Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ đào tạo sau đại học ở Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo Sách Trắng Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam năm 2024 cho thấy, trong năm 2023 cả nước có 164.744 người tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển. Trong đó số người làm công tác nghiên cứu chuyên nghiệp tại các viện, trung tâm nghiên cứu là 37.481 người. Tổng công bố KH&CN của Việt Nam trong cơ sở dữ liệu Web of Science giai đoạn 2020- 2024 là 9.976 bài báo, xếp thứ 59 trên Thế giới, so với khu vực, Việt Nam đứng sau Singapore. Số lượng đơn sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2021- 2023 của người Việt Nam là 1.126 đơn trong khi người nước ngoài có 10.690 đơn. Số bằng độc quyền sáng chế được cấp của người Việt Nam còn thất, chỉ đạt 144 văn bằng, kém 21.7 lần so với số văn bằng được cấp của người nước ngoài.
Theo kết quả điều tra, thống kê năm 2025 do Bộ Nội vụ tiến hành đối với 25 cơ quan Trung ương và 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước thì tổng số viên chức khoa học và công nghệ (theo 08 chức danh nghề nghiệp) là 43.849, trong đó, khối các cơ quan Trung ương là 32.881 và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 10.968.
- Tỷ lệ viên chức KH&CN theo 08 chức danh nghề nghiệp như sau:
Từ số liệu tổng hợp cho thấy số lượng viên chức KH&CN giữ chức danh khoa học, chức danh công nghệ hạng I và hạng II rất thấp, đặc biệt là ở địa phương. Số lượng viên chức KH&CN giữ chức danh khoa học, chức danh công nghệ hạng III chiếm tỷ lệ lớn nhất ở cả khối Trung ương và địa phương. Theo đó, tỷ lệ kỹ sư lên tới 58.06%, nghiên cứu viên là 21.55%. Tuy nhiên, cũng theo biểu thống kê, có thể thấy sự chênh lệch rất lớn giữa tỷ lệ nghiên cứu viên ở trung ương (28.46%) và địa phương (0.83%). Số lượng viên chức KH&CN giữ chức danh khoa học, chức danh công nghệ hạng IV ở khối Trung ương chiếm tỷ lệ tương đối thấp , còn ở khối địa phương kết quả thống kê cho thấy hoàn toàn không có chức danh trợ lý nghiên cứu.
Về trình độ học vấn, học vị: Tỷ lệ viên chức KH&CN có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ chiếm 5% (ở địa phương, tỷ lệ này chỉ đạt 7%), trình độ đại học là 60.7%. Tỷ lệ có trình độ cao đẳng và tỷ lệ có trình độ trung cấp là 11.2%, tuy nhiên, con số này ở địa phương là khoảng 28%. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Tình trạng thiếu hụt nhà khoa học giỏi, nhà khoa học đầu ngành hơn lúc nào hết là vấn đề đáng lo ngại do số lượng nhà khoa học có trình độ cao và có kinh nghiệm ngày càng giảm do đến tuổi nghỉ hưu, đặc biệt là các nhà khoa học đầu ngành, các tổng công trình sư đủ năng lực chủ trì các nhiệm vụ KH&CN quan trọng quy mô quốc gia và quốc tế. Số lượng viên chức KH&CN trẻ là lực lượng kế cận khá đông nhưng lại có khoảng cách quá xa (về độ tuổi, kinh nghiệm, năng lực, lòng say mê) với thế hệ đi trước.
Vì vậy việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN được xem là khâu đột phá, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH-CN, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện hiện nay.
Tại Việt Nam hiện nay có hai viện hàn lâm nghiên cứu về hai lĩnh vực xã hội và tự nhiên lớn nhất đó là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KHCNVN) là cơ quan thuộc Chính phủ, do Chính phủ thành lập nhằm thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ. Mục tiêu nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao theo quy định của pháp luật.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có 51 đơn vị trực thuộc bao gồm: 06 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập; 34 đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học (27 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ thành lập và 07 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 06 đơn vị sự nghiệp khác (05 đơn vị do Thủ tướng Chính phủ thành lập và 01 đơn vị do Chủ tịch Viện thành lập); 04 đơn vị tự trang trải kinh phí và 01 doanh nghiệp Nhà nước.
Các đơn vị của Viện đóng tập trung tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Một số đơn vị đóng tại Phú Thọ, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Đà Lạt. Ngoài ra, Viện còn có hệ thống trên 100 đài trạm trại thuộc 17 Viện nghiên cứu chuyên ngành, phân bố tại 35 tỉnh, thành phố đặc trưng cho hầu hết các vùng địa lý của Việt Nam (đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi và hải đảo) để khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, triển khai thực nghiệm về địa chất, địa từ, địa động lực, địa lý, môi trường, tài nguyên và thử nghiệm vật liệu,… Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Trong nhiều năm qua Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được Nhà nước từng bước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ trong đó có 4 phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia (PTNTĐ) về Công nghệ Gen; Công nghệ mạng; Vật liệu và linh kiện điện tử; Công nghệ tế bào thực vật, cùng nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu cấp viện khác. Nhiều PTN của Viện được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện.
Tính đến tháng 11/2026, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có tổng số trên 4000 cán bộ, viên chức, trong đó có 2425 cán bộ biên chế; 48 giáo sư, 170 phó giáo sư, 32 tiến sĩ khoa học, 808 tiến sĩ, 905 Thạc sĩ và 595 cán bộ, viên chức có trình độ đại học.
Các viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện công tác đào tạo sau đại học từ những năm 1978. Năm 2024, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định thành lập Học viện Khoa học và Công nghệ (Quyết định số 1691/QĐ-TTg ngày 22/9/2024 của Thủ tướng Chính phủ), là đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhằm thống nhất đào tạo của các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về Học viện Khoa học và Công nghệ (Học viện Khoa học và Công nghệ). Hoạt động đào tạo của Học viện Khoa học và Công nghệ mang tính đặc thù cao, sử dụng nhân lực, nguồn lực rất mạnh mẽ của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, phát huy tiềm lực cán bộ khoa học trong đào tạo sau đại học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đội ngũ giảng viên, học viên hoạt động nghiên cứu trực tiếp tại các viện nghiên cứu chuyên ngành; Bộ máy ở các khoa, bộ môn, hội đồng khoa, hội đồng khoa học thường là các cán bộ nghiên cứu, quản lý tại các Viện nghiên cứu chuyên ngành, kiêm nhiệm tại Học viện Khoa học và Công nghệ. Học viện Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối, điều phối, hỗ trợ hoạt động đào tạo sau đại học ở tất cả các viện nghiên cứu trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do đã phân tích ở trên, tôi quyết định chọn đề tài: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ đào tạo sau đại học ở Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ khoa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tham gia đào tạo sau đại học, làm giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo sau đại học tại Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện Khoa học và Công nghệ).
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tham gia đào tạo làm giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ.
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển đội ngũ giảng viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ.
4. Giả thuyết nghiên cứu:
Học viện Khoa học và Công nghệ được thành lập năm 2024, cơ sở vật chất cũng như đội ngũ giảng viên dựa trên các viện nghiên cứu trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đội ngũ giảng viên ở Học viện chính là các nhà khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tham gia đào tạo. Vì vậy việc phát triển đội ngũ giảng viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ còn tồn tại một số điểm bất cập về cơ cấu chưa cân đối; số lượng và chất lượng giảng viên không đồng đều. Đội ngũ giảng viên tại Học viện đa phần còn thiếu kinh nghiệm sư phạm vì vậy chất lượng để đáp ứng yêu cầu đào tạo còn thiếu.
Nếu các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên được xây dựng theo tiếp cận quản lý nguồn nhân lực, với tính định hướng chiến lược, cách tiếp cận cá nhân, sự thống nhất giữa các đơn vị nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, sự cam kết và tăng cường vai trò của các nhà quản lý cấp dưới, tác động đồng bộ đến các khâu cơ bản của quá trình phát triển đội ngũ giảng viên (quy hoạch; tuyển chọn; sử dụng; đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đãi ngộ) sẽ giúp Học viện Khoa học và Công nghệ huy động được tối đa trí tuệ của các nhà nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong việc tham gia hoạt động đào tạo sau đại học tại Học viện Khoa học và Công nghệ đáp ứng chiến lược phát triển tạo ra nhân tài và nhân lực có trình độ khoa học và công nghệ cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận vê phát triển Đội ngũ giảng viên.
- Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo ( làm giảng viên) tại Học viện Khoa học và Công nghệ và công tác phát triển đội ngũ giảng viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển Đội ngũ giảng viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ.
- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
6. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung:
Đề tài chỉ nghiên cứu nội dung và biện pháp để phát triển Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo tại Học viện Khoa học và Công nghệ (Đội ngũ giảng viên ở Học viện).
- Về địa bàn: Học viện Khoa học và Công nghệ.
- Về khách thể điều tra khảo sát: 711 cán bộ nghiên cứu khoa học làm giảng viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ.
7. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tiếp cận
Sử dụng các phương pháp: Tiếp cận hệ thống; tiếp cận quản lý nguồn nhân lực; tiếp cận theo chức năng; tiếp cận theo năng lực; tiếp cận chuẩn hóa.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thực hiện hồi cứu, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm: Điều tra, khảo sát; phương pháp chuyên gia; phương pháp tổng kết kinh nghiệm; phương pháp khảo nghiệm và thực nghiệm khoa học.
8. Những đóng góp của đề tài hay ý nghĩa khoa học:
Luận văn đã xây dựng được khung lý thuyết nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên (là các nhà khoa học tham gia đào tạo). Trong đó đã xác định được các khái niệm công cụ: nhà khoa học, giảng viên, đội ngũ giảng viên, đặc điểm, vai trò của đội ngũ giảng viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ, phát triển đội ngũ giảng viên.
Kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề tài của luận văn đã chỉ ra được nội dung phát triển giảng viên theo phương diện truyền thống về số lượng, chất lượng, cơ cấu.
Luận văn cũng chỉ ra thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên theo tiếp cận nguồn nhân lực như:
- Lập quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên.
- Tuyển chọn giảng viên
- Sử dụng giảng viên theo năng lực
- Đào tạo, bồi dưỡng phát triển giảng viên
- Đánh giá giảng viên theo năng lực
- Đãi ngộ giảng viên theo năng lực
Luận văn cũng đã xác định được các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ giảng viên. Đề xuất biện pháp cần thiết và khả thi để phát triển đội ngũ giảng viên ở Học viện Khoa học và Công nghệ.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ đào tạo sau đại học.
- Chương 2: Thực trạng công tác phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo ở Học viện Khoa học và Công nghệ.
- Chương 3: Biện pháp phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo ở Học viện Khoa học và Công nghệ.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC THAM GIA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Đối với phát triển nguồn nhân lực Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Tại Đại hội IX và XI của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “… nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa…”. Đặc biệt là công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam theo Nghị quyết số 29- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Việc nâng cao hiệu quả công tác quản trị nguồn nhân lực nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội là một nhiệm vụ mang tính cấp bách và chiến lược.
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các công trình đã nghiên cứu về các vấn đề phát triển nhân lực như các tác phẩm: “The small bussiness of developing people” của tác giả Annette Kerr and Marilyn Mcdougall, hay như cuốn sách “The emergence of strategic human resource development” của các tác giả: Garavan, Thomas N, Costine, Pat, Heraty, Noreen (1995) tập trung vào sự xuất hiện của khái niệm phát triển nguồn nhân lực, trong đó xem xét các vấn đề về phát triển nguồn nhân lực theo các cách tiếp cận khác nhau như thông qua chiến lược đào tạo…
Tại Việt Nam hiện nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, đề tài, dự án các cấp, các ngành nghiên cứu về lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực như đề tài cấp Bộ (2022): “Phát triển đội ngũ lãnh đạo và quản lý nhà nước về giáo dục các cấp” của PGS.TS. Trần Ngọc Giao. Học viện Khoa học xã hội đang triển khai thực hiện dự án Phát triển đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học xã hội giai đoạn 2025-2040. Ngoài ra còn rất nhiều các bài báo, các công trình khoa học khác như cuốn sách “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế” của các tác giả Bành Tiến Long, Dương Văn Quảng, Trịnh Đức Dụ (Nhà xuất bản Thế giới, 2019). Bài báo “Giáo dục với phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Nguyễn Thị Hồng Vân, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 4. Sách “Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục” của TS. Phạm Văn Thuần, Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đường Vĩnh Sường với bài báo “Giáo dục, đào tạo với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Tạp chí Cộng sản, 2022). Bài báo “Giáo dục đại học: Sẽ phải chuyển hướng sang đẩy mạnh nghiên cứu khoa học” của tác giả Lệ Thu đăng trên báo Dân trí (2027). Bài báo “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN: đổi mới từ cách làm” của TS. Trần Đắc Hiển trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
1.1.2. Đối với phát triển đội ngũ giảng viên Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Dự án quốc gia nghiên cứu tổng thể về giáo dục và đào tạo và phân tích nguồn nhân lực, mã số VIE/89/022 (Dự án tổng thể về giáo dục).
Công trình “Nghiên cứu việc bồi dưỡng cán bộ giảng dạy đại học và giáo viên dạy nghề” của nhóm tác giả do Phạm Thành Nghị làm chủ nhiệm.
Báo cáo Sự phát triển của Hệ thống Giáo dục Đại học, Các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo ngày 29/10/2019.
Văn phòng Quốc hội và Ủy ban Văn hóa – giáo dục – thanh niên – thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội: Hội thảo khoa học “Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học ở Việt Nam” (Thông tin của Báo Tuổi trẻ, ngày 23/12/2019). Năm 2020, nhóm cán bộ, chuyên viên Vụ Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng do ThS. Lê Thị Phương Nam, Phó Vụ trưởng làm Chủ nhiệm đã thực hiện đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học giai đoạn 2020-2025”. Đề tài đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc đánh giá chung về thực trạng đội ngũ giảng viên đại học (GVĐH) hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ GVĐH giai đoạn 2020-2025 và kiến nghị một số nội dung chuẩn bị cho việc xây dựng Dự án Luật giáo dục đại học.
Trong “Nghiên cứu khoa học của giảng viên – Yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học trong giai đoạn hiện nay” của Trần Mai Ước (2023) nhấn mạnh đến giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH) là hai nhiệm vụ vừa quan trọng – bắt buộc – cần thiết của bất kỳ GVĐH nào. Cả hai nhiệm vụ này có quan hệ hữu cơ với nhau, bổ trợ lẫn nhau. Trong đó bài viết đề cao đến nhiệm vụ Nghiên cứu khoa học của GVĐH có ảnh hưởng lớn đến chất lượng, uy tín đào tạo của đại học. Qua đó, bài viết chỉ ra 8 lợi ích thiết thực của Nghiên cứu khoa học đối với giảng viên, điển hình như Nghiên cứu khoa học giúp giảng viên đào sâu, cập nhật, trau dồi tri thức; phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của giảng viên; gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết và thực hành.
Ngoài ra cũng còn có khá nhiều các công trình, luận văn, luận án đề cập đến việc phát triển đội ngũ giảng viên. Các nội dung được đề cập đến trong các nghiên cứu đã nêu gồm nhiều góc độ khác nhau về phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ và nguồn nhân lực giảng viên. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập cụ thể, chuyên sâu về việc phát triển đội ngũ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo sau đại học nói chung và phát triển đội ngũ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo tại Học viện Khoa học và Công nghệ nói riêng. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo sau đại học ở Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về phát triển đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ.
1.2. Các khái niệm cơ bản Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
1.2.1. Khái niệm về đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học
- Đội ngũ cán bộ:
Khái niệm đội ngũ ngày nay được sử dụng rộng rãi trong cả nói và viết: đội ngũ cán bộ, đội ngũ giáo viên, đội ngũ nhân viên, đội ngũ sinh viên… Theo Đại từ điển Tiếng Việt (NXB Văn hóa thông tin) thì: “Đội ngũ là một khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”.
Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng – Viện Ngôn ngữ học): “Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông người cùng có chức năng nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống nhất định”.
Tác giả Đặng Quốc Bảo nhận định “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau cùng chung lý tưởng, mục đích, rang buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc”.
Có thể nói “Đội ngũ” là một nhóm người, được tổ chức và tập hợp thành lực lượng, có cùng chức năng nghề nghiệp, có cùng chung mục đích và hướng tới một mục đích đó.
Các khái niệm về đội ngũ tuy có khác nhau đôi chút nhưng đều giống nhau, đều thống nhất với nhau ở chỗ, đội ngũ là một nhóm người được tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng; họ có thể cùng hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung lý tưởng, cùng chung mục đích và gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần.
- Nghiên cứu khoa học: Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Khoa học được hiểu một cách đơn giản đó là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện đó, phát hiện ra những mối liên hệ của các hiện tượng, sự kiện nhằm vũ trang cho con người những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con người áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống.
Theo Vũ Cao Đàm: “NCKH nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng; phát hiện quy luật vận động của sự vật, hiện tượng; vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng”.
Theo Nguyễn Văn Lê: “NCKH là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo ra các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng”.
Nói một cách khái quát nhất thì Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm Nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên, xã hội và để sáng tạo phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nhằm áp dụng vào cuộc sống của con người. Con người muốn làm Nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu cụ thể và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp tư duy và làm việc từ lúc ngồi trên ghế nhà trường.
- Cán bộ nghiên cứu khoa học:
Cán bộ Nghiên cứu khoa học là người thực hiện công việc nghiên cứu khoa học, mà ở đây là những cán bộ chuyên nghiệp có trình độ (học vị) cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, có học hàm phó giáo sư, giáo sư, hoặc một số người có thể không có văn bằng chính thức, song họ cũng làm các công việc tương đương như nhà nghiên cứu/ nhà khoa học, tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quy trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.
- Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học:
Đội ngũ cán bộ Nghiên cứu khoa học là một nhóm người đều có trình độ chuyên môn được tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện công việc Nghiên cứu khoa học.
1.2.2. Đặc điểm của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học: Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
- Người cán bộ Nghiên cứu khoa học là người có trình độ chuyên môn hóa.
- Có kỹ năng sử dụng máy móc, thiết bị kỹ thuật để công việc được tiến triển nhanh hơn, kết quả chính xác hơn.
- Có phương pháp làm việc khoa học.
- Khả năng nghiên cứu và phương pháp tư duy khoa học.
- Khả năng nhìn nhận và đánh giá vấn để nghiên cứu.
- Khả năng thu thập và phân tích, xử lý số liệu: thu thập số liệu bằng phương tiện gì, cách thu thập, phân tích, lựa chọn và sàng lọc dữ liệu, biết sử dụng các công cụ hiện có để xử lý các dữ liệu đó.
- Có kế hoạch làm việc khoa học, tiết kiệm thời gian và kinh tế.
- Khả năng trình bày vấn đề khoa học.
- Có sự say mê Nghiên cứu khoa học.
- Nhạy bén với những vấn đề nghiên cứu.
- Kiên trì nghiên cứu.
- Cẩn thận, tỉ mỉ trong quá trình nghiên cứu.
- Trung thực với kết quả.
1.2.3. Khái niệm về đội ngũ giảng viên
- Giảng viên:
Điều 54 chương VIII của Luật giáo dục đại học (Luật số: 08/2022/QH13) xác định giảng viên như sau:
Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục (Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sĩ). Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
- Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng , giảng viên , giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư.
- Trình độ chuẩn của ch ức danh giảng vi ên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên. Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định.
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, quy định việc bồi dưỡng, sử dụng giảng viên.
Điều 55 chương VIII của Luật giáo dục đại học (Luật số: 08/2022/QH13) quy định nhiệm vụ và quyền của giảng viên như sau:
- Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo.
- Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa h ọc và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo.
- Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy.
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên.
- Tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học.
- Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo dục đại học, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác.
- Được ký hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật.
- Được bổ nhiệm chức danh của giảng viên , được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
- Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật.
Đội ngũ giảng viên:
Mỗi giảng viên không chỉ hoạt động nghề nghiệp với tư cách là cá nhân riêng lẻ, mà họ còn là thành viên trong tập thể các nhà giáo, là lực lượng cấu thành lên đội ngũ giảng viên. “Đội ngũ giảng viên” Là tập hợp những người làm nghề học thuật được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện mục tiêu giáo dục của một cơ sở giáo dục đại học. Họ làm việc có kế hoạch, có sự chuẩn bị và gắn bó với nhau thông qua lợi ích vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của đơn vị, của pháp luật, thể chế xã hội. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
1.2.4. Đặc điểm của đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên không phải là một tập hợp các cá nhân rời rạc, càng không phải là phép cộng đơn thuần, cơ học những giảng viên, mà bên cạnh tính độc lập của từng chủ thể còn có mối quan hệ biện chứng, ràng buộc, tác động qua lại với nhau tạo nên tính thống nhất của cả lực lượng đông đảo các giảng viên.
Đội ngũ giảng viên là lực lượng tham gia giảng dạy trực tiếp ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân, thông qua hai cấp đào tạo đại học và sau đại học nên đội ngũ giảng viên cũng mang đậm bản sắc của nhà sư phạm.
Đội ngũ giảng viên có cơ cấu đa dạng, không đồng nhất về chức danh, chuyên môn, trình độ đào tạo, độ tuổi, giới tính… Vì vậy, việc đảm bảo tính đồng thuận, thống nhất trong toàn bộ đội ngũ là vấn đề không đơn giản.
Hoạt động lao động sáng tạo của đội ngũ giảng viên có đối tượng là sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh.
Sản phẩm của hoạt động lao động của đội ngũ giảng viên không phải là các vật thể dễ dàng kiểm định mà là nhân cách, năng lực, phẩm chất, trí tuệ, phương pháp tư duy của sinh viên, là sản phẩm không đo đếm được nhưng có giá trị ảnh hưởng đến nguồn nhân lực, đến giá trị phát triển của xã hội, đó chính là con người.
Chất lượng của đội ngũ giảng viên được xem xét và thông qua ba khía cạnh cơ bản là chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; năng lực và hiệu quả hoạt động khoa học; chất lượng các dịch vụ xã hội.
Như vậy “Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học” và “Đội ngũ giảng viên” có những đặc điểm chung và đặc điểm riêng tương đối rõ nét. Đặc điểm chung lớn nhất đó là đều cần có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực nghiên cứu hay giảng dạy của mình. Điểm khác biệt về cơ bản đó là khả năng giảng dạy, hay nói cách khác là khả năng truyền thụ lại kiến thức cho đối tượng khác. Hoạt động thường xuyên của các nhà khoa học là trao đổi khoa học, của giảng viên là giảng dạy.
Tuy nhiên với sự phát triển vượt bậc của tri thức, giáo dục không theo quy trình thông tường “thầy giảng trò nghe” mà đã trở thành việc “trao đổi” hai chiều giữa thầy giáo và học trò. Như vậy sẽ tiến đến gần như hoạt động của các nhà khoa học, đó là “trao đổi”. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
1.2.5. Vai trò của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học tham gia đào tạo sau đại học.
Ngày nay, KH&CN đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh ở doanh nghiệp, quốc gia và quốc tế. Việc đổi mới công tác giáo dục đào kết hợp chặt chẽ với Nghiên cứu khoa học là một xu thế tất yếu, một giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo và Nghiên cứu khoa học. Hiện nay, các trường đại học ngoài nhiệm vụ đào tạo còn phải có nhiệm vụ nghiên cứu, hai nhiệm vụ đó đều quan trọng như nhau. Đây là hai hoạt động có mối quan hệ hữu cơ, liên quan mật thiết đến nhau, là hoạt động mang tính cơ bản chiến lược của nhà trường. Trong đó, giảng viên nhà trường cần tích cực tham gia các hoạt động Nghiên cứu khoa học. Đó gần như là một trong những biện pháp quan trọng – bắt buộc – cần thiết nhằm hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng khắt khe của xã hội về nguồn nhân lực cao.
Tại các trường đại học, vấn đề nâng cao chất lượng dạy và học là những yếu tố quan trọng, có sự tác động lớn đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Để đánh giá khả năng lao động chuyên môn, tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn của giảng viên tại trường đại học, nhất thiết phải kết hợp tốt hoạt động Nghiên cứu khoa học của giảng viên với hoạt động giảng dạy. Chúng ta đều nhận thức được rằng, Nghiên cứu khoa học đặc biệt quan trọng trong giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng. Trong công tác đào tạo tại các trường đại học ở nước ta hiện nay, Nghiên cứu khoa học được xem là một “mắt xích” quan trọng không thể thiếu được trong việc góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo điều kiện cho giảng viên tìm ra phương pháp giảng dạy có hiệu quả nhất, đưa đến những giá trị hiện thực trong đào tạo tiến sát theo sự phát triển của xã hội, đáp ứng yêu cầu về nguồn lao động của xã hội. Nhiều trường đại học ở Việt Nam vẫn còn “đào tạo chay”, sinh viên không được làm quen với Nghiên cứu khoa học, cho nên chất lượng và hiệu quả đào tạo có nhiều mặt hạn chế; trong khi các trường đại học trên thế giới đã gắn liền việc đào tạo với Nghiên cứu khoa học.
Theo xu thế phát triển của tương lai, chúng ta cần phát triển mô hình đại học nghiên cứu, theo GS.TSKH Trương Quang Học (Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội) trong việc hướng tới xây dựng mô hình Đại học nghiên cứu ở Việt Nam đã nói “Chúng ta cần từng bước đổi mới công tác đào tạo sau đại học. Về lâu dài phải coi công tác đào tạo sau đại học là hoạt động Nghiên cứu khoa học – đào tạo, chứ không phải chỉ đơn thuần là công tác đào tạo như hiện nay”.
Nghị quyết số 14/2015/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2016 – 2030 đề ra 6 mục tiêu cơ bản, trong đó có 2 mục tiêu: (1) Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2030, trong đó khoảng 70 – 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp – ứng dụng và khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập; (2) Xây dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; bảo đảm tỷ lệ sinh viên/ giảng viên của cả hệ thống giáo dục đại học không quá 20. Đến năm 2020 có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 25% đạt trình độ tiến sĩ; đến năm 2030 có ít nhất 60% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 35% đạt trình độ tiến sĩ.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của nền kinh tế thế giới và sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã từng bước xóa dần khoảng cách địa lý, thúc đẩy mọi mặt của đời sống. Vì vậy, việc đầu tư phát triển chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố có vai trò then chốt thúc đẩy sự phát triển bền vững và khả năng hội nhập của Việt Nam. Việc đào tạo nguồn nhân lực cần có thước đo và so sánh về chất lượng giữa các trường trong khu vực và trên thế giới là điều cần thiết. Hiện nay bảng xếp hạng The Times Higher Education Word Univesity Rankings, cùng với QS World Univesity Rankings và Academy Ranking of World Univesity được đánh giá là ba bảng xếp hạng các trường đại học có uy tín nhất trên thế giới. Xếp hạng học thuật các trường đại học thế giới (Academy Ranking of World Univesity) dựa trên số lượng bài báo khoa học phát hành bởi các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới như “Nature” hoặc “science” và số lượng người đoạt giải Nobel và Fields.
- Bảng 1: Bộ chỉ số tiêu chuẩn Hệ thống xếp hạng Academy Ranking of World Univesity (ARWU)
- Bảng 2: Bộ chỉ số tiêu chuân Hệ thống xếp hạng Times Higher Education World University Rankings
Bảng xếp hạng QS Asian University Rankings cũng sử dụng một phần tiêu chuẩn của bảng xếp hạng World University Rankings. Nói chung tại các bảng xếp hạng các trường của thế giới đều chú trọng vào nghiên cứu khoa học, các bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là một cơ quan nghiên cứu hàng đầu của cả nước về lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, có đội ngũ đông đảo các giáo sư, phó giáo sư có trình độ chuyên môn cao, là cái nôi trao đổi và nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế, mỗi năm có hàng trăm các bài báo đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước.
- Bảng 3. Tổng hợp số lượng các công bố và phát minh, sáng chế năm 2026.
- Bảng 4: Tổng hợp các đề tài, dự án Khoa học và Công nghệ thực hiện năm 2026
Học viện Khoa học và Công nghệ được thành lập nằm trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là một mô hình đáp ứng được xu thế phát triển trong đào tạo của thế giới. Học viện sẽ sử dụng và phát huy toàn bộ thế mạnh về nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đội ngũ cán bộ Nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tham gia đào tạo, trở thành đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ là một xu thế tất yếu trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội trong lĩnh vực tự nhiên và công nghệ, thực hiện đúng tư tưởng của “Vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” đã được thể hiện trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (tháng 11/2023) và văn kiện Đại hội Đảng khóa XII.
1.3. Những vấn đề lý luận Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
1.3.1. Phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. Đây là hoạt động để người lãnh đạo tập hợp sức mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Nói về điều này, Các-Mác từng viết: “Một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [49, tr.30]. Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận quản lý, khái niệm về quản lý được nhiều nhà lý luận cũng như thực hành quản lý đưa ra: Ư.Taylor – người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. A.Fayon – nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp, khi áp dụng lý thuyết vào thực tiễn quản lý một xí nghiệp thì nói: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn nhân lực (nhân, tài, vật lực) của nó”. Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm mục tiêu đề ra” [10, tr40].
Như vậy, tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, song bản chất của khái niệm quản lý có thể hiểu là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới.
Quản lý phát triển nhân lực là quá trình phát triển công tác quản lý nhân lực sao cho tổ chức hay hệ thống đạt tới một trình độ mới về chất, trong đó nhân lực của tổ chức có đủ năng lực và điều kiện đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ mới ở mức độ cao hơn. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Quản lý phát triển nhân lực có thể được coi là một lĩnh vực của lý thuyết “Phát triển nguồn nhân lực”. Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực, sử dụng những tiềm năng con người và tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển. Do đó, phát triển nhân lực gắn liền với giáo dục và đào tạo, sử dụng và tạo môi trường thuận lợi cho nhân lực phát triển. Các yếu tố này xâm nhập vào nhau và phụ thuộc lẫn nhau, song giáo dục là cơ sở cho tất cả những yếu tố khác, là nhân tố thiết yếu để tuyển chọn, bố trí và sử dụng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện lao động, để duy trì sự đáp ứng yêu cầu về kinh tế và xã hội.
Quản lý giáo dục theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [12, tr.30]. Còn theo Đỗ Hoàng Toàn thì: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính,… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [18, tr.29].
Từ những quan điểm trên, ta thấy bản chất của hoạt động quản lý giáo dục là quản lý hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo các quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn.
Nguồn lực trong giáo dục vừa là mục tiêu, nội dung và động lực của quản lý và phát triển trong giáo dục. Nguồn nhân lực trong giáo dục đó chính là yếu tố con người: Đội ngũ nhà giáo và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Vai trò của nhà giáo là “người định hướng, dẫn dắt sự phát triển của học trò”. Chính vì vậy trong văn bản Luật giáo dục đã khẳng định: “Đội ngũ nhà giáo có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục…”.
Việc quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục có một số đặc điểm sau:
- Nguồn nhân lực trong giáo dục đa dạng với nhiều trình độ đào tạo và đặc thù lao động khác nhau.
- Nguồn nhân lực trong giáo dục phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa và xã hội hóa và hội nhập quốc tế.
- Nhiều cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục.
- Quản lý nguồn nhân lực là công việc thường xuyên kết hợp hài hòa lợi ích của các thành viên và tập thể.
Dựa trên những đặc điểm đó để xây dựng nguyên tắc trong quản lý nguồn nhân lực:
- Đảm bảo tính thống nhất mục tiêu.
- Đảm bảo tính khoa học trong quản lý nguồn nhân lực.
- Quản lý nguồn nhân lực đảm bảo tính hiệu quả.
Ngoài những nguyên tắc trên, quá trình quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục cần chú ý đến các khía cạnh khác bao gồm sự kế thừa, tính liên tục không bị đứt đoạn của quá trình và tính trọng người “thực tài” cũng như tính chuyên nghiệp trong xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Tổng hòa trong việc thực hiện các nguyên tắc quản lý sẽ là cơ sở vững chắc cho việc phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách bền vững.
Vì vậy, quản lý phát triển nhân lực trong giáo dục vừa mang tính chất khoa học vừa mang tính nghệ thuật nhằm điều hành và điều chỉnh được mọi thành viên của cơ sở giáo dục hoàn thành tốt các nhiệm vụ và đạt các mục tiêu giáo dục đã đề ra. Quá trình quản lý phát triển nhân lực bao gồm sáu hoạt động: kế hoạch hóa nhân lực của cơ sở giáo dục, tuyển chọn, sử dụng, đánh giá, đào tạo – bồi dưỡng và chế độ chính sách đãi ngộ. Trong khuôn khổ của đề tài này, vấn đề về phát triển nhân lực trong giáo dục muốn đề cập đến là phát triển đội ngũ giảng viên. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
1.3.2. Phát triển đội ngũ giảng viên.
- Khái niệm phát triển
Theo Từ điển tiếng Việt “Phát triển” là “mở mang tiến triển thêm lên”. Phát triển là “sự vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên”. Theo David C Kortan: “Phát triển là một tiến trình, qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ” [18, tr.119]
Nét đặc trưng của phát triển là hình thức xoáy trôn ốc và theo các chu kỳ, việc hoàn thành một chu kỳ lại là cố hữu, là nền tảng cho một chu kỳ mới trong đó có sự lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ trước đó.
Như vậy có thể nói rằng mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội có sự gia tăng về lượng, biến đổi về chất, làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên trong mối quan hệ bổ sung cho nhau tạo nên giá trị mới trong một thể thống nhất đều có thể coi là phát triển.
- Khái niệm phát triển đội ngũ giảng viên.
Đội ngũ giảng viên là nguồn nhân lực cơ bản của cơ sở đại học, phát triển đội ngũ giảng viên chính là phát triển nguồn nhân lực trong cơ sở đại học. Tuỳ theo mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của nhà trường, cơ sở đào tạo mà phát triển đội ngũ giảng viên có thể quy lại thành 3 nhóm cơ bản: Phát triển Đội ngũ giảng viên lấy cá nhân GV làm trọng tâm; Phát triển Đội ngũ giảng viên lấy mục tiêu phát triển nhà trường làm trọng tâm; Phát triển Đội ngũ giảng viên trên cơ sở kết hợp hài hòa nhu cầu, lợi ích của GV và mục tiêu chung của nhà trường. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
- Quan điểm phát triển Đội ngũ giảng viên lấy cá nhân giảng viên làm trọng tâm:
Từ nhận thức cho rằng GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo đã hình thành nên quan điểm coi cá nhân GV là trọng tâm của công tác phát triển Đội ngũ giảng viên các cơ sở giáo dục đạo học. Lấy việc phát triển cá nhân người giảng viên làm trọng tâm đó là việc tạo ra sự chuyển biến tích cực của các giảng viên trên cơ sở nhu cầu mà họ đặt ra. Điều đó nhằm khuyến khích tài năng, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ và như vậy là thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ. Điểm hạn chất của quan điểm này là chỉ chú trọng phát triển cá nhân GV mà chưa quan tâm đến mục tiêu phát triển của nhà trường.
- Quan điểm phát triển Đội ngũ giảng viên lấy mục tiêu phát triển nhà trường làm trọng tâm:
Theo quan điểm này, phát triển Đội ngũ giảng viên là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tiềm lực của nhà trường, được coi như một tác động vào nội dung hoạt động nhằm thay đổi hiện trạng của nhà trường để đạt được các mục tiêu đề ra. Mục tiêu phát triển của nhà trường được xem là cơ sở cốt lõi cho việc xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển Đội ngũ giảng viên. Lấy phát triển nhà trường làm trọng tâm, thì rõ ràng mục tiêu của nhà trường là cơ sở cho việc phát triển đội ngũ giảng viên. Điều này thường tạo ra suy nghĩ cho rằng: Phát triển đội ngũ giảng viên là công việc của nhà trường, là việc thực hiện mục tiêu của nhà trường với tư cách là thực hiện một nhiệm vụ do cấp trên (lãnh đạo nhà trường) giao cho mà người giảng viên phải thực hiện chứ không phải là nhu cầu của giảng viên. Do đó, đã tạo ra một sức ỳ đáng kể, hạn chế sự tích cực, sáng tạo của đội ngũ giảng viên, dẫn tới hiệu quả công tác phát triển đội ngũ giảng viên thường là thấp. Bên cạnh đó việc quan tâm chủ yếu đến mục tiêu phát triển nhà trường mà ít chú ý đến nguyện vọng của mỗi cá nhân GV nên chủ tạo được động lực bên ngoài mà chưa tạo được động lực bên trong để thúc đẩy GV phấn đấu hoàn thiện hơn.
- Quan điểm phát triển Đội ngũ giảng viên trên cơ sở kết hợp hài hòa nhu câu, lợi ích của giảng viên là mục tiêu chung của nhà trường.
Theo quan điểm này, phát triển Đội ngũ giảng viên được xem như một quá trình mà trong đó các nhu cầu, lợi ích và mục tiêu của nhà trường và giảng viên đồng thời được chú trọng thích hợp; nhu cầu của cả hai phía đều được cân nhắc, được hòa hợp cân bằng nhau đảm bảo cho việc phát triển Đội ngũ giảng viên và phát triển nhà trường đều đạt hiệu quả cao. Đây là quan điểm mang tính hợp tác, và để đạt được điều đó cần phải có sự đánh giá kỹ lưỡng để đảm bảo cân bằng các nhu cầu, mong muốn, tiềm năng của mỗi cá nhân giảng viên với sự phát triển của nhà trường trong hiện tại và tương lai. Kế hoạch và chiến lược phát triển Đội ngũ giảng viên phải được xây dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá một cách đầy đủ nhu cầu, mục tiêu hiện tại và phát triển trong tương lai của nhà trường. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Như vậy, mỗi quan điểm đều có những điểm tích cực, điểm hạn chế riêng. Vấn đề đặt ra là mỗi nhà trường cần xem xét vận dụng trên cơ sở thực trạng của tổ chức để có bước đi thích hợp, sao cho đội ngũ giảng viên khi tiếp cận nhu cầu nhà trường đều thấy có nhu cầu của mình trong đó, tạo cho họ sự hứng thú, say mê và yên tâm với nghề nghiệp.
- Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên.
- Phát triển đội ngũ giảng viên theo phương diện truyền thống:
Theo phương diện truyền thống, nội dung phát triển Đội ngũ giảng viên được quy tụ vào ba vấn đề chính là số lượng, chất lượng và cơ cấu. Do vậy các trường đại học cần tập trung và đảm bảo cho Đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng giảng dạy và Nghiên cứu khoa học vững vàng, thái độ nghề nghiệp tốt để đủ khả năng thực hiện có chất lượng mục tiêu, kế hoạch giáo dục của cơ sở đào tạo.
Theo tác giả Đặng Bá Lãm [19, tr.14], phát triển Đội ngũ giảng viên là sự tăng trưởng về mặt số lượng, chất lượng Đội ngũ giảng viên. Đây chính là quá trình chuẩn bị lực lượng để giảng viên có thể theo kịp sự thay đổi và chuyển biến của giáo dục.
Phát triển Đội ngũ giảng viên bao gồm cả tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp. Phát triển Đội ngũ giảng viên tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và sử dụng có hiệu quả Đội ngũ giảng viên.
Phát triển Đội ngũ giảng viên còn chính là việc xây dựng Đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có chất lượng để thực hiện tốt mục tiêu, nội dung và kế hoạch đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục. Đồng thời, xây dựng một tập thể sư phạm, trong đó mỗi cá nhân có tinh thần trách nhiệm, gắn bó với nhà trường, tham gia tích cực, sáng tạo vào trong quá trình giảng dạy và học tập. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
- Phát triển đội ngũ giảng viên theo cách tiếp cận quản lý nguồn nhân lực:
Phát triển Đội ngũ giảng viên theo tiếp cận nguồn nhân lực bao gồm các bước như lập quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên( Quy hoạch về số lượng; quy hoạch về cơ cấu; quy hoạch về chất lượng); Tuyển chọn giảng viên; Sử dụng giảng viên theo năng lực; Đào tạo, bồi dưỡng phát triển giảng viên; Đánh giá giảng viên theo năng lực; Đãi ngộ giảng viên theo năng lực.
Tóm lại, phát triển đội ngũ giảng viên là phạm trù chỉ sự tăng tiến, chuyển biến theo chiều hướng tích cực của đội ngũ giảng viên trong việc hoàn thành mục tiêu giáo dục – đào tạo của trường đại học. Phát triển đội ngũ giảng viên là quá trình chuẩn bị lực lượng nhằm đáp ứng sự phát triển của trường đại học. Trong quá trình chuẩn bị lực lượng phải chú ý toàn diện các yếu tố về số lượng, về cơ cấu, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ, trách nhiệm của mỗi giảng viên đối với cơ sở đào tạo. Để đạt được điều đó, phát triển đội ngũ giảng viên phải gắn liền với việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng và tạo môi trường sư phạm. Sự quan tâm chăm lo đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trong các nhà trường là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển toàn diện của nhà trường. Menger cho rằng việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên phải “Nhằm mục đích tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người giảng viên trong hoạt động nghề nghiệp”. Còn theo Webb: “Phát triển đội ngũ giảng viên phải mang tính đón đầu chứ không phải phản ứng nhất thời. Những thiếu sót trong khâu đào tạo nghiệp vụ, các yêu cầu cần cập nhật kỹ năng cần thiết không phải là nguyên nhân căn bản dẫn đến phát triển đội ngũ giảng viên”.
- Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trong nhà trường phải nhằm vào những mục tiêu cơ bản là:
Chăm lo xây dựng đội ngũ để có đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu loại hình, vững vàng về trình độ có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tuỵ với nghề, đảm bảo chất lượng về mọi mặt để đội ngũ giảng viên thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất chương trình, kế hoạch đào tạo và những mục tiêu chung của nhà trường.
Phải làm cho đội ngũ giảng viên luôn có đủ điều kiện, có khả năng sáng tạo trong việc thực hiện tốt nhất những mục tiêu của nhà trường đồng thời tìm thấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu phát triển của tổ chức, phát triển đội ngũ giảng viên phải tạo ra sự gắn bó kết hợp mật thiết giữa công tác quy hoạch, kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
Phát triển đội ngũ giảng viên là bao gồm sự phát triển toàn diện của người giảng viên, nhà giáo giảng dạy đại học với tư cách là con người, là thành viên trong cộng đồng nhà trường, là nhà chuyên môn, nhà khoa học trong hoạt động sư phạm về giáo dục.
Xây dựng phát triển đội ngũ là phải làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng được kế hoạch tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên liên tục.
Kết quả của công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên không những chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho các nhà giáo mà còn cần phải quan tâm đến những nhu cầu thăng tiến, những quyền lợi thiết thực để thực sự làm cho người giảng viên gắn bó trung thành và tận tuỵ với “Sự nghiệp trồng người”.
Thuật ngữ “Phát triển đội ngũ giảng viên” được hiểu là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và phát triển nghề nghiệp của họ. Nếu như phạm vi bồi dưỡng bao gồm những gì mà người giảng viên cần phải biết, phạm vi phát triển nghề nghiệp đội ngũ giảng viên bao gồm những gì họ nên biết, thì phát triển đội ngũ giảng viên là bao quát tất cả những gì mà người giảng viên có thể trau dồi phát triển để đạt các mục tiêu cơ bản cho bản thân, cho nhà trường. Đó là con đường để người giảng viên phát triển toàn diện nội lực của bản thân để hài hoà phù hợp với thoả đáng trong sự phát triển chung của nhà trường.
Sự phát triển kinh tế – xã hội đang tạo ra nhiều đòi hỏi đối với giảng viên, việc phát triển và nâng cao trình độ giáo viên là nhu cầu cấp bách, đặc biệt đối với giảng viên đào tạo sau đại học. Đào tạo sau đại học là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, việc đào tạo không phải chỉ đơn giản là đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn mà là việc phát huy năng lực người học, hướng người học đến những nội dung vĩ mô và sâu sắc hơn, có kiến giải và lý luận để bảo vệ luận điểm khoa học. Đào tạo sau đại học không chỉ là việc “dạy” của thầy sang trò, mà là mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau, trong đó thầy vừa là thầy còn là bạn, là đồng nghiệp, là đàn anh trong lĩnh vực chuyên môn chung. Vì vậy việc đào tạo sau đại học chú trọng đến chuyên môn rất cao, và phù hợp với hình thức đào tạo này đó là các đơn vị nghiên cứu có chức năng đào tạo. Đội ngũ cán bộ khoa học có đủ trình độ theo yêu cầu của Bộ Giáo dục, có đủ môi trường để đáp ứng và thúc đẩy học viên có thể phát huy hết sức kĩ năng chuyên môn của mình, có phòng thí nghiệm để thực hành, có môi trường trao đổi chuyên môn trong và ngoài nước….Tất cả những cái đó là thế mạnh của việc phát huy việc tham gia của cán bộ khoa học trong đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học.
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
1.4.1. Yếu tố chủ quan
- Uy tín của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan đầu ngành của cả nước về nghiên cứu khoa học tự nhiên và công nghệ, đây là nơi tập trung nhiều các nhà khoa học nổi tiếng của cả nước về lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ. Học viện được thành lập trong chiếc nôi có nhiều nhà khoa học vì vậy sẽ có nhiều thuận lợi trong việc tuyển chọn các nhà khoa học tham gia đào tạo ở Học viện, trở thành giảng viên của Học viện.
- Môi trường tự do và thân thiện.
Việc kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo, đào tạo trong nghiên cứu là một môi trường mềm mại và thân thiện hơn. Môi trường sư phạm sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với việc huy động các nhà khoa học tham gia đào tạo tại Học viện. Việc xây dựng một môi trường tự do, thân thiện, mọi người quan tâm tìm ra những phương pháp nhằm trao đổi kỹ năng sư phạm, khả năng truyền đạt giữa thầy và trò sẽ có tác dụng thúc đẩy đội ngũ giảng viên nâng cao trình độ sư phạm cho bản thân.
- Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục.
Để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tạo môi trường giáo dục tốt, Cán bộ quản lý giáo dục Học viện là những người đầu đàn, nòng cốt trong các hoạt động, nắm chắc và hiểu sâu sắc điều kiện đặc thù của Học viện, mục tiêu, chương trình, nội dung giảng dạy, đổi mới phương pháp giáo dục, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động giáo dục có hiệu quả, là trung tâm của sự đoàn kết, thu hút Đội ngũ giảng viên, được các nhà khoa học đánh giá cao.
Ban Giám đốc Học viện là các nhà quản lý tâm huyết, có trình độ cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn quan tâm đến sự phát triển nhà trường, luôn tìm các biện pháp xây dựng tập thể Học viện đoàn kết, đặc biệt luôn chú trọng đến việc huy động các nhà khoa học tham gia đào tạo sau đại học tại Học viện, trở thành đội ngũ giảng viên ở Học viện.
- Bộ máy quản lý.
Tại Học viện, bộ máy quản lý được phân công tránh nhiệm rõ ràng tới các bộ phân, phòng, khoa, viện nghiên cứu…không có sự chồng chéo trong quản lý. Vì vậy việc xây dựng bộ máy quản lý phù hợp với tính đặc thù là đào tạo trong các viện nghiên cứu sẽ có vai trò trong việc ổn định và phát triển đội ngũ khoa học tham gia đào tạo tại Học viện Khoa học và Công nghệ.
1.4.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
- Các cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đối với các nhà khoa học tham gia đào tạo thì vấn đề quan trọng nhất ảnh hưởng đối với họ là cơ chế quản lý hành chính. Khi các nhà khoa học tham gia nhiều đề tài khác nhau, trước đây là ký hợp đồng chuyên môn và trả sản phẩm nghiên cứu, ngày nay tính theo ngày công, vì vậy đa phần các nhà khoa học gần như hết ngày công để tham gia thực hiện đề tài, ngày công dành cho đào tạo được rất ít.
Cơ chế quản lý nặng về hành chính với các thủ tục giấy tờ đan xen khiến cho các nhà khoa học mất nhiều thời gian để trong quá trình giảng dạy. Với điều kiện phải yêu cầu giảng viên cơ hữu, biệt phái thời gian ngắn giảng dạy tại cơ sở đào tạo cũng gây rất nhiều khó khăn cho các nhà khoa học muốn tham gia vào đào tạo.
Các văn bản giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Giáo dục và Đào tạo còn có một số nội dung chồng chéo, thiếu kịp thời nên chưa huy động được tối đa việc tham gia của các nhà khoa học vào hoạt động đào tạo.
- Sự phát triển của công nghệ trong thời đại 0
Cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4 được mở đường bằng những đột phá khoa học vào thế giới vi mô và khám phá ra những quy luật mới của thế giới này, từ đó hình thành những công nghệ mới như công nghệ na-nô, in 3D, công nghệ sinh học phân tử, công nghệ di truyền, công nghệ của trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật… Do đó, để có được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thị trường, các trường cần giảng dạy những kiến thức tích hợp giữa nhiều kiến thức, đồng thời rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, tự học, biết cách tìm hiểu và tra cứu tài liệu, biết cách xử lý thông tin để trở thành tri thức của mình. Việc áp dụng các mô hình như phòng học ảo, thầy giáo ảo, thiết bị ảo, phòng thí nghiệm, thư viện ảo… dưới sự hỗ trợ của các thiết bị thông minh; tạo điều kiện và yêu cầu học viên phải tham gia các nhóm nghiên cứu, và các đề tài này phải gắn liền với giải quyết một vấn đề cụ thể trong chuyên môn, hoặc hoặc trong đời sống kinh tế, xã hội…
Điều này đã dẫn đến việc nâng cao kiến thức, luôn cập nhận để bổ sung trình độ là yêu cầu đối với việc phát triển đội ngũ giảng viên. Việc phát triển ĐNGV phải đảm bảo cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu, luôn được quan tâm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
- Trình độ nhận thức của đội ngũ giảng viên.
Trình độ nhận thức của giảng viên góp phần lớn trong việc việc phát triển Đội ngũ giảng viên. Phát huy năng lực thế mạnh của GV trong giảng dạy, giáo dục và các hoạt động sẽ tạo điều kiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đồng thời góp phần quan trọng trong công tác phát triển Đội ngũ giảng viên.
Kết luận Chương 1
Những trường đại học cổ xưa nhất của thế giới đã có cách đây cả gần thiên niên kỷ, nhưng chức năng nghiên cứu chỉ mới được những người Đức gắn cho các tổ chức này cách đây hơn hai thế kỷ. Kể từ đó đến nay, ý tưởng gắn nhiệm vụ nghiên cứu vào các trường đại học đã phát triển ra khắp các châu lục trên thế giới. Ngày nay, ở các nước phát triển đều có các trường đại học nghiên cứu. Nhiều nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ cũng đều có tham vọng xây dựng những đại học nghiên cứu tầm cỡ quốc tế.
Trên cơ sở đó, việc hình thành một học viện trong viện hàn lâm khoa học là mô hình lý tưởng cho việc nghiên cứu kết hợp với giảng dạy, giảng dạy trong môi trường nghiên cứu. Vì vậy việc phát triển lực lượng nòng cốt làm nên chất lượng đào tạo của nhà trường đó chính là phát triển lực lượng giảng viên. Việc lồng ghép, phát huy những tìm tòi sáng tạo trong Nghiên cứu khoa học, với việc trau dồi khả năng giảng dạy, truyền thụ để tạo môi trường tốt nhất cho cán bộ Nghiên cứu khoa học tham gia vào đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học là một vấn đề phải được phát huy và mở rộng. Hoạt động phát triển đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ đào tạo sau đại học cũng chính là hoạt động phát triển Đội ngũ giảng viên, vì vậy cũng cần quán triệt các nội dung quan điểm từ phương diện truyển thống đến phát triển Đội ngũ giảng viên theo tiếp cận quản lý nguồn nhân lực. Đảm bảo phát triển cân đối, hài hòa về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên. Luận văn: Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học

Pingback: Luận văn: Biện pháp đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học