giáo dục Kĩ năng sống, từ đó có biện pháp thúc đẩy để hoạt động giáo dục Kĩ năng sống trong nhà trường tốt hơn, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục toàn diện.

Các loại hình đánh giá công tác giáo dục Kĩ năng sống thường theo cách phân loại theo chủ đề, tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài. Việc kiểm tra đánh giá giáo dục Kĩ năng sống cần xem xét việc thực hiện của lực lượng giáo dục, mức độ hưởng ứng, tham gia hiệu quả đối với HS. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Trong quá trình kiểm tra, đánh giá, người quản lý cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng như bối cảnh, điều kiện thực tế của nhà trường, năng lực đội ngũ, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động, công tác chỉ đạo và biện pháp thực hiện để có được những kết luận chính xác nhằm nâng cao công tác giáo dục Kĩ năng sống cho HS Trung học cơ sở.

1.5. Các yếu tố tác động tới quản lý hoạt động giáo dục Kĩ năng sống theo hướng trải nghiệm cho học sinh các trường Trung học cơ sở

1.5.1. Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý

  • Năng lực quản lý của Hiệu trưởng

Hiệu trưởng là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động dạy học và giáo dục. Nhận thức và năng lực quản lý của Hiệu trưởng đóng vai trò quan trọng, quyết định tới sự thành công hay thất bại của công tác giáo dục nói chung và giáo dục kỹ năng sống nói riêng.

Hiệu trưởng có năng lực quản lý tốt, có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho HS, thấy rõ được vai trò của kỹ năng sống trong việc phát triển nhân cách học sinh, quản lý chỉ đạo cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục thì sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao.

Năng lực và phẩm chất sư phạm của các lực lượng giáo dục trong nhà trường trong tổ chức hoạt động GD Kĩ năng sống qua trải nghiệm

Năng lực và phẩm chất của các lực lượng giáo dục trong nhà trường ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục cũng như quản lý giáo dục Kĩ năng sống. Kỹ năng, trình độ của các GV, cán bộ nhà trường khi tham gia dạy Kĩ năng sống trong quá trình dạy tích hợp, trong các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo sẽ quyết định chất lượng của công tác giáo dục Kĩ năng sống cho HS Trung học cơ sở. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Thực tế cho thấy, trình độ nhận thức của các lực lượng tham gia giáo dục Kĩ năng sống không đồng đều nhau, chính vì vậy Hiệu trưởng nhà trường cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn, động viên, khuyến khích kịp thời các lực lượng tham gia, quản lý chặt chẽ để đạt được mục tiêu hoạt động theo kế hoạch.

  • Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục Kĩ năng sống qua trải nghiệm:

Nội dung, chương trình giáo dục phù hợp, đảm bảo nhẹ nhàng, tạo hứng thú sẽ thu hút học sinh tham gia hoạt động, đặc biệt là đối với việc tham gia hoạt động qua các chương trình trải nghiệm.

Phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi, đối tượng học sinh cấp Trung học cơ sở sẽ phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo đặc biệt là phát huy được tinh thần tự học của các em, giúp các em tốt hơn trên con đường tự hình thành nhân cách.

Hình thức tổ chức quản lý tốt, phù hợp sẽ giúp người học phát huy tốt vai trò cá nhân, khai thác tiềm năng, trí tuệ, giúp các em phát triển nhân cách phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.

1.5.2. Các yếu tố thuộc về dối tượng quản lý

  • Người học: Học sinh Trung học cơ sở

Lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành hay nói cách khác đây là lứa tuổi vị thành niên. Ở lứa tuổi này, trẻ em có bước phát triển nhảy vọt về cả thể chất lẫn tinh thần, tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt cho mọi mặt phát triển trí tuệ, thể chất, đạo đức, tình cảm…

Ở giai đoạn này các em có sự thay đổi nhanh chóng, phát triển mạnh mẽ về thể chất, giới tính, tâm sinh lý. Đặc biệt xuất hiện hiện tượng dậy thì (nhất là các em nữ), điều này thực sự có ảnh hưởng lớn đến vấn đề học tập, quan hệ bạn bè. Một số em trở nên sống khép kín, rụt rè ngần ngại; nhiều em lại chứng tỏ là “người lớn” tự chịu trách nhiệm và muốn quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, tự đánh giá mình cao hơn so với hiện thực, thích thổi phồng những khả năng của mình, tự xem mình là nhân vật có tầm quan trọng nhất, mọi người nên suy nghĩ và hành động như mình và muốn khám phá về bản thân và xã hội. Chính vì vậy tự bên trong các em đã xảy ra sự mất cân bằng rất lớn và do đánh giá không đúng khả năng của mình nên các quyết định của các em ít dẫn đến thành công, những thất bại nho nhỏ, những xích mích vụn vặt cũng có thể làm các em đau khổ dễ dẫn đến những hành vi nông nổi, không kiềm chế được cảm xúc, dễ sinh ra cáu gắt, mất bình tĩnh và có những hành động thiếu suy nghĩ gây tổn thương cho người khác. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Mặc khác, các yếu tố tri giác, trí nhớ, chú ý, tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ lứa tuổi này có nhiều thay đổi đáng kể. Các em chuyển dần từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng, làm cho khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa, khả năng suy luận phát triển. Học sinh Trung học cơ sở thường muốn độc lập lĩnh hội tri thức theo quan điểm, lập luận riêng của mình và không dễ tin, dễ chấp nh n ý kiến người khác. Đồng thời, thích tìm hiểu những vấn đề phức tạp, khó khăn. Tuy nhiên, tư duy của các em cũng có một số hạn chế, như một em nắm bắt được dấu hiệu bề ngoài của khái niệm khoa học dễ hơn các dấu hiệu bản chất, các em hiểu dấu hiệu bản chất của khái niệm nhưng không phải lúc nào cũng phân biệt được các dấu hiệu đó,…

HS có thái độ khác nhau với từng môn học, tùy thuộc hứng thú, sở thích của bản thân, nội dung môn học và giáo viên giảng dạy. Hoạt động học tập lúc này cũng đa dạng hơn, nhiều hình thức sinh động hơn, các em thường thích những giờ học đa dạng phong phú. Tuy nhiên, hoạt động học tập của các em cũng gặp một số khó khăn như: yêu cầu khả năng tư duy trừu tượng, tư duy lý luận của các môn học; sự dậy thì làm cho tâm trạng của học sinh không ổn định, dễ mệt mỏi, chán nản; sự phân hóa trong học tập.

Sự hình thành và phát triển ý thức, tự ý thức là đặc điểm đặc trưng trong sự nghiệp phát triển nhân cách trong giai đoạn này. Sự biến đổi một cách mạnh mẽ của cơ thể và các mối quan hệ xã hội được mở rộng làm các em xuất hiện nhu cầu quan tâm đến nội tâm của mình, đến những phẩm chất riêng, xuất hiện nhu cầu tự đánh giá, so sánh mình với người khác. Nội tại quá trình phát triển ý thức, tự ý thức ở các em xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân và kỹ năng chưa đầy đủ của các em trong việc phân tích tính đúng đắn hành vi bản thân. Do vậy, ở lứa tuổi này dễ nảy sinh xung đột từ mâu thuẫn giữa mức độ kỳ vọng của các em với địa vị thực tế của mình trong tập thể, mâu thuẫn giữa thái độ của các em đối với bản thân đang có sự hình thành phẩm chất nhân cách và thái độ của các em đối với người lớn và bạn bè cùng lứa tuổi.

Ý thức và tự ý thức của học sinh được hình thành bằng hai con đường. Thứ nhất là lĩnh hội các yếu tố từ nền văn hóa, từ ý thức xã hội. Bằng các loại hình hoạt động đa dạng, bằng con đường giáo dục, học tập và giao tiếp xã hội; Thứ hai là tự giáo dục trong quá trình thực hiện các loại hình hoạt động trong cuộc sống giao tiếp.

Đặc điểm cảm xúc, tình cảm dễ nhận thấy nhất ở học sinh Trung học cơ sở là cường độ mạnh, theo hướng xung đột, quyết liệt (như phản ứng mạnh mẽ khi trong quan hệ với người khác không đạt được kết quả mong muốn). Trạng thái tâm lý nói chung chưa ổn định, thất thường, dễ vui, dễ buồn vô cớ, đôi khi còn mâu thuẫn. Những đặc điểm này mang tính chất tạm thời và sẽ qua đi theo sự trưởng thành của các em. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ đang phát triển, những rung cảm về sự cảm phá, phát hiện cái mới liên quan đến nhu cầu nhận thức được mở rộng vượt ra khỏi phạm vi của trường, quan niệm về cái đẹp phong phú và sâu sắc hơn trước. Xúc cảm giới tính là một loại cảm xúc mới lạ xuất hiện lần đầu tiên ở học sinh Trung học cơ sở, những cảm xúc ấy được thể hiện đa dạng và mãnh liệt đôi khi khiến các em bỡ ngỡ, lúng túng và mất tự chủ. Nhìn chung, đời sống xúc cảm, tình cảm của học sinh giai đoạn này rất phức tạp và đa dạng, có tính thất thường, bồng bột song nó là nền tảng quan trọng cho việc hình thành nhân cách toàn vẹn cho các em.

Hiểu rõ vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên sẽ giúp được những người làm công tác giáo dục có cách giáo dục đúng đắn để giáo dục toàn diện cho các em. KNS mang yếu tố tâm lý xã hội, nên trong công tác quản lý giáo dục cần chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của học Trung học cơ sở để có thể xây dựng chương trình, chỉ đạo tổ chức thực hiện giáo dục Kĩ năng sống cho hiệu quả. Bên cạnh việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn, giáo dục Kĩ năng sống cần thiết thực, gần gũi với các em, để các em thấy rèn luyện Kĩ năng sống thực sự cần thiết, hỗ trợ các em trong học tập và cuộc sống.

1.5.3. Các yếu tố thuộc về môi trường quản lý

  • Môi trường nhà trường – văn hoá nhà trường

Trong giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở, môi trường nhà trường có tác động tích cực đối với sự phát triển của HS. Người Hiệu trưởng trong nhà trường cần tạo ra được bầu không khí giáo dục tốt, có dư luận tập thể tốt, ủng hộ cái tiến bộ, cái tốt, có phong trào thi đua sôi nổi, thực chất; phê phán cái lạc hậu, cái sai. Bên cạnh đó, Hiệu trưởng cũng cần tạo ra mối quan hệ tốt giữa các đối tượng trong trường như giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học sinh với nhau.

Trong các mối quan hệ phải thật sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh, không đánh đập, xỉ vả, mỉa mai, chế giễu, áp bức, dọa nạt, thiên vị hay thành kiến. Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt mà thật lòng yêu kính, tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không kèn cựa, so bì, thù hằn, bè cánh, không đánh, cãi nhau, không nói tục chửi bậy. Với một bầu không khí như v y, sẽ có tác dụng hết sức tích cực đến việc hình thành các kỹ năng cần thiết trong học tập, trong các mối quan hệ, trong giao tiếp ứng xử và góp phần hình thành nên các phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho các em.

Văn hóa nhà trường thể hiện giá trị, chuẩn mực, truyền thống được hình thành qua nhiều năm của mỗi trường, tạo nên bản sắc riêng cho mỗi trường. Văn hoá nhà trường có vai trò rất lớn trong công tác giáo dục. Hơn thế nữa, Kĩ năng sống luôn gắn liền với môi trường, nên văn hoá nhà trường càng đóng vai trò quan trọng hơn trong công tác giáo dục kỹ năng sống, cũng như quản lý giáo dục Kĩ năng sống. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

  • Môi trường gia đình, xã hội

Gia đình là nơi nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em, phụ huynh là một trong những người đầu tiên giáo dục các em. Hoàn cảnh sống, sự giáo dục của phụ huynh ảnh hưởng đến phát triển tính cách của các em. Gia đình là nơi rèn cho các em kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp, rèn cho trẻ biết sống tự chủ, độc lập, biết chia sẻ, cảm thông. Cách ứng xử trong gia đình có ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục Kĩ năng sống cho trẻ.

Môi trường xã hội, điều kiện văn hóa xã hội của địa phương (truyền thống văn hóa, trình độ dân trí, các hoạt động câu lạc bộ, sinh hoạt hè,…) có nhiều ảnh hưởng đến quan niệm của trẻ em, đến việc hình thành và thực hành các kỹ năng sống. Các tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể của địa phương là các lực lượng phối kết hợp giáo dục HS trong cộng đồng xã hội.

  • Sự phối hợp các lực lượng giáo dục:

Để thực hiện tốt mục tiêu xây dựng nhân cách cho học sinh cần có sự hợp tác thống nhất, sự kết hợp đồng bộ, hài hòa và liên tục giữa quá trình giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Sự kết hợp đó sẽ khai thác được thế mạnh của mỗi lực lượng giáo dục hướng vào việc phát triển nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ. Nếu không có sự phối kết hợp thống nhất của các lực lượng giáo dục, thì không thể có được hiệu quả cao cho công tác giáo dục Kĩ năng sống, thậm chí có thể ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển các Kĩ năng sống của các em.

  • Các điều kiện cơ sở vật chất

Điều kiện tốt về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ giảng dạy Kĩ năng sống của các trường sẽ đóng góp lớn cho công tác giáo dục Kĩ năng sống, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý giáo dục Kĩ năng sống ở các trường Trung học cơ sở.

  • Xu thế phát triển giáo dục

“Phát triển giáo dục Kĩ năng sống là một trong những yêu cầu, mục tiêu của phát triển giáo dục toàn diện ở Việt Nam. Xu thế này tạo cơ sở pháp lý, định hướng cho công tác quản lý giáo dục Kĩ năng sống ở các trường Trung học cơ sở. Việc ban hành các văn bản đầy đủ, chi tiết sẽ có tác động tích cực đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống, tạo hành lang pháp lý để các nhà trường thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống” [9]. Việc cụ thể hoá nội dung giáo dục Kĩ năng sống tối thiểu cho HS Trung học cơ sở sẽ cung cấp cơ sở cho các nhà quản lý trong công tác chỉ đạo, xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường.

Tóm lại, chất lượng của các hoạt động giáo dục trong đó có hoạt động giáo dục Kĩ năng sống cho HS chính là kết quả của sự phối hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Để đạt được mục tiêu giáo dục của Việt Nam là chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng kịp thời sự phát triển của đất nước, việc giáo dục Kĩ năng sống cho HS là một việc làm vô cùng cần thiết. Giáo dục Kĩ năng sống giúp người học có kiến thức, thái độ và kỹ năng phù hợp để phát triển toàn diện nhân cách. GD Kĩ năng sống không chỉ diễn ra trên lớp, trong trường học mà còn phải được thực hiện ở ngoài lớp, ngoài nhà trường theo phương thức kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội thông qua các hình thức hoạt động trải nghiệm.

Luận văn đã đề cập đến các khái niệm cơ bản như: Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, kỹ năng, kỹ năng sống, hoạt động giáo dục kỹ năng sống, hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm…

Luận văn cũng đã đề c p đến hoạt động Giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho HS Trung học cơ sở; nội dung quản lý hoạt động Giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho HS Trung học cơ sở và các yếu tố tác động tới hoạt động Giáo dục kỹ năng sống theo hướng trải nghiệm cho HS Trung học cơ sở.

Để công tác giáo dục Kĩ năng sống cho các em HS Trung học cơ sở có hiệu quả nhà trường cần thực hiện tốt các nội dung như:

  • Quản lý tốt hoạt động giáo dục trong nhà trường gắn với vai trò của Hiệu trưởng nhà trường;
  • Quản lý chương trình, kế hoạch giáo dục kỹ năng sống: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cách thức kiểm tra đánh giá; Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
  • Quản lý sự phối hợp các lực lượng tham giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường;

Quản lý các điều kiện hỗ trợ, các yếu tố tác động đến giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường, các yếu tố thuộc về chương trình giáo dục; Đặc biệt các yếu tố thuộc về môi trường, gia đình và xã hội.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537