Luận văn: Phục vụ phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai

Đánh giá post

Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng tài nguyên phục vụ phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

Võ Nhai là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 30 km về phía Đông Bắc với diện tích tự nhiên là 83.950,24ha, huyện nhận được sự ưu đãi lớn của thiên nhiên và nền văn hóa lâu đời đậm đà bàn sắc dân tộc.

Đến Võ Nhai, bạn có thể đắm chìm vào vẻ đẹp hùng vĩ của khu quần thể hang Phượng Hoàng, được tắm nguồn nước trong mát của suối Mỏ Gà nằm trên địa bàn xã Phú Thượng. Bạn cũng có thể đến với khu di tích khảo cổ học Mái đá ngườm ở xã Thần Sa, nơi còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống của dân tộc về nhà ở, trang phục và các lễ hội, tham gia trải nghiệm những nét văn hóa, phong tục tập quán độc đáo nơi đây… Chính vì có tiềm năng và lợi thế đó mà Du lịch huyện Võ Nhai đang từng bước phát triển. Cùng với đó, mục tiêu tổng quát trong Nghị quyết về định hướng phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên đến năm 2040 đã xác định phát triển du lịch Thái Nguyên trở thành ngành kinh tế quan trọng, phấn đấu đến năm 2025, du lịch đóng góp 3,5% vào GRDP của huyện, khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử, phấn đấu đến 2040 đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của huyện và tỉnh Thái Nguyên trở thành trung tâm du lịch vùng Việt Bắc.

Những năm qua huyện Võ Nhai đã có nhiều cố gắng trong việc tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa để đầu tư phát triển du lịch sinh thái tạo nên những chuyển biến đáng ghi nhận. Song nhìn chung du lịch huyện vẫn còn nhiều hạn chế, phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng và thực trạng tài nguyên hiện có. Vì lý do đó tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng tài nguyên phục vụ phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để tận dụng điều kiện tài nguyên thiên nhiên thuận lợi thúc đẩy phát triển có hiệu quả du lịch trên địa bàn huyện trong thời gian tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai, xuất phát từ việc đánh giá các tiềm năng của tài nguyên du lịch này để đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý tài nguyên này, nhằm mục đích phục vụ phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Tổng quát về tài nguyên du lịch huyện Võ Nhai.
  • Phân tích, đánh giá tiềm năng các tài nguyên du lịch, định hướng phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai.
  • Đánh giá thực trạng hiện tại của du lịch sinh thái tại huyện Võ Nhai.
  • Đề xuất phương hướng, giải pháp quản lý tài nguyên nhằm phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai trong thời gian tới.

4. Ý nghĩa của đề tài

Đề tài đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái; về tiềm năng tài nguyên du lịch. Đề tài cũng đánh giá được tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái tại Võ Nhai, đưa ra một số giải pháp khai thác tài nguyên thiên nhiên ban tặng, các Di tích lịch sử, văn hóa truyền thống của huyện Võ Nhai phục vụ phát triển du lịch sinh thái.

Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan liên quan đến du lịch như: Cơ quan hoạch định chính sách, công ty du lịch, các tổ chức và cá nhân quan tâm tới du lịch sinh thái và là tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu giảng dạy.

5. Những đóng góp mới của đề tài

  • Luận văn tổng hợp, phân tích về mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái trên phương diện lý luận.
  • Phân tích, đánh giá những giá trị của tài nguyên gắn liền du lịch sinh thái tạo nguồn lực cho phát triển du lịch sinh thái huyện Võ Nhai.
  • Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm bảo vệ và khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch của Võ Nhai.
  • Luận văn góp phần vào việc giáo dục lòng tự hào về quê hương đất nước cũng như tích cực quảng bá hình ảnh của Võ Nhai nói riêng và Thái Nguyên nói chung với khách du lịch trong và ngoài nước.
  • Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử địa phương.

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các vấn đề cơ bản liên quan Du lịch sinh thái

1.1.1 Trên thế giới

Tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái được quan tâm nghiên cứu từ những năm cuối của thập niên 1980. Đã có nhiều tổ chức quốc tế như UNWTO (Tổ chức du lịch thế giới), IUCN (Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế), WW (Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên) đã giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sinh thái.

Bên cạnh đó, từ những năm cuối của thế kỷ trước cũng đã có những công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến tuyến, điểm du lịch và du lịch sinh thái như:

  • Nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch” của Kadaxki (1972), Sepfer (1973). Đây là công trình đầu tiên đưa ra các khung đánh giá quy chuẩn về tiêu chí sức chứa của một điểm du lịch, nó trở thành công cụ cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá các tiềm năng các điểm du lịch về sau.
  • Nghiên cứu xác định các tuyến điểm du lịch giữa biên giới Ba Lan và Đức” (Tổ chức ICURP, 2000) của tác giả Lechoslaw Czernic, Halina, Orlinska (Ba Lan) và Edfrank (Hà Lan). Tài liệu đã phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội có tác động đến du lịch, phương pháp xác định các tuyến, điểm du lịch cũng như việc bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển du lịch bền vững.
  • Du lịch sinh thái – Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” (Hiệp hội du lịch sinh thái – North Benning ton – Vermont, 2005).

Đây là những tài liệu hết sức quý giá làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu về lĩnh vực tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái.

1.1.2. Ở Việt Nam

Ở Việt nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Tài nguyên du lịch. Đánh giá ĐKTN và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) phục vụ mục đích du lịch. Trên phạm vi toàn quốc đã có một số công trình tiêu biểu như:

  • Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2015;
  • Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Bộ đến năm 2015, định hướng đến năm 2025;
  • Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040;
  • Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2025;
  • Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040 được thực hiện bởi Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch.
  • Các tác giả Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ trong công trình “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” đã xác định nội dung đánh giá dựa vào tính chất của Tài nguyên du lịch như: tính nguyên vẹn, tính hấp dẫn, tính dung lượng, tính ổn định của môi trường tự nhiên.
  • Tác giả Nguyễn Minh Tuệ và nnk trong giáo trình “Địa lý du lịch” đã hệ thống hóa những khái niệm cơ bản về du lịch, tài nguyên du lịch và bước đầu định hướng khai thác tiềm năng du lịch của một số tiểu vùng du lịch Việt Nam.
  • Đặc biệt trong công trình “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” đã hệ thống khá toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn trong đánh giá Tài nguyên du lịch.

Về du lịch sinh thái có rất nhiều các công trình được nghiên cứu và thành công như:

  • Du lịch sinh thái – Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam của Phạm Trung Lương (Hà Nội, 2008) nêu rõ cơ sở lý luận về du lịch sinh thái, tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái, đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam.
  • Du lịch sinh thái – Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Hòa Bình của Nguyễn Văn Thắng (Sơn La, 2019) nêu rõ các tiềm năng bao gồm các cảnh quan, môi trường, các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội, tài nguyên thiên nhiên tự nhiên.vv để hình thành lên một hình thức du lịch sinh thái bền vững.

Bên cạnh đó còn nhiều những chương trình nghiên cứu luận án tiến sĩ, thạc sĩ cũng đã tiếp cận vấn đề du lịch liên quan đến tự nhiên và sinh thái môi trường.

Ngày 9 và 10 tháng 12 năm 2018 hội nghị khoa học: “Phát triển du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn”. Hôi nghị đã diễn ra tại trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị đã thu hút được đông đảo các đại diện của các địa phương từ Bắc Trung Bộ đến các Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Đặc biệt có sự tham gia của các giảng viên từ thành phố Pau – Cộng Hòa Pháp.

Như vậy, xét tổng thể, các công trình nghiên cứu về Tài nguyên du lịch và du lịch sinh thái cũng như các hoạt động thực tiễn của Tài nguyên du lịch, du lịch sinh thái cho thấy đây là một lĩnh vực du lịch mới, góp phần bảo vệ tự nhiên và môi trường, nhằm phát triển một nền du lịch bền vững, không chỉ bó hẹp trong phạm vi một lãnh thổ, mà còn là một quốc gia vả cả thế giới đang tiến tới phát triển nó.

1.1.3. Ở Thái Nguyên

Thái Nguyên nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, là tỉnh có nhiều điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái. Trong những năm qua, tỉnh đã không ngừng triển khai các chương trình, các dự án nhằm phát triển ngành kinh tế này. Thái Nguyên xác định đầu tư cho du lịch sinh thái nói riêng và du lịch nói chung là đầu tư cho hiện tại và tương lai.

Với tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, du lịch sinh thái tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây đã có những bước tiến dài và thu được nhiều thành tựu đáng chú ý. Ngành kinh tế này đã và đang có đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh và trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu, là tâm điểm của báo chí. Có thể kể ra một số ý kiến đánh giá, những nghiên cứu ở nhiều công trình với các cấp độ khác nhau như sau:

  • Bảo tàng Thái Nguyên (2009), “Di tích lịch sử – Danh lam thắng cảnh Thái Nguyên”
  • Trần Thị Mai (2011), “Du lịch thiên nhiên – Du lịch sinh thái”, trong sách Giáo trình tổng quan du lịch, Nxb. Lao động – Xã hội.
  • Trung Nghĩa (2015), “Thái Nguyên với tiềm năng du lịch hang động”, trên Bản tin Văn hoá – Thể thao – Du lịch Thái Nguyên, xuân Canh Dần.
  • Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận”, Nguyễn Lan Anh (2019), luận án tiến sĩ Địa lý học – ĐHSP Hà Nội.
  • Đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch bền vững tỉnh thái nguyên”, của Hoàng Thanh Tùng (2024), luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường, ĐHKH Thái Nguyên.

Qua các bài báo, tài liệu, luận văn, luận án nói trên các tác giả đã chỉ ra tiềm năng tài nguyên du lịch cũng như phát triển du lịch sinh thái của Thái Nguyên và các hoạt động, định hướng tiêu biểu để phát triển ngành du lịch. Tuy nhiên, Du lịch sinh thái cần gắn với các địa phương cụ thể để đánh giá tiềm năng cũng như phương pháp phát triển như thế nào cho phù hợp. Các công trình trên mới đề cập tới du lịch sinh thái một cách chung chung, chưa gắn với một địa phương cụ thể. Chính vì lẽ đó, tác giả sẽ tập trung tìm hiểu sâu hơn về tiềm năng tài nguyên du lịch, hiện trạng du lịch sinh thái của huyện Võ Nhai nhằm bước đầu đưa ra các đánh giá về tiềm năng và giải pháp để phát triển cho du lịch sinh thái tại huyện Võ Nhai này.

1.2. Cơ sở lý luận

1.2.1. Tài nguyên du lịch  

  • Khái niệm

Trong cuốn Địa lý du lịch (Nguyễn Minh Tuệ và nnk, 2003) cho rằng: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”. Luật Du Lịch Việt Nam năm 2022 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”. Nguyễn Minh Tuệ cho rằng tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, kinh tế – xã hội văn hóa được sử dụng để phục hồi sức khỏe, phát triển thể lực và tinh thần con người. Trên cơ sở này tác giả cho rằng địa hình, thủy văn, khí hậu, động – thực vật, Di tích lịch sử văn hóa, văn hóa nghệ thuật, lễ hội,…là những tài nguyên du lịch. Song thực tế không phải bất cứ mọi dạng, mọi kiểu địa hình, tất cả các kiểu khí hậu các yếu tố khí hậu hay các giá trị văn hóa,…đều có khả năng hấp dẫn khách cũng như có khả năng kinh doanh du lịch.

Trong cuốn Tài nguyên du lịch (Bùi Thị Hải Yến, 2014) cho rằng:“TNDL là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành Du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường

  • Đặc điểm của tài nguyên du lịch.

Đặc điểm chung của tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế – xã hội. Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và được đưa vào khai thác, sử dụng. Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi.

Hiệu quả và mức độ khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc vào các yếu tố: khả năng nghiên cứu, trình độ phát triển khoa học công nghệ, nguồn tài sản quốc gia. Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng; có các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm linh, giải trí; có sức hấp dẫn với du khách.

Tài nguyên du lịch bao gồm các loại tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể. Tài nguyên du lịch là những loại tài nguyên có thể tái tạo được. Tài nguyên du lịch có tính sở hữu chung. Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn chặt với vị trí địa lý. Tài nguyên du lịch thường có tính mùa vụ và việc khai thác tài nguyên mang tính mùa vụ. Tài nguyên du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận.

1.2.2. Phân loại tài nguyên du lịch

Để tiến hành nghiên cứu, quản lý, bảo tồn, tôn tạo, phát triển và khai thác tài nguyên du lịch có hiệu quả theo hướng bền vững, cần phải tiến hành phân loại tài nguyên du lịch khoa học và phù hợp. Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đã xây dựng hệ thống phân loại tài nguyên du lịch thành 3 loại, 9 nhóm gồm: Loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển,vạn động); loại cung cấp hiện tại (gồm 3 nhóm: đường sá, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kỹ thuật gồm 3 nhóm tính năng: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực.

Theo quan niệm các nhà khoa học về quy hoạch du lịch của Pháp Geogvgers Cazes – Robert Lanquar Yve Raynoum trong cuốn Quy hoạch du lịch đã quan niệm: Không tồn tại các tài nguyên tự thân du lịch mà chỉ có thể khai thác và sử dụng được trong các điều kiện kinh tế, công nghệ xác định. Theo các tác giả trong lĩnh vực du lịch tài nguyên có thể phân làm 3 loại chính:

  • Các tài nguyên thiên nhiên như khí hậu thuận lợi cho các loại hình du lịch, địa hình, phong cảnh núi sông, thực – động vật, biển hồ,…
  • Các nguồn tài nguyên văn hóa – xã hội như những cuộc trình diễn nghệ thuật, các liên hoan âm nhạc, các cuộc hòa nhạc, các cuộc triển lãm hội thảo quốc tế, khoa học kỹ thuật, các vật làm chứng, các đập nước hoặc máy móc hiện đại, các văn hóa lịch sử, các điểm thắng cảnh.
  • Các nguồn tài nguyên thuộc nhóm kinh tế như: nhà máy, trung tâm kỹ thuật, các điều kiện kinh tế thuận lợi cho việc mua tài sản, dịch vụ giá rẻ, có sự ưu đãi về hải quan.

Tuy phân chia tài nguyên du lịch thành 3 loại chính, nhưng khi thống kê tài nguyên du lịch Geogvgers Cazes – Robert Lanquar Yve Raynoum lại thống kê tài nguyên theo các yếu tố đã được Tổ chức Du lịch Thế giới xác định gồm: Di sản thiên nhiên, di sản văn hóa, những công trình hạ tầng và thiết bị cho giải trí và du lịch, các nguồn tài chính và kinh tế.

Căn cứ vào nguồn gốc hình thành của tài nguyên, nhà khoa học Ngô Tất Hổ đã tiến hành phân loại tài nguyên du lịch gồm 3 hệ thống, 10 loại, 95 hình và 3 đẳng cấp là khu, đoạn, nguyên khá phức tạp. Luật Du Lịch Việt Nam năm 2022 quy định rõ Tài nguyên du lịch được phân loại thành Tài nguyên du lịch tự nhiên và Tài nguyên du lịch văn hóa. Cụ thể:

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo Luật Du Lịch Việt Nam năm 2022 quy định: Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.

  • Đặc điểm của tài nguyên du lịch tự nhiên.
  • Có tác dụng giải trí và nhận thức.
  • Thường tập trung ở những khu vực xa trung tâm dân cư.
  • Có tính mùa rõ nét, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên. Việc tổ chức các tour leo núi, tham quan vùng núi, tham quan sông nước phụ thuộc vào điều kiện thời tiết.
  • Việc tìm hiểu thường diễn ra trong thời gian dài.
  • Những người quan tâm đến du lịch tự nhiên tương đối đồng đều về sở thích
  • Tiêu chuẩn đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên có tính chất định lượng nhiều hơn.
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận, có khả năng tái tạo và quá trình suy thoái chậm.

TNDL tự nhiên có tính hấp dẫn, được bảo tồn khá tốt do ít chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động kinh tế – xã hội, tuy nhiên, lại gây tốn kém, khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động du lịch.

  • Tài nguyên du lịch văn hóa

Theo Luật Du Lịch Việt Nam năm 2022 quy định: “Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm Di tích lịch sử – văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch”.

Nếu hiểu theo nguồn gốc hình thành có thể hiểu tài nguyên du lịch văn hóa là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra. Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên văn hóa có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch văn hóa.

Tài nguyên du lịch văn hóa gồm các loại tài nguyên văn hóa vật thể như: các Di tích lịch sử, các Di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷ niệm, bảo vật quốc gia. Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể gồm các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoa học, kinh nghiệm sản xuất.

1.2.3. Tổng quan về du lịch và du lịch sinh thái

  • Khái niệm chung về du lịch

Trên thế giới khái niệm du lịch đã được hình thành từ lâu, tuy nhiên để cụ thể hóa và quốc tế hóa khái niệm về du lịch thì tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch năm 1963, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa chung như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích Thái Nguyên. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Từ đây các định nghĩa du khách đã được ra đời.

Tại mỗi quốc gia và vũng lãnh thổ sẽ có các điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, cùng với cuộc sống của người dân ở mỗi đất nước ngày càng phát triển. Nhu cầu được biết được đi đến các quốc gia khác nhau của con người ngày càng tăng lên, ngoài du lịch trong nước ra còn nhu cầu thưởng ngoạn và trải nghiệm các không gian văn hóa cũng như thiên nhiên ban tặng ở các quốc gia khác. Các loại hình du lịch gắn với tự nhiên và những nơi có cảnh quan nguyên thủy gắn với các Di tích lịch sử được hình thành dần. Từ đó hình thức du lịch sinh thái được hình thành và ngày càng phát triển thu hút nhiều lượt khách thăm quan và khám phá.

  • Khái niệm du lịch sinh thái

Quan điểm về du lịch sinh thái đầu tiên được đề xuất vào năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới thực-động vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này”.

Sau đó dựa trên các quan điểm nghiên cứu khác nhau rất nhiều các khái niệm về du lịch sinh thái được ra đời như:

Du lịch sinh thái là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” (Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ, 2004).

Hoặc “Du lịch sinh thái là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi trường tự nhiên và văn hóa, được quản lý một cách bền vững và có lợi ích cho sinh thái” (Hiệp hội du lịch sinh thái Australia).

Khái niệm về du lịch sinh thái đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái niệm rộng, được biểu hiện theo nhiều cách khác nhau từ những góc độ khác nhau. Du lịch sinh thái còn có thể được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau: “Du lịch dựa vào thiên nhiên, du lịch môi trường, du lịch đặc thù, du lịch xanh, du lịch thám hiểm, du lịch bản xứ, du lịch có trách nhiệm, du lịch nhạy cảm, du lịch nhà tranh, du lịch bền vững”. Đối với một số người, du lịch sinh thái chỉ đơn giản là sự ghép nối ý nghĩa của hai khái niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc từ lâu. Tuy nhiên đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm rằng du lịch sinh thái là một loại hình du lịch liên quan đến thiên nhiên.

Ở nước ta, khái niệm về Du lịch sinh thái được đưa ra tại hội thảo Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển Du lịch sinh thái năm 2005 như sau: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa có tính giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Nguyễn Thị Sơn, 2006).

Năm 2005, Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với một số tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN tổ chức Hội thảo Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Đây được coi là sự mở đầu cho các bước tiếp theo trong quá trình nghiên cứu, phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam. Tuy nhiên, các khái niệm du lịch sinh thái được đưa ra cho đến nay cũng chưa có sự thống nhất.

Theo Phạm Trung Lương và cộng sự (Nxb Giáo dục, 2008): du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương, có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn.

Theo Điều 3, Luật Du lịch Việt Nam 2022:  “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường“.

  • Đặc điểm của du lịch sinh thái

Những đặc điểm cơ bản nhất của  du lịch sinh thái cũng đã được Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) tóm tắt như sau:

  • Du lịch sinh thái bao gồm những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính của du khách là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hoá truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó.
  • Du lịch sinh thái bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường.
  • Du lịch sinh thái hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hoá – xã hội.
  • Du lịch sinh thái có hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách:
  • Tạo ra những lợi ích về kinh tế cho địa phương, các tổ chức chủ thể quản lý, với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó.
  • Tạo ra cơ hội về việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương.

Tăng cường nhận thức của du khách và người dân địa phương về sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá.

Hình 1.1. Mô hình du lịch sinh thái

  • Vai trò của du lịch sinh thái

Phát triển du lịch sinh thái sẽ mang lại lợi ích về mặt kinh tế, xã hội, thẩm mĩ và sinh thái, cụ thể:

  • Lợi ích kinh tế:

Với việc tổ chức du lịch sinh thái, các khu thiên nhiên, đặc biệt các khu bảo tồn thiên nhiên sẽ được đưa vào phục vụ du lịch, giúp tăng thêm nguồn tài nguyên thiên nhiên cho ngành du lịch, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Du lịch sinh thái phát triển góp phần tạo công ăn việc làm, thu nhập thêm cho các cộng đồng trong và quanh khu vực tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, góp phần cải thiện tình hình kinh tế địa phương, xóa đói giảm nghèo ở những vùng xa xôi hẻo lánh.

Góp phần cải thiện và nâng cao cơ sở hạ tầng của các khu du lịch sinh thái, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng địa phương, cùng với việc giáo dục môi trường giúp cộng đồng địa phương có kế hoạch phát triển nguồn tài nguyên mà không bị xuống cấp trong quá trình khai thác và sử dụng.

Du lịch sinh thái cũng góp phần khôi phục và phát triển những ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, thúc đẩy các ngành nghề khác cùng phát triển và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Vì vậy du lịch sinh thái mang lại lợi ích cho kinh tế rất lớn đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia, địa phương, đơn vị kinh doanh du lịch

  • Lợi ích xã hội:Cùng với sự phát triển của đô thị hóa, con người ngày càng tách rời với môi trường tự nhiên, một số hình ảnh thiên nhiên chỉ còn tìm thấy trong ký ức, nhờ có sự phát triển của du lịch sinh thái nhu cầu tìm hiểu thiên nhiên của con người mới được đáp ứng.
  • Lợi ích thẩm mỹ: Lợi ích này được thể hiện:

Mỗi một cảnh quan chứa đựng trong nó biết bao nhiêu là vẻ đẹp, sự sinh động của thế giới tự nhiên và sự năng động trong cách thích ứng với thế giới tự nhiên của con người. Nơi du lịch sinh thái phát triển là nơi cảnh quan thiên nhiên được phát hiện, phát triển và bảo tồn.

Du lịch sinh thái tạo điều kiện cho các nhà thiết kế tour tiến hành khảo sát các tuyến điểm du lịch nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn.

Sự khảo sát này kèm theo những nguyên tắc chặt chẽ như nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên, cấm sờ mó vào các thạch nhũ, các công trình kiến trúc, văn hóa cổ,…thúc đẩy sự bảo tồn nguồn tài nguyên nhân văn.

Lợi ích sinh thái: Thông qua các hoạt động, du lịch sinh thái sẽ giúp cho các loài động thực vật quý hiếm được khôi phục, gìn giữ và bảo vệ sự đa dạng hệ sinh học trên toàn thế giới, du lịch sinh thái góp phần giúp con người sống có trách nhiệm hơn với môi trường tự nhiên.

Du lịch sinh thái kết hợp hài hòa cả 3 mục tiêu: kinh tế, xã hội, sinh thái. Do đó du lịch sinh thái là một loại hình du lịch bền vững, nó đảm bảo cho môi trường tự nhiên và xã hội không những không bị suy thoái mà còn được củng cố phát triển lâu dài.

1.3. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên vùng nghiên cứu

1.3.1. Vị trí địa lý

Võ Nhai là một huyện miền núi vùng cao của Thái Nguyên, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, dọc theo quốc lộ 1B tiếp giáp hai dãy núi cao, có toạ độ địa lý 21o 36’ đến 210 56’ vĩ độ Bắc và 105o 45’ đến 1060 17’ kinh độ Đông.

Phía Bắc giáp huyện Nà Rì (Bắc Cạn), phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn), phía Nam giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang), phía Tây giáp huyện Phú Lương và Đồng Hỷ (Thái Nguyên). 

Hình 1.2: Bản đồ hành chính huyện Võ Nhai

Diện tích tự nhiên của huyện Võ Nhai 845,1 km². Hiện nay Huyện Võ Nhai có 15 đơn vị hành chính cấp xã/phường (gồm 1 thị trấn và 14 xã):

Thị trấn Đình Cả Bình Long Cúc Đường Dân Tiến
Phương Giao Vũ Chấn Phú Thượng Tràng Xá
Nghinh Tường Thượng Nung Liên Minh La Hiên
Lâu Thượng Sảng Mộc Thần Sa

Bảng 1.1. Diện tích huyện Võ Nhai

Diện tích tự nhiên (km2) Đất lâm nghiệp (km2) Đất nông nghiệp (km 2) Đất nuôi trồng thủy sản (km2) Đất phi nông nghiệp (km2) Đất hưa sử dụng ( km 2)
845,1 561,27 77,24 1,55 22,13 182,92

Nguồn: Cục thống kế Thái Nguyên 

1.3.2. Địa hình

Diện tích tự nhiên của Võ Nhai là 845,1 km2 trong đó đất lâm nghiệp chiếm 561,27 km2; đất nông nghiệp chiếm 77,24 km2; đất nuôi trồng thủy sản chiếm1,55 km2; đất phi nông nghiệp là 22,13 km2 và đất chưa sử dụng là 182,92 km2. Điểm nổi bật cuả địa hình Võ Nhai là núi cao, dãy núi Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Nhìn chung những vùng đất đồng bằng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập trung chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền và thung lũng của các vùng đá vôi.

Căn cứ vào địa hình địa mạo và đất đai, huyện được chia 3 tiểu vùng như sau: Tiểu vùng I: Bao gồm các xã, thị trấn dọc quốc lộ 1B: Thị trấn Đình Cả, các xã La Hiên, Lâu Thượng và Phú Thượng. Đây là vùng thấp nhất của huyện, có địa hình tương đối bằng phẳng hơn các vùng còn lại, tạo nên bởi các thung lũng chạy dọc theo quốc lộ 1B, hai bên là hai dãy núi có độ dốc lớn.

Tiểu vùng II: gồm 5 xã phía Nam: Tràng Xá, Liên Minh, Phương Giao, Dân Tiến và Bình Long. Địa hình đồi núi bát úp, bị chia cắt bởi nhiều khe suối xen kẽ núi đá vôi. Các bãi soi bằng phẳng phù hợp với phát triển cây công nghiệp, cây lương thực và chăn nuôi đại gia súc.

Tiểu vùng III: Vùng núi cao bao gồm 6 xã: Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Lung, Vũ Chấn, Thần Sa, Cúc Đường.

Các tiểu vùng khác nhau sẽ có chức năng riêng trong phát triển kinh tế, bảo vệ tự nhiên và phát triển du lịch.

1.3.3. Khí hậu

Thái Nguyên nói chung và huyện Võ Nhai nói riêng khí hậu vẫn thể hiện rõ nét kiểu khí hậu bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông như các huyện miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên, rõ rệt hơn cả là sự thể hiện hai mùa theo chế độ mưa ẩm trong năm là mùa mưa (nóng, ẩm, mưa nhiều, thường bắt đầu từ tháng 5 tới cuối tháng 10) và mùa ít mưa (lạnh, khô, thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau). Với sự phân hóa mùa rõ rệt như vậy, tạo sự phong phú trong phân hóa cảnh quan theo mùa, cộng thêm sự phân hóa địa hình tạo ra những kiểu cảnh quan theo các bậc địa hình khác nhau, hấp dẫn du khách.

Lượng mưa trung bình hàng năm 1.941,5 mm và phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1.765 mm (chiếm 91% tổng lượng mưa cả năm). Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng 372,2 mm.

1.3.4. Thủy văn

Nguồn nước tự nhiên trên địa bàn huyện khá phong phú nhưng phân bố không đều. Ngoài các sông, suối, còn có mạch nước ngầm từ các hang động trong núi đá vôi. Võ Nhai có hai con sông nhánh thuộc hệ thống sông Cầu và sông Thương, được phân bố ở phía Bắc và phía Nam huyện.

Sông Nghinh Tường có chiều dài 46 km, bắt nguồn từ dãy núi của vòng cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, rồi đổ ra sông Cầu.

Sông Rong bắt nguồn từ xã Phú Thượng, chảy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long, sang địa phận huyện Bắc Giang và đổ về sông Thương.

Suối Vũ Chấn gồm nhiều nhánh khe, bắt nguồn từ các dãy núi của xã Vũ Chấn, có chiều dài khoảng 23km. Suối này chảy qua thác Nậm Dứt về Thần Sa.

Với hệ thống sông suối phong phú kết hợp với địa hình núi đá vôi tạo cho Võ Nhai những cảnh quan sơn thủy, hữu tình như: Hang phượng hoàng, suối mỏ gà, thác mưa rơi…

1.4. Đặc điểm kinh tế – xã hội vùng nghiên cứu

1.4.1. Đặc điểm kinh tế

Mức độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh và tương đối ổn định trong những năm qua, đặc biệt là các năm 2023 và 2024, qua đó nền kinh tế Võ Nhai đã có bước phát triển khá, tương đối ổn định trên tất cả các khu vực kinh tế.

Bảng 1.2. Tổng thu nhập quốc dân GDP giai đoạn 2020-2024 (theo giá 2015)

Chỉ số Đvt 2020 2021 2022 2023 2024
Tổng GDP Tỷ đồng 1658.2 1713.8 1796 1988.2 2300.6
Tốc độ tăng trưởng % 2.5% 3% 5% 11% 16%
Nông lâm, ngư nghiệp Tỷ đồng 697.2 733 776.5 794.5 847.6
Công nghiệp, xây dựng Tỷ đồng 596.1 573.6 581.3 682.1 804.8
Dịch vụ Tỷ đồng 364.9 407.2 438.2 511.6 648.2

Nguồn: Cục thống kê qua các năm

Qua bảng 1.2 ta thấy, tổng thu nhập quốc dân GDP đạt được hơn 2 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng kinh tế đạt 16%. Giá trị của các khu vực kinh tế tăng liên tục qua các năm, đặc biệt lĩnh vực công nghiệp và thương mại có bước tăng trưởng đáng khích lệ.

Xuất phát từ tính chất tổng hợp của kinh doanh du lịch nên có thể thấy sự phát triển và xu hướng phát triển của nền kinh tế – xã hội chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng. Với tiềm năng, lợi thế sẵn có và các chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp, kết quả thu hút đầu tư trong và ngoài tỉnh trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực, tăng cả về số lượng dự án và quy mô vốn đăng ký.

Bảng 1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Võ Nhai giai đoạn (2020-2024)

Cơ cấu kinh tế Đvt 2020 2021 2022 2023 2024
100 100 100 100 100
Nông, lâm, ngư nghiệp % 33.0 31.05 30.90 30.45 28.49
Công nghiệp xây dựng 30,35 33.00 32.00 32.50 33.41
Dịch vụ 36.65 36.95 37.10 37.15 38.19

Nguồn: Cục thống kê qua các năm

Lĩnh vực công nghiệp: Tạo môi trường thu hút vốn đầu tư vào công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Phát triển sản xuất công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường; tiếp tục thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp Trúc Mai, cụm công nghiệp Cây Bòng.

Lĩnh vực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội: Tranh thủ mọi nguồn lực để đầu tự xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai các dự án đã được phê duyệt. Quản lý, khai thác và sử dụng tốt các nguồn vốn phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng. Tập trung chỉ đạo công tác đầu tư xây dựng các dự án, công trình trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững cụ thể như khu dân cư số 1, khu dân cư số 3, chợ Đình Cả, cụm công nghiệp Cây Bòng, Hồ sinh thái, khu công viên cây xanh, điểm du lịch sinh thái Phượng Hoàng…

1.4.2. Đặc điểm văn hóa – xã hội

Võ Nhai in đậm dấu ấn văn hoá – lịch sử của đất nước trong suốt cả quá trình dựng nước và giữ nước. Nơi đây cũng là địa danh mang nhiều nét đặc sắc của dòng văn học dân gian với các thể loại phong phú như ca dao, vè đặc biệt là các làn điệu dân ca như hát then, múa kèn vv…. Các tác phẩm dân gian này được lưu truyền qua bao thế hệ và tạo nên một bản sắc riêng của văn hóa Võ Nhai.

Ngoài ra, những nét đặc sắc, độc đáo của văn hóa các dân tộc miền núi gắn liền với các hệ sinh thái tự nhiên là cơ sở quan trọng để hình thành các điểm, tuyến du lịch sinh thái kết hợp du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, góp phần tăng thêm tính hấp dẫn cho các điểm, tuyến du lịch.

Nhờ tăng trưởng kinh tế nên đời sống vật chất và tinh thần nhân dân được cải thiện đáng kể, đặc biệt các miền núi cao, đồng bào dân tộc, tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh giảm đi rõ rệt, hiện nay chỉ còn dưới 13.88% hộ nghèo và phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo sẽ tiếp tục giảm.

Bảng 1.4. Bảng phân bố dân số trung bình ở nông thôn và thành thị 

(Đơn vị: người)

Phân bố 2020 2021 2022 2023 2024
Nông thôn 62.944 63.365 63.371 63.580 63.980
Thành thị 3.730 3.750 3.766 3.780 3.891

Nguồn: Cục thống kê qua các năm

Dân cư phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn, giữa miền núi và đồng bằng. Dân số tập trung chủ yếu ở nông thôn (tỷ lệ dân nông thôn chiếm 86,9% tổng số dân của huyện) và các vùng đồng xâu, vùng đồi núi, trung du. Trong khi đó, vùng núi phía Tây chiếm hơn 2/3 diện tích nhưng dân cư thưa thớt. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nhân lực để phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động du lịch sinh thái ở các tỉnh miền núi.

Về giáo dục cho đến nay, tất cả các xã, phường đã được phổ cập tiểu học và chống mù chữ. Số học sinh các cấp học ngày càng tăng. Chất lượng dạy và học từng bức được nâng cao. Tuy công tác giáo dục thời gian qua cũng đạt được nhiều thành tựu nổi bật nhưng huyện cũng đang đứng trước nhiều thách thức về cơ sở vật chất kĩ thuật, về chất lượng đào tạo, nhất là ở khu vực miền núi. Vì thế, trong định hướng phát triển của mình, Võ Nhai đã chú trọng mục tiêu phát triển giáo dục chất lượng toàn diện nhằm phát huy hơn nữa truyền thống hiếu học của địa phương nhìn chung, Võ Nhai có vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư nâng cấp phát triển đồng bộ, đây là những thuận lợi để thúc đẩy Võ Nhai phát triển kinh tế toàn diện, trong đó có ngành du lịch.

1.4.3. Cơ sở hạ tầng

  • Cơ sở hạ tầng của huyện luôn được quan tâm củng cố.

Về giao thông: Võ nhai có Quốc lộ 1B đi qua, nối liền Thái Nguyên với Lạng Sơn. Từ Võ Nhai có thể dễ dàng qua thành phố Thái Nguyên về thủ đô Hà Nội hoặc ngược lên phía Bắc, qua Lạng Sơn để sang Trung Quốc. Quốc lộ 1 B chạy dọc theo địa bàn huyện là tuyến đường huyết mạch thể thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của huyện Võ Nhai. Ngoài 28 km thuộc tuyến quốc lộ 1 B, Võ Nhai hiện có 23,5 km tỉnh lộ, 8 tuyến đường huyện lộ với tổng chiều dài 98,9 km, và hơn 80 tuyến đường liên xã với tổng chiều dài 486 km, đáp ứng nhu cầu giao thông phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa và thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế với các vùng lân cận.

  • Mạng lưới điện, nước

Về mạng lưới điện: 173/173 xã đã có lưới điện quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế

Về cấp nước: Với địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi nên việc cấp nước sạch cho mục đích sinh hoạt tại các xã của huyện Võ Nhai còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều xã ở vùng xâu vùng xa vẫn sử dụng nước từ các khe suối, nước mưa…làm nước sinh hoạt.

  • Hệ thống thông tin liên lạc:

Mạng lưới thông tin liên lạc của Vùng tương đối đa dạng, phát triên nhanh, nhất là trong những năm gần đây và bước đầu đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đời sống, trong đó có du lịch. Đáng chú ý hơn cả là mạng lưới bưu chính, viễn thông (điện thoại, mạng phi thoại và mạng truyền dẫn).

  • Cơ sở lưu trú , dịch vụ ăn uống:

Trong những năm qua, nhờ có sự quan tâm đầu tư của địa phương quan tâm nên số lượng cơ sở lưu trú trong huyện đã tăng lên. Tính đến năm 2024, toàn huyện có  8 cơ sở lưu trú và khoảng 20 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Các cơ sở này chủ yếu tập trung ở khu vực hang phượng hoàng. Tuy nhiên, các cơ sở tại đây chủ yếu là các nhà khách, nhà nghỉ, cửa hàng ăn uống kinh doanh manh mún, nhỏ lẻ và chịu tác động của thời tiết khá lớn. Các công ty lữ hành thiếu và yếu…; hoạt động quảng bá sản phẩm chưa được đầu tư.

Bảng 1.5. Danh sách các cơ sở lưu trú đang hoạt động tại Võ Nhai

STT Tên cơ sở lưu trú Địa chỉ Quyết định công nhận của Sở VHTT&DL
1 Nhà nghỉ Gia Bảo II TT Đình Cả Có QĐ
2 Nhà nghỉ Thúy Lâm Nà Khao
3 Nhà nghỉ Hương Trà Phượng Hoàng
4 Nhà nghỉ Huyền Linh Phượng Hoàng
5 Nhà nghỉ Gia Bảo I Mỏ Gà Có QĐ
6 Nhà nghỉ Long Đại  Đồng Chăn Có QĐ
7 Nhà nghỉ Hùng Hưng Làng Kèn
8 Nhà nghỉ Phượng Phượng Hoàng Đang thẩm định

Nguồn: Phòng Văn hóa huyện Võ Nhai

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537