Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường tiểu học Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định mục tiêu: “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều khiển nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2040, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [2; tr.122].

Để hoàn thành được mục tiêu trên, đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà, “từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở GD&ĐT và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học” [2; tr.112].

Mục tiêu của sự đổi mới giáo dục là nhằm “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS”. Chính vì vậy, cần đổi mới hoạt động dạy học nhằm giúp HS phát triển một cách toàn diện, chú trọng năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời là nhiệm vụ cơ bản và thường xuyên [2; tr.110].

Nhằm tích cực chuẩn bị cho việc thực hiện CT, SGK mới (dự kiến từ năm học 2026 – 2027), Bộ Giáo dục – Đào tạo đã ban hành nhiều công văn và tổ chức nhiều hội thảo chỉ đạo các Sở Giáo dục & Đào tạo và các trường phổ thông thực hiện đổi mới HĐDH theo tiếp cận năng lực. Mục đích của ngành Giáo dục là muốn các nhà trường, các thầy, cô giáo, các nhà quản lý giáo dục HS, định hướng cho CMHS bước dần vào quỹ đạo đổi mới, đổi mới dần dần từng bước, tiếp cận với xu thế mới trong chương trình, SGK, PPDH, kiểm tra, đánh giá để khi thực hiện chương trình mới không bỡ ngỡ. Thực tế này đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý trong các nhà trường Tiểu học. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Những năm qua, trường Tiều học Khương Đình đã có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức quản lý nâng cao chất lượng các hoạt động dạy học và đặc biệt là đổi mới HĐDH theo tiếp cận năng lực góp phần đưa công tác quản lý nhà trường từng bước đi vào ổn định, đáp ứng xu thế phát triển giáo dục chung của cả nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục, việc quản lý đổi mới HĐDH theo tiếp cận năng lực ở trường Tiểu học Khương Đình vẫn còn nhiều bất cập.

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường tiểu học Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học

Vấn đề quản lý dạy học có thể nói là vấn đề được các nhà khoa học giáo dục trên thế giới quan tâm, các nhà khoa học có tên tuổi của Liên Xô trước đây như: Babansky, Đannhilốp, Êxipôp, Lecne, … Các nhà tâm lý học nổi tiếng cũng đã có những công trình nghiên cứu sâu sắc liên quan đến HĐDH như: Piagiê, Lêônchiep… là các nhà khoa học đặt cơ sở lý luận có tính nền tảng cho phương pháp dạy học. Cuối thế kỷ XIX đầu thứ kỷ XX, khoa học giáo dục đã thực sự có những biến đổi mới về lượng và chất. Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê Nin đã thực sự định hướng cho hoạt động giáo dục, đó là các quy luật về “sự hình thành cá nhân con người”, “tính quy luật về kinh tế- xã hội đối với giáo dục”…

Trong những năm qua ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường, quản lý các thành tố của quá trình sư phạm trong nhà trường, quản lý hoạt động dạy và học ngày càng chiếm vị trí quan trọng bởi đó là các yếu tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo. Nói đến các vấn đề quản lý đó phải kể đến các tác giả, các nhà nghiên cứu, nhà QLGD như A.Pôpốp, M.I. Kođakốp, N.I.Saxerđôlốp, các tác giả Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Quốc Bảo, Đặng Bá Lãm, Vũ Dũng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Thị Mai Lan, Phạm Viết Vượng,… Các công trình này đi sâu vào lý luận quản lý giáo dục, quản lý các hoạt động trong nhà trường. Một số tác giả đã đề cập đến quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo dục nhưng chưa đi sâu quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên các trường tiểu học [21, tr.268].

2.2. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Ở nước ta, ngay những ngày đầu của nền giáo dục cách mạng Việt Nam,trong thư gửi cho học sinh nhân ngày khai trường, Bác Hồ đã viết: “Từ giờ phút này trở đi, các cháu được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam… làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các cháu” [31, tr. 1]. Nội dung bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của phương pháp dạy học.

Đảng và Nhà nước sớm nhận thức sự chuyển đổi trong chính sách giáo dục, trong đó nhấn mạnh vai trò của việc nâng cao năng lực người học trong quá trình giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục 2018-2027 định hướng: “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế” [5, tr. 10]. Nghị quyết số 29-NQ/TW nhấn mạnh: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực người học” [2, tr. 1].

Cùng với xu hướng đổi mới giáo dục, các nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý giáo dục.

Các nghiên cứu đã quan tâm tới vấn đề này ở các cấp học khác nhau. Ở cấp trung học phổ thông có nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hồng về Quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Quảng Xương, Thanh Hóa theo định hướng phát triển năng lực học sinh [25], Lê Thị Thu Hà về Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên [18], Nguyễn Anh Tuấn về Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực tại các trường THPT ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc [36], Lê Thị Bắc nghiên cứu Quản lý hoạt động dạy học môn ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại trường trung học phổ thông Việt Đức, Hà Nội [3], Hoàng Trung Quân nghiên cứu Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học ở trường THPT Chu Văn An, tỉnh Thái Bình [34]. Ở cấp trung học cơ sở có nghiên cứu của Phạm Hồng Điệp về Quản lý day học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS Hoàng Hoa Thám, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang [17], Lê Văn Hiến về Quản lý dạy học môn toán ở các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội theo định hướng phát triển năng lực học sinh [24]. Ở cấp tiểu học có nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Chinh về Quản lý hoạt động dạy học hai buổi/ngày ở các trường tiểu học thị xã Dĩ An theo định hướng phát triển năng lực học sinh [11]. Ở bậc đại học và cao đẳng có nghiên cứu của tác giả Trần Quốc Minh về Biện pháp quản lý dạy học tiếp cận theo năng lực thực hiện ở trường Cao đẳng nghề cơ khí nông nghiệp [32]. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Năm 2021, Học viện Quản lý giáo dục tổ chức hội thảo Quản lý dạy học chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực: Vấn đề và giải pháp, trong đó quy tụ nhiều bài tham luận về các giải pháp đổi mới quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực. Cũng trong năm này, Trung tâm nghiên cứu Tâm lý học và Giáo dục học thuộc Viện Khoa học giáo dục tổ chức hội thảo Giáo dục theo hướng tiếp cận phát triển năng lực người học, trong đó đề cập đến giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học và việc xây dựng chuẩn đánh giá năng lực người học.

Dù chưa thể liệt kê đầy đủ các nghiên cứu về quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực, nhưng các nghiên cứu trên cũng cho thấy tiếp cận năng lực đang trở thành xu hướng nghiên cứu của các nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học trong 10 năm trở lại đây. Các nghiên cứu đều chỉ ra ưu thế của tiếp cận năng lực so với hướng tiếp cận nội dung, và các nghiên cứu càng về sau này càng chỉ rõ được những năng lực cần thiết của người học. Nhiều nghiên cứu cũng sử dụng phối hợp tiếp cận chức năng quản lý, tiếp cận nội dung dạy học với tiếp cận năng lực để phân tích khái niệm quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực.

Như vậy, có thể nói vấn đề hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực đã được nhiều tác giả ở nước ngoài và ở trong nước quan tâm tìm hiểu để nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy học. Đề tài này kế thừa từ các kết quả nghiên cứu trước đó để nghiên cứu trên địa bàn mới và có những đặc thù riêng biệt là trường Tiểu học Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục tại địa bàn. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường tiểu học Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động dạy học, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động dạy học tại trường Tiểu học Khương Đình.
  • Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại Trường tiểu học Khương Đình và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học.
  • Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học Khương Đình.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Ha Nội.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường tiểu học Khương Đình. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.
  • Về phạm vi, đề tài khảo sát thực trạng tại trường Tiểu học Khương Đình.

5. Phương pháp luật và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

  • Nghiên cứu vấn đề theo nguyên tắc hệ thống

Vấn đề nghiên cứu được xem xét trong các mối quan hệ biện chứng với nhau, trong sự phụ thuộc lẫn nhau, quy định nhau theo một logic nhất định.

  • Nghiên cứu vấn đề theo nguyên tắc hoạt động

Quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học được tiến hành trong thực tiễn hoạt động quản lý của hiệu trưởng nhà trường.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài nghiên cứu các văn bản pháp quy của Nhà nước, của Bộ giáo dục và đào tạo về quản lý hoạt động dạy học ở trường Tiểu học. Nghiên cứu tìm tài liệu, sách, báo… về quản lý hoạt động dạy học ở trường Tiểu học.

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đề tài thiết kế 02 phiếu trưng cầu ý kiến: dành cho cán bộ quản lý và giáo viên của trường Tiểu học Khương Đình.

Tổ chức khảo sát thực trạng quản lý HĐDH theo tiếp cận NL tại trường Tiểu học Khương Đình.

  • Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực và sự hưởng ứng của giáo viên trước các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng trường Tiểu học Khương Đình. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

  • Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phương pháp toán học thống kê giúp xử lý các dữ liệu, các thông tin trong quá trình nghiên cứu.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

  • Về lý luận

Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học.

  • Về thực tiễn

Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học Khương Đình.

Đề xuất một số biện pháp quản lý theo tiếp cận năng lực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tại nhà trường trong thời gian tới.

Giúp cho nhà quản lý có tham khảo về công tác quản lý, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới giáo dục.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được cấu trúc làm ba chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học;
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học Khương Đình,quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

1.1. Hoạt động dạy học tại trường tiểu học theo tiếp cận năng lực

1.1.1. Khái niệm hoạt động dạy học

Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, hoạt động dạy học là “một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo, xây dựng các phẩm chất nhân cách của người học” [33, tr. 64].

Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê, hoạt động dạy học là “quá trình hoạt động chung của người dạy và người học” [26, tr. 30]. Như vậy, có thể thấy trong hoạt động dạy luôn tồn tại song song hai hoạt động là hoạt động dạy và hoạt động học.

Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học: Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò có mối liên hệ thống nhất biện chứng.

Hoạt động dạy (của GV): là tổ chức, truyền thụ tri thức, điều khiển hoạt động chiếm lĩnh tri thức của HS, nhằm định hướng cho HS chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Hoạt động này có 2 chức năng là truyền đạt và điều khiển nội dung học theo chương trình quy định. Có thể hiểu hoạt động dạy là quá trình hoạt động sư phạm của GV, làm nhiệm vụ truyền thụ tri thức, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS.

Hoạt động học (của HS): là quá trình hoạt động của HS dưới sự định hướng của người dạy, người học tự giác, tích cực, chiếm lĩnh kiến thức từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Có thể hiểu hoạt động học của HS là quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và hoàn thiện nhân cách.

1.1.2. Hoạt động dạy học tại trường tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên khái niệm hoạt động dạy học của hai tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt để đưa ra định nghĩa về hoạt động dạy học ở trường tiểu học như sau:

Hoạt động dạy học tại trường tiểu học là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh trong trường tiểu học nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt động nhận thức thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo, xây dựng các phẩm chất nhân cách của học sinh tiểu học.

  • Đặc điểm hoạt động dạy học ở trường tiểu học

Quá trính giáo dục tiểu học mở đầu cho quá trình GD trong nhà trường phổ thông, tiếp nối quá trình GD tiểu học là quá trình GD phổ thông cơ sở, quá trình GD tiểu học phải xây dựng ở HS phổ thông những cơ sở quan trọng của nhân cách người công dân người lao dộng tương lai.

Trong quá trình GD tiểu học cần lưu ý:

  • GD HS những chuẩn mực hành vi ngày càng có tính khái quát từ lớp dưới lên lớp trên.
  • Nâng cao dần cơ sơ lý luận của các chuẩn mực hành vi, giúp HS hiểu các ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện hành vi.
  • Tăng cường những hoạt động GD có nội dung ngày càng phong phú, hình thức hấp dẫn, phạm vi ngày càng mở rộng.
  • Hình thành ở HS những kỹ năng sống cơ bản như lập kế hoạch, hợp tác, tổ chức,..
  • Hát huy ý thức và năng lực tự quản của các

Như vậy cần đảm bảo cho quá trình GD tiểu học những điều:

  • Liên thông, tiếp tục quá trình ở mẫu giáo, kế thừa những kết quả tích cực, khắc phục những kết quả tiêu cực.
  • Liên thông, chuẩn bị cho quá trình GD phổ thông. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Nội dung của hoạt động dạy học ở trường tiểu học

Hoạt động giáo dục trong trường tiểu học được quy định tại Điều 29 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BGDĐT năm 2021 hợp nhất Thông tư về Điều lệ Trường Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành như sau [9]:

Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu phù hợp đặc điểm tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học.

Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp chính là hoạt động dạy học được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

1.1.3. Hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực

  • Khái niệm năng lực

Qua các tài liệu trong nước cũng như ngoài nước có thể quy năng lực vào các phạm trù sau đây:

  • Năng lực được quy vào phạm trù khả năng (ability, capacity, possibility)

Đây là hướng tiếp cận năng lực thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm năng lực là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [dẫn theo 4, tr. 22].

F.E. Weinert cho rằng năng lực là “tổng hợp các khả năng kỹ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp” [103].

Theo J. Coolahan: năng lực được xem như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [dẫn theo 4, tr. 22].

Còn theo D. Tremblay, năng lực là “khả năng hành động thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [dẫn theo 4, tr. 22].

  • Năng lực được quy vào những thuộc tính cá nhân

Đây là hướng tiếp cận năng lực thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu trong nước.

Phạm Minh Hạc xem năng lực là “một tổ hợp phức tạp những thuộc tính tâm lý của mỗi người, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả” [21; tr.334].

Nguyễn Quang Uẩn xem năng lực là “tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [37; tr.178]. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Theo Vũ Dũng, “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” [13, tr. 101].

Khái niệm năng lực sử dụng trong luận văn của chúng tôi được hiểu là năng lực thực hiện, đó là việc sở hữu kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm nhân cách mà một người cần có để đáp ứng các yêu cầu của một nhiệm vụ cụ thể; nói cách khác, phải biết làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what).

  • Cấu trúc của năng lực

Theo các nhà Tâm lý học, nội dung và tính chất của hoạt động quy định thuộc tính tâm lý của cá nhân tham gia vào cấu trúc năng lực của cá nhân đó. Vì thế, thành phần của cấu trúc năng lực thay đổi tùy theo loại hình hoạt động. Tuy nhiên, cùng một loại năng lực, ở những người khác nhau có thể có cấu trúc không hoàn toàn giống nhau. Ví dụ, cùng năng lực tổ chức nhưng năng lực này ở người thứ nhất được tạo ra bởi tính nhạy cảm trước những vấn đề của người khác. Còn ở người thứ hai lại được tạo ra bởi sự kết hợp hài hòa giữa lý và tình trong quan hệ với mọi người… Có những thuộc tính tâm lý phù hợp với nhiều hoạt động khác nhau nên chúng là thành phần của nhiều năng lực. Những thuộc tính như vậy được gọi là những thuộc tính chung. Còn có những thuộc tính tâm lý chỉ phù hợp với một loại hoạt động nhất định. Những thuộc tính như vậy được gọi là những thuộc tính chuyên biệt.

Theo F.E. Weinert, năng lực gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kỹ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân [dẫn theo 4]. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “trong những thuộc tính tâm lý của nhân cách cấu tạo nên một năng lực về một hoạt động nào đó bao giờ cũng có những thuộc tính có tầm quan trọng hàng đầu, còn những thuộc tính khác có vai trò bổ sung, hỗ trợ” [22; tr.335]. Ví dụ, trong năng lực sư phạm giữ vị trí hàng đầu là tình yêu thương HS, sự hiến dâng những gì tốt đẹp nhất cho thế hệ trẻ.

Từ các ý kiến khác nhau về cấu trúc năng lực, có thể thấy, năng lực được cấu thành từ 3 yếu tố: tri thức, kỹ năng và các điều kiện tâm lý cho việc thực hiện hoạt động của cá nhân, trong đó kỹ năng được xem là yếu tố cốt lõi của năng lực.

  • Phân loại năng lực

Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, phụ thuộc vào quan điểm, tiêu chí phân loại. Vì thế, có nhiều cách phân loại năng lực. Tuy nhiên, hiện nay cách phân loại năng lực đang được sử dụng phổ biến trong khoa học giáo dục là phân năng lực thành hai loại chính: năng lực chung (general competece) và năng lực chuyên biệt (subject-specific competecies).

Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều hoạt động. Một số tác giả còn gọi năng lực chung này là năng lực chính với các thuật ngữ khác nhau như năng lực nền tảng, năng lực chủ yếu, năng lực cốt lõi, năng lực cơ sở… Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần: Góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng; Giúp cho các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; Chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người [78]. Chẳng hạn, những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ…) là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động đạt kết quả.

Có tác giả đã dựa trên 4 trụ cột giáo dục của UNESCO (Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định) để xác định các năng lực chung: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể.

  • Sơ đồ 1.1. Các năng lực chung trong mối tương quan với 4 trụ cột giáo dục của UNESCO

Còn năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn của một môn học/hoạt động nào đó.

Việc phân biệt năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cần thiết nhưng giữa hai loại năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và do vậy ranh giới giữa chúng thường không thật rạch ròi. Ví dụ, tư duy sáng tạo là năng lực chung, nhưng môn học nào cũng có yêu cầu sáng tạo như một năng lực chuyên biệt: sáng tạo toán học, sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn học, sáng tạo công nghệ… Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

  • Năng lực học sinh

NLHS là khả năng làm chủ các hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận dụng chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề mà cuộc sống đặt ra cho chính các em.

NLHS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng… mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội, thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện đang thay đổi của xã hội.

Như vậy, NLHS bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ nhưng kiến thức, kỹ năng, thái độ đó phải qua sự vận dụng, qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo của chính các em thì mới trở thành NL. Nếu trong dạy học truyền thống, kiến thức, kỹ năng, thái độ là mục đích thì trong dạy học hiện đại kiến thức, kỹ năng, thái độ mới là phương tiện; còn NL mới là mục đích.

  • Khung năng lực học sinh Tiểu học

Thông tư 22/2023/TT-BGDĐT sửa đổi Quy định đánh giá học sinh tiểu học kèm theo Thông tư 30/2021/TT-BGDĐT trong đó có đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực HS theo khung đánh giá sau [9]:

  • Bảng 1.1. Các năng lực của học sinh theo Thông tư 22/2023 của BGD& ĐT

Cách thức đánh giá với từng năng lực: 1 = Cần cố gắng (C); 2 = Đạt (Đ); 3 = Tốt (T)

Lượng hóa kết quả đánh giá từng năng lực dựa trên mức độ thể hiện qua các câu cho các lần đánh giá giữa kì và cuối kì theo quy ước sau: Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

  • Xếp vào nhóm TỐT nếu: ≥ 3/4 số chỉ tiêu đạt mức 3, không có chỉ tiêu nào ở mức 1;
  • Xếp vào nhóm ĐẠT nếu: > 3/4 số chỉ tiêu đạt mức 2 hoặc mức 3
  • Xếp vào nhóm CẦN CỐ GẮNG nếu: ≥ 1/4 số chỉ tiêu đạt mức 1.

Các năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Đây cũng chính là những năng lực một công dân toàn cầu cần có để sống và làm việc trong bất kì môi trường nào.

Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được triển khai trên thực tế được vài năm với những kết quả khá rõ rệt. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khung năng lực HS Tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam để đánh giá hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trường Tiểu học.

  • Hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường Tiểu học.

Tiếp cận năng lực trong giáo dục xuất hiện tại Mỹ vào những năm 70 của thế kỷ XX gắn với trào lưu giáo dục chủ trương xác định mục tiêu giáo dục bằng cách mô tả cụ thể để có thể đo lường được những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà HS cần phải đạt được sau khi kết thúc khóa học. Đây là cách tiếp cận tập trung vào năng lực hành động, nhằm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhằm tới những gì họ cần phải học được.

Tiếp cận năng lực trong giáo dục là cách tiếp cận nêu rõ kết quả những khả năng hoặc kĩ năng mà HS mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể. Nói cách khác, cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi: chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì? Đầu ra của cách tiếp cận này tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học.

Trên nền tảng của hướng tiếp cận năng lực, chúng tôi định nghĩa hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực như sau:

Hoạt động dạy học tại trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh trong trường tiểu học nhằm phát triển năng lực cho học sinh tiểu học.

1.2. Quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

1.2.1. Khái niệm quản lí

  • Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, sau đây là một số quan điểm chính:

Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả Harold Kontz viết “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và bất mãn cá nhân ít nhất” [29, tr. 37].

-Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [28, tr. 54].

Tác giả Vũ Dũng, Nguyễn Thị Mai Lan cho rằng: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra [14, tr.54].

Từ đó, khái niệm quản lý chúng tôi sử dụng trong luận văn được hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức.

  • Các chức năng cơ bản của quản lý Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Chức năng quản lý là tổ hợp các hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý. Hoạt động quản lý có 4 chức năng: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá (Sơ đồ 1.2).

Chức năng kế hoạch hóa: là việc xác định các mục tiêu của tổ chức, đồng thời xác định các con đường, các cách thức và biện pháp, cùng các nguồn lực cần đáp ứng để đạt được các mục tiêu. Thực hiện chức năng kế hoạch hóa nhằm xây dựng các kế hoạch hoạt động của tổ chức và của cá nhân người quản lý.

Chức năng tổ chức: Nhằm hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng. Đó là quá trình phân công, phân bố sắp xếp và phối hợp các nguồn lực để thực hiện thành công các mục tiêu của kế hoạch đã đề ra.

Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo chính là quá trình thực hiện các tác động điều khiển, dẫn dắt, gây ảnh hưởng đến các thành viên, các bộ phận trong tổ chức để hướng mọi công việc đạt đến mục tiêu chung người quản lý có trình độ năng lực tổ chức, tập hợp, liên kết, động viên cán bộ thuộc quyền thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tổ chức phân công.

Chức năng kiểm tra đánh giá: Phát hiện, đánh giá kết quả hoạt động, phát hiện các lệch lạc, sai sót nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó tìm hiểu các nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa, đảm bảo cho kế hoạch đề ra được thực hiện thành công. Cần có kế hoạch kiểm tra rõ ràng, sắp xếp tổ chức hợp lý, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận,… thì kiểm tra mới đạt kết quả mong muốn.

  • Sơ đồ 1.2. Các chức năng quản lý

1.2.2. Quản lý hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Hoạt động dạy học là hoạt động chính trong trường phổ thông, vì vậy việc quản lý hoạt động dạy học cũng là một nội dung quản lý quan trọng trong quản lý nhà trường.

Trong quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng, chủ thể quản lý chính là hiệu trưởng nhà trường. Đối tượng của quản lý là các quá trình dạy học, quá trình giáo dục và các thành tố tham gia vào quá trình đó như giáo viên, HS, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính,…

Dựa trên định nghĩa về quản lý và hoạt động dạy học, chúng tôi định nghĩa quản lý hoạt động dạy học như sau:

Quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng tới hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Như vậy, quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý quá trình truyền thụ tri thức của đội ngũ GV và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS; quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học của cán bộ quản lý nhà trường.

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học là nội dung, cách thức, giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của chủ thể quản lý. Trong quản lý giáo dục, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan. Trong nhà trường, biện pháp quản lý hoạt động dạy và học là những cách tổ chức, điều hành kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học của cán bộ, GV và HS nhằm đạt được kết quả cao nhất đề ra.

Quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học gồm 6 nội dung cơ bản là:

  • Lập kế hoạch dạy học
  • Tổ chức thực hiện chương trình dạy học
  • Quản lý hoạt động dạy của giáo viên.
  • Quản lý hoạt động học của học sinh
  • Quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị- kỹ thuật phục vụ dạy học
  • Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học.

1.2.3. Quản lý hoạt động học học theo tiếp cận năng lực tại trường tiểu học

  • Khái niệm Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Quản lý HĐDH theo tiếp cận năng lực là một nội dung quản lý quan trọng nhất ở trường Tiểu học. Việc quản lý HĐDH có thể tiếp cận theo những định hướng khác nhau, tùy thuộc mục đích, yêu cầu của CBQL. Nếu theo tiếp cận năng lực, quản lý HĐDH tập trung nhiều vào đầu ra của HS, vào sự chủ động, tích cực chiếm lĩnh kiến thức của HS, vào sự tiến bộ của HS trong quá trình học. Nói cách khác, quản lý HĐDH theo tiếp cận năng lực đòi hỏi, từ xây dựng mục tiêu dạy học, lựa chọn nội dung dạy học, sử dụng phương pháp và hình thức dạy học đến kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học ở trường phải được tổ chức, điều khiển theo tiếp cận năng lực.

Như vậy, theo chúng tôi, quản lý HĐDH theo tiếp cận năng lực là quá trình lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, thực hiện và kiểm tra, đánh giá HĐDH để đảm bảo đạt được mục tiêu phát triển năng lực HS.

  • Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực

Dựa trên bốn chức năng của quản lý, chúng tôi xác định 6 nội dung chính của quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là: xây dựng kế hoạch năm học theo tiếp cận năng lực, chỉ đạo thực hiện nội dung chương trình giảng dạy theo tiếp cận năng lực, quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo tiếp cận năng lực, quản lý hoạt động học tập của học sinh theo tiếp cận năng lực, quản lý khai thác và sử dụng thiết bị dạy học theo chương trình phát triển năng lực học sinh và kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực.

Xây dựng kế hoạch năm học theo tiếp cận năng lực:

  • Giúp giáo viên nắm vững phân phối chương trình theo quy định.
  • Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch.
  • Chỉ đạo xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên và dự kiến kế hoạch học tập của học sinh.
  • Quy định số lượng, chất lượng hồ sơ chuyên môn.
  • Xây dựng và công bố kế hoạch
  • Duyệt và kiểm tra các kế hoạch.

Chỉ đạo thực hiện nội dung chương trình giảng dạy theo tiếp cận năng lực:

  • Xác định các nguồn lực trong và ngoài nhà trường tham gia vào chương trình giảng dạy theo tiếp cận năng lực.
  • Ban hành quy định về hoạt động giảng dạy trên lớp của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực, xác định quyền hạn của từng bộ phận/tổ chuyên môn và cơ cấu giáo viên của từng bộ phận.
  • Phân công giáo viên phù hợp với chương trình, môn học.
  • Phối hợp các nguồn lực ngoài nhà trường tham gia vào chương trình giảng dạy theo tiếp cận năng lực.

Quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo tiếp cận năng lực:

  • Quản lý việc soạn bài của giáo viên theo chương trình phát triển năng lực: hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất kế hoạch soạn bài, chuẩn bị bài trước khi lên lớp sao cho giáo viên phát huy được tinh thần sáng tạo, truyền thụ tri thức mới bằng phương pháp mới cho học sinh, đồng thời khơi dậy được hứng thú học tập của học sinh. Hiệu trưởng cũng chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất về nội dung bài giảng. Hiệu trưởng trực tiếp hoặc thông qua tổ chuyên môn tích cực kiểm tra việc soạn bài của giáo viên. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.
  • Quản lý giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực: tổ chức cho giáo viên nghiên cứu và quán triệt yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức thảo luận về đổi mới phương pháp, tổ chức soạn bài và giảng bài mẫu theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.

Quản lý hoạt động học tập của học sinh theo tiếp cận năng lực:

  • Quản lý việc khơi dậy và kích thích tính tự giác, tích cực trong học tập của học sinh thông qua tổ chức các hoạt động tập thể cho học sinh toàn trường và hướng dẫn, giám sát giáo viên tổ chức hoạt động học tập theo lớp học, môn học.
  • Quản lý việc hình thành kỹ năng tự học của học sinh

Quản lý khai thác, sử dụng thiết bị dạy học theo chương trình phát triển năng lực học sinh:

  • Phân công cán bộ chuyên trách về trang thiết bị, phương tiện dạy học.
  • Có kế hoạch mua sắm và sử dụng trang thiết bị phù hợp với chương trình dạy học theo tiếp cận năng lực.
  • Khai thác và sử dụng có hiệu quả CSVC của nhà trường phục vụ cho hoạt động dạy và hoạt động học. Yêu cầu giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và đánh giá năng lực học sinh (giáo án điện tử, sổ tay điện tử). Quản lý việc học sinh sử dụng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất (thư viện, học liệu, học cụ) trong học tập và phát triển bản thân.
  • Định kỳ đánh giá việc khai thác, sử dụng thiết bị dạy học.

Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực:

  • Tổ chức đánh giá và tự đánh giá giữa các giáo viên về kết quả thực hiện hoạt động dạy học, trong đó đánh giá về mục tiêu, nội dung, kế hoạch, phương pháp dạy học theo chương trình dạy học tiếp cận năng lực. Tổ chức cho giáo viên phân tích giờ học để rút kinh nghiệm.
  • Quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo năng lực.

1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực học sinh tại trường tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

1.3.1. Các yếu tố khách quan

  • Xu thế đổi mới và hội nhập quốc tế trong giáo dục

Cùng với các bậc học khác, giáo dục Tiểu học đang có sự đổi mới căn bản, toàn diện về CTGD, PPDH, đánh giá kết quả học tập của HS… Tất cả sự đổi mới này đều dựa trên một định hướng chung, đó là tiếp cận năng lực học sinh.

Sự đổi mới của giáo dục Tiểu học sẽ tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý bậc học, đòi hỏi công tác quản lý, nhất là quản lý HĐDH cũng phải đổi mới theo tiếp cận năng lực.

Hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực hợp tác và sức cạnh tranh đang trở thành nhiệm vụ ưu tiên của giáo dục Việt Nam, trong đó có GDPT.

Hội nhập quốc tế trong GD&ĐT đang đặt ra những yêu cầu mới đối với xây dựng chương trình GDPT; đối với tổ chức, quản lý GDPT nói chung, HĐDH ở trường tiểu học nói riêng. Những kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chương trình, tổ chức, quản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực cần được tiếp thu và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong đổi mới GDPT.

  • Cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ dạy học theo tiếp cận năng lực

Đổi mới HĐDH luôn gắn liền với các yêu cầu của CSVC-TBDH. Cơ sở vật chất đầy đủ, TBDH hiện đại sẽ góp phần nhất định vào thành công của đổi mới HĐDH. Vì vậy, CBQL phải tổ chức xây dựng hệ thống CSVC- TBDH phù hợp với nội dung chương trình tiểu học, đáp ứng các yêu cầu của quá trình dạy học; tổ chức sử dụng và bảo quản hệ thống CSVC – TBDH đáp ứng yêu cầu đổi mới HĐDH. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

  • Gia đình, cộng đồng xã hội

Một quan niệm đã ăn sâu vào tâm lí của đông đảo HS, phụ huynh và trở thành tâm lí chung của xã hội đó là: học để đi thi chứ không phải học để phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.

Gia đình là nơi thỏa mãn các điều kiện vật chất và tinh thần cho việc học tập của HS và có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần, thái độ học tập của HS. Truyền thống địa phương, các giá trị văn hóa tích cực của cộng đồng trên địa bàn là những yếu tố ảnh hưởng đến công tác nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới HĐDH.

Do đó khi chuyển mục tiêu học tập sang tiếp cận năng lực người học cần làm thay đổi quan niệm của phụ huynh và xã hội về mục tiêu học tập. Đây là một việc làm không đơn giản nhưng nhất thiết phải làm.

1.3.2. Các yếu tố chủ quan

  • Năng lực dạy học theo tiếp năng lực của giáo viên

Nhận thức, tâm lý, năng lực của GV có ảnh hưởng lớn đến HĐDH theo tiếp cận năng lực. Trước hết, GV phải có nhận thức đúng đắn về HĐDH theo tiếp cận năng lực. Đây là xu hướng dạy học hiện đại đang được cả thế giới vận dụng thành công. Vì thế chuyển sang dạy học theo tiếp cận năng lực là một yêu cầu cấp thiết đối với giáo dục Việt Nam.

  • Hiểu biết của hiệu trưởng về chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực của học sinh

Hiệu trưởng nhà trường là người chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân về chất lượng và hiệu quả hoạt động của trường mình. Sự đổi mới HĐDH có thành hiện thực hay không, đầu tiên phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai trong thực tiễn của người quản lý.

Thành công của việc đổi mới HĐDH phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiểu biết của người hiệu trưởng về chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực. Có hiểu biết sâu sắc thì người hiệu trưởng sẽ giúp tập thể vượt qua trở ngại trong quá trình đổi mới HĐDH. Trình độ hiểu biết về lý luận dạy học, năng lực tổ chức, năng lực quản lý nguồn tài lực và vật lực, năng lực vận động xã hội, thu thập và xử lý các thông tin, và uy tín của người quản lý góp phần quyết định sự thành công của việc đổi mới HĐDH.

  • Kinh nghiệm quản lý của hiệu trưởng

Thâm niên công tác của người hiệu trưởng đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành những kinh nghiệm quản lý của người hiệu trưởng. Người hiệu trưởng càng có nhiều kinh nghiệm quản lý thì càng quản lý nhà trường hiệu quả hơn, trước hết là quản lý HĐDH của nhà trường. Từ đó sẽ giúp nhà trường phát triển một cách toàn diện.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

NLHS được hình thành, phát triển trong quá trình giáo dục và bằng quá trình giáo dục. Nội dung và phương pháp giáo dục nói chung, nội dung và phương pháp dạy học nói riêng có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến sự phát triển NLHS. Tiếp cận NLHS là nhằm làm cho các năng lực chung và năng lực đặc trưng cho từng môn học/ lớp học/ cấp học được hình thành, củng cố và hoàn thiện ở HS. Vấn đề tiếp cận NLHS phải được đặt ra theo quan điểm toàn diện, thông qua các hoạt động giáo dục cơ bản của nhà trường.

Quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực người học là một vấn đề rất quan trọng của nền giáo dục tiến bộ. Do đó, đổi mới quản lý hoạt động dạy học là một bước đột phá trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục.

Quản lý hoạt dộng dạy học theo hướng phát triển năng lực người học được hiểu là quá trình tác động có ý thức, có mục đích của người quản lý đến cách dạy của GV và cách học của HS nhằm đạt được mục đích dạy học đã xác định.

Trong quản lý, ngoài các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra thì chức năng kích thích, tạo động lực là chức năng cơ bản rất quan trọng, tác động trực tiếp đến con người, là chức năng mà mọi cấp quản lý dù ở cấp độ nào muốn thành công cũng phải quan tâm đến.

Muốn vận hành nhà trường hoạt động tốt, người quản lý không chỉ là nhà quản lý hành chính- tổ chức, nhà sư phạm mẫu mực mà còn là nhà hoạt động chính trị- xã hội, nhà văn hóa và hơn thế nữa phải là nhà ngoại giao.

Đổi mới quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực người học ở các trường tiểu học là thực hiện theo xu hướng dạy học hướng vào người học. Vì vậy, khi tổ chức điều khiển quá trình học của HS, giáo viên phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS, tăng cường sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, tạo cảm xúc, hứng thú trong dạy học làm quá trình học tập biến thành quá trình tự học, tự tìm ra tri thức mới. Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường.

Nhà trường là một bộ phận của xã hội, giáo dục là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân. Cần khéo léo phối hợp các lực lượng giáo dục, phát huy sức mạnh nội lực, tranh thủ sự hỗ trợ ngoại lực nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới HĐDH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực tại trường […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537