Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp thu hút du khách Nga đến Phú Yên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển nhanh và mang lại ích lợi nhiều mặt cho quốc gia, cộng đồng. Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, dần thu hẹp khoảng cách với các nước có nền du lịch phát triển hàng đầu trong khu vực. Du lịch phát triển đã tạo nhiều việc làm cho người dân, tăng nguồn thu cho đất nước, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và hội nhập ngày càng sâu – rộng của đất nước với khu vực và thế giới.
Trong những năm qua, cùng với ngành du lịch cả nước, tỉnh Phú Yên tập trung huy động nhiều nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng gắn với phát triển du lịch, nhất là hạ tầng giao thông đường bộ, hàng không. Công tác đầu tư, tôn tạo các di tích, danh thắng ngày càng được chú trọng. Địa phương đã có những chính sách hợp lý về thu hút đầu tư để phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như: khách sạn, nhà hàng, khu du lịch, khu vui chơi giải trí và các cơ sở dịch vụ liên quan.
Các loại hình và sản phẩm du lịch của Phú Yên cũng ngày càng phong phú, trong đó quan trọng là các loại như: Tham quan di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; du lịch lễ hội; du lịch cộng đồng; du lịch làng nghề. Hoạt động lữ hành đã có bước phát triển khá, một số đơn vị kinh doanh lữ hành bước đầu đã xây dựng các chương trình du lịch phong phú; tổ chức đón nhiều đoàn khách trong và ngoài nước về khảo sát sản phẩm du lịch Phú Yên; kết nối đưa khách về Phú Yên,…
Duyên hải Nam Trung bộ được đánh giá là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch biển đảo, nghỉ dưỡng. Theo số liệu từ Tổng cục Du lịch Việt Nam (2024), đã có khoảng 433.000 lượt khách Nga đến Việt Nam, trong đó riêng Công ty du lịch Pegas, chuyên đón du khách Nga do Pegas Touristik thành lập tại Việt Nam, đã đón gần 130.000 lượt khách. Điểm đến được khách Nga ưa chuộng là khu vực Duyên hải Nam Trung bộ, đặc biệt là Bình Thuận và Nha Trang. Trong xu thế này, không ít doanh nghiệp đã đầu tư vào cơ sở lưu trú (khu nghỉ dưỡng, khách sạn…), đồng thời tiến hành mở rộng, xây dựng dự án, tập huấn nhân sự chuyên sâu cho phục vụ thị trường khách Nga đầy tiềm năng. Tuy nhiên, lượng khách Nga gần đây đang có dấu hiệu bão hòa. Nguyên nhân là khách Nga chưa thật sự hài lòng với dịch vụ vui chơi giải trí và mua sắm ở Việt Nam. Khách Nga không khó tính, nhưng nhu cầu về vui chơi và chăm sóc sức khỏe của họ là rất lớn. Ngoài ra, sản phẩm du lịch cho khách thị trường Nga còn nhiều trùng lặp, chưa có sự liên kết giữa các tỉnh,… Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Tỉnh Phú Yên được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh đẹp hoang sơ, trong đó có nhiều bãi tắm đẹp và luôn có nắng ấm như: Long Thủy, hòn Chùa, bãi Xép, Vũng Rô,…. Con người nơi đây có bản tính nhân hậu, hiền hòa, mến khách. Ngoài ra, giá cả ở địa phương không có sự biến động đáng kể,… sẽ là lựa chọn thuận lợi cho du khách. Đáng chú ý, hiện tỉnh đang triển khai dự án Nhà máy lọc dầu Vũng Rô nên việc đón đầu du khách Nga cũng là cách làm sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho ngành du lịch tỉnh nhà. Gần đây, tại Hội nghị liên kết phát triển khách du lịch Nga đến Phú Yên, đã có nhiều ý kiến với mong muốn tăng cường sự liên kết để đưa khách Nga đến Phú Yên, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp hình thành chuyến bay charter (bay thẳng từ Nga đến Tuy Hòa để hạn chế chi phí do phải quá cảnh tại nhiều nơi). Đó chính là những điều kiện thuận lợi để Phú Yên từng bước đẩy mạnh công tác thu hút du khách Nga đến với vùng đất “Hoa vàng trên cỏ xanh” đầy thơ mộng.
Luận văn “Giải pháp thu hút du khách Nga đến Phú Yên” với mong muốn góp phần nhất định vào công tác quảng bá để thu hút ngày càng đông đảo du khách quốc tế nói chung và du khách Nga nói riêng đến với Phú Yên, nhằm phát triển du lịch thành ngành kinh tế quan trọng của địa phương trong những năm tới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng du lịch nói chung và thực trạng du khách Nga đến tỉnh Phú Yên nói chung, luận văn đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm thu hút du khách Nga đến với địa phương đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan một số vấn đề lý luận về du lịch và tâm lý du khách.
- Phân tích thực trạng du khách Nga ở tỉnh Phú Yên giai đoạn 2019-2024.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm thu hút du khách Nga đến Phú Yên đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng du lịch Phú Yên nói chung và thực trạng du khách Nga đến tỉnh Phú Yên.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: luận văn tập trung vào nghiên cứu các giải pháp thu hút du khách Nga, không mở rộng sang các thị trường du khách khác.
Về không gian: toàn bộ lãnh thổ tỉnh Phú Yên.
Về thời gian:
- + Nghiên cứu thực trạng du khách Nga đến tỉnh Phú Yên giai đoạn 2019 – 2024.
- + Đề xuất định hướng và giải pháp thu hút du khách Nga đến Phú Yên đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, Luận văn sử dụng một số phương pháp chủ yếu như sau:
Phương pháp thống kê mô tả: tác giả sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản của Trung ương, của tỉnh, Sở VHTTDL tỉnh Phú Yên và các ban ngành liên quan. Với các nguồn dữ liệu này, nhằm đánh giá phát triển du lịch, thông qua các thông tin, số liệu thành hệ thống các bảng biểu, sơ đồ và đồ thị thống kê mô tả.
Phương pháp thu thập thông tin: Căn cứ vào các tài liệu đã nghiên cứu, cũng như kế thừa các nghiên cứu trước, bước đầu điều tra tổng hợp về các điều kiện tự nhiên, xã hội và đánh giá thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch của tỉnh Phú Yên nói chung và đối với du khách Nga nói riêng; đồng thời, đề ra những giải pháp để tiếp tục thu hút du khách Nga trong những năm tiếp theo.
Phương pháp phỏng vấn: Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn khách du lịch và các nhà quản lý, doanh nghiệp hoạt động du lịch, lữ hành. Bảng khảo sát được thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức độ nhằm đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với việc thu hút du khách Nga. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tính giá trị trung bình để xử lý số liệu và xác định mức độ hài lòng dựa vào giá trị khoảng cách. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
- Về mẫu kháo sát:
Sử dụng công thức: n = N/(1+N*e2) với n: kích thước mẫu, N: tổng quần thể và e: sai số tiêu chuẩn (0,1). Từ công thức này, xác định số mẫu điều tra cho từng đối tượng như sau:
Số phiếu điều tra du khách Nga: Theo số liệu của Sở VHTTDL Phú Yên, tổng số khách Nga từ tháng 5 đến tháng 6/2017 là 700 khách; vậy số phiếu cần khảo sát tối thiểu là: 87,5 phiếu.
Số phiếu điều tra các cơ quan quản lý về du lịch, các công ty, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, lữ hành: Từ số liệu của Sở VHTTDL Phú Yên, có 33 cơ quan nhà nước cấp tỉnh, 9 UBND cấp huyện, số khách sạn từ 2 sao trở lên và các doanh nghiệp hoạt động du lịch, lữ hành là 140 đơn vị (tháng 6/2017) thì có tổng số là: 182 đơn vị. Áp dụng công thức trên, tính ra được số phiếu cần điều tra tối thiểu là 65 phiếu.
Kết cấu phiếu khảo sát gồm 2 phần: thông tin cá nhân và khảo sát dành để thăm dò ý kiến của khách du lịch và các cơ quan quản lý, doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh; ngoài ra, còn có một phiếu được dịch sang tiếng Nga để thăm dò ý kiến của du khách Nga.
Về nội dung khảo sát: Đối với phiếu dành cho du khách: có 10 nội dung; đối với phiếu dành cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh: có 9 nội dung. Tổng số phiếu khảo sát là 300 phiếu, trong đó: 200 phiếu khảo sát du khách bằng tiếng Nga; 100 phiếu khảo sát dành cho cơ quan quản lý, doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh.
5. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẦN ĐỀ
- Một số nghiên cứu của nước ngoài
Qua nghiên cứu một số tài liệu nhận thấy, UNWTO và một số tổ chức khác như Hiệp hội Du lịch châu Á – Thái Bình Dương (PATA),… hàng năm đều có các số liệu về tình hình du lịch trên thế giới nói chung. Riêng đối với thị trường khách du lịch Nga, đã có một số nghiên cứu nhất định như các nghiên cứu của Công ty tư vấn TMI, Tập đoàn Mintel, Tổng cục Thống kê Nga… nghiên cứu và thống kê số liệu thị trường khách Nga đi du lịch nước ngoài (outbound), đặc điểm khách du lịch Nga. Một số tác giả tại Phần Lan, Đan Mạch hoặc một số quốc gia như Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập với định hướng thị trường mục tiêu là khách Nga đã có một số nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm, nhu cầu của thị trường và đưa ra một số định hướng chiến lược nhằm thu hút thị trường khách này. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Anna Olme (2017), tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự sụt giảm khách Nga trong những năm 2022 – 2023 để từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp để tăng cường sức hấp dẫn của Phần Lan đối với du khách Nga.
Trên bình diện nghiên cứu điểm đến du lịch (Tourist destination), điển hình là đề tài của Natalia Saenko (2018), tác giả nghiên cứu các lý thuyết về ý nghĩa và đo lường hình ảnh đích của Echtner và Ritchie, Tasci và các nhà nghiên cứu khác để đánh giá hình ảnh của Đan Mạch như một điểm đến du lịch, từ đó chỉ ra rằng việc nâng cao và quảng bá hình ảnh điểm đến sẽ giúp cải thiện hình ảnh của du lịch Đan Mạch trong việc thu hút du khách Nga. Ngoài ra, có nghiên cứu của Ekaterina Klimova (2023) đề cập đến việc xây dựng Na Uy như là một điểm đến du lịch để thu hút du khách Nga dựa trên các bài viết trên blog về du lịch Nga, qua đó chỉ ra rằng việc xác định rõ điểm đến du lịch sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến việc định hướng xu thế du lịch của du khách.
- Một số nghiên cứu trong nước:
Hiện nay, việc nghiên cứu, đánh giá khách du lịch quốc tế nói chung và khách Nga nói riêng chủ yếu do Tổng Cục du lịch, các Viện nghiên cứu hoặc các tạp chí chuyên ngành về du lịch đảm nhận.
Đáng chú ý là một số tài liệu có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu:
- Đề án “Đẩy mạnh thu hút khách du lịch Nga đến Việt Nam giai đoạn 2020 – 2023” của Bộ VHTTDL ban hành năm 2020.
- Đề tài “Nghiên cứu thị hiếu của khách du lịch Nga đến Khánh Hòa” của Sở VHTTDL Khánh Hòa thực hiện vào năm 2022.
- Năm 2018, Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch Việt Nam đã có công trình nghiên cứu về thị trường Nga với đề tài “Định hướng chiến lược marketing nhằm thu hút thị trường khách du lịch Nga đến Việt Nam”. Đây cũng là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ duy nhất tới nay.
Bên cạnh đó còn có một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp tỉnh, luận văn, khóa luận tốt nghiệp và các bài nghiên cứu, trao đổi tại các cuộc hội thảo du lịch về thị trường khách Nga đã được tổ chức trong những năm qua như:
- Luận văn “Một số giải pháp nhằm thu hút thị trường khách du lịch Nga đến Việt Nam” của Đào Việt Hà, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (2019); Luận văn “Một số giải pháp thu hút thị trường khách du lịch Nga đến Khánh Hòa” của Nguyễn Quốc Tiến, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (2023).
- Trần Thị Kim Thoa (2023) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách – trường hợp lựa chọn điểm đến Hội An của khách du lịch Tây Âu – Bắc Mỹ với mô hình nghiên cứu gồm 8 yếu tố:
Động cơ đi du lịch, thái độ, kinh nghiệm điểm đến, hình ảnh điểm đến, nhóm tham khảo, giá tour du lịch, truyền thông, đặc điểm chuyến đi.
Ở góc độ nghiên cứu, trao đổi, tác giả Hoàng Trọng Tuấn (2023) dựa trên đo lường chất lượng dịch vụ tổng thể (SERVQUAL) của Parasuraman, A. và cộng sự (1988) và một số tác giả khác đã đề xuất mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của khách du lịch tại các điểm du lịch, gồm: lòng mến khách, khả năng tiếp cận, sự sẵn sàng phục vụ, nội dung tham quan, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực tại điểm, sức chứa khách, tính an toàn. Bùi Thị Tám và Mai Lệ Quyên (2020), trên cơ sở sử dụng mô hình đánh giá khả năng thu hút của điểm đến được đề xuất bởi Hu and Ritchie (1993) với việc bổ sung yếu tố “an toàn của điểm đến” – một trong những vấn đề nổi bật trong du lịch quốc tế hiện nay, đã thiết kế bảng hỏi gồm 17 thuộc tính để đánh giá khả năng thu hút du khách của điểm đến Huế hay Hồ Văn Hội (2019) với bài viết “Chính sách phát triển du lịch của Thái Lan: Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”… Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Ngoài ra, trong các năm 2022-2023, Bộ VHTTDL cũng đã tổ chức nhiều Hội thảo về thu hút du khách Nga, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương cùng trao đổi, học tập kinh nghiệm và thu hút khách Nga đến với Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng như Kiên Giang, Bình Thuận, Khánh Hòa.
Nhìn chung, các tác giả đã có nhiều công trình liên quan đến việc thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam. Riêng đối với nội dung thu hút du khách Nga, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích, đánh giá việc thu hút khách Nga đến với các địa phương có thế mạnh lâu nay như Nha Trang, Bình Thuận, Vũng Tàu, thời điểm đánh giá, nghiên cứu được thực hiện kể từ năm 2023 trở về trước – khi nền kinh tế Nga chưa bị ảnh hưởng bởi các biến động chính trị, đồng Rub bị suy thoái khiến người dân Nga hạn chế đi du lịch nước ngoài.
Kế thừa các nghiên cứu trong nước và ngoài nước, với mong muốn liên kết các tỉnh, thành phố trong khu vực có những điểm tương đồng về phong cảnh, tài nguyên thiên nhiên để từng bước mở rộng, đa dạng hóa các loại hình, sản phẩm du lịch, nhất là nắm bắt thị hiếu, thói quen du lịch, tâm lý của du khách Nga để có những điều chỉnh cho phù hợp trong điều kiện biến động về địa chính trị ở Nga, từ đó thu hút du khách Nga một cách bền vững, hiệu quả. Luận văn “Giải pháp thu hút du khách Nga đến Phú Yên” nhằm mong muốn đóng góp những giải pháp, định hướng để thu hút du khách Nga đến Việt Nam nói chung và tỉnh Phú Yên nói riêng mang tính lâu dài, phù hợp với những quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và của tỉnh Phú Yên.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động thu hút khách du lịch Nga.
- Chương 2: Thực trạng thu hút khách du lịch Nga đến Phú Yên
- Chương 3: Các giải pháp chủ yếu thu hút khách du lịch Nga đến Phú Yên
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN; ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA KHÁCH DU LỊCH NGA VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH NGA
1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động thu hút khách du lịch
1.1.1. Khách du lịch và nhu cầu du lịch của con người
1.1.1.1 Khái niệm về khách du lịch
Theo UNWTO: “Khách du lịch là những người có các đặc trưng sau: Là người đi khỏi nơi cư trú của mình; không theo đuổi mục đích kinh tế; đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên; Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tùy quan niệm của từng nước”.
Tại mỗi nước đều có những định nghĩa riêng về khách du lịch. Ở Việt Nam, Luật Du lịch (2017) đã đưa ra định nghĩa về khách du lịch như sau: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Hiện nay trong các thông kê và phân tích về khách du lịch, người ta thường phân ra 2 loại: Khách du lịch quốc tế và Khách du lịch nội địa.
Theo Trần Thị Mai (2017), “Khách du lịch quốc tế (International tourist) là người thăm viếng một số nước khác ngoài nước cư trú của mình với bất kỳ lý do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm, trong thời gian ít nhất là 24 giờ”.
Năm 1989, tại hội nghị liên minh Quốc hội về du lịch được tổ chức ở Lahaye (Hà Lan) đã đưa ra tuyên bố Lahaye về du lịch trong đó có khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước, khác với nước mà họ cư trú thường xuyên; Mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm viếng hoặc nghỉ ngơi không quá thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được cấp phép gia hạn; Không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại. Sau khi kết thúc đợt tham quan (hay lưu trú) phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước nơi cư trú của mình hoặc đi đến một nước khác” (Trần Thị Mai, 2017).
- Theo Luật du lịch Việt Nam (2017) Việt Nam, khách du lịch quốc tế đến “là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch”.
- Ngày 04/3/1993, Hội đồng Thống kê Liên hiệp quốc đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
Khách du lịch quốc tế bao gồm:
- Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): Là người nước ngoài vào một quốc gia khác du lịch.
- Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): Là công dân của một quốc gia và người nước ngoài cư trú tại quốc gia đó qua một quốc gia khác du lịch.
- Khách du lịch trong nước (Internal tourist): Gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi du lịch trong nước.
- Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến. Đây là thị trường cho các cơ sở lưu trú và các nguồn thu hút khách trong một quốc gia.
- Khách du lịch quốc gia (National tourist): Gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài
Theo Nguyễn Văn Đính và cộng sự (2012), khách du lịch nội địa được phân biệt với khách du lịch quốc tế ở điểm, nơi đến của họ là chính quốc gia mà họ cư trú thường xuyên. Luật Du lịch Việt Nam (2017): “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam”.
Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2014), còn có một số khái niệm về khách du lịch có liên quan như: Khách tham quan, khách du lịch quốc nội hay khách du lịch quốc gia. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
- Khách tham quan (excuronist, same-day visitor): Là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu trú lại ở nơi đến không quá 24 giờ, không sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm.
- Khách du lịch quốc nội (Internal tourist): Là tất cả những người đang đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia (bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế đến).
- Khách du lịch quốc gia (National tourist): Là tất cả công dân của một quốc gia nào đó đi du lịch (bao gồm cả đi du lịch trong nước và đi du lịch ra nước ngoài).
1.1.1.2. Nhu cầu du lịch của con người
Tháp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow’s hierarchy of needs) được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943, được sắp xếp và chia thành 5 loại: Các nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu về sự hoàn thiện (Đào Phú Quý, 2018).
Theo Nguyễn Văn Đính – Trần Thị Minh Hòa (2014), nhu cầu du lịch của khách có 3 nhóm cơ bản:
- Nhóm 1: Nhu cầu cơ bản (thiết yếu) gồm đi lại, lưu trú, ăn uống;
- Nhóm 2: Nhu cầu đặc trưng (nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức cái đẹp…);
- Nhóm 3: Nhu cầu bổ sung (thẩm mỹ, làm đẹp, thông tin…).
Từ 3 nhóm trên cho thấy, nhu cầu du lịch của con người là nhu cầu đặc biệt, thứ cấp và tổng hợp. Đặc biệt là vì khi đi du lịch khách mong muốn được hưởng những dịch vụ có chất lượng tốt, muốn được phục vụ… và thường chi tiêu nhiều hơn; thứ cấp là khi những nhu cầu cơ bản của con người được đáp ứng như: nhu cầu sinh lý, nhu cầu ăn mặc và nhu cầu về sinh hoạt tối thiểu được đáp ứng thì con người mới nghĩ đến du lịch; tổng hợp là vì trong một chuyến hành trình du lịch thường con người đòi hỏi phải thỏa mãn nhu cầu khác nhau, mà để thỏa mãn chúng cần dịch vụ của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định (Nguyễn Văn Đính – Trần Thị Minh Hòa, 2014. Do vậy, để biến nhu cầu du lịch trở thành hiện thực thì cần phải có nhu cầu du lịch và có khả năng thanh toán, chi trả chi phí cho chuyến đi. Đây là điểm quan trọng để các nhà quản lý, công ty du lịch lữ hành xem xét, đưa ra những chính sách hợp lý để thu hút du khách đến với địa phương.
1.1.1.3. Hoạt động du lịch
Theo Nguyễn Bá Lâm (2015), ngành du lịch là tổng hợp các điều kiện, các hiện tượng và các mối quan hệ tác động qua lại giữa khách du lịch với các nhà cung cấp các sản phẩm du lịch, với chính quyền và cộng đồng dân cư ở địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch. Các yếu tố cơ bản tham gia hoạt động du lịch bao gồm: Khách du lịch là chủ thể của du lịch, là đối tượng phục vụ của các ngành tham gia hoạt động du lịch. Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch, nơi tạo ra sức thu hút con người đến tham quan, du lịch. Các hoạt động du lịch gồm các doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm du lịch. Chính quyền trung ương và sở tại coi sự phát triển du lịch là một trong những chiến lược phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, xây dựng các cơ chế, chính sách ,luật pháp cho sự phát triển du lịch. Dân cư ở địa phương coi du lịch là cơ hội để giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập và giao lưu văn hoá. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Cũng theo Nguyễn Bá Lâm (2015), để phát triển ngành du lịch, cần phải có một số điều kiện sau:
- Hệ thống cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ du lịch. Đó là các khu du lịch(resorts), các cơ sở lưu trú, các nhà hàng, các điểm tham quan, các cơ sở giải trí, các phương tiện vận chuyền khách du lịch, các cơ sở thương mại..v.v. Đây là những cơ sở có tính quyết định đến việc đón tiếp và phục vụ khách du lịch và khai thác các tài nguyên du lịch của địa phương và của đất nước.
- Nguồn nhân lực phục vụ du lịch: Là điều kiện có tính chất quyết định đến việc phát triển hoạt động du lịch. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực du lịch bao gồm tất cả những người trực tiếp ( những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các đơn vị sự nghiệp trong ngành du lịch) và gián tiếp tham gia vào quá trình phục vụ khách du lịch (các cơ quan, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư nơi khách du lịch đến thăm quan). Du lịch là ngành dịch vụ, dịch vụ trước hết phụ thuộc vào con người với trí tuệ cao, khả năng sáng tạo các ý tưởng mới lớn.
1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế
Theo Thiều Thị Thúy (2017), các nghiên cứu về khái niệm “hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế” ít khi được thành lập một cách hoàn chỉnh mà được biểu hiện dưới dạng liệt kê các hoạt động nhằm mục đích thu hút khách du lịch quốc tế. Như vậy, “hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế” có thể hiểu là những việc làm khác nhau nhằm mục đích thu hút, kéo dồn sự chú ý của khách du lịch quốc tế. Hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của một địa phương là tổng hợp các hoạt động nhằm thu hút ngày càng nhiều lượng khách du lịch quốc tế từ nước ngoài đến du lịch tại địa phương mình.
Bảng 1.1: Tóm tắt hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế
| TT | Tên hoạt động | Đặc điểm |
| 1. | Số lượt khách du lịch quốc tế đến địa phương | Theo UNWTO, số lượt khách du lịch quốc tế đến một quốc gia được tính trên số lượt khách du lịch quốc tế nhập cảnh tại một cửa khẩu bất kì của nước đó. Ngoài ra, một số quốc gia trên thế giới còn thu thập số liệu lượt khách du lịch quốc tế bằng những cách khác nhau như số lượt khách du lịch quốc tế được phục vụ tại các khách sạn hay các cơ sở lưu trú du lịch |
| 2. | Doanh thu của ngành du lịch | Được hiểu là toàn bộ thu nhập mà ngành du lịch địa phương thu được khi khách quốc tế chi tiêu, mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ tại địa phương trong thời gian du lịch của mình. Doanh thu của ngành du lịch không chỉ phản ánh hiệu quả thu hút, dẫn dụ khách du lịch quốc tế chi tiêu vào các dịch vụ du lịch của địa phương mà còn phản ánh trình độ phát triển du lịch của địa phương đó. Du khách chỉ bỏ tiền ra cho các dịch vụ khi các dịch vụ ấy thỏa mãn được nhu cầu của họ, qua số tiền thu được từ du khách ta thấy được hiệu quả của hoạt động thu hút khách du lịch nói riêng và hiệu quả của hoạt động kinh tế du lịch nói chung |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.
1.1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Các nhân tố tác động đến hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của một địa phương chính là các nhân tố có tác dụng làm tăng hoặc giảm hiệu quả của hoạt động này. Các nghiên cứu trước đây của Frechtling (1996), Kosnan và Ismail (2020), … chia các nhân tố này thành các nhân tố liên quan tới cầu, các nhân tố liên quan tới cung và một số các nhân tố cản trở khác.
a) Các yếu tố liên quan đến cầu: Các yếu tố liên quan tới cầu là những yếu tố xuất phát từ phía du khách. Đây là những yếu tố thuộc về đời tư hay nơi cư trú thường xuyên của khách du lịch có tác dụng thúc đẩy hay cản trở quyết định đi du lịch của khách du lịch. Một số nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Kosnan và Ismail (2020) về các yếu tố tác động đến thu nhập từ khách du lịch quốc tế đến Malaysia, nghiên cứu của Ibrahim (2019) về các yếu tố ảnh hưởng đến lượt khách du lịch quốc tế đến Ai Cập,… chủ yếu tập trung định lượng các yếu tố liên quan đến cầu để xác định ý nghĩa của các yếu tố này đối với du lịch quốc tế tại địa phương nghiên cứu. Đây là những yếu tố khách quan mà địa phương mong muốn thu hút khách du lịch quốc tế không thể tác động lên được; cụ thể:
- Dân số của nơi cư trú thường xuyên của du khách: Theo Nguyễn Quốc Tiến (2023), Kosnan và Ismail đã chỉ ra rằng nước có dân số càng lớn thì càng có nhiều khách du lịch đến Malaysia. Chính vì vậy mà hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của một nước thường hướng vào các thị trường có dân số cao như Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc,…
- Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người): Theo Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia thường được đo bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (GDP). Đây chính là chỉ tiêu phản ánh mức sống vật chất bình quân của công dân một đất nước. Mức sống vật chất cao là điều kiện quan trọng xác lập nhu cầu đi du lịch của người dân vì chỉ khi nào có thu nhập đủ cao thì họ mới nhu cầu để đi du lịch và chi trả các chi phí cho chuyến du lịch của mình như vé máy bay, tiền tàu xe, ăn ở, tham quan, mua sắm,…
- Theo Nguyễn Hồng Giáp (2010), thời gian rỗi là yếu tố thúc đẩy nhu cầu đi du lịch của con người vì chỉ khi có thời gian thì con người mới có thể thực hiện một chuyến đi du lịch. Số ngày làm việc càng cao đồng nghĩa với việc thời gian rỗi của con người càng ít và do đó nhu cầu về du lịch cũng giảm xuống và các hoạt động thu hút khách du lịch từ những nước có số ngày lao động cao cũng khó phát huy tác dụng do người dân không có nhiều thời gian để đi du lịch dù họ rất muốn.
- Nguyễn Văn Đính và cộng sự (2012) cho rằng con người càng có học thức, trình độ văn hóa cao thì nhu cầu đi du lịch của họ càng tăng. Theo đó, với người chủ gia đình có trình độ văn hóa ở mức đại học thì tỷ lệ đi du lịch là 85%; trong khi đó, chỉ có 50% gia đình với người chủ gia đình có trình độ dưới trung học đi du lịch.
b) Các yếu tố liên quan đến cung:
Các yếu tố liên quan tới cung là những yếu tố liên quan trực tiếp đến địa phương có tác dụng kéo, thu hút nhu cầu đi du lịch của khách du lịch quốc tế về phía địa phương mình.
Bảng 1.2: Tóm tắt các yếu tố liên quan đến cung Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Thuận theo quy luật đường cầu, đặc biệt khi du lịch quốc tế được xem là một loại hàng hóa xa xỉ nên độ co giãn của cầu so với giá cả sẽ lớn, khi giá cả ở một nước tăng cao thì cầu về du lịch tại nước đó sẽ giảm xuống. Mọi hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế sẽ không khó có thể phát huy tác dụng nếu như giá cả hàng hóa và dịch vụ ở nước đến tăng cao. Rất nhiều các chỉ tiêu đã được sử dụng để đại diện cho giá cả hàng hóa và dịch vụ của một địa phương. Một trong số chỉ tiêu được sử dụng phổ biến là tỷ giá hối đoái của đồng tiền địa phương so với đồng đô la Mỹ (Khadaroo và Seetanah, 2015).
1.1.4. Các yếu tố tác động đến hoạt động thu hút khách du lịch
1.1.4.1. Tài nguyên du lịch
Theo Buchvakop – Nhà địa lý học người Bungari “Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan thiên nhiên cùng cảnh quan nhân văn có thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi hay tham quan của khách du lịch”. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), tài nguyên du lịch “Là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành các sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”.
Theo Nguyễn Minh Tuệ (1999), tài nguyên du lịch được chia thành hai loại là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
a) Tài nguyên du lịch tự nhiên lịch tự nhiên
- Địa hình: Đối với hoạt động du lịch, địa hình của một vùng đóng một vai trò quan trọng với việc thu hút khách.
Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về ngoại cảnh nhưng là nơi tập trung tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hoá và là nơi hội tụ các nền văn minh của loài người.
Địa hình đồi thường tạo ra không gian thoáng đãng, nơi tập trung dân cư tương đối đông đúc, lại là nơi có những di tích khảo cổ và tài nguyên văn hóa, lịch sử độc đáo, tạo khả năng phát triển loại hình du lịch tham quan theo chuyên đề.
Địa hình núi có ý nghĩa lớn nhất đối với phát triển du lịch, đặc biệt là khu vực thuận lợi cho tổ chức du lịch mùa đông và các loại hình du lịch thể thao như leo núi, du lịch sinh thái,…. Ngoài các dạng địa hình cơ bản trên, các dạng địa hình đặc biệt là địa hình Karst và địa hình bờ bãi biển rất hấp dẫn đối với khách du lịch.
- Khí hậu: Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Những nơi có khí hậu điều hòa thường được du khách yêu thích. Ví dụ du khách có xu hướng du lịch, tham quan trong điều kiện nắng ráo, không mưa; những nơi có số giờ nắng trung bình trong ngày cao thường được ưa thích và có sức thu hút mạnh du khách như các vùng biển Hawai, Caribe, Vũng Tàu, Phú Quốc, Phan Thiết…; ngược lại, du khách ở phương Bắc thường chọn những nơi có nắng ấm, nhiệt độ cao khiến họ chịu không nổi. Bên cạnh đó, cần lưu ý đến những hiện tượng thời tiết đặc biệt ảnh hưởng đến hoạt động du lịch như các đợt nắng nóng do El Nino hoặc mưa lũ trong mùa mưa ảnh hưởng đến việc du lịch, tham quan của du khách. Khí hậu cũng tác động đến tính mùa vụ của du lịch (Nguyễn Minh Tuệ, 1999).
Tài nguyên nước: Trong hoạt động du lịch, cần lưu ý đến việc bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, hệ động thực vật sinh sống dưới nước. Du lịch biển có điều kiện thuận lợi nhờ khí hậu ven bờ biển dịu mát cho phép nghỉ ngơi dài ngày, nhờ bãi cát có thể tắm biển lại vừa tắm nắng, tắm khí trời. Ngoài ra, nước cũng rất cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, khi tổ chức các hoạt động du lịch hoặc xây dựng các điểm du lịch, vui chơi giải trí tại các vùng khô hạn và nửa khô hạn cũng như tại các vùng khí hậu cận nhiệt và ôn đới cần lưu ý đến vấn đề này để tránh tình trạng bị khan hiếm về nguồn nước, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch. Các bãi biển thích hợp cho các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng biển và hoạt động thể thao. Hệ thống sông hồ thuận lợi cho phát triển du lịch đường sông. Vùng biển và sông hồ cung cấp những sinh vật có giá trị phục vụ tham quan, đồng thời là nguồn thực phẩm quan trọng hấp dẫn du khách và có giá trị xuất khẩu du lịch tại chỗ (các loại thủy hải sản như tôm hùm, sò huyết, hàu, cá ngừ đại dương). Ngoài ra, nguồn nước khoáng cũng là một loại tài nguyên nước có giá trị đối với du lịch tắm khoáng, nghĩ dưỡng và chữa bệnh (Nguyễn Minh Tuệ, 1999).
- Hệ động thực vật:
Hiện nay, ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích lịch sử – văn hóa, xuất hiện hình thức du lịch đến các khu bảo tồn thiên nhiên nơi có các loại động-thực vật rất phong phú. Tuy nhiên, không phải mọi tài nguyên động thực vật đều là đối tượng của du lịch, tham quan; để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau, người ta đã đưa ra các chỉ tiêu sau: Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan, du lịch (thảm thực vật, các loài đặc trưng cho từng khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm…); chỉ tiêu đối với du lịch săn bắn, thể thao; đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học (Nguyễn Minh Tuệ, 2017).
Các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị rất lớn đối với loại hình du lịch sinh thái, mạo hiểm. Đối với khách du lịch, những loại động thực vật không có ở đất nước họ thường có sức hấp dẫn mạnh. Khách du lịch từ các nước vùng Ôn đới rất thích đến các khu vừng rậm nhiệt đới để chiêm ngưỡng những loại cây leo, cây to và cao; ngắm nhìn các loại động vật như voi, hổ, hưu cao cổ, tê giác. Đáng chú ý, Việt Nam có chiều dài hơn 3.200 km bờ biển, hơn 3.000 hòn đảo với những bãi cát trắng, vịnh biển tươi đẹp cùng hệ động thực vật biển đa dạng, phong phú (các rặng san hô biển, hải sản tươi ngon như cá, tôm, mực,…) và cũng là cơ sở để phát triển du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, ẩm thực (Nguyễn Minh Tuệ, 2017).
- b) Tài nguyên du lịch nhân văn Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017), nhóm tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác, nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo; vì vậy tài nguyên du lịch nhân tạo có những đặc điểm rất khác biệt so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên. Có thể chia ra các loại tài nguyên nhân văn như sau:
Các di sản văn hóa: Được coi là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng, là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch.
Hiện nay, Liên hiệp quốc đã đưa ra Công ước quốc tế về bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên; Việt Nam cũng đã tham gia Công ước này. Hàng năm, Hội đồng di sản thế giới (WHC) họp một lần vào tháng 12 để xét duyệt và công nhận di sản. Việt Nam hiện có nhiều di sản thế giới được công nhận, như: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang); Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An (Quảng Nam), Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam), Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Thành nhà Hồ (Thanh Hóa); Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ; Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình),…
Tại Việt Nam, ngoài các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được WHC công nhận; theo Luật di sản văn hóa (2017), Việt Nam đã công nhận 165 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia – tính đến tháng 6/2024 (riêng Phú Yên được công nhận 03 di sản phi vật thể quốc gia gồm: Nghệ thuật Bài Chòi, Lễ hội Cầu ngư, Nghệ thuật trình diễn Trống đôi – Cồng ba – Chiêng năm).
Theo Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017), di tích lịch sử – văn hóa: là “những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” và được phân chia thành các loại hình: Di tích văn hóa khảo cổ; Di tích lịch sử; Di tích văn hóa, nghệ thuật; Các loại danh lam thắng cảnh.
Cũng có thể phân theo những di tích lịch sử đặc biệt gắn với nền văn hóa chung của loài người. Không phải ngẫu nhiên mà các nước như Ai Cập (Kim Tự Tháp), Hy Lạp (Delph – địa điểm khảo cổ nổi tiếng của Acropolis), Ấn Độ (Đền Tạ Mahal), Trung Quốc (Vạn Lý Trường Thành)… với những công trình lịch sử nổi tiếng từ thờ cổ đại lại thu hút số lượng lớn khách du lịch quốc tế; những di tích có giá trị lịch sử đặc biệt, loại này không nhiều lắm và thường chỉ được các chuyên gia cùng lĩnh vực quan tâm.
Bên cạnh đó, các bảo tàng là nơi bảo tồn tài sản văn hoá dân tộc, truyền thụ tri thức, chấn hưng tinh hoa truyền thống. Điều 47, Luật di sản văn hoá (2017): “Bảo tàng là nơi bào quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục tham quan quan” – chính các bảo tàng cũng là nơi thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước. Bảo tàng nước ta nói riêng và các bảo tàng trên thế giới nói chung như bảo tàng Hoàng Gia (Anh), Bảo tàng Louver (Pháp), Bảo tàng Cung điện quốc gia Kremlin (Nga), Bảo tàng Cố Cung (Trung Quốc)… luôn là điểm đến yêu thích của khách du lịch.
Lễ hội: Bất cứ thời đại nào, dân tộc nào và bất cứ mùa nào cũng có những ngày lễ hội. Lễ hội là hoạt động sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử hay một huyền thoại, đồng thời là dịp để hiểu biết cách ứng xử văn hoá của con người với thiên nhiên thần thánh và con người với xã hội. Các lễ hội có sứa hấp dẫn du khách không kém gì các di tích lịch sự văn hoá. Lễ hội có hai phần: phần nghi lễ và phần hội. Lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử văn hoá. Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội vào mục đích du lịch. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Bảng 1.3: Tổng hợp một số hình thức lễ hội
| TT | Hình thức lễ hội | Đặc điểm | Ví dụ |
| 1. | Lễ mừng sự kiện của đời sống | Gắn với việc sinh nở, khai tâm, cưới xin… và thu hút rất đông du khách đến tham quan. | Lễ Thành Nhân ở Nhật Bản; Lễ hội người chết (Dia de los Muertos) tại thành phố Oaxaca, phía đông nam Mexico; lễ hội mừng lúa mới của đồng bào Tây Nguyên |
| 2. | Lễ hội “phục hồi” | Làm sống lại những giá trị, ký ức về một quá khứ hay một nền văn hóa đã từng mất đi như | Lễ hội Viking tại Ba Lan nhằm tưởng nhớ đến những chiến binh Viking tinh nhuệ; Nghệ thuật trình diễn nhã nhạc cung đình Huế… |
| 3. | Lễ hội mô phỏng cuộc tế lễ | Mang một khía cạnh sân khấu và có một vẻ đẹp trang nghiêm | Lễ hội thần Mặt Trời huyền bí của Peru; Lễ hội đua voi Tây Nguyên; Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng… |
| 4. | Lễ hội mang tính sắp đặt và giáo dục | Tổ chức một cách trang nghiêm, long trọng để nhắc nhở bằng biểu tượng thích hợp một công ước hay khế ước, giữa một dân tộc hoặc một sự kiện khai sinh ra Nhà nước hiện tại | Kỷ niệm các ngày chiến thắng của dân tộc; Quốc khánh các nước… |
Nguồn: Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017), tổng hợp của tác giả.
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: Theo Nguyễn Minh Tuệ (1999), mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng. Và con người khi đi du lịch chính là đi tìm “những xúc cảm mới lạ” mà quê mình không có. Cảm xúc khác lạ đấy chính là những tập tục là về cư trú, thói quen ăn uống sinh hoạt, kiến trúc cổ, trang phục dân tộc.v.v… Việt Nam với 54 dân tộc anh em vẫn còn giữ riêng bản sắc của mỗi vùng. Chẳng hạn như du khách tới Tây Nguyên, về việc thưởng ngoạn thắng cảnh văn hoá của Người Tây Nguyên còn có thể tham quan, tìm hiểu đời sống cảu các dân tộc như Eđê, Mơnông, tham gia lễ hội Đâm Trâu, tham quan nhà Rông, uống rượu cần, nhảy múa cồng chiêng cùng bà con các dân tộc,… Ngoài ra, nước ta còn có một nền kiến trúc có giá trị và được bố cục theo thuyết phong thủy của triết học phương Đông, nhiều kiến trúc tôn giáo (kể cả kiến trúc Chăm-pa) có giá trị hấp dẫn du khách.
- Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác:
Theo Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017), các đối tượng văn hóa cũng thu hút du khách với mục đích tham quan, nghiên cứu. Đó là các trung tâm của các Viện khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, biểu diễn Ba-lê, các cuộc thi hoa hậu,… Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Ngoài ra, các thành tựu kinh tế của đất nước hoặc vùng cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với phần lớn du khách. Rất nhiều thành phố trở thành trung tâm cho những hoạt động triển lãm thành tự kinh tế, khoa học kỹ thuật và hội chợ như Leipzig (Đức), Hội chợ Moscow (Nga), Triển lãm mô tô, xe máy tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh… thu hút nhiều đối tượng tham gia, trong đó có khách du lịch.
- Phong tục tập quán:
Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017) cho rằng phong tục là nếp sinh hoạt của cộng đồng được hình thành từ trong quá trình lịch sử và ổn định thành thói quen, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng. Phong tục không chỉ phụ thuộc vào văn hóa dân tộc mà còn phụ thuộc vào từng cộng đồng; được thể hiện qua cách tổ chức ma chay, cưới hỏi, ẩm thực, truyền thống tôn trọng người cao tuổi, “tôn sư trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn”…
- Văn hóa ứng xử:
Đó là thái độ, hành vi giao tiếp giữa con người với nhau, với cộng đồng xã hội và với môi trường thiên nhiên. Các ứng xử – hệ thống quan hệ tương tác giữa chủ thể và môi trường được hình thành và quy định bởi chính môi trường khu vực (môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội). Cách chắp tay và hơi cúi đầu khi chào của người Thái Lan, cách cúi thấp đầu chào nhau của người Nhật Bản, cách bắt tay rồi chạm má của người châu Âu khi gặp nhau… cũng như nụ cười tươi tắn thay cho câu chào của người Việt Nam là những nét văn hóa hấp dẫn và khác lạ mà mọi khách du lịch đều muốn tìm hiểu (Phan Thị Dung, 2018).
- Dân ca và dân vũ
Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017) chỉ ra rằng, dân ca là thể loại diễn xướng bằng lời theo một số giai điệu truyền thống, được gọi là làn điệu, do người dân sáng tác và trình diễn, lưu truyền và phát triển trong cuộc sống thường ngày hoặc trong các lễ hội; dân ca phản ánh đười sống sinh hoạt và tâm tư tình cảm của người dân. Nhìn chung dân ca có ca từ đơn giản, làn điệu không quá phức tạp và nó chứa đựng giá trị địa văn hóa nên có thể dễ khai thác phục vụ du khách (như hát quan họ Bắc Ninh, hò Ví Giặm, ca Bài Chòi, các loại tuồng, chèo, cải lương…).
Dân vũ có thể hiểu đơn giản là là các điệu nhảy trên các bài bài hát dân ca, mang tính cộng đồng rất cao, với các động tác đơn giản, thu hút rất đông mọi người tham gia (điệu nhảy dân vũ Trống Cơm – Việt Nam, Té nước – Thái Lan…).
Văn hóa ẩm thực: Người ta nói ăn uống là biểu hiện của văn hóa. Mỗi quốc gia có một quan niệm khác nhau và vì vậy hình thành phong cách ẩm thực riêng cho mình. Nếu như nước ta chú trọng đến đồ ăn và cách chế biến thức ăn thì đối với người Pháp, thức ăn chỉ là yếu tố tạo nên chất lượng vật chất, còn chất lượng thực sự của bữa ăn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Một cách trang trí bàn ăn độc đáo, một bức tranh trên tường phù hợp, bộ khăn trải bàn mang từ miền đất xa xôi đi cùng với bộ đồ ăn lạ mắt…. Tất cả đều mang theo mình một câu chuyện, ẩn chứa một sự tò mò thú vị cho khách. Ngày nay, việc đưa văn hóa ẩm thực vào các chương trình du lịch đã trở nên phổ biến. Việc xây dựng các chương trình du lịch ẩm thực thường được các công ty tổ chức thành hai loại: Chương trình du lịch chuyên biệt và chương trình du lịch kết hợp; điển hình như đến Pháp du khách được thưởng thức món rượu vang nổi tiếng, gan ngỗng béo ngậy; món Pho-mát Ý; món cơm Lam của vùng Tây Bắc; hải sản tươi ngon ở các tỉnh miền Trung Việt Nam… (Nguyễn Thị Diệu Thảo, 2013).
- Các loại tài nguyên du lịch văn hóa khác: Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Theo Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017), con người, đặc biệt là các danh nhân, những người mà cuộc đời của họ gắn liền với những sự kiện, những công trình, những di tích,… cũng có thể coi là một loại tài nguyên du lịch văn hóa, điển hình: Bức tranh trên vòm nhà nguyện Sistine của họa sĩ Michelangelo; chiến thắng Điện Biên Phủ gắn liền với Đại tướng Võ Nguyên Giáp…
Một loại tài nguyên du lịch khác chính là sự “bí ấn” trong vẻ đẹp của người phụ nữ bản xứ. Thế giới người ta luôn tò mò, muốn tìm hiểu về vẻ đẹp trang phục áo dài Việt Nam, Kimono Nhật Bản, tấm mạng che mặt của người Hồi giáo, những cô gái tóc vàng rực nắng của châu Âu…
Ngoài ra, trong văn hóa Á Đông, các học thuyết, triết lý, văn hóa tâm linh của phương Đông có thể là nguồn tài nguyên du lịch hết sức quan trọng. Một trong những loại hình du lịch có thể khai thác là du lịch phong thủy. Ở nhiều nước trong khu vực người ta tổ chức các tour du lịch phong thủy khá thành công như Singapore và Hồng Kông và đây cũng là một hình thức phù hợp để du lịch Việt Nam từng bước đưa vào nhằm nâng cao hơn nữa các loại hình du lịch.
1.1.4.2. Tâm lý du khách
- Khái quát về tâm lý du khách
Theo Phan Thị Dung (2018), khách du lịch bao gồm nhiều đối tượng thuộc các thành phần, lứa tuổi, nghề nghiệp và quốc gia khác nhau. Do đó, nhu cầu, sở thích, tính cách và thói quen tiêu dùng của họ hết sức đa dạng. Các nghiên cứu về tâm lý khách du lịch là cơ sở để ngành du lịch xây dựng chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách quảng cáo, chính sách marketing và chính sách đối với địa phương nơi khai thác tài nguyên du lịch. Chất lượng hoạt động du lịch không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm du lịch mà còn phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý của khách du lịch, trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ của những người làm công tác du lịch. Cùng một dịch vụ có thể đáp ứng được nhu cầu của nhóm khách này nhưng lại không thoả mãn được nhu cầu của một nhóm khách khác. Thậm chí, dịch vụ đó làm hài lòng du khách ở thời điểm này nhưng có thể không thích hợp với họ ở một thời điểm khác. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
- Các yếu tố tác động đến tâm lý khách du lịch:
Theo Phan Thị Dung (2018), có một số yếu tố sau tác động đến tâm lý du khách, gồm yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học và yếu tố kinh tế, văn hóa, lịch sử chính trị; cụ thể như sau:
Bảng 1.4: Tổng hợp các yếu tố tác động đến tâm lý du khách
Cũng theo Phan Thị Dung (2018), tâm lý du khách có một số quy luật như sau:
- Quy luật thích ứng tình cảm:
Thông thường trong cuộc sống, nếu một điều gì đó cứ lặp đi lặp lại sẽ dẫn đến nhàm chán, mất cảm xúc; do đó, người làm công tác du lịch phải lưu ý điều này để luôn tạo sự “tươi mới” trong việc thu hút du khách.
- Quy luật lây lan:
Xúc cảm, tâm trạng của mỗi du khách, đặc biệt tâm trạng của hướng dẫn viên có thể lây lan nhanh chóng sang những người khác trong đoàn. Người hướng dẫn viên cần hạn chế sự lây lan của các tâm trạng tiêu cực và dùng các biện pháp lan truyền các xúc cảm tích cực trong đoàn đu lịch.
- Quy luật tác động lẫn nhau giữa các cảm giác:
Con người chúng ta có các cảm giác như nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ mó. Trong du lịch, để tạo ra cảm giác ngon miệng cho du khách, người ta trưng bày món ăn cho đẹp mắt, dùng gia vị tạo mùi thơm đặc trưng cho món ăn, để nhiệt độ mát lạnh trong phòng ăn, tổ chức biểu diễn nghệ thuật truyền thống,… Nếu phải tổ chức bữa ăn trên đường đi ta cần tránh những nơi mà môi trường ô nhiễm, nơi có người ăn xin qua lại và quan trọng là tránh xử lý các mâu thuẫn giữa các cá nhân trong bữa ăn.
- Quy luật lợi ích:
Giá cả là một yếu tố quan trọng đối với quyết định tiêu dùng của du khách. Hầu hết du khách đều có tâm lý mua sắm sản phẩm với chất lượng tốt, giá cả hợp lý, vì thế họ rất thích các chương trình khuyến mãi, giảm giá. Đồng thời, phải lưu ý tránh việc tăng giá, thay đổi giá đột ngột nhất là các nhu cầu thiết yếu của con người như đồ ăn, thức uống,…
1.1.4.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Nguyễn Minh Tuệ (1999), đã nêu lên một số quan điểm liên quan đến cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như sau: Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
a) Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch:
Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch.
- Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải:
Một điểm đến có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải. Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội.
Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt. Giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn. Giao thông đường sắt rẻ tiền nhưng chỉ đi theo những tuyến cố định. Giao thông đường hàng không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại nhưng đắt tiền. Giao thông đường thuỷ tuy chậm nhưng có thể kết hợp với việc tham quan giải trí,… dọc theo sông hoặc ven biển. Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, tuy nhiên hiện nay đã có một số phương tiện giao thông được sản xuất với mục đích chủ yếu phục vụ du lịch.
- Thông tin liên lạc:
Là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế. Trong đời sống hiện đại nói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc.
- Các công trình cung cấp điện, nước:
Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên. Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại,… du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường. Cho nên yếu tố điện, nước cũng là một trong những yếu tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách.
b) Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:
- Khái niệm:
Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2014) cho rằng, CSVCKT du lịch là toàn bộ các phương tiện kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ, đây chính là các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội đảm bảo điều kiện chung cho việc phát triển du lịch. Bao gồm các yếu tố CSVC của ngành du lịch và CSVCKT của các ngành khác trong nền kinh tế tham gia vào việc khai thác các tiềm năng du lịch như: hệ thống đường sá, cầu cống, bưu chính viễn thông, điện, nước,…
Theo nghĩa hẹp, CSVCKTDL được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hoá cung cấp và làm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch.
Bao gồm: Hệ thống nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí, các phương tiện vận chuyển,.. kể cả các công trình kiến trúc bổ trợ. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Việc phân chia theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp chỉ có tính chất tương đối vì đôi khi các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng cũng được tạo ra ngay trong các khu du lịch, và thậm chí ngay trong một khách sạn.
- Phân loại:
Qua nghiên cứu các giáo trình kinh tế du lịch thì có nhiều cách phân chia; tuy vậy có thể chia thành một số nội dung như sau:
Bảng 1.5: Tổng hợp một số loại hình cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
1.1.4.4. Nguồn nhân lực du lịch
Theo Viện Đào tạo sau Đại học – Đại học Hutech (2023), nguồn nhân lực du lịch được hiểu là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia lao động trong ngành du lịch. Nguồn nhân lực du lịch bao gồm: nhân lực trực tiếp và nhân lực gián tiếp. Nhân lực du lịch trực tiếp là những người làm việc trong các cơ quan QLNN về du lịch, các đơn vị sự nghiệp du lịch và các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch. Nhân lực gián tiếp là bộ phận nhân lực làm việc trong các ngành, các quá trình liên quan đến hoạt động du lịch như văn hóa, hải quan, giao thông, xuất nhập cảnh, nông nghiệp, thương mại,… Nếu xét trên mức độ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của ngành du lịch và của mỗi lĩnh vực du lịch thì nguồn nhân lực du lịch được chia làm ba nhóm:
Nhóm 1: bao gồm những lao động làm việc tại các cơ quan QLNN về du lịch, từ Trung ương đến địa phương như Bộ VHTTDL, Tổng cục Du lịch, Sở VHTTDL (hoặc Sở Du lịch) tại các tỉnh, thành phố. Nhóm lao động này có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương, tham mưu cho các cấp ủy Đảng và chính quyền trong việc đưa ra đường lối và chính sách phát triển du lịch bền vững, hiệu quả. Nhóm này chiếm một tỷ trọng không lớn trong toàn bộ nguồn lực du lịch nhưng lại là nhóm nhân lực có trình độ cao, có kiến thức ở tầm vĩ mô và hiểu biết tương đối toàn diện, có trình độ chuyên môn về du lịch.
Nhóm 2: là những lao động làm việc tại các đơn vị sự nghiệp ngành du lịch, bao gồm những người làm việc ở các cơ sở giáo dục, đào tạo như cán bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và cán bộ nghiên cứu ở việc khoa học về du lịch, các cơ quan báo chí chuyên về du lịch.
Nhóm 3: là những lao động làm việc tại các đơn vị kinh doanh du lịch. Nhóm này có thể chia ra thành các nhóm nhỏ (bộ phận), mỗi bộ phận có chức năng và đặc điểm riêng như sau:.
Bộ phận lao động quản lý chung: Được hiểu là những người đứng đầu (người lãnh đạo, người quản lý) thuộc các đơn vị kinh doanh du lịch. Đó là những vị Tổng Giám đốc, Giám đốc,… quản lý chung tại các các doanh nghiệp như các công ty vận tải, hãng lữ hành, khách sạn, nhà hang,…
Bộ phận lao động quản lý trung gian: là lao động thuộc bộ phận quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong các doanh nghiệp du lịch, bao gồm lao động thuộc phòng kế hoạch đầu tư và phát triển, phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng tổng hợp,… Nhiệm vụ chính của bộ phận này là tổ chức hạch toán kinh tế, tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh và tổ chức lao động, hoạch định quy mô và tốc độ phát triển doanh nghiệp. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Bộ phận lao động hỗ trợ: thuộc nhóm chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch, được hiểu là nhóm người không trực tiếp tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp nhưng là bộ phận quan trọng, hỗ trợ và tạo điều kiện để các bộ phận lao động trực tiếp có thể tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách du lịch. Đây là bộ phận thường gồm nhân viên bảo vệ thường trực, nhân viên vệ sinh, môi trường, công tác sữa chữa, bảo dưỡng điện nước, cung ứng hàng hóa, nhân viên tạp vụ trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
1.1.4.5. Các yếu tố chính trị, xã hội
Bầu chính trị hòa bình, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển của du lịch quốc tế. Một thế giới bất ổn về chính trị, xung đột về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng tới việc phát triển du lịch tức là nó không làm tròn “sứ mệnh” đối với du lịch, gây nên nỗi hoài nghi, tâm lý sợ hãi cho du khách. Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược làm hủy hoại tài nguyên du lịch, các công trình nghệ thuật kiến trúc do loài người sáng tạo nên. Thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch. Các đợt sóng thần, động đất, núi lửa đã ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển của ngành công nghiệp “không khói” này (Nguyễn Minh Tuệ, 1999).
1.1.5. Đặc điểm tâm lý du khách Nga
1.1.5.1. Các yếu tố tác động người Nga đi du lịch nước ngoài
Với chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, thu nhập ngày càng cao và thời gian dành cho du lịch trong năm nhiều (người dân Nga hiện có 2 ngày nghỉ cuối tuần, 20 ngày nghỉ phép năm, 10 ngày nghỉ lễ, kỳ nghỉ hè và 2 kỳ nghỉ đông) nên lượng người dân đi du lịch, nhất là du lịch ra nước ngoài (outbound) đang tăng lên nhanh chóng (Bộ VHTTDL, 2020).
Do Nga nằm gần vùng Cực, không có nhiều nắng ấm nên họ thích đến những vùng có khí hậu nóng ẩm, nhất là những vùng biển đẹp vừa để thưởng thức nắng ấm, vừa để ngắm cảnh.
Chương trình “Russia Extreme” của Nga giới thiệu về hoạt động du lịch trên thế giới đã tác động lớn đến nhu cầu du lịch của người dân nước này. Ngoài ra, với cộng đồng người Việt đang sinh sống rất đông tại Nga cũng sẽ là cầu nối tích cực trong việc thu hút khách Nga đến Việt Nam. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
1.1.5.2. Một số đặc điểm điển hình về tâm lý xã hội và hành vi tiêu dùng của du khách Nga
Theo Bộ VHTTDL (2020), Nga là rất tự hào về truyền thống văn hóa lâu đời của mình. Người Nga rất thích các chương trình biểu diễn tại nhà hát lớn, thích xem biểu diễn Opera, âm nhạc, múa ba lê hoặc kịch ở nhà hát lớn hơn là đi xem phim. Trong giao tiếp người Nga khá cởi mở, tính cách của họ khá mạnh mẽ, thẳng thắn, thông minh. Trong cuộc sống hàng ngày, người Nga chăm chỉ, cần cù, họ tự nhiên và khôi hài hơn so với người phương Tây.
Khách du lịch Nga thường có thói quen du lịch trọn gói, dành thời gian tập trung cho nghỉ ngơi, thư giãn và các dịch vụ du lịch khác mà họ cần quan tâm. Khách du lịch Nga, bên cạnh nghỉ dưỡng thường rất quan tâm đến các dịch vụ thể thao du lịch biển tại các điểm đến du lịch. Tham gia và trải nghiệm các loại hình dịch vụ thể thao biển là yếu tố có tính quyết định tới việc lựa chọn điểm đến của khách du lịch Nga trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó khách du lịch Nga cũng rất quan tâm đến các loại hình vui chơi giải trí và các sản phẩm du lịch bổ trợ tại các điểm đến. Sở thích khách du lịch Nga là du lịch nghỉ dưỡng, đặc biệt là nghỉ dưỡng biển. Khi đi du lịch, khách du lịch Nga thường lựa chọn các điểm đến có nhiều khu Resort, các khách sạn chất lượng cao để nghỉ dưỡng, đồng thời là dịp để họ có điều kiện được sống gần gũi với thiên nhiên hơn, thoát khỏi cuộc sống tấp nập ở các khu đô thị mà họ phải chịu đựng thường xuyên. Về khẩu vị, người Nga khá đơn giản trong ăn uống. Các bữa ăn của họ thường không cầu kỳ. Khách Nga thích ăn các loại súp có lẫn thịt, thích các món quay nhừ, cá hun khói, thích dùng nhiều bơ, quen uống sữa tươi, thích ăn các loại rau và đặc biệt thích uống rượu Vodka. Khi đi du lịch nghỉ dưỡng ở biển du khách rất thích thưởng thức các loại hải sản (Đào Việt Hà, 2019).
Bên cạnh đó, khách du lịch Nga thường đi du lịch ra nước ngoài cùng với gia đình. Trong khi đi du lịch, du khách Nga rất thích mua đồ lưu niệm (lụa, mật ong, nữ trang vàng…). Nhìn chung, khách Nga đi du lịch chỉ biết ít hoặc không biết ngoại ngữ, vì vậy việc hướng dẫn viên và những người phục vụ biết sử dụng tiếng Nga là tiêu chí số một trong việc chọn lựa tour du lịch. Các điểm đến phải có nhân viên biết tiếng Nga để giao tiếp và phục vụ, làm cho cảm thấy thoải mái, hài lòng và tạo được ấn tượng tốt hơn cho điểm đến cũng như trong quá trình đi tour (Nguyễn Quốc Tiến, 2023).
Bảng 1.6: Một số nước có mức chi tiêu cao cho du lịch quốc tế năm 2023, 2024
| TT | Quốc gia | Năm 2023 (tỷ USD) | Năm 2024 (tỷ USD) | Tốc độ tăng bình quân (%) |
| 1. | Trung Quốc | 250 | 261 | 104,4 |
| 2. | Hoa Kỳ | 112,9 | 122 | 108,1 |
| 3. | Đức | 77,5 | 81 | 104,5 |
| 4. | Vương quốc Anh | 63,3 | 64 | 101,1 |
| 5. | Pháp | 38,4 | 41 | 106,7 |
| 6. | Nga | 35 | 49 | 140 |
| 7. | Canada | 29,4 | 29 | 98,6 |
| 8. | Hàn Quốc | 25 | 27 | 108 |
| 9. | Úc | 23,5 | 27 | 114,8 |
| 10. | Ý | 24,9 | 25 | 100,4 |
Nguồn: UNWTO năm 2024 Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch Việt Nam (2023), ước tính tổng chi tiêu mỗi lượt khách Nga khoảng 635 Euro hay 60 Euro mỗi đêm cho một chuyến du lịch trung bình 10-11 ngày. Cũng tại nghiên cứu này, người Nga đứng thứ 3 thế giới sau Nhật và Mỹ, chiếm 10% tổng chi tiêu. Nga được đánh giá là thị trường có gia tăng chi tiêu và có khả năng chi trả cao trong những năm gần đây. Tuy nhiên, do tác động của suy thoái kinh tế, đồng RUB mất giá, các lệnh trừng phạt kinh tế và tình hình chính trị biến động,… nên đã ảnh hưởng đến việc chi tiêu của khách Nga khi du lịch nước ngoài.
Khách du lịch Nga thường có thói quen mang tiền mặt để thanh toán trực tiếp mọi chi phí dịch vụ và mua sắm. Họ rất ngại những sự phiền phức khi chi trả các khoản ngoài tour nên chủ yếu là họ mang tiền mặt cho thuận tiện. Ngược lại, khách du lịch Nga cũng rất sợ mang nhiều tiền mặt trong người vì yếu tố an toàn an ninh cho họ trong suốt chuyến đi, vì vậy đây là yếu tố mà các điểm đến cần quan tâm để cam kết giảm thiểu rủi ro cho khách du lịch Nga, đây cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của khách du lịch Nga đối với mỗi điểm đến (Đào Việt Hà, 2019).
Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (2024), có 34 triệu lượt khách Nga đi du lịch nước ngoài. Nhưng nước ta chỉ mới đón được 433 nghìn lượt khách Nga, tức là chỉ chiếm có 1,2 % tổng số khách Nga đi du lịch nước ngoài (theo Tổng Cục Du lịch). Trong khi đó, một số nước lân cận thì con số này lớn hơn nhiều. Điều đó phần nào chứng tỏ một thực tế là khả năng thu hút khách du lịch Nga đến Việt Nam còn yếu, chưa thực sự hiệu quả và qua đó cũng cho thấy rằng đây là thị trường đầy tiềm năng cho du lịch Việt Nam trong thời gian tới.
1.2. Kinh nghiệm thu hút khách du lịch Nga của một số nước và tại Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
1.2.1. Kinh nghiệm thu hút khách du lịch Nga của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm
1.2.1.1. Kinh nghiệm của Istanbul – Thổ Nhĩ Kỳ
Theo Nguyễn Quốc Tiến (2023), những năm qua, lượng khách du lịch Nga đến Thổ Nhĩ Kỳ tăng lên nhanh chóng. Tính đến tháng 11/2024, lượng khách Nga đến Thổ Nhĩ Kỳ đạt khoảng 2,45 triệu lượt.
Một trong những địa điểm yêu thích của khách Nga khi đến Thổ Nhĩ Kỳ là thành phố Istanbul. Đây là thành phố lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ và là thành phố duy nhất trên thế giới nằm trên hai lục địa Á và Âu, trải dài hai bên bờ eo biển Bosphore, chia cách châu Âu và châu Á. Istanbul từng là kinh đô của 3 đế quốc khác nhau là Đế quốc La Mã (330-395), Đế quốc Byzantine (395- 1453) và Đế quốc Ottoman (1453-1923). Istanbul nổi tiếng khắp thế giới với hơn 2.600 năm lịch sử cùng nhiều công trình kiến trúc cổ xưa, nhiều thánh đường Hồi giáo và cung điện nguy nga rực rỡ, với một sinh hoạt đô thị sôi nổi và phong phú, thu hút hàng triệu du khách khắp thế giới đến đây mỗi năm. Nét độc đáo của Istanbul là sự dung hòa văn hóa giữa châu Âu và châu Á với những thánh đường Hồi giáo uy nghiêm, các sắc màu của các phiên chợ truyền thống, vị ngon ẩm thực đến từ những món ăn quen thuộc như Doner Kebab, sandwich cá hay súp đậu tây đến ớt xanh nhồi thịt cừu, mật ong… Do vậy, Istanbul thu hút hàng triệu lượt khách du lịch ghé thăm và được ví von như “thỏi nam châm cực mạnh” (các điểm đến quyến rũ như: Chợ Grand Bazaar, Bảo tàng Hagia Sophia, Công viên Blue Mosque, Quảng trường Taksim, công trình dưới lòng đất Basilica Cistern, Cung điện Dolmahbace, Cung điện Topkapi…
1.2.1.2. Kinh nghiệm của Tây Ban Nha
Theo Nguyễn Quốc Tiến (2023), để thu hút được lượng khách quốc tế nói chung và khách Nga nói riêng đến du lịch, Tây Ban Nha đã đưa ra một số giải pháp thu hút như:
Tạo ra khẩu hiệu du lịch ấn tượng: Thời gian qua du lịch Tây Ban Nha đã xuất hiện một số khẩu hiệu như “Tây Ban Nha xanh”, “Cửa ngõ Địa Trung Hải”, “Tuyến đường bạc”, “Thành phố Di sản Thế giới”, “Tây Ban Nha vui”, gần đây nhất là “Dấu ấn Tây Ban Nha” đã thu hút nhiều du khách đặc biệt là khách Nga với sở thích tắm biển, nghỉ dưỡng, tắm nắng.
Xây dựng mối quan hệ tốt với truyền thông quốc tế: Để mọi người trên thế giới biết đến du lịch của mình, Tây Ban Nha đã thiết lập các mối quan hệ với các phương tiện truyền thông quốc tế để xây dựng các bài viết về du lịch Tây Ban Nha với ấn tượng về một Tây Ban Nha thân thiện, một điểm đến luôn mới, năng động và tràn ngập ánh nắng.
- Thường xuyên tổ chức Famtrip với các thị trường tiềm năng và trọng điểm:
Tây Ban Nha đã xác định thị trường khách du lịch Nga cũng là thị trường đầy tiềm năng cho nên ngành du lịch quốc gia này đã tổ chức các chuyến Famtrip dành cho các doanh nghiệp Nga sang tìm hiểu để mở rộng thị trường.
Xây dựng các trang web với những thông tin mới nhất: Tổ chức du lịch Tây Ban Nha đã xây dựng trang web: spain.info để cung cấp các thông tin cho du khách (có hỗ trợ nhiều ngôn ngữ khác nhau). Nhờ đó, du khách dễ dàng tiếp cận được thông tin du lịch của Tây Ban Nha, mua sắm các sản phẩm du lịch qua mạng.
1.2.1.3. Kinh nghiệm của Thái Lan Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Theo Hà Văn Hội (2019), với phương thức “tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ”, du lịch Thái Lan đã đề ra các chính sách sau nhằm thúc đẩy thu hút du khách đến với nước mình:
- Coi trọng xây dựng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch;
- Tăng cường đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng du lịch;
- Loại bỏ các phiền toái và lo lắng cho du khách trong chuyến du lịch;
- Có chính sách giá cả dịch vụ hợp lý;
- Tăng cường Makerting du lịch với sự tham gia của Chính phủ.
Do vậy, mặc dù trải qua nhiều biến động về địa chính trị, suy thoái kinh tế, dịch bệnh… nhưng Thái Lan vẫn luôn là điểm đến hấp dẫn của nhiều nước trên thế giới. Cũng theo thống kê của ASEAN, năm 2023, khách du lịch đến Thái Lan là 24,799.800 lượt khách, chỉ sau Malaysia là 27.437.300 lượt khách; Việt Nam là 7.874.300 lượt khách (Nguyễn Xuân Thiên – Hà Minh Tuấn, 2024).
Bài học kinh nghiệm:
Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn một số quốc gia trên thế giới và trong khu vực về hoạt động thu hút và phục vụ khách Nga, có thể rút ra một số bài học cho du lịch Việt Nam như sau:
- Cần xác định công tác xây dựng thương hiệu, quảng bá, định vị hình ảnh tới thị trường Nga là việc làm quan trọng hàng đầu. Trong đó cần định vị với những khẩu hiệu ấn tượng, đặc trưng cho sản phẩm du lịch mà thị trường Nga có nhu cầu cao.
- Chú trọng phát triển và cung cấp cho thị trường khách du lịch Nga sản phẩm du lịch cao cấp, dịch vụ chất lượng cao với yếu tố hưởng thụ được đặt lên hàng đầu, đồng thời phải đảm bảo tính hợp lý giữa chất lượng sản phẩm, dịch vụ và giá cả.
- Việc tạo thuận lợi cho du khách trong tiếp cận thông tin và sử dụng sản phẩm, dịch vụ du lịch, trong thủ tục xuất nhập cảnh có ảnh hưởng lớn và tạo động lực trong thu hút khách du lịch Nga. Ngôn ngữ là một rào cản lớn đối với du khách Nga trong tiếp cận thông tin du lịch và gây ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của du khách trong chuyến đi du lịch
- Việc thiết lập đại diện du lịch tại Nga cũng như việc xây dựng và duy trì mối quan hệ với các hãng lữ hành Nga là một việc làm cần thiết, góp phần quan trọng trong việc cung cấp, giải đáp các thông tin du lịch của điểm đến cũng như thực hiện các chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch tới thị trường tiềm năng.
1.2.2. Kinh nghiệm thu hút khách Nga của Khánh Hòa và Bình Thuận
1.2.2.1. Tổng quan Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
Theo Nguyễn Quốc Tiến (2023), để thu hút khách Nga, tỉnh Khánh Hòa đã chủ động đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật; điểm mua sắm, vui chơi giải trí; đội ngũ nhân lực ngành du lịch, trong đó chú trọng đào tạo chương trình đào tạo tiếng Nga cho nhân viên du lịch của tỉnh với sự hỗ trợ của Bộ VHTTDL. Bên cạnh đó, chú trọng xây dựng hình ảnh điểm đến nhằm tạo sự thu hút cho du khách khi đến xứ “Trầm hương”, nhất là khách Nga.
Trong năm 2024, doanh thu du lịch của Khánh Hòa đạt 8.300 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2023, đạt 107% so với kế hoạch. Lượng khách Quốc tế đến Khánh Hòa (chủ yếu là Nha Trang) đạt hơn 1 triệu lượt, tăng 123% so với cùng kỳ; riêng khách Nga khoảng 260 nghìn lượt.
Đối với tỉnh Bình Thuận, theo Sở VHTTDL của tỉnh, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển. Chất lượng dịch vụ du lịch và hoạt động lữ hành tiếp tục nâng lên; toàn tỉnh có 43 doanh nghiệp lữ hành, trong đó có 05 doanh nghiệp lữ hành Quốc tế; các dịch vụ vui chơi giải trí như lướt ván buồm, lướt ván diều, mô tô nước, mô tô vượt địa hình,… ngày càng phát triển, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm, loại hình dịch vụ du lịch. Các cơ sở lưu trú không ngừng phát triển và ngày càng nâng chất lượng; năm 2023, toàn tỉnh hiện có 271 cơ sở lưu trú đang hoạt động kinh doanh, với tổng số hơn 10.300 phòng. Đã có 171 cơ sở lưu trú/6.858 phòng được xếp hạng; trong đó, có 3 cơ sở/348 phòng xếp hạng 5 sao; 22 cơ sở/2.214 phòng xếp hạng 4 sao; 12 cơ sở/891 phòng xếp hạng 3 sao. Đã thu hút khoảng 500 nghìn lượt khách quốc tế đến nghỉ dưỡng, tăng 13,4% so với 2022, trong đó riêng khách du lịch Nga chiếm 30,97%, … tổng lượng khách quốc tế đến tỉnh.
1.2.2.2. Bài học kinh nghiệm
Từ những kinh nghiệm của 02 địa phương trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Khánh Hòa, Bình Thuận Hòa là các điểm đến an toàn, phong cảnh đẹp, đảm bảo được tính mạng và tài sản cho du khách khi đi du lịch, vì vậy rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch.
- Các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp, nhà đầu tư luôn quan tâm đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch phát triển, nhất là du lịch biển và du lịch nghỉ dưỡng; trong đó chú trọng đến sự hài lòng của du khách để lôi kéo du khách đến với tỉnh ngày một nhiều hơn.
- Trong mắt khách du lịch Nga, con người Việt Nam luôn thân thiện, hiền hòa và hai nước cũng đã có mối quan hệ gắn bó sâu đậm, tạo cho du khách cảm giác thoải mái. Ngoài ra, các tỉnh trên cũng rất chú trọng đến công tác đào tạo nhân lực am hiểu tiếng Nga và văn hóa Nga nhằm mang đến sự hài lòng cho du khách Nga. Luận văn: Phát triển du lịch để thu hút du khách Nga đến Phú Yên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch Nga đến Phú Yên

Pingback: Luận văn: Giải pháp biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên