Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác phát triển Đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo ở Học viện KHCN dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được thành lập từ năm 1975, là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ và có 51 đơn vị trực thuộc trong đó có 34 đơn vị sự nghiệp Nghiên cứu khoa học.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan đầu ngành về nghiên cứu khoa học tự nhiên và công nghệ, tại các viện nghiên cứu của Viện Hàn lâm có nhiều Phòng thí nghiệm được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt có 4 phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia (PTNTĐ) về Công nghệ Gen; Công nghệ mạng; Vật liệu và linh kiện điện tử; Công nghệ tế bào thực vật.

Tính đến tháng 11/2026, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có tổng số trên 4000 cán bộ, viên chức, trong đó có 2425 cán bộ biên chế; 48 giáo sư, 170 phó giáo sư, 32 tiến sĩ khoa học, 808 tiến sĩ, 905 thạc sĩ và 595 cán bộ, viên chức có trình độ đại học.

2.1.2. Học viện Khoa học và Công nghệ. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

Học viện Khoa học và Công nghệ là cơ sở giáo dục công lập, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; có chức năng đào tạo và cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ về các chuyên ngành khoa học tự nhiên và công nghệ;

Cơ cấu tổ chức của Học viện gồm:

  • Giám đốc Học viện và các Phó Giám đốc Học viện
  • Hội đồng Khoa học và Đào tạo
  • Các đơn vị chức năng:
  • Phòng Tổ chức – Hành chính;
  • Phòng Kế toán;
  • Phòng Đào tạo;
  • Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế;
  • Phòng Công tác học viên.

Các Khoa và Bộ môn:

  • Khoa Toán học
  • Khoa Vật lý
  • Khoa Hoá học
  • Khoa Cơ học và Tự động hóa
  • Khoa Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
  • Khoa Địa lý
  • Khoa Các khoa học trái đất
  • Khoa Khoa học và Công nghệ biển
  • Khoa Khoa học vật liệu và Năng lượng
  • Khoa Công nghệ thông tin và Viễn thông
  • Khoa Công nghệ sinh học
  • Khoa Công nghệ môi trường. Các Bộ môn:
  • Bộ môn Lý luận chính trị
  • Bộ môn Ngoại ngữ
  • Bộ môn Tin học.

Tổ chức phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học:

  • Thư viện.

Cơ sở của Học viện:

  • Cơ sở của Học viện tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Cơ sở của Học viện tại Thành phố Nha

Đội ngũ giảng viên: Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

Đội ngũ giảng viên của Học viện gồm 711 giảng viên là cán bộ nghiên cứu của các đơn vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trong đó có 48 giáo sư, 187 phó giáo sư và 476 tiến sĩ (tính đến tháng 6/2027).

Hình 1. Cơ cấu đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ

  • Cơ sở vật chất
  • Thư viện

Ngoài hệ thống thư viện xây dựng tại Học viện Khoa học và Công nghệ và các viện nghiên cứu chuyên ngành, người học (học viên cao học, NCS và chủ nhiệm đề tài/ nhiệm vụ sau tiến sĩ…) được truy cập vào hệ thống cơ sở dữ liệu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, bao gồm Thư viện tổng hợp tại Trung tâm Thông tin tư liệu với số lượng bản in chuyên ngành KH&CN gồm gần 10 nghìn tạp chí và trên 20 nghìn đầu sách, được cung cấp quyền truy cập vào thư viện số của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (http://elib.isivast./), qua đó học viên sẽ được nghiên cứu và sử dụng các dịch vụ của các nguồn cơ sở dữ liệu trực tuyến như: Science Direct’, Springer Link, IOP, APS, ACS, AIP, Proquest Central…

Hình 2. Phòng tạp chí trong hệ thống thư viện tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Hệ thống các phòng thí nghiệm

Học viên được sử dụng hệ thống trang thiết bị của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với hàng trăm phòng thí nghiệm, trong đó có 4 phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về Công nghệ Gen; Công nghệ mạng; Vật liệu và linh kiện điện tử; Công nghệ tế bào thực vật, cùng nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu của 35 viện nghiên cứu chuyên ngành, hoàn toàn đáp ứng yêu cầu Nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

  • Hoạt động đào tạo
  • Đào tạo trình độ thạc sĩ

Học viện Khoa học và Công nghệ có 18 mã ngành đào tạo trình độ thạc sĩ. Các mã ngành đào tạo này thuộc 6 khoa: Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Công nghệ thông tin và Viễn thông, Công nghệ sinh học.

  • Đào tạo trình độ tiến sĩ
  • Tính đến tháng 10/2027, Học viện đào tạo 53 mã ngành tiến sĩ. Chương trình sau tiến sĩ

Học viện Khoa học và Công nghệ được Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam giao tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình sau tiến sĩ (Posdoc) từ năm 2027 nhằm tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ sau tiến sĩ cho Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển theo Quy hoạch tổng thể phát triển đến năm 2030 và định hướng đến năm 2040 được thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 2133/QĐ-TTg ngày 1/12/2021).

Chương trình Posdoc xây dựng mô hình theo thông lệ quốc tế, gắn kết đào tạo nguồn nhân lực trình độ sau tiến sỹ với hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm khuyến khích, tạo động lực và đam mê nghiên cứu khoa học cho các nhà khoa học tham gia học tập và làm việc. Thông qua đó xây dựng nguồn nhân lực có kiến thức và kinh nghiệm để trở thành cán bộ nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Trong năm 2027 Học viện đã cấp kinh phí cho 34 đề tài và 7 nhiệm vụ nghiên cứu trong chương trình đào tạo sau tiến sĩ.

  • Liên kết đào tạo quốc tế

Kế thừa thế mạnh và truyền thống hợp tác quốc tế với trên 50 tổ chức khoa học công nghệ lớn trên thế giới của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Học viện tiếp tục mở rộng hợp tác về đào tạo và nghiên cứu với nhiều đối tác đào tạo ở nước ngoài như: Đại học tổng hợp kỹ thuật Kazan KNRTU (LB Nga), Đại học Công nghệ Sydney UTS (Úc), Viện Công nghệ AIT (Áo), Đại học King Mongkut (KMUTB, Thái lan), Đại học Khoa học và Công nghệ, UST (Hàn quốc). Trong thời gian tới sẽ tiếp tục ký kết văn bản hợp tác liên kết đào tạo với đại học quốc gia Pusan PNU (Hàn Quốc), Học viện sau đại học UCAS, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Viện KH và CN tiên tiến JAIST (Nhật bản).

  • Hoạt động nghiên cứu khoa học Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

Trong năm 2026 Học viện Khoa học và Công nghệ đã công bố 24 bài báo trên các tạp chí thuộc danh mục SCI, 20 bài SCI-E (bao gồm cả tạp chí Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology), 15 bài đăng trên các tạp chí trong nước, 1 sách chuyên khảo ISBN. Trong năm 2027 thực hiện 1 đề tài cấp quốc gia, 2 đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 1 đề tài hợp tác quốc tế.

  • Hoạt động quản lý đào tạo của Học viện Khoa học và Công nghệ mang tính đặc thù cao:

Thứ nhất, đặc thù về hoạt động đào tạo: Học viện Khoa học và Công nghệ chỉ đào tạo sau đại học (không đào tạo đại học), kế thừa và tiếp tục phát huy truyền thống đào tạo sau đại học của các viện chuyên ngành trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trên cơ sở thống nhất công tác đào tạo sau đại học của các cơ sở đào tạo trước đây đang hoạt động riêng lẻ về một đầu mối nhằm nâng cao sự đồng bộ, tính chuyên nghiệp và hiệu quả, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý các chương trình đào tạo, thống nhất trong kế hoạch đào tạo, tạo cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển các ngành/chuyên ngành đào tạo trong tương lai một cách hài hòa, hợp lý, tương xứng với nguồn lực.

Thứ hai, đặc thù về điều kiện đất đai và cơ sở vật chất: Mô hình hoạt động của Học viện Khoa học và Công nghệ khác biệt với một Đại học độc lập, tự chủ: ngoài trụ sở chính tại Tòa nhà Ươm tạo công nghệ , cơ sở vật chất của Học viện Khoa học và Công nghệ chính là hệ thống hội trường , phòng học, hệ thống trang thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin thư viện đặt tại 37 Viện nghiên cứu chuyên ngành, các học viên của Học viện Khoa học và Công nghệ được học tập và làm việc tại hàng trăm PTN của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hoàn toàn đáp ứng được với yêu cầu cho công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học ở trình độ cao.

Thứ ba, đặc thù về đội ngũ giảng viên: Đội ngũ giảng viên tham gia công tác giảng dạy tại Học viện Khoa học và Công nghệ chính là những cán bộ nghiên cứu đang công tác tại các viện chuyên ngành, trong đó có nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học… là các chuyên gia đầu ngành của nhiều lĩnh vực Khoa học và Công nghệ. Đây chính là những giảng viên có học hàm học vị cao, dày dạn kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học và đào tạo mà ít cơ sở đào tạo trong nước có được.

2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

2.2.1. Thực trạng về số lượng đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ là đội ngũ cán bộ Nghiên cứu khoa học trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, hoạt động chính của đội ngũ này là Nghiên cứu khoa học, tuy nhiên bên cạnh đó một hoạt động tuy không phải là chính nhưng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao về lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ cho đất nước đó là hoạt động đào tạo.

Đối với một trường đại học thông thường, số lượng giảng viên tính theo tỉ lệ của học sinh, sinh viên khoảng 20/1, yêu cầu số lượng giảng viên/mã ngành đối với Học viện Khoa học và Công nghệ thì tỉ lệ đó không đáp ứng được nhu cầu đào tạo sau đại học tại Học viện, vì giảng viên tại Học viện là giảng viên kiêm nhiệm. Số lượng giảng viên tại Học viện cần gấp đôi số lượng tương ứng tại các trường đại học.

  • Bảng 1. Thống kê đội ngũ giảng viên

Theo bảng thống kê trên một số mã còn thiếu về số lượng giảng viên theo yêu cầu. So sánh với số lượng học viên và nghiên cứu sinh đang đào tạo (162 trình độ ThS, 855 trình độ TS) cho thấy số lượng giảnh viên chỉ đáp ứng được cho hiện tại. Trong tương lai, Học viện Khoa học và Công nghệ phải xây dựng chiến lược phát triển lực lượng giảng viên để đáp ứng được nhu cầu phát triển.

2.2.2. Về cơ cấu độ tuổi giảng viên

Học viện Khoa học và Công nghệ đào tạo sau đại học về lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, đây là lĩnh vực khó có thể sớm đạt được trình độ học vị tiến sĩ, học hàm giáo sư, phó giáo sư ở độ tuối dưới 40 như các ngành khác. Có một số mã ngành như mã các khoa học trái đất hay địa lý rất khó để đạt tới học hàm giáo sư, một phần nguyên nhân do có rất ít các công trình công bố mới, bên cạnh đó các mã ngành này cũng rất ít học sinh theo học do đặc tính mang thuần nghiên cứu cơ bản.

  • Bảng 2. Thống kê đội ngũ giảng viên theo độ độ tuổi

Với thống kê như trên, giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ chủ yếu có độ tuổi trên 40 tuổi, cơ cấu già hóa là một thực trạng mà Học viện Khoa học và Công nghệ đang tìm cách khắc phục.

  • Bảng 3. Thống kê đội ngũ giảng viên theo học hàm, học vị

2.2.3. Về chất lượng đội ngũ giảng viên Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên bao gồm tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh gia đình, nhận thức của giảng viên. Ở mức độ nào đó thì các yếu tố này có ảnh hưởng đến giảng viên trong việc nâng cao trình độ chuyên môn.

Tuổi tác là yếu tố được đề cập nhiều hơn cả khi nói đến đổi mới, tiếp thu cái mới, học cái mới bởi cái mới thường đi cùng với tuổi trẻ; còn cái cũ, cái lạc hậu, cái trì trệ thường đi với tuổi già. Khi đó tuổi tác được coi như là “vật cản” cho tiến trình đổi mới. Thực tế điều này dễ hiểu trong giáo dục hiện nay khi nói đến đổi mới là phải đi kèm với năng lực ngoại ngữ, tin học. Chỉ có thành thạo hai công cụ này thì mới dám bước chân vào con đường đổi mới cũng như con đường nghiên cứu khoa học. Nếu không có tin học thì làm sao sử dụng các bài giảng điện tử, các phương pháp mới, đồng nghĩa với nó là sử dụng tiếng Anh. Thế hệ giảng viên trước hầu như chưa được trang bị và tiếp cận nhiều về tin học và tiếng Anh, hoặc trước đây chỉ học tiếng Nga, Pháp hay Trung mà thôi. Giờ chuyển sang tiếng Anh không thể một sớm một chiều. Đây là lý do giải thích tại sao thế hệ thầy cô từ 45 tuổi trở lên ngại đổi mới dù vẫn biết đổi mới là tốt, là hay, là tân thời nhưng “lực bất tòng tâm”.

Giới tính cũng là một yếu tố nổi lên không chỉ ở trong nước và ngoài nước đề cập đến dưới cái tên “bất bình đẳng giới”. Bất bình đẳng giới càng sâu sắc hơn ở một xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo Trung Hoa. Thậm chí trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 phụ nữ không được quyền đi học mà chỉ số ít con nhà giàu hoặc quan lại hoặc con thầy đồ mới được phép biết chữ và đi học. Mặc dù thành quả của cách mạng đến nay hơn nửa thế kỷ nhưng thành kiến của xã hội vẫn chưa thay đổi nhiều và phụ nữ vẫn phải mang trên mình gánh nặng chăm sóc gia đình, chồng con quá nhiều, dẫn đến có ít hoặc không có thời gian cho bản thân trong việc học hành, bồi dưỡng nâng cao trình độ. Thậm chí có người chỉ mong muốn có việc làm ổn định còn lại con đường sự nghiệp chỉ chông chờ vào chồng còn, bản thân cứ quanh quẩn nơi bếp núc, nội trợ. Do vậy, mặc dù dạy học là một trong những ngành được phái nữ rất yêu thích ở Việt Nam. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, giáo viên nữ chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối ở hệ mầm non; giữ tỷ lệ cao ở bậc phổ thông (tiểu học 77,4%, trung học cơ sở 67,9%, trung học phổ thông 61,2%); ở hệ đại học, cao đẳng, nữ giới chiếm tỷ lệ không thua nam giới (www.baoapbac.). Đáng lưu ý là phần lớn phụ nữ Việt Nam lại chưa theo đuổi đến những nấc thang học vị cuối cùng của ngành giáo dục, đó là tiến sĩ và giáo sư. Thay vào đó, phái nữ chỉ phấn đấu khi còn trẻ, chưa có gia đình, chồng con chi phối. Điều này giải thích tại sao hàng năm khi vinh danh các thủ khoa của các trường đại học, cao đẳng ở Văn Miếu Hà Nội thì đa số là nữ. Chẳng hạn, năm 2024 Hà Nội vinh danh 132 thủ khoa tốt nghiệp có thành tích học tập xuất sắc và tham gia tích cực công tác đoàn, phong trào thanh niên, trong đó có 37 nữ nam và 95 nữ (www.news.zing.). Nhưng, khi phong hàm giáo sư, phó giáo sư, trao học vị tiến sĩ thì ngược lại nam nhiều, nữ ít. Theo báo điện tử vietnamnet thống kê, năm 2026 có 703 giáo sư và phó giáo sư, tính tỉ lệ theo giới tính đối với giáo sư thì nam là 73%, đối với phó giáo sư thì nam là 70%. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

Bên cạnh tuổi tác, giới tính thì hoàn cảnh gia đình, nhận thức của bản thân cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao trình độ của giảng viên. Không phải giảng viên nào cũng có điều kiện gia đình thuận lợi để tập trung vào công việc chuyên môn. Đôi khi thầy cô phải lo toan những thứ khác để nuôi sống gia đình vì thu nhập từ công việc chưa đủ nuôi sống bản thân và gia đình. Yếu tố không kém phần quan trọng là nhận thức của bản thân trong việc nâng cao trình độ. Nếu thầy cô thỏa mãn với kiến thức hiện có, với tri thức mà được học mấy năm đại học, cao học hay nghiên cứu sinh thì rât khó để thầy cô chuyên tâm vào nghiên cứu khoa học để cập nhật, trau dồi, mở mang kiến thức. Khi đó đúng như GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đã nói “Giảng những điều cũ kỹ chỉ gây hại cho người học” (www.vietnamnet.).

Do đặc thù như đã nêu trên, đội ngũ giảng viên của Học viện Khoa học và Công nghệ chính là các nhà khoa học, các nghiên cứu viên đang hoạt động Nghiên cứu khoa học tại các Viện chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, có nhiều công trình công bố quốc tế và trong nước chất lượng cao, tham gia chủ nhiệm và thực hiện nhiều đề tài, dự án, nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp nhà nước, hợp tác quốc tế, cấp Bộ ngành, tỉnh… Do vậy đội ngũ giảng viên của Học viện có trình độ chuyên môn cao và chuyên sâu.

  • Bảng 4. Kết quả khảo sát trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên
  • Bảng 5. Nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giảng viên

2.3. Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo ở Học viện Khoa học và Công nghệ

2.3.1. Thực trạng vận dụng các quan điểm, các cách tiếp cận trong việc phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo.

Mục tiêu cũng như phương hướng hoạt động của Học viện Khoa học và Công nghệ là huy động tối đa cơ sở vật chất cũng như đội ngũ cán bộ khoa học tham gia vào đào tạo sau đại học, nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Học viện đang tìm các biện pháp nhằm huy động tối đa các mặt mạnh của đội ngũ khoa học như trình độ chuyên môn cao, môi trường trao đổi học thuật lớn, có phương tiện và những phương pháp nghiên cứu thực tiễn sẽ được phát huy trong quá trình đào tạo. Quan điểm của Học viện đó là phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa nhu cầu, lợi ích của các nhà khoa học và mục tiêu chung của Học viện.

Học viện dựa vào việc phát triển đội ngũ giảng viên theo phương diện truyển thống (số lượng, chất lượng, cơ cấu) như một nội dung nền tảng trong việc thống kê, hoạch định đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo. Bên cạnh đó Học viện đã áp dụng và kết hợp hài hòa các cách tiếp cận nguồn nhân lực như là một yếu tố thuận lợi để phát triển toàn diện đội ngũ cán bộ khoa học tham gia vào đào tạo. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

2.3.2. Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo theo quản lý nguồn nhân lực.

Việc lập kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo, hay nói cách khác là phát triển đội ngũ giảng viên ở Học viện là một trong những khâu quan trọng, cả Cán bộ quản lý và GV đều nhận thức được tầm quan trọng của nội dung này, có lập kế hoạch mới dự kiến tất cả các yếu tố, điều kiện để thực hiện. Đảm bảo cho hoạt động này đạt hiệu quả.

Học viện đã xây dựng các tiêu chuẩn để tuyển chọn các nhà khoa học có đủ trình độ về chuyên môn cũng như khả năng sư phạm, thời gian để tham gia quá trình đào tạo tại Học viện. Việc sử dụng đúng người, đúng việc sẽ tăng tính hiệu quả công việc. Vì vậy Học viện đã xác định tính quan trọng của việc đánh giá về việc sử dụng giảng viên theo năng lực. Với đặc điểm là đội ngũ các nhà khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đông về số lượng, phát triển đồng đều về trình độ, tuy có một số lĩnh vực nhân lực còn thiếu và yếu, nhưng Học viện đã xây dựng bản quy hoạch dựa trên số lượng, chất lượng và cơ cấu của giảng viên từng khoa để xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia vào đào tạo tại Học viện.

Dựa vào thực trạng của đội ngũ cán bộ tham gia đào tạo, Học viện cần xây dựng các biện pháp cụ thể để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác đào tạo, phát triển Đội ngũ giảng viên, bởi vì giáo dục nhằm thỏa mãn và đáp ứng yêu cầu của xã hội, xã hội thì luôn vận động và phát triển, giáo dục cũng phải đáp ứng yêu cầu đó. Đội ngũ giảng viên là nòng cốt để nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường, cần phải phát triển Đội ngũ giảng viên để đáp ứng nhu cầu đó.

Việc đãi ngộ theo năng lực giảng viên cũng là một trong những động lực quan trọng để các nhà khoa học tích cực tham gia vào đào tạo. Tuy hiện nay do còn nhiều khó khăn trong những năm đầu thành lập, nhưng Học viện đang cố gắng xây dựng môi trường, khả năng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà khoa học tham gia đào tạo.

2.4. Kết quả nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

Dựa vào kết quả đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ như:

  • Đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ mang đặc trưng của các nhà Nghiên cứu khoa học.
  • Đội ngũ giảng viên chưa đồng bộ và cân đối giữa các mã ngành, giữa trình độ và độ tuổi có sự chênh lệnh cao, đặc biệt ở một số mã ngành có xu hướng lão hóa và không có học hàm cao. Theo chế độ hưu trí hiện tại, trong vòng 5 năm tới, số cán bộ có học hàm học vị cao sẽ nghỉ hưu. Vì vậy Học viện Khoa học và Công nghệ sẽ bị thiếu hụt trầm trọng đội ngũ cán bộ giảng viên có uy tín trong nước và quốc tế.
  • Lực lượng giảng viên phân bổ không đều giữa các ngành đào tạo và các chuyên ngành.
  • Chưa chú trọng việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Tuy việc đào tạo tại Học viện Khoa học và Công nghệ được chủ trương dựa chủ yếu vào thực hành, thí nghiệm thông qua các đề tài nghiên cứu, tuy nhiên phương pháp giảng dạy, truyền đạt kỹ năng nghiên cứu và quản lý lớp học viên cũng cần phải được bồi dưỡng nâng cao.

Học viện Khoa học và Công nghệ xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo dựa trên “mặt mạnh” và “mặt yếu” của đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo tại Học viện.

2.4.1. Mặt mạnh

Hiện nay giáo dục hiện đại quan niệm “học sinh là trung tâm của hệ thống giáo dục” dẫn đến vai trò người thầy không phải đơn thuần chỉ truyền thụ kiến thức mà là người hướng dẫn, hỗ trợ và cố vấn. Người thầy không còn là người “độc quyền” truyền đạt kiến thức cho học sinh mà học sinh chủ động tiếp thu kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách báo, đồng nghiệp, Internet…Người thầy sẽ là người định hướng, kiểm tra, trao đổi thống nhất nhằm đưa ra những kết quả có sự thống nhất và hợp tác của thầy và trò. Vì vậy để làm được những nội dung đó, người thầy phải có trình độ chuyên môn cao về vấn đề cần giảng dạy. Năng lực của giảng viên cần là năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy và năng lực nghiên cứu. Tiêu chuẩn của một giáo viên đó phải có năng lực chuyên môn cao, có năng lực giảng dạy phù hợp với chuyên môn của mình và cần phải có năng lực nghiên cứu chuyên sâu. Hiện nay tại các trường phần “năng lực chuyên môn” là phần giảng viên chú trọng nhiều nhất; phần “năng lực giảng dạy” được phát triển thông qua việc học tập và phát triển của bản thân: thực hành, và tìm tòi trong việc ứng dụng vào giảng dạy, nhưng “năng lực nghiên cứu” là năng lực thiếu hụt nhất, các trường hầu như chỉ chú trọng tới các chứng chỉ mà Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu đối với giảng viên chứ chưa thực sự chú trọng vào năng lực thực sự của giảng viên vì thế chất lượng của các chứng chỉ này chưa phản ánh được năng lực thực chất của các giảng viên khi đứng lớp.

Là một cơ quan đầu ngành của cả nước về nghiên cứu khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói chung và Học viện Khoa học và Công nghệ nói riêng hoàn toàn đáp ứng theo xu thế pháp triển của thế giới về việc phối kết hợp đào tạo trong nghiên cứu, đáp ứng đầy đủ cho việc đào tạo nguồn nhân tài, nhân lực có trình độ khoa học và công nghệ cao cho tương lai. Học viện Khoa học và Công nghệ trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là một mô hình tuyệt vời về sự kết hợp nghiên cứu cơ bản với đào tạo sau đại học chất lượng cao theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ là các nhà nghiên cứu khoa học có trình độ cao, có uy tín trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó khả năng trao đổi thông tin, cập nhật thông tin, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, ngoại ngữ đều là những điểm mạnh của đội ngũ giảng viên của Học viện Khoa học và Công nghệ.

Lực lượng giảng viên trẻ tích cực học tập, đi đào tạo sau đại học (chủ yếu ở bậc tiến sĩ) ở trong và ngoài nước, trau dồi ngoại ngữ, trang bị kiến thức và tiếp cận khoa học mới. Lãnh đạo Viện Hàn lầm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Học viện Khoa học và Công nghệ luôn có sự chỉ đạo, giám sát, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính, tăng cường mở các lớp đào tạo nghiệp vụ sư phạm, mở rộng hợp tác quốc tế (trao đổi ngắn hạn và dài hạn)… cho các giảng viên, do vậy các giảng viên thực hiện đúng kế hoạch giảng dạy, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, không ngừng tự nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

2.4.2. Mặt yếu Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

So với yêu cầu hiện nay, đội ngũ giảng viên của Học viện Khoa học và Công nghệ chưa đồng bộ cơ cấu giữa các khoa, giảng viên có học hàm học vị cao đang có xu hướng lão hóa. Tình trạng chung của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói chung và Học viện Khoa học và Công nghệ nói riêng, các giáo sư đa phần là các nhà khoa học được đào tạo ở Liên Xô cũ hoặc các nước Đông Âu, nghiên cứu chủ yếu là lĩnh vực khoa học cơ bản. Tuy nhiên hiện nay xu hướng chủ yếu theo học một trong những lĩnh vực nghiên cứu mang tính ứng dụng cao như tin học, hóa thực phẩm, hóa dược, sinh học, môi trường… Vì vậy lực lượng phân bố giảng viên có trình độ cao trong các ngành không có sự đồng đều.

Một bộ phận đội ngũ giảng viên của Học viện Khoa học và Công nghệ còn hạn chế về năng lực giảng dạy, nghiệp vụ sư phạm, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy vì chủ yếu dùng phương pháp nghiên cứu, thời gian dành cho đào tạo chưa nhiều. Thời gian đào tạo và thời gian nghiên cứu chưa thống nhất do đặc trưng nghiên cứu khoa học. Ví dụ: Vào một số thời điểm trong năm là thời gian đi thực địa để nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu, trong khoảng thời gian này các nhà khoa học rất khó sắp xếp thời gian tham gia đào tạo. Vì vậy một số môn học thường rất khó khăn để học tập. Việc gắn kết giữa Học viện với giảng viên chưa được chặt chẽ do các yêu cầu của thủ tục hành chính trong giáo dục đào tạo.

Trong những năm gần đây, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã xảy ra hiện tượng “chảy máu chất xám”, đa phần các nghiên cứu viên sau khi được cử đi đào tạo ở nước ngoài có xu hướng ở lại, Học viện Khoa học và Công nghệ cũng không ngoại lệ, giảng viên thường có xu hướng tự do, ít chịu sự quản lý trong một môi trường sư phạm.

Dựa vào “mặt mạnh” “mặt yếu” của đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo trên và dựa vào các phiếu điều tra có thể nhận thấy việc để phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia đào tạo là một công việc quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển trong tương lai của Học viện. Các yếu tố khách quan như sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, các cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước, của ngành giáo dục và đào tạo dù ít hay nhiều cũng ảnh hưởng đến công các phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia vào hoạt động đào tạo ở Học viện.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

Với đặc điểm là đào tạo trong nghiên cứu nên đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ có nhiều lợi thế và hội tụ đầy đủ các tiêu chí mà giảng viên ở các trường đại học đang cần phải bổ sung và học tập, đó là khả năng nghiên cứu. Trong xu thế của hội nhập quốc tế, để đáp ứng được nhu cầu phát triển, giảng viên không thể “giảng chay”, các học thuyết không được thực hành, thực nghiệm thông qua thực tế thì không trở thành kĩ năng, sinh viên ra trường chỉ là “tiến sĩ giấy”.

Với môi trường học tập trong Học viện Khoa học và Công nghệ, được sử dụng trang thiết bị, phòng thí nghiệm đầy đủ của các viện nghiên cứu trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, có đội ngũ giảng viên là các nhà nghiên cứu khoa học đầu ngành trong cả nước, một môi trường trao đổi học thuật thông qua nghiên cứu, thực hành và thảo luận trong nước và quốc tế. Đội ngũ giảng viên của Học viện Khoa học và Công nghệ đã đáp ứng đầy đủ tiêu chí để đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước, tuy nhiên bên cạnh đó cần phải tăng cường học hỏi hơn nữa phương pháp giảng dạy, khả năng phối kết hợp trong việc đào tạo giữa các nội dung chuyên môn đa ngành, đa lĩnh vực.

Để tiếp tục nâng cao công tác phát triển đội ngũ cán bộ khoa học tham gia giảng dạy, trở thành đội ngũ giảng viên tại Học viện Khoa học và Công nghệ, Học viện cần tiến hành đồng bộ một số biện pháp phù hợp hơn, mang tính chiến lược trong kế hoạch xây dựng và phát triển của Học viện Khoa học và Công nghệ trong tương lai. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp đội ngũ cán bộ khoa học đào tạo sau đại học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537