Luận văn: Phương pháp nghiên cứu du lịch sinh thái tại Võ Nhai

Đánh giá post

đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu nhằm phục vụ phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch  sinh thái và giải pháp khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Võ Nhai.

2.2.  Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu tiềm năng, hiện trạng tài nguyên du lịch và giải pháp khai thác tài nguyên du lịch của huyện trong phạm vi không gian giới hạn địa giới hành chính là huyện Võ Nhai. Đề tài cũng chú trọng tính liên kết không gian du lịch của Huyện với các khu vực lân cận có tiềm năng du lịch như huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) và huyện Bắc Sơn ( Lạng Sơn).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu của luận văn được lấy từ năm 2020 đến năm 2024.

2.3. Nội dung nghiên cứu của đề tài

Luận văn tiến hành nghiên cứu về các nội dung sau:

  • Xác định các tiềm năng các tài nguyên và đánh giá tiềm này cho phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai.
  • Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai.
  • Các giải pháp khai thác tài nguyên du lịch sinh thái phục vụ cho định hướng phát triển du lịch sinh thái.

2.4.  Quan điểm nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu này có rất nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau như:

  • Phương pháp tiếp cận phát triển bảo vệ

Bảo vệ môi trường là vấn đề có tầm quan trọng sống còn đối với hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái bởi môi trường không những là điều kiện để diễn ra các hoạt động du lịch mà còn là yếu tố quyết định sự hấp dẫn du lịch đó. Nếu như du lịch phát triển được là nhờ sự hấp dẫn du lịch thì môi trường đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển này, đặc biệt là trong xu hướng phát triển du lịch bền vững. Vì vậy khi nghiên cứu, tìm hiểu về du lịch cần phải đứng trên phương diện tiếp cận phát triển và bảo vệ.

  • Cơ chế phân tích nguyên nhân và hậu quả của một vấn đề, phát hiện mâu thuẫn, thiếu sót.

Để có thể đánh giá tài nguyên du lịch Võ Nhai có thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, luận văn cần đưa ra các vấn đề, mâu thuẫn, thiếu sót đã và đang ảnh hưởng đến phát triển du lịch tại đây từ đó đưa ra các giải pháp khai thác tài nguyên du lịch.

  • Cơ chế tiếp cận thực tiễn, có sự tham gia của các bên liên quan.

Với vấn đề hiện tại tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận thực tiễn, có sự tham gia của cộng đồng trong đó tác giả chọn cách tiếp cận là “Phát triển du lịch có sự tham gia của các bên có liên quan”. Đó được hiểu là cách tiếp cận có sự tham gia của các bên như: khách du lịch, nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý tài nguyên cùng tham gia để thử nghiệm những cái mới. Trong đó vai trò chính thuộc về UBND huyện những người đang bảo tồn các tài nguyên du lịch vật thể, phi vật thể, sở hữu và quản lý các tài nguyên du lịch tự nhiên. Nhà nghiên cứu sẽ trợ giúp về mặt khoa học cho cán bộ quản lý là người thúc đẩy tiến trình thử nghiệm. Trong cả 3 đối tượng trên cùng thử đi tìm “những cái mới” phù hợp với điều kiện. Những cái mới đó là ý tưởng về công nghệ, hoặc mới về các tổ chức quản lý, mới về điều kiện áp dụng và được lựa chọn để thử nghiệm. Do đó việc phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia thúc đẩy, sự kết hợp có tính sáng tạo này để phát huy nội lực nhằm cải thiện sản xuất và quản lý tài nguyên thiên nhiên và văn hóa ở Võ Nhai.

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được sử dụng để quan sát và thu thập các thông tin du lịch như:  (Cơ sở lưu trú, điểm du lịch, giao thông, cơ sở hạ tầng, hệ thống điện, vv), và tìm hiểu về văn hóa bản địa.

Các địa điểm tiến hành thực địa gồm: Hang Phượng Hoàng – suối Mỏ Gà, Di tích Thần Sa, Rừng Khuôn Mánh, Hang Huyện.

Quan sát tham dự: thông qua thực hiện đề tài tác giả được trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch văn hóa ở Võ Nhai, từ đó đưa ra những cảm nhận, ý kiến cá nhân về đối tượng nghiên cứu. Trong các chuyến điền dã, tác giả đã tham dự chương trình du lịch sinh thái tại địa phương.

Quan sát không tham dự: tác giả đã thực hiện quan sát hiện trạng, biểu hiện của đối tượng nghiên cứu để từ đó đưa ra nhận xét định tính. Tác giả thực hiện hành tại các điểm du lịch, cơ quan quản lý du lịch địa phương, chính quyền địa phương và các công ty có chương trình du lịch liên quan đến du lịch Võ Nhai.

2.5.2. Phương pháp điều tra xã hội học

Công cụ điều tra sử dung trong phương pháp này là bảng hỏi:

  • a. Bảng hỏi

Với khách du lịch: Bảng hỏi được dùng để thu thập số liệu về các tiêu chí để đánh giá như Rất thuận lợi, khá thuận lợi, thuận lợi trung bình hay kém thuận lợi.

Ngoài ra còn để đánh giá tính hấp dẫn, an toàn, liên kết giữa các điểm du lịch này. Bảng hỏi gồm co 100 bản trong đó có 90 bản là dành cho du khách nội địa, 10 bản dành cho du khách quốc tế).

Tất cả các bảng hỏi này được tiến hành điều tra vào khoảng thời gian 11/2024.

(Chi tiết bảng hỏi được đính kèm ở phần phụ lục của luận văn).

Với các chuyên gia, doanh nghiệp, nhà quản lý: Tác giả thực hiện khảo sát, phỏng vấn sâu 50 người trong đó với 2 chuyên gia, còn lại bảng hỏi cho nhà quản lý, doanh nghiệp du lịch để đưa ra các nhận định và cách đánh giá cùng với các tiêu chí đánh giá của đề tài. (chi tiết phiếu hỏi được thể hiện ở phục lục 2).

  • Phỏng vấn

Phỏng vấn là phương pháp điều tra, nghiên cứu hiệu quả nhằm thu thập thông tin liên quan đến các điểm Du lịch ở Võ Nhai như: tính hấp dẫn, tính an toàn, tính liên kết, sức chứa của các địa chủ lưu trú của huyện. Phương pháp này được tác giả luận văn áp dụng với cộng đồng địa phương, quản lý về du lịch, các chuyên gia trong lĩnh vực, chính quyền địa phương, công ty lữ hành, hướng dẫn viên du lịch và khách du lịch. Mỗi đối tượng được phỏng vấn đều được xác định tiêu chí đầy đủ và phù hợp để phục vụ yêu cầu điều tra. Tác giả sử dụng hình thức phỏng vấn sâu, trực diện, cá nhân trực tiếp phỏng vấn các đối tượng:

  • Chính quyền địa phương huyện Võ Nhai, các xã trong huyện, phòng văn hóa thông tin huyện Võ Nhai.
  • Các hộ gia đình xung quanh các địa danh du lịch trên.
  • Một số công ty lữ hành có chương trình du lịch văn hóa đến Võ Nhai.
  • Một số chuyên gia trong lĩnh vực quảng bá, xúc tiến du lịch.
  • Phỏng vấn khách du lịch đến Võ Nhai

2.5.3. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Các tài liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu: hoạt động du lịch, điều tra giá trị địa chất địa hình, quy hoạch kinh tế xã hội huyện, báo cáo kinh tế xã hội huyện Võ Nhai từ năm 2020 đến nay, báo cáo môi trường, bản đồ địa hình huyện Võ Nhai.

Thu thập số liệu về tình hình dân số từ các xã: tỷ lệ dân số phục vụ trong ngành du lịch, trình độ văn hoá về du lịch, ngoại ngữ, đặc biệt tại tại các di tích và địa điểm du lịch trên.

Thu thập số liệu về: lượng khách du lịch, doanh thu du lịch, số người tham gia phục vụ du lịch và các báo cáo du lịch tại khu vực nghiên cứu.

Tiến hành xử lý số liệu được thu thập ở trên cùng với số liệu từ bảng hỏi và bảng phỏng vấn để tổng hợp được các bảng 1,2,3 trong phụ lục 2.

2.5.4. Phương pháp chuyên gia

Đó là phương pháp nghiên cứu trong đó người nghiên cứu sử dụng trí tuệ của đội ngũ những người có trình độ cao, am hiểu sâu về lĩnh vực mà người nghiên cứu quan tâm, xin ý kiến đánh giá, nhận xét của họ về vấn đề nghiên cứu hoặc định hướng cho người nghiên cứu. Đây là PP đỡ tốn thời gian và sức lực nhất, tuy nhiên kết.quả nghiên cứu chỉ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia.

Trong luận văn tác giả sử dụng bảng hỏi để xin ý kiến đánh giá, nhận xét của 02 chuyên gia trong lĩnh vự du lịch  về các vấn đề như: tiềm năng du lịch phục vụ phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai, sản phẩm du lịch sinh thái Võ Nhai, khó khăn, thuận lợi khi khai thác tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch sinh thái  huyện Võ Nhai.

2.5.5. Phương pháp đánh giá

2.5.5.1. Cơ sở lựa chọn đánh giá

Trên thế giới nhiều năm qua, phương pháp đánh giá tổng hợp được sử dụng khá phổ biến không chỉ đối với các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên mà còn cả đánh giá tài nguyên nhân văn. Riêng ở Việt Nam, trong thời gian gần đây do nhu cầu du lịch bắt đầu phát triển những công trình về đánh giá tổng hợp lãnh thổ cho mục đích du lịch. Trong đó các tác giả như Phạm Trung Lương, Hồ Công Dũng, Đặng Duy Lợi,… đã đề cập đến các tiêu chí như: vị trí của điểm du lịch, độ hấp dẫn, Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, thời gian hoạt động du lịch, sức chứa khách du lịch, độ bền vững của điểm du lịch và hiệu quả kinh tế để đánh giá các điểm du lịch sinh thái, đề tài đã sử dụng phương pháp đánh giá tổng hợp bằng cách lựa chọn các chỉ tiêu và cho điểm để xác định tiềm năng. Cụ thể đó là việc xem xét theo hai tiêu thức: Tiềm năng thu hút và tiềm năng khai thác của từng tài nguyên. Mỗi chỉ tiêu được phân cấp theo 4 bậc: Rất thuận lợi, khá thuận lợi, thuận lợi trung bình và kém thuận lợi với điểm tương ứng là 4,3,2,1.

2.5.5.2. Đánh giá tiềm năng thu hút khách du lịch của các tài nguyên du lịch

  • Xác định chỉ tiêu

Tiềm năng thu hút khách của điểm du lịch sinh thái được đánh giá dựa trên 3 chỉ tiêu: độ hấp dẫn, tính an toàn, tính liên kết.

  • Độ hấp dẫn:

Độ hấp dẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu khi đánh giá tiềm năng thu hút khách của điểm du lịch sinh thái. Độ hấp dẫn là yếu tố có tính tổng hợp, xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, địa hình, khí hậu và những nét độc đáo của các sự vật, hiện tượng. Độ hấp dẫn của điểm du lịch sinh thái được phân chia thành 4 cấp:

Cao: Có trên 5 phong cảnh đẹp hoặc hiện tượng văn hóa đặc sắc, có hệ sinh thái đa dạng, độc đáo, điển hình, được bảo tồn tốt và hình thành được trên 5 sản phẩm du lịch

Khá: Có 3-5 phong cảnh đẹp hoặc hiện tượng văn hóa đặc sắc, có hệ sinh thái tương đối đa dạng, được bảo tồn khá tốt và hình thành được 3-5 sản phẩm du lịch

Trung bình: Có 1-2 phong cảnh đẹp hoặc hiện tượng văn hóa đặc sắc, có tính đa dạng sinh học vừa phải và hình thành được không quá 2 sản phẩm du lịch

Kém: Không có phong cảnh đẹp hoặc hiện tượng văn hóa đặc sắc, địa hình và cảnh quan đơn điệu không ấn tượng gì cho du khách, chỉ hình thành được 1 sản phẩm du lịch.

Tính an toàn: Tính an toàn của điểm du lịch sinh thái được đánh giá theo hai khía cạnh là sinh thái và xã hội. Tính an toàn của điểm du lịch sinh thái được chia thành 4 cấp :

Cao: Không xảy ra trường hợp mất ổn định nào về an ninh, sinh thái và thiên tai. Không có hiện tượng khủng bố, quấy nhiễu, trộm cắp, bắt cóc, trấn lột, bán hàng rong, ăn xin và không có dịch bệnh

Khá: Không có các đặc trưng riêng như trên. Tuy nhiên chỉ có các họat động ăn xin, quấy nhiễu, bán hàng rong nhưng không thường xuyên

Trung bình: Không có các đặc trưng như trên. Các hoạt động ăn xin, quấy nhiễu, bán hàng rong hoạt động mạnh.

Kém: xảy ra các hoạt động cướp giật, bắt cóc, dịch bệnh, đe dọa đến tính mạng và xâm phạm tài sản của khách du lịch

Tính liên kết: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, hoạt động mang tính liên kết cao. Tính liên kết điểm du lịch sinh thái ở đây được đánh giá bằng sự có mặt của các điểm tài nguyên du lịch nằm lân cận điểm du lịch được xem xét trong phạm vi bán kính không quá 25km.

  • Tốt : Có thêm ít nhất 4 điểm tài nguyên du lịch
  • Khá: Có thêm 2-3 điểm tài nguyên du lịch
  • Trung bình: Có thêm 1 điểm tài nguyên du lịch
  • Kém : Không có điểm tài nguyên du lịch nào khác có thể liên kết được

Xác định hệ số các chỉ tiêu

Mỗi chỉ tiêu đều có tác động đến tiềm năng thu hút khách du lịch theo các mức độ khác nhau. Chỉ tiêu có mức độ tác động lớn thì hệ số càng lớn. Trong 3 chỉ tiêu trên, “độ hấp dẫn” là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển của điểm du lịch sinh thái nên có hệ số 3. Trong khi đó, chỉ tiêu “tính an toàn” ít quan trọng hơn và có thể thay đổi bởi tác động của con người nên có hệ số 2. Chỉ tiêu “Tính liên kết” có hệ số 1. Từ đó, thang điểm đánh giá tiềm năng thu hút khách du lịch của điểm du lịch sinh thái như sau:

Bảng 2.1. Bảng điểm tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá tiềm năng thu hút khách du lịch của các Tài nguyên du lịch sinh thái

TT Tiêu chí Trọng số Thang điểm
Cao Khá Trung bình Kém
1 Độ hấp dẫn 3 12 9 6 3
2 Tính an toàn 2 8 6 4 2
3 Tính liên kết 1 4 3 2 1
Tổng 24 18 12 6

Phân hạng kết quả:

  • Điểm du lịch sinh thái thu hút cao : 20 – 24 điểm
  • Điểm du lịch sinh thái thu hút khá: 15 – 19 điểm
  • Điểm du lịch sinh thái thu hút trung bình : 10 – 14 điểm
  • Điểm du lịch sinh thái thu hút kém: 6 – 9 điểm

2.5.5.3. Đánh giá tiềm năng khai thác của các tài nguyên du lịch

Xác định chỉ tiêu đánh giá

  • Sức chứa du lịch

Sức chứa du lịch phản ánh khả năng về quy mô triển khai hoạt động du lịch tại mỗi điểm du lịch. Sức chứa du lịch có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm hoạt động của khách du lịch (số lượng, thời gian,..), đến khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên, xã hội. Ở bất kỳ điểm tiếp nhận du lịch nào thì khái niệm của sự phát triển bền vững đều liên quan đến sức chứa. Chỉ tiêu sức chứa khách du lịch để đánh giá tiềm năng khai thác của một điểm du lịch sinh thái được xác định theo 4 cấp :

Lớn: có khả năng tiếp nhận trên 1000 người/ngày, trên 250 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên. Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 500 người/ngày và 100 người/lượt.

Khá: có thể tiếp đón 500 – 1000 người /ngày, từ 150 – 250 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên. Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 300 – 500 người/ngày và 50 – 100 người/lượt.

Trung bình: có sức chứa 100 – 500 người/ngày, từ 50 – 150 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên. Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là 100 – 300 người/ngày và 30 – 50 người/lượt.

Nhỏ: có sức chứa dưới 100 người/ngày, dưới 50 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên du lịch tự nhiên. Đối với điểm tài nguyên nhân văn, con số tương ứng là dưới 100 người/ngày và dưới 30 người/lượt.

  • Độ bền vững:

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phá hủy các thành phần tự nhiên tại các điểm du lịch hay nói cách khác là khả năng bền vững của các thành phần tự nhiên khi triển khai hoạt động du lịch. Đây là một trong những tiêu chí quan trọng của loại hình du lịch sinh thái.

Cao: trong trường hợp điểm du lịch không có thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại, khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái của môi trường nhanh; công trình văn hóa lịch sử còn được bảo tồn tốt, không bị phá hoại bởi môi trường nhiệt đới ẩm và thiên tai, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc trên 100 năm, hoạt động du lịch diễn ra liên tục.

Khá: trong trường hợp điểm du lịch có từ 1 – 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại nhưng ở mức độ không đáng kể, có khả năng tự phục hồi tương 27 đối nhanh; công trình văn hóa lịch sử có bị phá hoại, có khả năng phục chế nhanh, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 50 đến 100 năm, hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên.

Trung bình: trong trường hợp điểm du lịch có từ 1 – 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên, kinh tế – xã hội bị phá hoại đáng kể, phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi nhanh được; công trình văn hóa lịch sử bị phá hoại tương đối, có khả năng sửa chữa và tôn tạo chậm, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 10 đến 50 năm, hoạt động du lịch có thể bị hạn chế.

Kém: trong trường hợp điểm du lịch có từ 2 – 3 thành phần tự nhiên bị phá hoại nặng, phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi được nhưng rất chậm; công trình văn hóa lịch sử bị phá hoại nặng, khả năng phục chế nguyên trạng kém, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc dưới 10 năm, hoạt động du lịch bị gián đoạn.

  • Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch:

Đối với du lịch sinh thái, tuy hệ thống cơ sở hạ tầng (CSHT) và Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) không giữ vai trò quyết định đến sự phát triển của loại hình du lịch này nhưng khi đánh giá sự thu hút của một điểm du lịch sinh thái thì không thể không đề cập đến yếu tố này bởi lẽ đối với bất kỳ loại hình du lịch nào thì việc đảm bảo những nhu cầu cơ bản của khách du lịch là điều không thể thiếu. Cơ sở hạ tầng & Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ở một điểm du lịch sinh thái được phân thành 4 cấp :

Tốt: Có Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, đầy đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Khá: Có Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, đầy đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc gia

Trung bình: Có được một số Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kỹ thuật nhưng chưa đồng bộ, chưa đủ hiện đại, tiện nghi

Kém: Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kỹ thuật vẫn còn thiếu thốn mà nếu có thì chất lượng thấp và chỉ có tính chất tạm thời

  • Vị trí của điểm du lịch và khả năng tiếp cận điểm du lịch (tính từ trung tâm gửi khách gần nhất): 

Chỉ tiêu này phản ánh vị trí tương đối giữa điểm tài nguyên với điểm phân phối khách và điều kiện đường giao thông cho phép tiếp cận điểm du lịch (tính thời gian, loại hình tiếp cận chuẩn cho phương tiện là ô tô du lịch). Trong phạm vi đề tài, điểm phân phối khách được xác định là TP. Thái Nguyên. Từ đó, phân loại các vị trí điểm du lịch như sau:

  • Rất thuận lợi : khoảng cách dưới 50km, hoặc thời gian đi đường ít hơn 1 giờ, có thể đi đến dễ dàng bằng 2 – 3 phương tiện thông dụng.
  • Khá thuận lợi: khoảng cách từ 50 đến 100 km, hoặc thời gian đi đường 1 – 2 giờ, có thể đi đến bằng 1 – 2 loại phương tiện thông dụng.
  • Thuận lợi trung bình: khoảng cách từ 100 đến 150 km, hoặc thời gian đi đường 2 – 3 giờ, có thể đi đến bằng 1 loại phương tiện thông dụng.
  • Kém thuận lợi: khoảng cách trên 150 km, hoặc thời gian đi đường trên 3 giờ, phương tiện vận tải khó khăn, nhiều hạn chế.

Hiệu quả kinh tế : Đối với mỗi điểm du lịch, để xác định được hiệu quả kinh tế trong tổng thể phát triển của vùng thường phải đưa ra những tiêu chuẩn đo lường về mặt kinh tế. Những tiêu chuẩn đó được sắp xếp thành 2 nhóm :

  • Lợi nhuận = Tổng doanh thu – tổng chi phí
  • Tỷ suất lợi nhuận = Tổng doanh thu/tổng chi phí

Tuy nhiên hiện nay phần lớn các điểm du lịch tự nhiên ở Võ Nhai còn ở dạng tiềm năng, chỉ có một vài điểm được quản lý khai thác và đón khách, còn các điểm du lịch khác chủ yếu là tự phát và không bán vé tham quan nên rất khó để xác định doanh thu. Vì vậy việc xác định hiệu quả kinh tế tại các điểm du lịch sinh thái đươc thực hiện ở đây còn mang tính định tính và bằng phương pháp thực nghiệm là chủ yếu. Để đánh giá được hiệu quả kinh tế của các điểm du lịch tác giả căn cứ chủ yếu là số lượng, thành phần khách du lịch tham quan. Cụ thể :

  • Cao: Đã và đang được khai thác, đón khách du lịch nội địa và quốc tế thường xuyên
  • Khá: Đã và đang được khai thác, đón khách du lịch nội địa thường xuyên
  • Trung bình : Đang được khai thác nhưng mức độ chưa cao, chủ yếu đón khách du lịch nội địa nhưng không thường xuyên
  • Kém : Đang ở dạng tiềm năng

Thời gian hoạt động du lịch (tính mùa)

Thời gian hoạt động du lịch là số ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp đối với sức khỏe con người (được xác định thông qua mối tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm không khí ảnh hưởng tới sức khỏe con người) và số ngày có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch (số ngày có thời tiết khô ráo thuận lợi cho các hoạt động du lịch và số ngày có thể tiếp cận, khai thác các giá trị của tài nguyên cho việc thỏa mãn các nhu cầu của khách).

Rất dài: có hơn 200 ngày/năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và trên 180 ngày/năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người.

Dài: có 150 – 200 ngày/năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và 120 – 180 ngày/năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người.

Trung bình: có 100 – 150 ngày/năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và 90 – 120 ngày/năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người.

Ngắn: có dưới 100 ngày/năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và dưới 90 ngày/năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khỏe con người. Khi đánh giá, trong trường hợp số thời gian thích hợp nhất của điều kiện khí hậu đối với sức khỏe con người và số thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch có khác biệt thì lấy số thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch làm tiêu chí chính để đánh giá.

Thời gian trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch là thời gian của năm trừ đi những ngày có điều kiện thời tiết 30 đặc biệt không phù hợp với hoạt động du lịch như ngày mưa, bão, sương mù, tính thời vụ của tài nguyên.

  • Xác định hệ số các chỉ tiêu

DLST là một loại hình du lịch nhưng có đặc trưng là chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường và giữ vững tính đa dạng sinh học. Chính vì vậy hệ số của các chỉ tiêu “Độ bền vững”, “sức chứa” và “CSHT và Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch” được đánh giá ở hệ số 3. Các chỉ tiêu “Thời gian hoạt động du lịch” và “hiệu quả kinh tế” được đánh giá hệ số 2. Chỉ tiêu “vị trí điểm du lịch và khả năng tiếp cận điểm du lịch” có thể được thay đổi bởi tác động của con người nên xác định hệ số 1. Ta có bảng tổng hợp điểm đánh giá các chỉ tiêu xác định khả năng khai thác của điểm du lịch sinh thái như sau:

Bảng 2.2 Bảng điểm tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá tiềm năng khai thác  của điểm du lịch sinh thái

TT Tiêu chí Trọng số Thang điểm
Rất thuận lợi Thuận lợi Thuận lợi trung bình Ít thuận lợi
1 Sức chứa khách du lịch 3 12 9 6 3
2 Độ bền vững 3 12 9 6 3
3 CSHT và Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sinh thái 3 12 9 6 3
4 Thời gian hoạt động du lịch 2 8 6 4 2
5 Hiệu quả kinh tế 2 8 6 4 2
6 Vị trí điểm du lịch và khả năng tiếp cận 1 4 3 2 1
Tổng số điểm 56 42 28 14

Phân hạng kết quả

  • Điểm du lịch sinh thái khai thác rất thuận lợi: 47 – 56 điểm
  • Điểm du lịch sinh thái khai thác khá thuận lợi: 36 – 46 điểm
  • Điểm du lịch sinh thái khai thác thuận lợi trung bình : 25 – 35 điểm
  • Điểm du lịch sinh thái khai thác ít thuận lợi : 14 – 24 điểm

Như vậy, việc xác định mối tương quan giữa tiềm năng thu hút và tiềm năng khai thác của các điểm du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh và căn cứ vào tình hình cụ thể về nguồn vốn đầu tư từ ngân sách sẽ là cơ sở để xác định xem điểm du lịch sinh thái nào được ưu tiên đầu tư phát triển và đưa vào hoạt động.

Ví dụ : Nếu một điểm du lịch sinh thái có tiềm năng thu hút cao và tiềm năng khai thác rất thuận lợi thì đương nhiên điểm du lịch sinh thái đó sẽ được ưu tiên đầu tư để đưa vào hoạt động trước hết Nếu một điểm du lịch sinh thái A có tiềm năng thu hút cao nhưng tiềm năng khai thác chỉ khá thuận lợi. Trong khi đó, một điểm du lịch sinh thái B khác có tiềm năng thu hút khá và tiềm năng khai thác rất thuận lợi. Để xác định điểm du lịch sinh thái nào được ưu tiên đầu tư trong trường hợp trên thì cần căn cứ vào nguồn ngân sách đầu tư cho du lịch của tỉnh. Cụ thể: nếu tỉnh có nguồn ngân sách dồi dào thì sẽ chọn điểm du lịch sinh thái A để ưu tiên đầu tư trước. Còn nếu nguồn ngân sách của tỉnh có hạn thì chọn điểm du lịch sinh thái B để ưu tiên đầu tư.

Bảng 2.3. Đánh giá mức độ ưu tiên đầu tư phát triển dựa trên mối tương quan giữa tiềm năng thu hút và tiềm năng khai thác của các điểm du lịch sinh thái  (xử lý từ bảng 2.2 và bảng 2.3)

Tiềm năng thu hút Cao Khá Trung bình Thấp
Rất thuận lợi Ưu tiên phát triển nhất Ưu tiên phát triển Ưu tiên phát triển Không phát triển
Khá thuận lợi Ưu tiên phát triển nhất Ưu tiên phát triển Phát triển Không phát triển
Thuận lợi trung bình Ưu tiên phát triển Phát triển Phát triển Không phát triển
Ít thuận lợi Không phát triển Không phát triển Không phát triển Không phát triển

 

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537