Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp ở thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1/ Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, nhất là sau khi thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” [1], công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã đạt được những thành quả nhất định. Hiện nay, đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân được xác định là mục tiêu chiến lược, trong đó cần đặc biệt tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp để các cơ quan này thực sự là cơ quan đại diện của Nhân dân và là cơ quan quyền lực Nhà nước trong việc xem xét và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương.
Pháp luật hiện hành của nước ta đã khẳng định giám sát của HĐND là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước, là một trong những chức năng trọng yếu, cơ bản của HĐND các cấp. Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Thực tiễn kinh tế-xã hội tại thành phố Hải Phòng trong những năm qua cho thấy thành phố đã có bước phát triển mạnh mẽ và duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao so với mức bình quân chung của cả nước, trong đó các loại phí và lệ phí áp dụng trên địa bàn thành phố đã đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước cũng như ngân sách địa phương. Vì vậy giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí là hoạt động quan trọng và cần thiết. Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chính là cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng thực hiện chức năng giám sát.
Nhiệm kỳ HĐND 2011-2016 đã kết thúc và được nhận định là một nhiệm kỳ với nhiều thử nghiệm và thách thức khi Hải Phòng là một trong những địa phương thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Nhiệm kỳ 2016-2021 bắt đầu với việc tái tổ chức HĐND huyện, quận, phường khiến công tác giám sát của HĐND có những điểm khác biệt so với nhiệm kỳ trước. Thực tiễn hoạt động giám sát của HĐND tại thành phố trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế như chưa toàn diện, đôi chỗ còn mang tính hình thức, cách thức tổ chức giám sát chưa khoa học, năng lực giám sát chưa hiệu quả, việc theo dõi và đôn đốc các cơ quan chức năng liên quan trong quá trình thực hiện kiến nghị, kết luận sau giám sát còn thiếu quyết liệt, tính phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong hoạt động giám sát chưa cao.
Việc nghiên cứu lý luận, quan điểm pháp lý nhằm đánh giá tình hình giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp là một nhu cầu cấp thiết, nhất là tại những địa phương được đánh giá là tiềm năng về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội như thành phố Hải Phòng. Đặc biệt, việc đi sâu nghiên cứu thực trạng triển khai các quy định pháp luật về giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng để đưa ra những giải pháp bảo đảm giám sát sẽ có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn xã hội, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý về giám sát của HĐND, cải thiện môi trường kinh doanh tại địa phương. Đó là lý do tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp ở thành phố Hải Phòng”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Giám sát của cơ quan dân cử và quan điểm về bảo đảm giám sát của cơ quan dân cử như HĐND là một đề tài nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà chuyên môn cũng những cá nhân làm việc trong các cơ quan này. Giai đoạn nhiệm kỳ 2011-2016, cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát của HĐND được tập trung tại Luật tổ chức Hội đồng nhân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Sau một thời gian triển khai, áp dụng, xuất phát từ nhu cầu và tính đặc thù trong giám sát của Hội đồng nhân dân, Quốc hội đã thảo luận và thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Điều này đã phần nào khẳng định tầm quan trọng của hoạt động giám sát trong chức năng của HĐND các cấp.
Cho đến nay, hoạt động giám sát của HĐND các cấp đã được nhiều đề tài tiếp cận, nghiên cứu dưới những góc nhìn và mục đích khác nhau. Căn cứ vào nội dung có thể chia thành các nhóm sau:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung, những vấn đề pháp lý cơ bản về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước. Đây là những công trình mang tính học thuật, có tính chất lý luận, giúp người nghiên cứu có được cái nhìn tổng quan, toàn diện về hoạt động của HĐND, trong đó có hoạt động giám sát. Trong nhóm đề tài này, có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như:
Nguyễn Đăng Dung (2012), Hội đồng nhân dân trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích cụ thể, chuyên sâu các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với tổ chức và hoạt động của HĐND, các Ban của HĐND, đại biểu HĐND với vị trí pháp lý là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, cơ quan đại diện của nhân dân địa phương. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Nguyễn Thị Lợi (2014), Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh – Qua thực tiễn tỉnh Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Trường Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý về tổ chức, hoạt động của HĐND cấp tỉnh nói chung và đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của HĐND tỉnh Nghệ An để đưa ra những đề xuất đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND tỉnh nói chung và HĐND tỉnh Nghệ An nói riêng.
Hà Lương Đức (2017), Hoạt động của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Hành chính quốc gia, Thừa Thiên Huế. Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý về tổ chức, hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của HĐND xã ở huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên để đưa ra những đề xuất về giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐND xã nói chung, nâng cao chất lượng hoạt động tại địa phương được nghiên cứu nói riêng.
Lê Văn Minh (2018), Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân xã ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội. Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức, hoạt động của HĐND cấp xã để đưa ra những đề xuất về giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của HĐND xã.
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về giám sát của HĐND – một trong những hoạt động cơ bản của HĐND được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Đây là những công trình mang tính thực tiễn cao khi chứa đựng và phân tích những số liệu được thu thập tại một địa phương cụ thể. Đồng thời, những công trình này thể hiện quan điểm của người nghiên cứu trong việc đưa những giải pháp bảo đảm hoạt động giám sát của HĐND. Các công trình này có thể phân tích nội dung giám sát của HĐND nói chung hoặc ở một lĩnh vực cụ thể. Trong nhóm công trình này, có kể đến một số nghiên cứu sau:
Nguyễn Đăng Dung (2016), Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Dựa trên kết quả nghiên cứu đề tài QG.15.66 năm 2015 cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, cuốn sách do GS. TS. Nguyễn Đăng Dung chủ biên đi sâu phân tích cơ sở lý luận và hình thức thực hiện chức năng giám sát của HĐND các cấp. Cuốn sách gồm hai phần: phân tích chức năng giám sát của Hội đồng địa phương trên thế giới và phân tích chức năng giám sát của HĐND tại Việt Nam.
Lê Thị Thanh Trà (2014), Đổi mới hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội. Trong luận văn, tác giả đã hệ thống các quan điểm lý luận cơ bản về giám sát của HĐND với Ủy ban nhân dân, đồng thời phân tích thực trạng của hoạt động này tại tỉnh Tuyên Quang để chỉ ra những hạn chế, bất cập cần khắc phục cũng như những giải pháp đổi mới hoạt động này tại địa phương.
Phạm Thị Hồng Yên (2015), Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách từ thực tiễn ở Hà Giang, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động giám sát cấp tỉnh nói chung, đặc biệt tập trung phân tích thực trạng hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách tại tỉnh Hà Giang nhằm chỉ ra những hạn chế, bất cấp trong hoạt động này và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực Tài chính – Ngân sách tại địa phương được nghiên cứu. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Nguyễn Phú Bình (2016), Giám sát của Hội đồng nhân dân phường, Từ thực tiễn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội. Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của HĐND và phân tích thực trạng hoạt động giám sát của HĐND phường tại quận Đống Đa. Từ đó chỉ ra những hạn chế trong hoạt động giám sát để đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của HĐND phường trên địa bàn quận Đống Đa.
Trần Thị Sáu (2017), Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Thừa Thiên Huế. Luận văn phân tích cơ sở lý luận, pháp lý về chức năng giám sát của HĐND tỉnh, đặc biệt tập trung đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Bình, từ đó đưa ra đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm có tính chất tham khảo trong hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Quảng Bình.
Phí Văn Thuận (2017), Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã – Từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội. Trong luận văn, trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, tác giả đã đưa ra những quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói chung và tại địa phương được nghiên cứu nói riêng.
Lê Xuân Tương (2017), Giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đối với Ủy ban nhân dân huyện trong lĩnh vực thu – chi ngân sách Nhà nước, Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Hành chính quốc gia, Đắk Lắk. Trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý của HĐND cấp huyện, đi sâu phân tích thực trạng giám sát của HĐND huyện Đắk Song nói chung và giám sát chuyên đề thu-chi ngân sách Nhà nước nói riêng, từ đó có những đánh giá và đề xuất nâng cao chất lượng hiệu quả giám sát của HĐND tại địa phương được nghiên cứu.
Lê Thị Quỳnh Hương (2018), Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội. Trong luận văn, tác giải đã hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh nói chung và đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Lào Cai. Trên cơ sở đó, tác giải đề xuất giải pháp bảo đảm hoạt động giám sát tại địa phương được nghiên cứu.
Phạm Thị Nhung (2018), Giám sát của Hội đồng nhân dân huyện – Từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội. Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận, pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND huyện nói chung, và tập trung phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động giám sát của HĐND tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, từ đó tác giả đưa ra những giải pháp có tính chất tham khảo để đẩy mạnh hoạt động giám sát tại HĐND huyện Hoài Đức.
Có thể nhận thấy rằng, trong các công trình nghiên cứu về HĐND, đã có một số công trình nghiên cứu về giám sát của HĐND nhưng mới chỉ là nghiên cứu ở từng cấp của HĐND, hoặc nghiên cứu về lĩnh vực thu chi ngân sách nói chung. Chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng. Do đó, đề tài nghiên cứu do tác giả thực hiện là cần thiết và không trùng lặp với các công trình đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
3.1 Mục đích
Nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn nhằm đề xuất những giải pháp bảo đảm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội của địa phương.
3.2. Nhiệm vụ
Với mục đích nêu trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp.
- Đánh giá, phân tích thực trạng giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất những giải pháp bảo đảm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu lý luận và thực tiễn giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp đối với UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND ở thành phố Hải Phòng.
Tuy nhiên, nhiệm kỳ 2011-2016, thành phố Hải Phòng là một trong các địa phương thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường, theo đó hoạt động giám sát của HĐND tại các quận, huyện, phường trong giai đoạn này do HĐND thành phố thực hiện. Vì vậy, nghiên cứu nội dung giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp trong giai đoạn này ở thành phố Hải Phòng sẽ chỉ tập trung vào HĐND thành phố và HĐND xã, thị trấn.
Nhiệm kỳ 2016-2021, thành phố Hải Phòng tái thiết lập HĐND tại đủ ba cấp hành chính, theo đó hoạt động giám sát của HĐND cũng được tái tổ chức tại đơn vị hành chính theo pháp luật hiện hành. Vì vậy, nội dung nội dung giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng trong giai đoạn này sẽ được nghiên cứu tại đủ ba cấp hành chính.
4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu nội dung giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp trong phạm vi thành phố Hải Phòng.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu nội dung giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tổ chức và hoạt động của HĐND trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích và so sánh để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu. Trong đó, phương pháp phân tích và so sánh được sử dụng để trình bày hệ thống các quan điểm lý luận, quan điểm pháp lý qua từng thời kỳ về cơ cấu tổ chức, hoạt động của HĐND. Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích được sử dụng để trình bày, đánh giá các số liệu thực tiễn và đề xuất các giải pháp bảo đảm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa, làm rõ, bổ sung lý luận về giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết luận của luận văn có giá trị tham khảo trong việc bảo đảm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp. Đồng thời có giá trị vận dụng đối nội dung này tại thành phố Hải Phòng.
7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương :
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp
- Chương 2: Thực trạng giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp ở thành phố Hải Phòng
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp ở thành phố Hải Phòng
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT VỀ PHÍ, LỆ PHÍ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
1.1. Tổng quan về Hội đồng nhân dân
1.1.1. Vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân
Theo danh sách thống kê các đơn vị hành chính trong giai đoạn từ 2011 đến nay của Tổng cục thống kê, thành phố Hải Phòng là một trong 05 thành phố trực thuộc Trung ương. Theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương tại thành phố trực thuộc Trung ương được chia thành các cấp như sau: HĐND thành phố, HĐND cấp huyện và HĐND cấp xã.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 113 của Hiến pháp 2013 và Khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. HĐND do nhân dân địa phương bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước nhân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên [32], [38].
Với vị trí pháp lý như trên, quyền lực của HĐND chỉ được giới hạn trong phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ. HĐND chính là cầu nối giữa Nhân dân và Nhà nước, tăng cường quyền làm chủ của Nhân dân. Mối quan hệ hai chiều này chỉ được thúc đẩy khi có thể dung hòa giữa yếu tố ý chí của Nhân dân và quyền lực của Nhà nước. Tuy là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, nhưng HĐND không có quyền lập pháp, mà chủ yếu thực hiện chức năng quản lý về mặt chủ trương, định hướng đối với mọi mặt đời sống xã hội địa phương nhưng không mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Ở nước ta, HĐND là bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước, do đó HĐND không chỉ chịu trách nhiệm trước nhân dân tại địa phương mà còn phải chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên. Đây là cơ sở bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong quan điểm xây dựng bộ máy Nhà nước tại nước ta.
Về tính chất, HĐND vừa mang tính đại diện vừa mang tính quyền lực, được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Về tính chất đại diện của HĐND: (1) các đại biểu HĐND do cử tri bầu ra bằng hình thức phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín; (2) HĐND có cơ cấu đại biểu đại diện cho các tầng lớp xã hội, các thành phần xã hội khác nhau trên địa giới hành chính của địa phương; (3) đại biểu HĐND là do nhân dân địa phương lựa chọn để đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương với những tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục ứng cử, quy trình bầu cử đặc biệt chặt chẽ, công khai trong phạm vi toàn địa phương
Về tính chất quyền lực của HĐND: (1) HĐND quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh; (2) HĐND bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của UBND – là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương; (3) HĐND ban hành các Nghị quyết trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật để triển khai cụ thể những nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương; (4) HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân dân địa phương, vì mục tiêu phát triển của địa phương; (5) HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương mà đối tượng bị giám sát bao gồm cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân.
Có thể khẳng định rằng, tính chất đại diện và tính chất quyền lực của HĐND có quan hệ biện chứng với nhau. Tính đại diện là tiền đề của tính quyền lực và tính quyền lực là cơ sở bảo đảm của tính đại diện.
1.1.2. Chức năng của Hội đồng nhân dân Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Chức năng của HĐND chính là những phương diện hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thực hiện vai trò, nhiệm vụ của HĐND. Những chức năng này được xây dựng trên nền tảng vị trí pháp lý, tính chất của HĐND và được luật hóa nhằm bảo đảm tính hệ thống, phù hợp và pháp quy. Theo đó, HĐND có các chức năng cụ thể sau:
Thứ nhất, HĐND có chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã xác định cụ thể các đơn vị hành chính; đồng thời, đã có sự phân biệt giữa chính quyền địa phương ở nông thôn và ở đô thị, phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng và yêu cầu quản lý ở mỗi địa bàn. Theo đó, tùy thuộc vào đơn vị hành chính và cấp hành chính mà phạm vi quyền quyết định của HĐND sẽ có sự giới hạn phù hợp. Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã khẳng định HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với đất nước. Có thể thấy rằng, nội dung chức chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương của HĐND là rất rộng, bao quát tất cả mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh…Điều này đã phần nào khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐND đối với chính quyền địa phương. Mặt khác, đây cũng là những căn cứ pháp lý cơ bản tạo điều kiện thuận lợi để chính quyền địa phương phát huy những đặc quyền luật định nhằm định hướng sự phát triển của địa phương.
Thứ hai, HĐND có chức năng giám sát. Điểm a Khoản 1 Điều 5 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã khái quát thẩm quyền giám sát của HĐND như sau: “Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp;” [34]. Việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả chức năng giám sát sẽ hỗ trợ HĐND trong công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của HĐND, đồng thời chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong các quyết sách, chủ trương của HĐND để có sự sửa đổi, điều chỉnh kịp thời, bao gồm cả việc bãi bỏ những quyết định trái luật, thiếu khả thi của UBND cùng cấp hay HĐND cấp dưới hay việc bãi miễn/đề nghị bãi miễn các chức danh chủ chốt tại cơ quan Nhà nước.
Cần khẳng định rằng, chức năng quyết định và chức năng giám sát có quan hệ chặt chẽ, mật thiết và hỗ trợ nhau. Chức năng quyết định là cơ sở, nền tảng tạo dựng nội dung để HĐND thực hiện chức năng giám sát cũng như định hướng hoạt động giám sát đến các vấn đề trọng yếu, cấp bách của địa phượng. Ngược lại, chức năng giám sát là cơ sở kiểm nghiệm tính đúng đắn của các quyết định trên thực tế, là phương thức để rà soát, phát hiện những sai phạm của chủ thể có thẩm quyền trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ luật định. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
1.1.3. Cơ cấu tổ chức, hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân
Theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, HĐND tại các đơn vị hành chính gồm có: HĐND cấp tỉnh (bao gồm HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); HĐND cấp huyện (bao gồm HĐND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương); HĐND cấp xã (bao gồm HĐND xã, phường, thị trấn).
1.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân
Đối với những thành phố trực thuộc Trung ương như thành phố Hải Phòng, cơ cấu tổ chức của HĐND các cấp gồm có:
Thứ nhất, Thường trực HĐND là một bộ phận quan trọng và cơ bản trong tổ chức của HĐND.
Cơ cấu Thường trực HĐND thành phố gồm Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch, các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND và Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân.
Cơ cấu Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch,02 Phó Chủ tịch và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND cấp huyện.
Chủ tịch HĐND thành phố, Chủ tịch HĐND cấp huyện có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch HĐND thành phố, Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.
Cơ cấu Thường trực HĐND cấp xã gồm Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch, trong đó Phó Chủ tịch HĐND là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.
Thường trực HĐND phê chuẩn Ủy viên của các Ban của HĐND theo đề nghị của Trưởng ban; HĐND chỉ tiến hành bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban.
Thứ hai, các Ban của HĐND được xác định là cơ quan chuyên môn giúp việc cho HĐND và được thành lập ở cả ba cấp HĐND. Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, số lượng các Ban tại HĐND các cấp được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cụ thể như sau: HĐND thành phố được thành lập 04 Ban là Ban Kinh tế ngân sách, Ban Văn hóa – Xã hội và Ban pháp chế và Ban Đô thị; HĐND cấp huyện được thành lập 02 Ban là Ban Kinh tế – Xã hội và Ban Pháp chế, (nơi nào có nhiều dân tộc thiểu số thì có thể thành lập Ban dân tộc); HĐND cấp xã được thành lập 02 Ban là Ban Kinh tế – Xã hội và Ban Pháp chế. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Ban của HĐND thành phố gồm có Trưởng ban, không quá 02 Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên tại các Ban của HĐND thành phố do HĐND thành phố quyết định.
Ban của HĐND cấp huyện gồm có Trưởng ban, 01 Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND huyện do HĐND cấp huyện quyết định.
Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, huyện có thể là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách; Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, huyện là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách.
Ban của HĐND cấp xã gồm có Trưởng ban, 01 Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND cấp xã do HĐND cấp xã quyết định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.
Các Ban của HĐND được thành lập tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Hội đồng nhân dân. Số lượng thành viên của mỗi Ban do HĐND cùng cấp quyết định và bầu chọn trong số đại biểu có năng lực kiến thức chuyên môn, phù hợp với nhiệm vụ của Ban, có điều kiện thực tế tham gia các hoạt động của Ban.
Thành viên của các Ban không thể đồng thời là thành viên Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp. Trưởng ban và các thành viên của Ban do HĐND bầu bằng cách bỏ phiếu kín theo danh sách từng Ban do Chủ tịch HĐND giới thiệu. Các đại biểu cũng có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức vụ trên. Phó ban do Ban bầu ra.
1.1.3.2. Hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân
Các hình thức hoạt động cơ bản của HĐND gồm có: Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Thứ nhất, hoạt động tại kỳ họp HĐND, được xác định là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND (thường là mỗi năm hai kỳ).
Đó là hội nghị định kỳ gồm các phiên họp của toàn thể (đa số) các đại biểu HĐND để bàn bạc và quyết định những vấn đề của địa phương được nêu ra trong chương trình nghị sự. Thông qua kỳ họp, ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương được chuyển thành quyết định của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, có ý nghĩa bắt buộc chung. Tại kỳ họp còn quyết định các biện pháp để thi hành quyết định, chỉ thị, pháp luật của Nhà nước ở địa phương, thực hiện quyền giám sát việc thực hiện nghị quyết và hoạt động của các cơ quan trực thuộc HĐND và các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khác ở địa phương. Một nội dung quan trọng của các kỳ họp HĐND là thực hiện quyền chất vấn của đại biểu HĐND đối với UBND, các thành viên của Uỷ ban, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Chánh án TAND và Viện trưởng VKSND cùng cấp và được xác định là một hình thức quan trọng qua đó HĐND giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc HĐND và các cơ quan, tổ chức khác trên phạm vi lãnh thổ. Đại biểu HĐND có quyền chất vấn về bất cứ vấn đề gì thuộc thẩm quyền xem xét của HĐND. Nếu chất vấn của đại biểu nêu ra, được HĐND tán đồng (được chấp nhận) thì được coi như là một vấn đề của chương trình nghị sự. Kết quả của các kỳ họp là HĐND thông qua các quyết định của mình dưới hình thức các nghị quyết. Nghị quyết của HĐND được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu HĐND tán thành. Nghị quyết của HĐND có hiệu lực ngay sau khi được thông qua hoặc sau khi được các cơ quan Nhà nước cấp trên phê chuẩn. Có một số nghị quyết ghi rõ thời gian thi hành. Nghị quyết hết hiệu lực khi đã thực hiện xong hoặc bị chính HĐND sửa đổi, huỷ bỏ hoặc bị cấp trên đình chỉ bãi bỏ.
Thứ hai, hoạt động của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND.
Hoạt động này phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của Thường trực HĐND và các Ban được quy định chung cho cấp HĐND đó. Thường trực HĐND làm việc theo nguyên tắc tập thể. Mỗi tháng Thường trực HĐND họp ít nhất một lần để kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết của HĐND và các quyết định của mình, đề ra nhiệm vụ công tác tháng sau. Ngoài ra, Thường trực HĐND có thể họp bất thường theo đề nghị của từng thành viên. Thường trực HĐND làm việc theo nguyên tắc tập thể. Thường trực HĐND điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ban. Các Trưởng ban được dự các kỳ họp hàng tháng của Thường trực HĐND cùng cấp.
Thứ ba, hoạt động của đại biểu HĐND.
Theo quy định của pháp luật, hoạt động của đại biểu HĐND tập trung trên hai mặt: (1) hoạt động của đại biểu HĐND tại kỳ họp và trong các cơ cấu của HĐND, (2) hoạt động của đại biểu HĐND tại đơn vị bầu cử. Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của HĐND, các sinh hoạt của tổ đại biểu HĐND, hoàn thành những nhiệm vụ được giao; nếu là thành viên của các cơ cấu của HĐND thì đại biểu có trách nhiệm tham gia đầy đủ các hoạt động của các cơ quan đó, hoàn thành nhiệm vụ được phân công. Hoạt động của đại biểu HĐND tại đơn vị bầu cử không chỉ mang tính riêng lẻ mà còn có hình thức tập thể. Đại biểu phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, ít nhất ba tháng một lần phải tiếp xúc với cử tri, lấy ý kiến của họ về những vấn đề sẽ bàn trong kỳ họp HĐND và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và HĐND, tiếp dân theo lịch đã phân công.
1.2. Giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
1.2.1. Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân
Khái niệm giám sát được đề cập tại nhiều công trình nghiên cứu theo những góc độ khác nhau. Có thể điểm qua một số quan điểm sau đây:
Theo từ điển Tiếng Việt thì giám sát được hiểu là sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định hoặc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không [41, tr.505].
Theo học giả Võ Khánh Vinh, giám sát là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không; là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định [50, tr.305].
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau, nhưng có thể nhận thấy một số dấu hiệu đặc trưng của “giám sát” như sau:
Thứ nhất, “giám sát” là hoạt động chủ động gắn liền với một chủ thể xác định.
Thứ hai, “giám sát” là hoạt động được áp dụng lên một đối tượng xác định. Một hoạt động được coi là “giám sát” phải xác định được cá nhân/tổ chức/việc gì bị theo dõi, xem xét, đánh giá.
Thứ ba, “giám sát” phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát.
Thứ tư, “giám sát” là một chuỗi các hoạt động có tác động hỗ trợ, bổ trợ cho nhau, được chia thành hai giai đoạn như sau: giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá, đưa ra kết luận.
Thứ năm, “giám sát” là hoạt động có mục đích. Đây là một đặc trưng cần thiết bởi vì chủ thể thực hiện và đối tượng bị áp dụng đều được xác định rất rõ ràng và có sự chuẩn bị mang tính quy trình.
Tóm lại, dù tiếp cận ở góc độ nào thì thuật ngữ “giám sát” đều có nghĩa chung đó là hoạt động theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong một hoặc nhiều lĩnh vực vì mục đích nhất định. Gắn với mỗi chủ thể xác định, khái niệm hoạt động giám sát sẽ được cụ thể hơn, chi tiết hơn và đây cũng là cách thức được các nhà nghiên cứu áp dụng để đưa ra những quan điểm cụ thể về hoạt động giám sát, ví dụ như hoạt động giám sát của Quốc hội hay hoạt động giám sát của HĐND.
Hoạt động giám sát của HĐND chính thức được luật hóa trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 nhưng chỉ đến Luật giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì khái niệm giám sát của HĐND mới được đề cập một cách cụ thể. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì giám sát là “việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [34].
Theo Khoản 6 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì giám sát HĐND bao gồm giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và các đại biểu HĐND [34].
Phân tích quy định pháp lý nêu trên, có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản về giám sát của HĐND như sau:
Thứ nhất, giám sát của HĐND luôn gắn với một chủ thể nhất định, đó chính là HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu của HĐND và các đại biểu HĐND. Đây là quan điểm được kế thừa từ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và bổ sung thêm chủ thể giám sát là Tổ đại biểu của HĐND. Như vậy, so với các quy định trước đây, chủ thể giám sát của HĐND đã được mở rộng và quy định chặt chẽ hơn.
Thứ hai, về đối tượng giám sát của HĐND bao gồm: (1) Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND; (2) Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND, cơ quan chuyên môn thuộc UBND; (3) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.
Như vậy, đối tượng giám sát của HĐND là tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân tại địa phương. Việc xây dựng một giới hạn khá rộng về đối tượng giám sát của HĐND đã phản ánh vị trí pháp lý đặc biệt của HĐND trong bộ máy chính quyền, đó là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, đồng thời cũng là điều kiện cơ bản và tiên quyết để HĐND phát huy tính “quyền lực” đã được Hiến định.
Thứ ba, giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát luôn tồn tại mối quan hệ tác động qua lại. Đối tượng, phạm vi, mức độ giám sát của HĐND phụ thuộc vào vào vị trí pháp lý, chức năng, tính chất mối quan hệ giữa HĐND và đối tượng chịu sự giám sát. Trong đó, UBND cùng cấp là đối tượng giám sát thường xuyên và quan trọng nhất của HĐND bởi UBND cùng cấp là cơ quan chấp hành của HĐND, thực hiện các nội dung mà HĐND đã quyết nghị liên quan đến những vấn đề quan trọng của địa phương nên phạm giám sát trên mọi hoạt động của UBND cũng cần phải sâu sát hơn hẳn các đối tượng khác.
Thứ tư, các nội dung giám sát cơ bản của HĐND bao gồm: Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND: Nghị quyết của HĐND ban hành nhằm triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của cấp ủy và đặc biệt là phản ánh ý chí, nguyện vọng của Nhân dân và giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển địa phương trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Với vai trò như vậy, yêu cầu về giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND là cần thiết và cơ bản đối với mỗi địa phương. Việc giám sát này không chỉ là giám sát việc tuân thủ, giám sát việc triển khai mà còn là một phương thức đánh giá tính khả thi của các quyết sách của HĐND, từ đó kịp thời tháo gỡ khó khắn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện nhằm bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của Nghị quyết thông qua việc xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.
Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát: đây là một nội dung giám sát đặc biệt của HĐND, theo đó HĐND xem xét việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của cá nhân, tổ chức tại địa phương. Với quy định này thì phạm vi giám sát của HĐND trong lĩnh vực này là rất rộng. Có một thực tế là, pháp luật của Nhà nước hay Nghị quyết của HĐND thực sự phát huy hiệu lực, hiệu quả trong đời sống xã hội lại phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện của các cá nhân, tổ chức. Giám sát chính là phương thức cơ bản và cần thiết để phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong hoạt động của các đối tượng nêu trên để từ đó có biện pháp ngăn chặn, bảo đảm pháp luật được thực thi đầy đủ và thống nhất, đồng thời, đánh giá tính hợp lý và khả thi của các quy định.
Như vậy giám sát của HĐND tập trung vào việc xem xét, kiểm tra, đánh giá, kiến nghị đối tượng giám sát trong việc thực hiện các quy định được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp quy.
Thứ năm, các hình thức giám sát cơ bản của HĐND bao gồm:
- Xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định của pháp luật.
- Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn theo quy định của pháp luật
- Xem xét quyết định của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp.
- Giám sát chuyên đề.
- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu
Từ những phân tích trên, giám sát của HĐND được hiểu là việc cơ quan quyền lực nhà nước theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành các quy định của pháp luật trong lĩnh vực được giám sát, từ đó có các biện pháp nhằm bảo đảm cho lĩnh vực được giám sát vận hành thông suốt, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật.
1.2.2. Khái niệm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
1.2.2.1. Khái niệm phí, lệ phí
Phí và lệ phí là hai nguồn thu ngân sách cơ bản của địa phương. Trước đây, đối với nội dung về phí và lệ phí, các quy định chỉ dừng ở hình thức pháp lệnh, cụ thể là Pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001. Tuy nhiên, theo thời gian, chính sự đa dạng, phức tạp cũng như tỷ trọng đóng góp của hai khoản thu này trong ngân sách Nhà nước đã đặt ra yêu cầu cho sự ra đời của một văn bản mang tính nền tảng, đóng vai trò như một hành lang pháp lý ổn định và đầy đủ để quản lý nguồn thu này. Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 ra đời.
Căn cứ Khoản 1 và 2 Điều 3 Luật Phí và Lệ phí năm 2015 đã đưa ra định nghĩa tương đối rõ ràng và đầy đủ về phí và lệ phí, cụ thể như sau:
“1. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này.
2. Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật này” [38].
Theo quan điểm của tác giả, có thể phân biệt phí và lệ phí dựa trên các tiêu chí sau đây:
Thứ nhất, về mục đích: phí được thu nhằm bù đắp lại phần chi phí để Nhà nước tiến hành cung cấp dịch vụ (không nhằm mục đích lợi nhuận). Lệ phí được thu để thanh toán việc sử dụng dịch vụ mà Nhà nước cung cấp – đó là những dịch vụ công hoặc dịch vụ để phục vụ công việc quản lý của Nhà nước đối với xã hội (không nhằm mục đích bù đắp).
Thứ hai, về thẩm quyền thu: phí được thu bởi trực tiếp bởi cơ quan Nhà nước hoặc ủy quyền cho tổ chức khác (đơn vị hành chính sự nghiệp; cá nhân, tổ chức thuộc khu vực tư nhân). Lệ phí được thu bởi cơ quan Nhà nước.
Thứ ba, về nguyên tắc xác định mức thu: Mức thu phí phải bảo đảm bù đắp chi phí Nhà nước đã hao tổn khi cung cấp dịch vụ và có tính đến yếu tố chính sách phát triển trong từng thời kỳ. Còn mức thu lệ phí thì được ấn định trước.
Thứ tư, về nguyên tắc thu và nộp: Đơn vị thu phí có thể trích giữ lại một phần đã thu để trang trải chi phí hoạt động, phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước. Đơn vị thu lệ phí phải nộp toàn bộ phần đã thu vào ngân sách Nhà nước, chi phí hoạt động của đơn vị do ngân sách Nhà nước bố trí trong dự toán của tổ chức thu theo chế độ, định mức chi ngân sách theo quy định pháp luật.
So với với các quy định trước đây trong quản lý về phí, lệ phí thì Luật Phí và Lệ phí năm 2015 đã có một điểm mới nổi bật khi tăng cường phân cấp về phí và lệ phí cho chính quyền địa phương. Việc phân cấp về phí và lệ phí cho chính quyền địa phương đã tạo điều kiện cho địa phương đó tự cân đối các nguồn thu, chủ động trong việc thu, chi cho địa phương và tận dụng tối đa các nguồn thu của địa phương đó, từ đó tránh tình trạng chính quyền địa phương dựa dẫm vào chính quyền trung ương mà bỏ lọt các nguồn thu từ phí, lệ phí. Hướng đi này không chỉ phù hợp với hệ thống pháp luật ngân sách mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế hiện nay. Với sự đổi mới trong quy định về thẩm quyền quản lý về phí, lệ phí tại địa phương đã đặt ra yêu cầu về việc giám sát việc tuân theo pháp luật về phí và lệ phí của HĐND các cấp. Thông qua giám sát của HĐND, các quy định pháp luật về phí, lệ phí sẽ được bảo đảm tuân thủ đúng và đầy đủ, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
1.2.2.2. Khái niệm tuân theo pháp luật về phí, lệ phí Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Tuân theo pháp luật về phí, lệ phí được hiểu là hành vi của chủ thể được tiến hành phù hợp với quy định của pháp luật về phí và lệ phí, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định.
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích việc UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn của UBND thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Hiến pháp, Pháp lệnh Phí và Lệ phí năm 2001, Luật Phí và Lệ phí năm 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan đến hoạt động thu phí, lệ phí.
Như vậy giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp được hiểu là tổng thể các hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ Đại biểu HĐND và Đại biểu HĐND nhằm xem xét, theo dõi, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, Pháp lệnh, các văn bản pháp quy của cơ quan Nhà nước cấp trên, các Nghị quyết của HĐND đối với UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND trong việc thu phí, lệ phí.
1.2.3. Mục đích giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp
Giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp là một hoạt động có mục đích rõ ràng. Theo quan điểm của tác giả, có ba mục đích cơ bản sau đây mà giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp hướng tới:
Thứ nhất, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động của những đối tượng chịu sự giám sát.
Về mặt nội dung, giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí là tìm hiểu việc UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND có triển khai các quyết định về thu phí, lệ phí của cơ quan Trung ương, của HĐND phù hợp với các mục tiêu lập pháp và quan điểm của chủ thể ra quyết định hay không. Đây là một liệu pháp biện chứng để tăng cường chức năng lập pháp của Quốc hội ở Trung ương, cũng như chức năng quyết định của HĐND ở địa phương.
Về mặt pháp lý, giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí là để chống lại sự độc đoán trong quản lý hành chính Nhà nước và bảo đảm sự hiệu quả của hoạt động thu phí, lệ phí. Thông qua giám sát của HĐND, các quy định về thu phí, lệ phí được bảo đảm thực thi đầy đủ, đúng đắn trên thực tiễn. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Trong định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền, nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật luôn được đặt lên vị trí ưu tiên khi xem xét bất kì một hành vi của bất kì cá nhân, tổ chức nào. Đó là lý do vì sao, tác giả nhận định và xác định việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động phí, lệ phí của những đối tượng chịu sự giám sát là mục đích đầu tiên trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp.
Thứ hai, rà soát, phát hiện, khắc phục hạn chế trong hoạt động thu phí, lệ phí.
Phí và lệ phí là nguồn thu cơ bản của ngân sách địa phương, là khoản tài chính tác động trực tiếp lên quyền lợi kinh tế của các cá nhân, tổ chức tại địa phương. Do đó, việc thu đúng, thu đủ, phương thức thu phù hợp là mục tiêu mà cả chủ thể thu và đối tượng bị thu đều hướng tới nhằm đạt được sự hài hòa về lợi ích giữa các bên.
Tại các quốc gia trên, giám sát là một trong những chức năng quan trọng của Hội đồng địa phương, bởi lẽ với tư cách là thiết chế do cử tri địa phương bầu ra, đại diện cho cử tri, Hội đồng theo dõi, đánh giá xem cơ quan hành chính địa phương thực hiện các quyết định Hội đồng đưa ra trong phạm vi địa phương như thế nào, nhằm bảo đảm các hoạt động hành chính địa phương hiệu quả, tin cậy, minh bạch, trung thực, hợp pháp và đúng mục đích. Tại nước ta, giám sát của HĐNĐ ở địa phương cũng bao hàm những mục tiêu này. Không đơn thuần là xem xét để có được kết quả, hoạt động giám sát của HĐND tiến tới mục tiêu cao hơn đó là sự khắc phục và hoàn thiện. Về mặt bản chất, hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước là để phục vụ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, còn thành viên HĐND lại là đại biểu dân cử. Vì vậy khi thực hiện giám sát, HĐND không chỉ kiểm tra, phát hiện mà còn yêu cầu khắc phục đối với những hạn chế trong hoạt động thu phí, lệ phí của cơ quan quản lý Nhà nước.
Giám sát của HĐND có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh cần phải tăng cường quản trị địa phương. Đây là phương thức để yêu cầu, ràng buộc các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm phải giải trình trước toàn thể HĐND, đại biểu Hội đồng HĐND cũng như nhân dân địa phương.
Thứ ba, kiểm tra tính khả thi, phù hợp của quy định pháp luật, quyết định quản lý của cơ quan Nhà nước trong việc thu phí, lệ phí đối với đời sống xã hội tại địa phương. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Có một thực tế khách quan là sự vận động của xã hội là không ngừng và toàn diện, còn Nhà nước thì luôn muốn sự phát triển của xã hội nằm trong khuôn khổ có thể quản lý và điều hành. Đây là một quan điểm về quản lý cố hữu bền vững, tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại kể từ khi có mô hình “Nhà nước” ra đời. Xã hội trong Nhà nước pháp quyền được vận hành trên nguyên tắc pháp luật là tối thượng, nhưng đó là góc nhìn của chủ thể quản lý, còn dưới góc nhìn của xã hội, tiến bộ không ngừng mới là mục tiêu tối cao. Thực tế chứng minh, xã hội có thể tiến xa hơn những gì pháp luật dự kiến điều chỉnh, khi đó, sự thiếu khả thi, không phù hợp có thể xảy ra và cần khắc phục. Vì vậy, cần một chủ thể theo dõi, xem xét, đánh giá tính phù hợp của các quy định pháp luật nói chung và quy định pháp luật về phí, lệ phí nói riêng đối với nguyện vọng của các cá nhân, tổ chức tại địa phương cũng như định hướng phát triển của địa phương, và HĐND chính là chủ thể phù hợp nhất.
1.2.4. Chủ thể giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp
Chủ thể giám sát trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND bao gồm: HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND (thành phố, quận, huyện) và đại biểu HĐND.
1.2.5. Đối tượng giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí Hội đồng nhân dân các cấp
Đối tượng chính trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp là UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 22 Luật Phí và Lệ phí năm 2015 đã quy định thẩm quyền và trách nhiệm của UBND cấp tỉnh như sau: (1) trình HĐND cấp tỉnh quyết định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền; (2) tổ chức thực hiện và báo cáo tình hình thực hiện thu phí, lệ phí ở địa phương với cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền và HĐND cấp tỉnh [38].
Theo đó, trên cơ sở ý kiến tham mưu của các cơ quan chuyên môn, UBND cấp tỉnh sẽ trình HĐND cấp tỉnh phê duyệt Đề án về một loại phí, lệ phí trong đó có xác định các nội dung cơ bản như: mức thu, đối tượng bị thu, đơn vị thực hiện thu, phương thức thu. Trong đối nội dung đơn vị thực hiện thu sẽ được xác định trên cơ sở quy định pháp luật quản lý về phí, lệ phí hoặc do UBND cấp tỉnh giao/ủy quyền thực hiện.
UBND cấp xã thường được giao thu một số loại phí, lệ phí sau: phí chứng thực (trước đây là lệ phí chứng thực); phí sử dụng lề đường, bến bãi, mặt nước; phí qua đò; lệ phí cấp bản sao trích lục từ hộ tịch; lệ phí đăng ký kết hôn; lệ phí thay đổi, bổ sung đăng ký kinh doanh… Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
UBND cấp huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thường được giao thu một số loại phí, lệ phí sau: phí chứng thực (trước đây là lệ phí chứng thực); phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; các loại phí trong lĩnh vực giao thông vận tải trừ phí qua đò; lệ phí chứng minh nhân dân, căn cước công dân; lệ phí hộ tịch; lệ phí môn bài từ mức 1 đến mức 3…
Các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh được phân công thực hiện thu một số loại phí, lệ phí sau: phí và lệ phí trong công tác thú y; phí thẩm định trong lĩnh vực nông nghiệp; phí cung cấp thông tin doanh nghiệp; lệ phí đăng ký doanh nghiệp; phí, lệ phí trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam; phí chứng nhận lãnh sự và hợp pháp hóa lãnh sự…
Nhìn chung, theo danh mục phí và lệ phí đính kèm Luật Phí và Lệ phí năm 2015, đối với từng nhóm phí, lệ phí thuộc các lĩnh vực, sẽ có sự phân công tổ chức thu phí, lệ phí bởi cơ quan quản lý Trung ương hoặc do HĐND cấp tỉnh tại địa phương phê duyệt phân công theo đề xuất của UBND.
1.2.6. Nội dung giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp
Chủ thể giám sát sẽ theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND trong các bước thực hiện thu phí, lệ phí để kiểm chứng tính khả thi, phù hợp và tuân thủ của các hoạt động này với quy định pháp luật hiện hành.
Khi xem xét các quy định pháp luật về phí, lệ phí trong giai đoạn 2011 đến nay, có thể chia thành hai giai đoạn, nhiệm kỳ 2011-2016 với hành lang pháp lý là Pháp lệnh Phí và Lệ phí năm 2001 và nhiệm kỳ 2016-2018 với hành lang pháp lý là Luật Phí và Lệ phí 2015 (Luật này bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2017). Mặc dù có sự thay đổi cụ thể trong hành lang pháp lý điều chỉnh các nội dung về phí và lệ phí nhưng về mặt nguyên tắc chung, các quy định pháp lý trong giai đoạn 2011 đến nay đều tập trung hướng dẫn, quy định các nội dung cơ bản sau: (1) thẩm quyền thu phí, lệ phí; (2) nguyên tắc xác định mức thu phí, lệ phí; (3) quy trình thủ tục thu phí, lệ phí.
Tuy nhiên, tùy theo tình hình kinh tế, xã hội tại mỗi địa phương mà giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp sẽ có sự chọn lọc, tập trung để đáp ứng nhu cầu của xã hội và nguyện vọng của nhân dân địa phương.
1.2.7. Hình thức giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Các hình thức cơ bản, chủ yếu được chủ thể giám sát áp dụng khi thực hiện giám sát việc tuân theo pháp luật về thu phí, lệ phí gồm có:
Thứ nhất, xem xét báo cáo của UBND về việc kết quả thực hiện thu phí, lệ phí.
Đây là hình thức giám sát trực tiếp đặc biệt quan trọng của HĐND. Theo đó, HĐND xem xét, thảo luận báo cáo công tác của UBND cùng cấp tại kỳ họp cuối năm. Tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này có trách nhiệm gửi báo cáo công tác đến các đại biểu HĐND, trong trường hợp xét thấy có những nội dung cần phải thảo luận ngay, HĐND có thảo luận ngay những nội dung này mà không cần phải chờ đến kỳ họp cuối năm. Việc xem xét, thảo luận các báo cáo định kỳ (hàng năm hoặc sáu tháng) tại các kỳ họp định kỳ phải được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ do luật định. Các báo cáo cần thẩm định có thể được chuyển đến các Ban của HĐND để nghiên cứu trước theo quyết định của Chủ tịch HĐND hoặc của người điều khiển phiên họp. Các Ban sau khi nghiên cứu có thể đưa ra các ý kiến tham gia và phải chuẩn bị báo cáo thuyết trình thẩm tra trước HĐND.
Việc HĐND xem xét, thảo luận các báo cáo được diễn ra theo trình tự sau đây: người đứng đầu các cơ quan bị giám sát sẽ trình bày báo cáo, Trưởng ban của Ban chuyên môn thuộc HĐND trình bày báo cáo thẩm tra, HĐND thảo luận, người đứng đầu cơ quan bị giám sát giải trình các nội dung đã báo cáo theo yêu cầu cuộc họp và có thể trình bày thêm những vấn đề khác có liên quan mà HĐND quan tâm, HĐND ra Nghị quyết về công tác của cơ quan đã báo cáo nếu xét thấy cần thiết.
Trong các hình thức giám sát của HĐND, thì đây là hình thức cơ bản và được thực hiện ở tất cả các cấp của HĐND. Việc thực hiện hình thức này có ưu điểm đó là cả chủ thể giám sát và đối tượng giám sát đều có thời gian để chuẩn bị và nghiên cứu tài liệu trước khi nội dung được đưa ra thảo luận nên về mặt thông tin sẽ bảo đảm tính đầy đủ và chặt chẽ.
Thứ hai, xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch UBND, thành viên UBND và thành viên các cơ quan chuyên môn của UBND đối với những câu hỏi về hoạt động thu phí, lệ phí. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 115 Hiến pháp 2013, đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND và Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND và người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND. Đại biểu HĐND trong quá trình lắng nghe chất vấn và trả lời chất vấn của người có trách nhiệm có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương làm rõ nội dung về hoạt động thu phí, lệ phí đã trình bày trong báo cáo hoặc trong câu trả lời chất vấn. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu HĐND.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã cụ thể hóa nguyên tắc hiến định này tại Điểm đ Khoản 1 Điều 5 và Điều 60. Theo đó, tại kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND sẽ thực hiện hoạt động chất vấn các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động thu phí, lệ phí theo quy trình sau đây:
Đại biểu HĐND nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể. Ý kiến chất vấn của đại biểu HĐND có thể là yêu cầu làm rõ nội dung đã trình bày trong báo cáo tình hình hoạt động thu phí, lệ phí tại địa phương do UBND, cơ quan chuyên môn của UBND cung cấp, cũng có thể là yêu cầu làm rõ nội dung chưa được trình bày trong báo cáo nhưng đại biểu HĐND nhận thấy có liên quan mật thiết đến hoạt động thu phí, lệ phí đang diễn ra tại địa phương. Trong trường hợp, câu hỏi chất vấn của đại biểu HĐND phản ánh nội dung chưa được trình bày trong báo cáo, tính chính xác, cụ thể của nguồn thông tin số liệu được đại biểu HĐND sử dụng để dẫn chứng là điều kiện quan trọng quyết định nội dung đó có thể được giải đáp trực tiếp ngay tại cuộc họp hay sẽ phải phản hồi bằng một hình thức khác.
Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại biểu HĐND đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có). Trong lĩnh vực phí và lệ phí cần có sự tham gia của nhiều cơ quan chuyên môn, từ đơn vị tham mưu cách thức xây dựng biểu phí, lệ phí, đến cơ quan thực hiện thu phí, lệ phí. Do đó, để có được một câu trả lời trực tiếp, đúng trọng tâm thì nội dung chất vấn phải được đặt vào đúng đối tượng cần giải trình. Theo đó, để công tác chất vấn và trả lời chất vấn được thực chất và hiệu quả, cả chủ thể chất vấn và đối tượng bị chất vấn đều cần nắm rõ nội dung chất vấn để có thể hỏi đúng người, đúng nội dung.
Trường hợp đại biểu HĐND không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời. Đối với các câu hỏi chất vấn xoay quay việc tuân theo quy định pháp luật về phí, lệ phí, vốn là một phạm trù thuộc lĩnh vực tài chính thì việc phân tích số liệu để có thể trình bày tường tận trực tiếp tại cuộc họp là khá phức tạp. Do đó, cách đặt câu hỏi và cách trả lời câu hỏi sẽ quyết định ý kiến, nội dung chất vấn đó có thể giải quyết dứt điểm ngay tại cuộc họp hay không, nhất là khi thời lượng cuộc họp có hạn còn nội dung chất vấn thì nhiều. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của đại biểu HĐND về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình. Trong lĩnh vực phí, lệ phí, sự tương tác chủ yếu diễn ra giữa cơ quan quản lý Nhà nước và chủ thể nộp phí, lệ phí, sự liên quan của các đối tượng khác như các hiệp hội, chuyên gia tư vấn dù hữu ích nhưng chưa nhiều, chưa toàn diện nên việc chất vấn và trả lời chất vấn của những đối tượng này chưa thực sự được quan tâm triệt để.
Ngoài phương thức trả lời chất vấn ngay tại cuộc họp, HĐND có quyền cho người bị chất vấn trả lời chất vấn bằng văn bản trong các trường hợp sau đây:
Vấn đề chất vấn cần được điều tra, xác minh. Như đã phân tích ở trên, đại biểu HĐND có thể chất vẫn những nội dung liên quan đến lĩnh vực phí, lệ phí chưa được trình bày trong báo cáo tại kỳ họp với những số liệu, dẫn chứng từ nhiều nguồn khác nhau. Do đó, việc điều tra và xác minh là cần thiết để có thể đưa ra những câu trả lời thích đáng.
Chất vấn thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp nhưng chưa được trả lời tại kỳ họp. Với số lượng lớn phí, lệ phí đang được triển khai áp dụng theo quy định của Luật Phí và Lệ phí 2015, nội dung chất vấn việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí theo đó cũng phong phú và phức tạp hơn cả. Bên cạnh đó, sự hạn chế trong vấn đề thời gian chất vấn (thời lượng cuộc họp, số lượng kỳ họp) thì không thể trực tiếp giải đáp tất cả các hạng mục phí, lệ phí. HĐND có quyền cho đối tượng bị chất vấn trả lời bằng văn bản nếu thấy cần thiết và phù hợp.
Người bị chất vấn sẽ phải trực tiếp trả lời bằng văn bản. Văn bản trả lời chất vấn được gửi đến đại biểu HĐND đã chất vấn, Thường trực HĐND trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày chất vấn.
Để bảo đảm hiệu quả hoạt động chất vấn cũng như tăng cường trách nhiệm của người bị chất vấn, Điều 60 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 còn quy định khi đại biểu HĐND không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền đề nghị HĐND đưa ra thảo luận tại kỳ họp HĐND hoặc kiến nghị HĐND xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn. Cuối cùng, HĐND có thể ra Nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi thấy cần thiết.
Chất vấn là cơ hội để HĐND, đại biểu HĐND có thể nghe UBND, cơ quan chuyên môn của UBND trình bày một cách trực tiếp, rõ ràng quan điểm, cách thức, kết quả thực hiện hoạt động thu phí, lệ phí.
Thứ ba, xem xét quyết định của UBND về việc hướng dẫn thực hiện thu phí, lệ phí.
Trên cơ sở Nghị quyết của HĐND, UBND sẽ ban hành các Quyết định hướng dẫn việc thực hiện thu phí, lệ phí. Các Quyết định này không được vi phạm nguyên tắc Hiến định, luật định và không được trái với nội dung Nghị quyết của HĐND.
Để bảo đảm hiệu quả của hoạt động này, tại các kỳ họp HĐND cũng như giữa hai kỳ họp, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và từng đại biểu HĐND phải thường xuyên thực hiện việc giám sát các văn bản thuộc thẩm quyền của mình nhằm có những kiến nghị, đề xuất kịp thời. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Các bước để HĐND xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy định việc thực hiện thu phí, lệ phí được quy định tại Khoản 2 Điều 61 Luật Hoạt động giám sát của quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, cụ thể như sau:
- Đại diện Thường trực HĐND trình bày tờ trình văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên;
- HĐND thảo luận;
- Trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan;
- HĐND ra nghị quyết về việc xem xét văn bản. Nghị quyết này sẽ phản ánh một trong những kết quả sau: (1) HĐND nhận định văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành không trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên; (2) bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần toàn bộ văn bản đó;
Thứ tư, giám sát chuyên đề về thu phí, lệ phí.
Theo Điều 62, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, khi xét thấy cần thiết phải xác minh, làm rõ, hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể về hoạt động thu phí, lệ phí thì HĐND có quyền thành lập Đoàn giám sát. Hàng năm, căn cứ vào chương trình giám sát đề ra, nếu có nội dung về thu phí, lệ phí, HĐND ban hành Nghị quyết thành lập đoàn giám sát theo đề nghị của Thường trực HĐND trong đó xác định rõ đối tượng, phạm vi, loại phí/lệ phí thực hiện giám sát, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Trong quá trình làm việc với đối tượng bị giám sát, Đoàn giám sát có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đồng thời giải trình vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm. Khi phát hiện có hành vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến nguồn thu ngân sách của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật. Đối với giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí, hoạt động giám sát chuyên đề là công cụ quan trọng để HĐND có được cái nhìn chi tiết, toàn diện đối với một loại phí, lệ phí xác định. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
1.3. Tiêu chí đánh giá và bảo đảm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp
1.3.1. Tiêu chí đánh giá giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp
Theo tác giả, đánh giá giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp cần dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau:
Thứ nhất, mức độ thực hiện thẩm quyền của chủ thể giám sát.
Mức độ thực hiện thẩm quyền phản ánh qua tính đúng đắn và đầy đủ khi thực hiện giám sát của chủ thể giám sát.
Theo quan điểm của tác giả, khả năng giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp được đánh giá thông qua việc thực thi một cách đầy đủ, trọn vẹn thẩm quyền giám sát trên thực tế của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND, Tổ đại biểu HĐND. Tác giả không chỉ quan tâm đến việc thực hiện theo giới hạn pháp luật mà còn có sự đánh giá mức độ bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân địa phương và thái độ đấu tranh chống lại những hành vi trái pháp luật của các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND. Điều này được thể hiện trong việc chủ thể giám sát phản ánh đúng đắn và chính xác các kiến nghị cũng như giải quyết triệt để những kiến nghị đó. Trên thực tế, để có thể thực hiện được tiêu chí này không đơn giản khi mà đại biểu HĐND có rất nhiều sự “ràng buộc” trong quá trình giải quyết công việc. Đó có thể những ràng buộc về mặt kinh tế, chính trị, thậm chí là nhân thân đối với đối tượng bị giám sát. Đặc biệt, trong lĩnh vực phí, lệ phí thì sự tham gia của cơ quan quản lý Nhà nước là vô cùng rõ ràng nên sự “ràng buộc” này là khó tránh.
Khi xem xét tiêu chí này, có thể nhận thấy giám sát chỉ được bảo đảm khi chủ thể giám sát ý thức được đầu đủ vai trò đại diện của mình, có khả năng và bản lĩnh sử dụng đúng và tối đa thẩm quyền mà mình được trao một cách linh hoạt thông qua các công cụ giám sát đặc thù. Đây chính là thước đo khả năng đại diện và mức độ thực hiện chức năng đại diện của đại biểu HĐND với cử tri. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Thứ hai, ý thức thái độ của các đối tượng giám sát trong việc chấp hành, thực hiện các kiến nghị giám sát.
Thông qua hoạt động giám sát, chủ thể giám sát có quyền đưa ra các kiến nghị sau giám sát và sau đó cần phải có sự đôn đốc, theo dõi việc giải quyết các kiến nghị đó. Khi áp dụng tiêu chí này để đánh giá hoạt động giám sát cần căn cứ vào mục đích, nội dung, đối tượng và phạm vi giám sát. Chất lượng giám sát đạt được ở mức độ nào phụ thuộc nhiều vào ý thức, thái độ, tuân thủ các kiến nghị giám sát và tổ chức thực hiện các kiến nghị đó trên thực tế của các đối tượng giám sát. Về mặt hình thức, chúng ta có thể quan sát và đánh giá chất lượng giám sát qua những tác động của kiến nghị giám sát tới xã hội và sự chuyển biến của xã hội sau khi những kiến nghị được thực hiện. Ở tiêu chí này, tác giả muốn thể hiện sự lưu tâm đặc biệt đến sự thay đổi về mặt thực tiễn của xã hội và cho rằng cần dựa trên những kết quả cụ thể để nhìn nhận, đánh giá, xác định từ khía cạnh sức ảnh hưởng của các kiến nghị giám sát và mức độ tuân thủ của đối tượng giám sát để kết luận hiệu quả hoạt động giám sát. Bởi vì mục tiêu cao nhất của giám sát chính việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí chính là bảo đảm bảo phí, lệ phí được thu đúng và đủ.
Thứ ba, sự đánh giá của dư luận xã hội về kết quả giám sát.
Một trong những nguồn thông tin hữu ích cho công tác giám sát chính là ý kiến của dư luận xã hội, ý kiến đó có thể tích cực hoặc tiêu cực và nó sẽ một trong những thước đo đánh giá tính hiệu quả của hoạt động giám sát. Với địa vị pháp lý là cơ quan dân cử, đại diện cho Nhân dân nên các ý kiến phản hồi của cử tri về hoạt động của HĐND là vô cùng quan trọng. Thông qua các phương thức khác nhau: trực tiếp (qua các cuộc tiếp xúc cử tri, qua đơn thư…) hay gián tiếp (qua các phương tiện thông tin đại chúng…) cử tri có thể nêu ý kiến đánh giá kết quả hoạt động giám sát của HĐND trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp xây dựng chương trình giám sát, cách thức triển khai công tác giám sát, giá trị của các kiến nghị sau giám sát của chủ thể giám sát. Vì vậy, khi đánh giá giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp cần quan tâm đến yếu tố sự đánh giá của dư luận xã hội và coi đây là một trong những tiêu chí để đánh giá giám sát.
Thứ tư, mức độ đạt được mục đích, yêu cầu giám sát đặt ra. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Như đã phân tích ở những nội dung trước, giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích và được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu nhất định, phụ thuộc vào nội dung giám sát. Vì vậy, khi HĐND xây dựng chương trình giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí cần xác định rõ mục đích chung và mục đích cụ thể cũng như những yêu cầu đặt ra để đạt được mục đích, bao gồm cả mục đích về quản lý Nhà nước và mục đích về hiệu quả kinh tế. Cần lưu ý ở đây là chúng ta chỉ có thể đánh giá khi chấm điểm đồng thời cả hai yếu tố này, thay vì chỉ quan tâm đến mức độ hoàn thành của một trong hai yếu tố. Bởi vì có nhiều phương thức khác nhau để đạt được mục đích, nhưng với mỗi điều kiện, hoàn cảnh, chủ thể giám sát lại có những yêu cầu khác nhau khi tiến hành giám sát. Như vậy, để đánh giá giám sát một cách chính xác thì cần phải xem xét mức độ hoàn thành của cả hai yếu tố mục đích và yêu cầu. Tóm lại, giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp chỉ được bảo đảm khi thực hiện được mục đính cơ bản làm bảo đảm hài hòa lợi ích Nhà nước và xã hội.
Thứ năm, các kết quả cụ thể đạt được do tác động của hoạt động giám sát.
Khi thực hiện giám sát, chủ thể giám sát đều mong muốn nhìn thấy những kết quả cụ thể. Kết quả này được phản ánh thông qua sự thay đổi của các quan hệ xã hội trước và sau khi tiến hành giám sát. Để đánh giá hoạt động của đối tượng giám sát, trước hết, phải căn cứ vào mức độ thay đổi của các quan hệ trước và sau giám sát. Yếu tố này được coi là thước đo phản ánh giá trị mà nó đem lại cho xã hội. Căn cứ để xác định kết quả giám sát là việc thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát cũng như mức độ hoàn thành các nhiệm vụ giám sát cụ thể, hoặc kết quả thực hiện các kiến nghị giám sát của đối tượng giám sát ở từng mức độ.
Thứ sáu, cách thức sử dụng chi phí phục vụ hoạt động giám sát.
Mọi hoạt động đều cần có nguồn lực để thực hiện, giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp cũng không ngoại lệ. Để thực hiện hoạt động này, chủ thể giám sát cần đầu tư cả nhân lực và vật lực, nhưng đầu tư như thế nào cho hiệu quả lại là một tiêu chí để đánh giá và so sánh. Mục tiêu mà bất kì chủ thể giám sát nào cũng mong muốn đạt được đó là chi phí để thực hiện ở mức thấp nhưng đủ bảo đảm cho các chủ thể giám sát phát huy tối đa vai trò, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ với mức độ cao nhất.
Điều này có nghĩa là, chủ thể giám sát phải có chương trình giám sát hợp lý và khoa học.
Chất lượng giám sát không thể xác định theo cảm tính, ý thích mà cần có những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể. Đồng thời những tiêu chí, tiêu chuẩn đó phải được đo lường bằng các phương pháp khoa học chứ không phải là sự tùy.
Tuy nhiên cũng không nên đo lường các tiêu chí một cách cứng nhắc mà cần có sự linh hoạt và chuyên nghiệp của những cá nhân, tổ chức có chuyên môn và trách nhiệm. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Lĩnh vực phí, lệ phí là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu, do đó việc đầu tư kiến thức và con người để thực hiện giám sát là điều cần thiết. Tuy nhiên, trong hạn mức chi phí được phép sử dụng của HÐND, việc thuê một chuyên gia giỏi hỗ trợ trong quá trình giám sát là vấn đề cần cân nhắc kĩ càng. Với danh mục phí, lệ phí phong phú như hiện nay, có lẽ việc thuê chuyên gia hỗ trợ hoặc thuê các hình thức hỗ trợ khác khi giám sát nội dung này cần có sự sàng lọc, lựa chọn. Theo quan điểm của tác giả, không phải loại phí, lệ phí nào cũng cần chuyên gia tư vấn và không phải đợt giám sát nào cũng cần chuyên gia tham gia. Việc sắp xếp, lựa chọn thời điểm thuê chuyên gia hoặc sử dụng các hình thức hỗ trợ khác khi HĐND thực hiện giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí sẽ do HĐND cân đối giữa yêu cầu khách quan và điều kiện chủ quan, không nhất thiết phải giống nhau ở các cấp HĐND tại một địa phương hoặc HĐND tại các địa phương khác nhau.
1.3.2. Các yếu tố bảo đảm giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp
Để hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp đạt được mục đích kỳ vọng, cần thiết lập các yếu tố bảo đảm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, yếu tố pháp lý là yếu tố có tính chất tiên quyết trong các yếu tố bảo đảm giám việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp. Yếu tố pháp lý trong nội dung này gồm các quy định pháp luật về giám sát của HĐND và các quy định pháp luật về phí, lệ phí. Đây là yếu tố được tác giả đề cập đến đầu tiên vì nó phản ánh quan điểm của Nhà nước về hoạt động giám sát của HĐND nói chung, giám việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí nói riêng. Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả sẽ tập trung vào yếu tố pháp lý liên quan đến giám sát của HĐND. Theo đó, đối với nội dung giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp, các quy định pháp luật cần giải quyết được những yêu cầu sau:
- Phân cấp giám sát giữa các cấp HĐND phải đầy đủ và không chồng chéo.
- Phương pháp và cách thức giám sát phải đa dạng nhưng chặt chẽ.
- Hình thức kiểm tra việc thực hiện kiến nghị, kết luận sau giám sát phải toàn diện.
- Chế tài áp dụng cho đối tượng bị giám sát phải nghiêm khắc.
Thứ hai, yếu tố tổ chức bộ máy và nguồn lực là yếu tố chủ quan rất quan trọng quyết định chất lượng họat động giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Nhân lực là yếu tố cơ bản và quan trọng để bộ máy vận hành một cách trơn tru và hiệu quả. Trong giám sát nói chung và giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp nói riêng thì chất lượng làm việc của đại biểu HĐND, các tổ đại biểu HĐND, Thường trực của HĐND sẽ quyết định chất lượng giám sát.
Xét ở khía cạnh cơ cấu tổ chức, tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách trong HĐND luôn là vấn đề được quan tâm và kỳ vọng. Tuy nhiên, việc tăng số lượng đại biểu chuyên trách không được làm phình to bộ máy quản lý công cũng như gia tăng chi phí quản lý khu vực công của Nhà nước.
Xét ở khía cạnh nguồn lực, đại biểu HĐND cần có kiến thức và kỹ năng để thực hiện công tác giám sát một cách đúng đắn và chuẩn mực. Rất khó có thể bảo đảm tính đồng đều về yếu tố kiến thức chuyên môn giữa các đại biểu HĐND, nhưng kỹ năng giám sát thì có thể đào tạo và rèn luyện. Việc nâng cao kỹ năng giám sát cho đại biểu HĐND không chỉ là trách nhiệm của HĐND mà còn là ý thức của chính mỗi đại biểu.
Thứ ba, yếu tố phương thức giám sát là yếu tố bảo đảm sự chủ động, linh hoạt trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp. Quy định pháp luật là hành lang pháp lý để HĐND thực hiện giám sát, nhưng phương thức triển khai các quy định đó trên thực tế là điều kiện để bảo đảm hiệu quả giám sát của HĐND. Phương thức linh hoạt thì hoạt động sẽ hiệu quả. Nội dung này được thể hiện ở những khía cạnh như cách thức xây dựng kế hoạch giám sát, cách thức xem xét, đánh giá, kết luận giám sát và cách thức kiểm tra hậu giám sát. Phí và lệ phí là các khoản thu định kỳ và ít có sự biến động trong thời gian ngắn, việc điều chỉnh mức thu cũng cần có quy trình, do đó việc xây dựng kế hoạch giám sát là hoàn toàn có thể thực hiện được. Bên cạnh đó, khi tiến hành xem xét, đánh giá công tác thu phí, lệ phí, HĐND cũng không chỉ tập trung vào UBND các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc UBND có quyền thu mà cũng cần lắng nghe ý kiến của đối tượng bị thu để có cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn. Số lượng phí, lệ phí được thu trên địa bàn mỗi địa phương không phải là ít, để có thể giám sát một cách toàn diện thì HĐND mỗi cấp cần thiết lập thời điểm, cách thức giám sát phù hợp với tình hình địa phương, thay vì rập khuôn, máy móc, hình thức.
Thứ tư, yếu tố điều kiện vật chất, chi phí trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp là một yếu tố bảo đảm cần thiết nhưng có tính chất hai mặt. Một mặt, giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí thường đánh giá là phức tạp về chuyên môn, nên sự hợp tác, hỗ trợ từ các chuyên gia là đặc biệt hữu ích, do đó việc tăng cường đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát của HĐND đối với lĩnh vực phí, lệ phí là cần thiết. Mặt khác, việc đầu tư kinh phí cần bảo đảm sự cân đối giữa ngân sách hoạt động của HĐND và mục đích giám sát, nên cần đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.
Thứ năm, yếu tố sự hợp tác của đối tượng chịu sự giám sát là yếu tố bảo đảm quan trọng không chỉ tồn tại trong những bước đầu tiên của quá trình giám sát mà còn quyết định giá trị thiết thực của hoạt động giám sát, vốn là hoạt động chỉ thực sự đạt được mục đích kỳ vọng khi có sự hợp tác nghiêm túc giữa hai bên. Yếu tố hợp tác ở đây tồn tại trong cả ba giai đoạn là giai đoạn tiền giám sát, giám sát và hậu giám sát. Khi HĐND các cấp giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí, thì số liệu thống kê là số liệu cơ bản. Tuy nhiên, việc cung cấp những số liệu gì phụ thuộc khá nhiều vào ý thức của đối tượng bị giám sát. Như đã phân tích ở trên, các đại biểu HĐND có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực này chưa nhiều, do đó khi thực hiện giám sát, để chủ thể giám sát có thể đưa ra đầy đủ các yêu cầu và phân tích sâu sắc về nội dung là không đơn giản. Đặc biệt, trong giai đoạn hậu giám sát, việc kiến nghị giám sát có sớm được triển khai hay không phụ thuộc nhiều vào đối tượng giám sát. Do đó, đề cao tính hợp tác giữa các bên là một điều cần thiết. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
Tiểu kết chương 1
Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung và HĐND nói riêng là yêu cầu khách quan để góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam.
Với vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân địa phương, chất lượng hoạt động của HĐND là thước đo cho sự phát triển và hoàn thiện của bộ máy quản lý Nhà nước.
Vì vậy, bảo đảm giám sát của HĐND nói chung và giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp nói riêng là một trong những phương hướng và giải pháp của quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, là bước đi cơ bản và quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Luận văn: Pháp luật về phí lệ phí của Hội đồng nhân dân.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng
