Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của hội đồng nhân dân các cấp ở thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên xã hội và kinh tế thành phố Hải Phòng từ 2011 đến nay

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên xã hội

Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2. Thành phố có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 21001’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình. Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú với nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa, nơi đây nổi tiếng với không ít danh lam thắng cảnh tự nhiên, tươi đẹp. Không chỉ được ưu đãi về tự nhiên, Hải Phòng còn là một thành phố có bề dày lịch sử với nhiều di tích văn hóa, lịch sử gắn liền với những chiến công anh hùng, bất khuất của những người con đất biển [49].

Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương – là đô thị loại 1 cấp quốc gia gồm 07 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 06 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 02 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 223 xã, phường và thị trấn [49].

Đến với thành phố Hải Phòng, con người Hải Phòng là đến với sự cởi mở, thân thiện, hào sảng và thiện chí.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Đặc điểm kinh tế

Hải Phòng được đánh giá là trung tâm công nghiệp và thương mại lớn của cả nước, và cũng là trung tâm dịch vụ, du lịch, kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc bộ và là nhịp cầu thông thương với cả các nước trong khu vực. Đây là địa phương duy nhất miền Bắc hội tụ đủ 5 loại hình giao thông: đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa và đường hàng không. Đây là một lợi thế so sánh giúp Hải Phòng luôn nằm trong danh sách những thành phố đầu tư tiềm năng của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Trong đó, phát triển kinh tế cảng biển là một trong những mũi nhọn kinh tế của thành phố [49]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, định hướng của Hải Phòng trong thời gian tới là tập trung huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế, phát huy lợi thế về vị trí địa lý, gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, hợp tác chặt chẽ với Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước.

Trong 05 năm trở lại đây, kinh tế thành phố đã có những bước chuyển mình ngoạn mục và mạnh mẽ. Đây cũng là nền tảng quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực phí, lệ phí tại thành phố trong những năm qua. Sau đây, tác giả xin được điểm qua một số chỉ số tăng trưởng kinh tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011 đến nay.

Năm 2011, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của thành phố tăng 11,03% (KH: ≥12%), trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là nhóm dịch vụ với 53,13% tỷ trọng GDP toàn thành phố, tăng 12,87% (KH 13,5÷14,5%) [4].

Năm 2012, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của thành phố tăng 8,12% (KH: 11,50 ÷ 12,50%), trong đó nhóm dịch vụ tiếp tục chiếm tỷ trọng cao với 53,10% tỷ trọng GDP toàn thành phố (KH 13,0%÷14,0%) [5].

Năm 2013, tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,15% (KH tăng 8,5% ÷ 9 %). Mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn so với nhiều năm trước và so với kế hoạch đã đề ra nhưng đây là mức tăng trưởng hợp lý và là kết quả đáng ghi nhận của thành phố trong bối cảnh kinh tế thế giới, cả nước và thành phố gặp rất nhiều khó khăn [6].

Năm 2014, tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 8,5%, trong đó nhóm công nghiệp – xây dựng có chỉ số tăng trưởng cao nhất với tỷ lệ 10,8% [7].

Năm 2015, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố tăng 10,24% so cùng kỳ năm trước (KH tăng 8,5 – 9%) và tiếp tục là một năm tăng trưởng tốt của nhóm công nghiệp – xây dựng với tỷ lệ tăng là 13,65% (KH tăng 8,44% ÷ 9,36%) [8].

Năm 2016, tổng sản phẩm trên địa bàn (giá so sánh 2010) đạt 105.610 tỷ đồng, tăng 11,0% so cùng kỳ năm 2015 (năm 2015 tăng 10,24%), bằng 108,1% so với kế hoạch, trong đó khu vực công nghiệp – xây dựng đạt 43.239,3 tỷ đồng và tiếp tục là nhóm có mức tăng cao nhất với tỷ lệ tăng là 14,32% [9]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 14,01%, cao nhất cả nước. Kết quả này đã phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thành phố. Riêng thu nội địa dạt 21.500,3 tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ, hoàn thành chỉ tiêu thu nội địa theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ

Tính đến hết 07 tháng đầu năm 2018, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố ước đạt 38.702,1 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách địa phương 15.1954,5 tỷ đồng – tăng 15% so với cùng kỳ năm 2017, thu nội địa đạt 13.047,5 tỷ đồng, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2017 [47].

Theo kết quả thống kê về năng lực cạnh tranh năm 2017, Hải Phòng vươn lên vị trí thứ 9, tăng 12 bậc trong Bảng xếp hạng Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2017 và nằm trong 10 địa phương có chất lượng điều hành tốt nhất của cả nước [30]. Đây là một bước tiến tích cực của Hải Phòng về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Bên cạnh đó, nhiều dự án lớn đang được triển khai, hoàn thiện, đưa vào khai thác tại địa phương, góp phần tạo nên một thành phố hiện đại, văn minh. Đây là một kết quả đáng tự hào của thành phố, là thành quả của sự đồng tâm, nỗ lực trong công tác lãnh đạo của HĐND, điều hành của UBND và sự đóng góp tích cực của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tại thành phố Hải Phòng.

2.2. Khái quát về tổ chức bộ máy, cơ cấu đại biểu của Hội đồng nhân dân các cấp tại thành phố Hải Phòng từ 2011 đến nay

Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung và hoạt động giám sát nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, cơ cấu, thành phần của đại biểu HĐND, đặc biệt là nhóm đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách, thành viên các Ban của HĐND và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu giúp việc.

Để có một cái nhìn khái quát về các chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động giám sát của HĐND, đặc biệt là kết quả giai đoạn thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, tác giả xin đưa ra những số liệu phân tích về cơ cấu, tổ chức HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng trong hai giai đoạn là nhiệm kỳ 2011-2016 và 2016 đến nay.

2.2.1. Nhiệm kỳ 2011-2016 Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

2.2.1.1. Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng

Theo Báo cáo Kiểm điểm nhiệm kỳ 2011-2016 hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khóa XIV [22], HĐND thành phố khóa XIV đã có sự thay đổi tích cực khi tăng cả về số lượng, chất lượng, của đại biểu HĐND. Tuy nhiên, HĐND thành phố còn nhiều đại biểu trong cơ quan quản lý Nhà nước; ít đại biểu trong các tổ chức hội, đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp…Cơ cấu, tổ chức của HĐND thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2011-2016 có những nét tiêu biểu sau:

Tổng số đại biểu HĐND thành phố bầu được 67 đại biểu/95 ứng cử viên với 13 Tổ đại biểu được lập theo đơn vị bầu cử. Cuối nhiệm kỳ 2011-2016, tổng số đại biểu đã giảm còn 64 đại biểu (03 đại biểu thôi làm nhiệm vụ do chuyển công tác) [22].

Về cơ cấu: đại biểu nữ có 09 đại biểu – chiếm 13,4% (tăng 2,7% so với nhiệm kỳ 2004-2011); đại biểu là người dân tộc có 01 đại biểu – chiếm 1,5%; đại biểu là người theo tôn giáo có 01 đại biểu – chiếm 1,5% (tăng 1,04% so với nhiệm kỳ 2004-2011); đại biểu là người ngoài Đảng là 02 đại biểu – chiếm 3%; đại biểu tái cử là 18 đại biểu – chiếm 26,9% (so với nhiệm kỳ 2004-2011, đại biểu tái cử giảm 02 đại biểu). Đặc biệt là đại biểu có trình độ Đại học đạt 100% (tăng 3,07% so với nhiệm kỳ 2004-2011), đại biểu có trình độ trên đại học là 55% (tăng 29,09% so với nhiệm kỳ 2004-2011), đại biểu có trình độ chuyên môn trên đại học tăng 17 đại biểu) [22].

Tỷ lệ chuyên trách: Số lượng đại biểu chuyên trách: 09 đại biểu (tăng thêm 04 đại biểu so với nhiệm kỳ trước), gồm 02 đồng chí trong Thường trực; 06 đồng chí là Trưởng, Phó ban chuyên trách; 01 đồng chí là Chánh Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND thành phố [22].

  • Cơ cấu đại biểu tại các cơ quan HĐND thành phố:

Thường trực HĐND thành phố có 03 thành viên; trong đó, Chủ tịch HĐND do Bí thư Thành uỷ kiêm nhiệm; 02 thành viên hoạt động chuyên trách là: Phó Chủ tịch HĐND (là Uỷ viên Ban Thường vụ Thành ủy) và Uỷ viên Thường trực HĐND (là Ủy viên Thành ủy) [22].

Các Ban của HĐND thành phố, gồm 33 đại biểu là lãnh đạo, thành viên; mỗi Ban có 11 thành viên; có 01 Trưởng ban và 01 Phó Trưởng ban chuyên trách và 01 Phó Trưởng ban kiêm nhiệm; Trưởng các Ban đều là Ủy viên Thành ủy; Ban Kinh tế – Ngân sách có 07 thành viên là Ủy viên Thành ủy; Ban Pháp chế có 05 thành viên là Ủy viên Thành ủy; Ban Văn hóa – Xã hội có 05 thành viên là Ủy viên Thành ủy nên lực lượng và vị thế của các Ban HĐND thành phố được tăng cường, các ban có điều kiện hoạt động thường xuyên và hiệu lực hơn [22].

Trong nhiệm kỳ, Ủy viên Thường trực và các Ban đều có biến động nhân sự. Trong nhiệm kỳ có 02 đồng chí đảm nhận chức vụ Ủy viên Thường trực; mỗi ban có 02 đồng chí đảm nhận Trưởng ban; Ban Pháp chế có 02 đồng chí đảm nhận Phó Trưởng ban chuyên trách [22]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

2.2.1.2 Hội đồng nhân dân xã, thị trấn

Nhiệm kỳ 2011-2016, tại thành phố Hải Phòng, có 1249 đơn vị thôn, tổ dân phố thuộc 07 xã, thị trấn được tổ chức HĐND với tổng số đại biểu trúng cử là 3911 đại biểu. Cơ cấu tổ chức HĐND xã, thị trấn thời điểm này chỉ có Thường trực HĐND và không có các Ban chuyên môn.

Cơ cấu đại biểu HĐND xã, thị trấn trong giai đoạn này như sau:

Về độ tuổi: dưới 35 tuổi có 471 đại biểu – chiếm 12,04%, từ 35 tuổi đến 50 tuổi có 2162 đại biểu – chiếm 55,28%, trên 50 tuổi có 1278 đại biểu – chiếm 32,62% (Phụ lục 01: Thống kê cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn nhiệm kỳ 2011-2016 – Nguồn: Sở Nội vụ thành phố Hải Phòng).

Về cơ cấu ngành nghề: đại biểu là người làm nông nghiệp có 1620 – chiếm 38,56% và là nhóm ngành nghề có số lượng đại biểu chiếm tỷ trọng cao nhất, đại biểu làm tại các doanh nghiệp có 34 đại biểu – chiếm 0,85% là nhóm ngành nghề có số lượng đại biểu chiếm tỷ trọng thấp nhất (Phụ lục 02: Thống kê cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn nhiệm kỳ 2011-2016 – Nguồn: Sở Nội vụ thành phố Hải Phòng).

Về trình độ chuyên môn: đại biểu có trình độ chuyên môn sơ cấp, chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao nhất với 1919 đại biểu – chiếm 49,07%, chiếm tỷ lệ ít nhất là đại biểu có có trình độ Đại học và sau Đại học với 737 đại biểu – chiếm 18,84% (Phụ lục 03: Thống kê cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn nhiệm kỳ 2011-2016 – Nguồn: Sở Nội vụ thành phố Hải Phòng).

Về trình độ quản lý hành chính: số lượng đại biểu HĐND đã qua đào tạo về quản lý hành chính chỉ chiếm 26,9% tổng số đại biểu, nghĩa là có 73,1% tổng số đại biểu chưa qua đào tạo về quản lý hành chính (Phụ lục 04: Thống kê cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn nhiệm kỳ 2011-2016 – Nguồn: Sở Nội vụ thành phố Hải Phòng).

Về trình độ quản lý kinh tế: số lượng đại biểu chưa qua đào tạo về quản lý kinh tế chiếm 93,21% tổng số đại biểu HĐND (Phụ lục 04: Thống kê cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn nhiệm kỳ 2011-2016

Thông qua những số liệu thống kê trên có thể thấy tỷ lệ đại biểu HĐND xã, thị trấn được đào tạo cơ bản chiếm tỷ trọng không cao. Đồng thời, trong nhiệm kỳ 2011-2016, tại HĐND xã, thị trấn không có mô hình các Ban của HĐND, do đó Thường trực HĐND sẽ làm nhiệm vụ của các Ban với Phó Chủ tịch HĐND là thành viên của Thường trực HĐND và làm việc theo chế độ chuyên trách. Với cơ cấu và tổ chức như vậy, để hoạt động giám sát đạt được hiệu lực, hiệu quả là một vấn đề không hề đơn giản. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Nhiệm kỳ 2011-2016, tại thành phố Hải Phòng, chỉ có duy nhất huyện Bạch Long Vỹ là vẫn còn tổ chức HĐND với tổng số đại biểu là 30 đại biểu, trong đó chiếm đa số với tỷ lệ 53,3% tổng số đại biểu là nhóm cán bộ, công chức Nhà nước với 16 đại biểu. Bên cạnh đó, số lượng đại biểu được đạo tào từ bậc trung cấp đến sau đại học về quản lý hành và quản lý kinh tế là rất ít, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu đại biểu (Phụ lục 05 và Phụ lục 06: Thống kê cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân huyện Bạch Long Vỹ nhiệm kỳ 2011-2016 – Nguồn: Sở Nội vụ thành phố Hải Phòng).

Đánh giá chung về cơ cấu HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2011-2016 có thể nhận thấy sự thiếu hụt về nhân lực, đặc biệt là thành viên HĐND chuyên trách trong hệ thống HĐND các cấp khi không tổ chức HĐND quận, huyện, phường. Đặc biệt, khi công tác giám sát tại các đơn vị không tổ chức HĐND được chuyển giao cho HĐND thành phố thì với cơ cấu nhân lực như vậy thì công tác giám sát sẽ thực sự khó khăn và phức tạp.

2.2.2 Nhiệm kỳ 2016-2021

2.2.2.1 Hội đồng nhân dân thành phố

Nhiệm kỳ 2016-2021 được xác định là nhiệm kỳ của sự đổi mới của HĐND thành phố bởi sự tập trung vào chất lượng đại biểu thay vì số lượng đại biểu như những nhiệm kỳ trước. Cơ cấu và tổ chức của HĐND thành phố giai đoạn 2016 đến nay có những nét tiêu biểu sau:

Về số lượng các Ban và các Tổ đại biểu: HĐND thành phố có 04 Ban, Ban Pháp chế, Ban Văn hóa – Xã hội, Ban Kinh tế – Ngân sách: 09 thành viên/Ban; Ban Đô thị: 07 thành viên/Ban, trong đó có từ 02-03 đại biểu chuyên trách. Toàn thành phố có 13 Tổ đại biểu được tổ chức theo các đơn vị bầu cử, có số lượng trung bình từ 04-07 thành viên [13]. So với nhiệm kỳ trước, HĐND đã có thêm một Ban Đô thị, đây là một điểm mới của thành phố xuất phát từ quy định tại Khoản 3 Điều 39 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và được đánh giá là phù hợp với quy mô đô thị cũng như định hướng phát triển của thành phố.

Tổng số đại biểu và cơ cấu đại biểu trong HĐND thành phố: 69 đại biểu được bầu từ 111 ứng viên. Trong đó, 100% đại biểu đều có trình độ đại học, trên đại học [46].

Về tỷ lệ chuyên trách: HĐND thành phố nhiệm kỳ này có 12 đại biểu hoạt động chuyên trách. Trong đó, Ban Kinh tế – Ngân sách: 02 thành viên chuyên trách giữ vai trò Phó ban, Ban Pháp chế: 02 thành viên chuyên trách giữ vai trò Phó ban, Ban Văn hóa – Xã hội: 01 thành viên chuyên trách giữ vai trò Phó ban, Ban Đô thị: 02 thành viên chuyên trách giữ vai trò Phó ban.

Nhận thấy, số lượng thành viên tại các Ban của HĐND có xu hướng giảm nhưng tỷ lệ chuyên trách, đặc biệt là vị trí lãnh đạo của các Ban lại tăng so với nhiệm kỳ trước. Đây là một điểm tích cực đáng nghi nhận của HĐND thành phố, và cũng là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND.

2.2.2.2 Hội đồng nhân quận, huyện Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Kết quả bầu cử HĐND quận, huyện tại thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2016-2021 được nhận định là đủ về số lượng và bảo đảm cơ bản về cơ cấu đại biểu. Thành phố Hải Phòng có 07 quận và 08 huyện và bầu được 524 đại biểu/868 ứng cử viên [46], tại HĐND quận, huyện chỉ có Ban Kinh tế – Xã hội và Ban Pháp chế là các Ban chuyên môn hỗ trợ các hoạt động của HĐND với 01 Phó ban là thành viên chuyên trách, các thành viên còn lại là thành viên không chuyên trách, cụ thể như sau:

Ban Kinh tế – Xã hội: có từ 02-07 thành viên, chỉ có 01 thành viên chuyên trách. Tổng số thành viên của các Ban Kinh tế – Xã hội của HĐND tại 07 quận và 08 huyện là 67 thành viên (chuyên trách 15 thành viên, kiêm nhiệm 52 thành viên).

Ban Pháp chế: có từ 02-07 thành viên, chỉ có 01 thành viên chuyên trách Tổng số thành viên của các Ban Pháp chế của HĐND tại 07 quận và 08 huyện là 63 thành viên (chuyên trách 15 thành viên, kiêm nhiệm 48 thành viên).

Cơ cấu đại biểu như sau: đại biểu nữ có 121 đại biểu (chiếm 23,09%); đại biểu Ngoài đảng là 20 đại biểu (chiếm 3,82%); đại biểu dưới 35 tuổi là 38 đại biểu (chiếm 7,25%); đại biểu có trình độ Đại học là 35 đại biểu (chiếm 62,97%), sau đại học là 173 đại biểu (chiếm 32,83%); đại biểu chuyên trách là đại biểu.

2.2.2.3 Hội đồng nhân xã, phường, thị trấn

Kết quả bầu cử HĐND xã, phường, thị trấn tại thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2016-2021 bầu được 5.684 đại biểu/9.608 ứng cử viên [46]. Tại HĐND xã, phường, thị trấn chỉ có Ban Kinh tế – Xã hội và Ban Pháp chế là các Ban chuyên môn hỗ trợ các hoạt động của HĐND và tất cả các thành viên của Ban đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm.

Cơ cấu đại biểu như sau:

  • Về độ tuổi: dưới 35 tuổi có 918 đại biểu – chiếm 16,15%, từ 35 đến dưới 50 có 2345 đại biểu – chiếm 41,26%, từ 50 trở lên có 2421 đại biểu – chiếm 42,59%.
  • Về trình độ chuyên môn: sơ cấp và chưa qua đào tạo có 1131 đại biểu – chiếm 19,9%, trung cấp có 1569 đại biểu – chiếm 27,6%, cao đẳng có 184 đại biểu – chiếm 3,2%, đại học và sau đại học là 2800 đại biểu – chiếm 49,26%..
  • Về thành phần: đại biểu là Đảng viên có 4845 đại biểu; đại biểu nữ là 1743 đại biểu; đại biểu là người dân tộc thiểu số là 02 đại biểu.
  • Số đại biểu chuyên trách: 308 đại biểu

Đánh giá chung về cơ cấu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2012 có thể thấy rằng, trong nhiệm kỳ này, chất lượng đại biểu đã có sự cải thiện rõ rệt với tỷ lệ đại biểu có trình độ chuyên môn gia tăng mạnh mẽ; đồng thời vai trò của đại biểu HĐND chuyên trách, đặc biệt là các thành viên chuyên trách tại Thường trực HĐND và các Ban của HĐND đã được nhìn nhận và đánh giá ở mức độ cao hơn hẳn so với các nhiệm kỳ trước. Đây không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về mặt số lượng mà còn là sự thay đổi về mặt tư duy, định hướng của cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương. Sự thay đổi này đã có những tác động mạnh mẽ đến hoạt động của HĐND, đặc biệt là hoạt động giám sát.

2.3. Thực trạng giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp tại thành phố Hải Phòng từ 2011 đến nay Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

2.3.1. Nhiệm kỳ 2011-2016

Nhiệm kỳ 2011-2016, danh mục phí, lệ phí HĐND thực hiện giám sát gồm 82 loại phí và lệ phí các loại, trong đó có 59 loại phí và 23 loại lệ phí.

2.3.1.1. Hội đồng nhân dân thành phố

Trong năm 2012, phí vệ sinh môi trường nông thôn là loại phí duy nhất trong danh mục phí, lệ phí nằm trong chương trình giám sát thực hiện các nghị quyết chuyên đề của HĐND thành phố. Nội dung này là một trong tổng số 196 chuyên đề giám sát giữa hai kỳ họp được thực hiện bởi Thường trực HĐND thành phố, các Ban của HĐND thành phố, các Tổ đại biểu HĐND thành phố.

Trong năm 2013, HĐND đã tổ chức các cuộc thẩm tra, giám sát các đề án trình tại kỳ họp thứ 6, thứ 7 của HĐND thành phố và một số đề án về mức thu các loại phí và lệ phí, một số chế độ, định mức chi ngân sách thuộc thẩm quyền HĐND thành phố quyết định.

Trong năm 2014, HĐND đã tổ chức các cuộc giám sát về tình hình thu, quản lý, sử dụng phí hè đường, lòng đường, lề đường, bến, bãi, mặt nước; tình hình thu, quản lý, sử dụng phí bảo trì đường bộ đối với xe mô tô. Qua giám sát cho thấy, kế hoạch giao thu phí bảo trì đường bộ cho các địa phương chưa sát thực tế; kết quả thu phí và số lượng xe mô tô còn có sự chênh lệch khá lớn và còn thấp so với Đề án thu phí khi trình HĐND thành phố. Trên cơ sở những kết luận giám sát, Trong các kiến nghị được ra sau giám sát, UBND thành phố đã ban hành văn bản chỉ đạo đối với việc thực hiện thu, nộp và quản lý sử dụng phí lề đường, bến bãi, mặt nước đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, hàng chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan trên địa bàn thành phố.

Trong năm 2015, qua giám sát nhận thấy việc triển khai, điều chỉnh các loại phí, lệ phí chưa thực hiện quyết liệt.

Những tháng đầu năm 2016 là thời gian cuối của nhiệm kỳ 2011-2016 và cũng là năm cuối cùng áp dụng các quy định tại Pháp lệnh Phí và Lệ phí năm 2001. Tuy nhiên, nội dung tuân theo pháp luật về phí và lệ phí không nằm trong chương trình giám sát của HĐND, Thường trực HĐND và các Ban của HĐND. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

2.3.1.2. Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường

Là đơn vị thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND phường, huyện và quận trong nhiệm kỳ 2011-2016, tại thành phố Hải Phòng, hoạt động giám sát của HĐND huyện, quận, phường sẽ chuyển giao cho HĐND, Thường trực HĐND và Ban Kinh tế-Ngân sách của HĐND thành phố thực hiện.

2.3.1.3. Hội đồng nhân dân xã, thị trấn

Trong nhiệm kỳ 2011-2016, HĐND xã và HĐND thị trấn chưa có nhiều hoạt động trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí tại địa phương. Đồng thời, thông qua các báo cáo thường kỳ, công tác thu phí, lệ phí tại xã, thị trấn cơ bản được bảo đảm, thu đủ và thu đúng.

Nhìn chung về công tác giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí tại HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2011-2016 có một số nét chính sau:

Thứ nhất, trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường; để tăng cường giám sát của HĐND thành phố giữa hai kỳ họp đối với UBND quận, huyện, phường, Thường trực HĐND thành phố đã chủ động ban hành hướng dẫn tổ chức giám sát của Tổ đại biểu là hình thức tổ chức để đại biểu HĐND thành phố thực thi trách nhiệm giám sát theo quy định của pháp luật. Nhiệm kỳ 2011-2016, Thường trực HĐND, các Ban HĐND thành phố, các Tổ đại biểu HĐND thành phố đã tăng cường giám sát đối với các quận, huyện, phường.

Thứ hai, số lượng phí, lệ phí được đưa vào nội dung giám sát chưa nhiều. Nguyên nhân của vấn đề này là do công tác quản lý, thực hiện các quy định về phí, lệ phí về cơ bản là được bảo đảm, không phải là một vấn đề mang tính “thời sự” nên số lượng thắc mắc, kiến nghị, khó khăn cần tháo gỡ cơ bản là không có.

Thứ ba, về cơ bản, không có sai phạm trong việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn này, những vấn đề cần lưu tâm chỉ dừng ở mức độ điều chỉnh và hoàn thiện công tác thu phí, lệ phí cho phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương.

2.3.2. Từ năm 2016 đến nay Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Nhiệm kỳ 2016-2021, danh mục phí, lệ phí HĐND thực hiện giám sát gồm 75 loại phí và 35 loại lệ phí bao trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố. So với nhiệm kỳ 2011-2016, danh mục này đã có những điểm thay đổi đáng lưu ý sau:

Thứ nhất, phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu tại Hải Phòng chính thức được áp dụng từ ngày 01/01/2017 và áp dụng mức thu có điều chỉnh từ ngày 01/01/2018. Hải Phòng cũng là địa phương đi đầu trong cả nước trong thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và công văn của Bộ Tài chính về việc thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng khu vực các cửa khẩu. Trong hai năm triển khai thực hiện, đây là khoản thu có tỷ trọng đóng góp cao nhất cho ngân sách Nhà nước mà thành phố triển khai thực hiện. Đồng thời, cũng là khoản phí nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng doanh nghiệp và cơ quan Trung ương từ thời điểm dự thảo xây dựng mức thu cho đến khi triển áp dụng.

Thứ hai, phí chợ đã được được chuyển sang cơ chế giá và phải sử dụng hóa đơn để giao cho khách hàng khi cung cấp dịch vụ. Như vậy, bắt đầu từ 01/01/2017, HĐND sẽ không giám sát khoản thu này theo các quy định về phí nữa.

Thứ ba, lệ phí chứng thực sẽ chuyển thành phí chứng thực. Theo đó, từ ngày 01/01/2017, tổ chức, cá nhân yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký tại Phòng Công chứng; tổ chức, cá nhân yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải nộp phí chứng thực theo hướng dẫn tại Thông tư số 226/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ tài chính về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí chứng thực. Mặc dù được chuyển sang một nhóm khác, nhưng phí chứng thực vẫn được HĐND giám sát trên cơ sở các quy định pháp luật về phí.

2.3.2.1. Hội đồng nhân dân thành phố

Ngay trong những tháng đầu của nhiệm kỳ HĐND, Thường trực HĐND thành phố đã ban hành Kế hoạch và Quyết định thành lập Đoàn giám sát chuyên đề của HĐND thành phố về “Việc thực hiện cơ chế, chính sách và thu ngân sách từ các hoạt động dịch vụ cảng; bến bãi; tiền thuê mặt đất, mặt nước”; theo đó, Thường trực HĐND thành phố đã xây dựng 12 bộ Đề cương báo cáo giám sát; phát hành Công văn tới 186 cơ quan, đơn vị được giám sát. Cũng trong thời gian này, HĐND thành phố đã tiếp nhận 54 báo cáo giám sát của 07 sở, ngành; 08 UBND quận, huyện và Chi cục Thuế; 39 doanh nghiệp; giám sát trực tiếp tại 08 đơn vị: Cục Thuế thành phố và một số Chi cục thuế các quận, huyện; Cảng vụ Hàng hải Hải Phòng; các Sở: Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường; các quận Hải An, Ngô Quyền và 02 doanh nghiệp kinh doanh cảng và dịch vụ có liên quan… Báo cáo kết quả giám sát chuyên đề của HĐND thành phố đã cung cấp cho các đại biểu những thông tin quan trọng, giúp cho các đại biểu HĐND thành phố ban hành nghị quyết về thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển Hải Phòng [24]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Sau giám sát chuyên đề, Đoàn giám sát đã báo cáo kết quả giám sát với Thường trực HĐND thành phố để trình tại kỳ họp thứ 3 HĐND thành phố. Báo cáo của Đoàn giám sát là một trong những căn cứ quan trọng để HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 về thu phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu cảng biển Hải Phòng và sẽ triển khai thực hiện từ 01/01/2017 (gọi là phí sử dụng công trình cảng biển). Tại thời điểm bắt đầu áp dụng, thành phố đặt ra mục tiêu ngân sách của thành phố sẽ có thêm 1.500 tỷ đồng từ việc thu loại phí này. Theo Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của HĐND thành phố Hải Phòng thì mức phí áp dụng đối với hàng tạm nhập tái xuất, hàng chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan đối với hàng khô là 2,2 triệu/container 20 feet và 4,4 triệu/container 40 feet; đối với hàng lạnh là 2,3 triệu/container 20 feet và 4,8 triệu/container 40 feet; còn với hàng lỏng, hàng rời là 50 nghìn đồng/tấn. Đối với hàng hóa xuất – nhập khẩu là: 250 nghìn đồng/container 20 feet, 500 nghìn đồng/container 40 feet và thu 20 nghìn đồng/tấn đối với hàng lỏng, rời. Còn với hàng quá cảnh, chuyển khẩu thì thu theo quy định tại Khoản 2 Điều 89 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải đường biển và khai thác cảng biển, đây lại không phải là một tín hiệu vui với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp, bởi vì việc áp dụng loại phí này sẽ tác động trực tiếp đến chính sách khách hàng của các doanh nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp phải tăng giá dịch vụ, khi đó khách hàng sẵn sàng chuyển sang khai thác tại các khác tại khu vực lận cận như Quảng Ninh – nơi chưa áp dụng thu loại phí này.

Trước thời điểm triển khai mức thu mới đối với phí sử dụng công trình, kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng khu vực cửa khẩu, tức là giai đoạn 2011-2016, số tiền ngân sách thu từ loại phí này chiếm tỷ trọng không quá lớn trong tổng nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, từ thời điểm 01/01/2017, khi bắt đầu triển khai thu phí sử dụng công trình cảng biển thì loại phí này đã trở thành một trong loại phí đóng góp tỷ trọng cao trong ngân sách thành phố, cụ thể như sau:

  • Năm 2017: thực hiện 1.530.723.332.929 (bằng 98,76% dự toán năm – 1.550.000.000.000 đồng, tăng 118% so với thực hiện năm 2016). Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.
  • 06 tháng đầu năm 2018: thực hiện 733.030.721.335 đồng (bằng 40,72% dự toán năm – 1.800.000.000.000 đồng).

Như đã phân tích ở phần cơ sở lý luận, phí là một khoản thu bắt buộc của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp thường hiếm khi có ý kiến đối với vấn đề này nếu nó bảo đảm tính hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và đối tượng bị áp dụng. Điều 8 Luật Phí và Lệ phí năm 2015 đã quy định: “Mức thu phí được xác định cơ bản bảo đảm bù đắp chi phí, có tính đến chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân”. Và đây cũng là một trong những nội dung mà công tác giám sát của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng đối với hoạt động thu phí sử dụng công trình cảng biển cần kiểm tra, đánh giá. Đối chiếu quy định tại Điều 8 Luật Phí và Lệ phí năm 2015 vào phí sử dụng công trình cảng biển, tác giả xin được nêu ra một số vướng mắc sau:

Thứ nhất, có hiện tượng phí chồng phí, làm gia tăng gánh nặng cho doanh nghiệp hay không, vì họ đã phải chịu các phí vận chuyển, phí D/O, phí handling, phí vệ sinh container, phí THC, phí B/L, phí AMS, phí Telex RL, phí CY Monitor, phí Sealcharge, phí CB Lissur, phí cân tải trọng container…

Thứ hai, mức phí quy định trong Nghị quyết 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của HĐND thành phố Hải Phòng là quá cao so với mục đích bù đắp một phần chi phí đã bỏ ra để thực hiện hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ công ngoài khoản mà Ngân sách nhà nước đã hỗ trợ trực tiếp. Về vấn đề này, UBND thành phố giải thích rằng thành phố đã bỏ hàng trăm tỷ đầu tư, xây dựng, duy tu, bảo trì hạ tầng giao thông, song do nguồn thu ngân sách hạn hẹp nên thực tế kinh phí không đủ. Vì thế, việc thực hiện thu phí theo Luật phí và lệ phí của Hải Phòng cũng chỉ đáp ứng được một phần so với tổng nhu cầu xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông kết nối cảng biển, các công trình dịch vụ, tiện ích công cộng… Tuy nhiên, việc giải thích không có số liệu biện giải là khiến tính thuyết phục chưa cao.

Thứ ba, từ thời điểm xây dựng dự thảo mức thu đến thời điểm triển khai áp dụng là quá ngắn, thêm vào đó công tác lấy ý kiến các doanh nghiệp bị tác động bởi mức thu phí mới còn chưa rộng rãi, khiến doanh nghiệp rơi vào thế bị động, không kịp thời gian để tính toán phương án kinh doanh hoặc đàm phán lại các hợp đồng kinh doanh đã ký kết cho năm 2017.

Để làm rõ ý kiến này, UBND thành phố đã khẳng định trong quá trình xây dựng và thông qua Đề án thu phí, UBND thành phố Hải Phòng đã giao Sở Tài chính chủ trì xây dựng đề án trình HĐND thành phố. UBND thành phố, Sở Tài chính và UBND quận Hải An đã tổ chức sáu cuộc họp với hàng trăm doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh cảng biển, xuất nhập khẩu hàng hóa, các hãng tàu, đại lý vận tải biển… để tiếp thu các kiến nghị của doanh nghiệp, cử tri để hoàn thiện Đề án. Đặc biệt, toàn văn Đề án thu phí được đăng liên tiếp trên ba số báo Hải Phòng; truyền thông trên báo An ninh Hải Phòng, Ðài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng. Tính đến ngày 15/11/2016, HĐND thành phố đã tổ chức 99 cuộc tiếp xúc giữa đại biểu HĐND với người dân và các doanh nghiệp. Các đại biểu HĐND cũng đã báo cáo cử tri về Đề án thu phí và được hầu hết doanh nghiệp, người dân đồng tình, ủng hộ. HĐND thành phố Hải Phòng đã biểu quyết thông qua Đề án với 100% số đại biểu tán thành.

Theo quan điểm của tác giả, vấn đề đặt ra ở đây chính là thành phần tham dự các buổi tiếp xúc cử tri của đủ tính đại diện cho lợi ích của phần đông các doanh nghiệp trực tiếp phải chịu mức phí này và tỷ lệ ý kiến cử tri tham gia góp ý được tiếp thu, giải trình, làm rõ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Thứ tư, có hiện tượng phân biệt đối xử giữa hàng hoá thông quan tại cửa khẩu cảng biển Hải Phòng với hàng hoá chuyển cảnh, quá cảnh, tạm nhập tái xuất, hàng gửi kho ngoại quan… Vì tại Nghị quyết 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của HĐND thành phố Hải Phòng, mức thu phí với hàng hoá xuất nhập khẩu là 250.000 đồng/1 container 20 feet, 500.000 đồng/1 container feet, nhưng hàng tạm nhập tái xuất, chuyển cảnh, quá cảnh với hàng khô phải nộp 2,2 triệu đồng/container 20 feet, 4,4 triệu đồng/container 40 feet, loại hàng lạnh là 2,3 triệu đồng/container 20 feet…Quy định này sẽ tạo nên gánh nặng cho các doanh nghiệp vì phải nộp phí liên quan tới xuất nhập khẩu ở nhiều cửa khẩu khác nhau. Như vậy, mức thu này liệu đã thực sự công bằng với các mặt hàng cùng khai thác tại một doanh nghiệp và liệu có mâu thuẫn với các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và nhiều FTA Việt Nam đã ký kết.

Vậy đâu là nguyên nhân của những vướng mắc nêu trên, theo tác giả, có thể đề cập đến một số lý do sau:

Thứ nhất, việc tổ chức giám sát chuyên đề của HĐND thành phố về “Việc thực hiện cơ chế, chính sách và thu ngân sách từ các hoạt động dịch vụ cảng; bến bãi; tiền thuê mặt đất, mặt nước” còn gặp một số khó khăn như: số lượng các báo cáo nhận được của các đơn vị, doanh nghiệp còn thấp (54/186 đơn vị, doanh nghiệp). Nội dung hầu hết các báo cáo còn sơ sài, chưa đáp ứng yêu cầu theo như đề cương giám sát; chất lượng thông tin của báo cáo còn thấp; có sự không thống nhất về số liệu, đánh giá giữa các đơn vị thực hiện báo cáo giám sát. Các cơ quan quản lý nhà nước chưa nắm chắc, đầy đủ tình hình hoạt động kinh doanh cảng biển và dịch vụ liên quan. Như vậy, nội dung giám sát này chưa thực sự hiệu quả.

Thứ hai, thành phố chậm ban hành, điều chỉnh các quy định thuộc thẩm quyền về đơn giá thuê đất, giao đất, các loại phí, lệ phí đối với lĩnh vực đất đai liên quan đến phát triển cảng và dịch vụ liên quan; chưa thật chú trọng quản lý chặt chẽ quỹ đất, mặt nước, còn bỏ sót nhiều khoản thu từ đất, mặt nước và hoạt động kinh doanh dịch vụ cảng, dịch vụ liên quan.

Thứ ba, việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương chưa rạch ròi, chưa tạo động lực để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, nâng khả năng thu ngân sách, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý tài nguyên đất, mặt nước, mặt biển và thu ngân sách. Hệ thống chính sách pháp luật chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập nhất là những cơ chế, chính sách về cho thuê đất, quy định về nộp tiền thuê đất, mức thu phí, lệ phí hàng hải với các tàu biển nước ngoài; còn thiếu các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Thứ tư, trong quá trình xây dựng mức thu phí sử dụng công trình cảng biển, sự tham gia ý kiến của các chuyên gia, hiệp hội doanh nghiệp trong lĩnh vực cảng biển còn rất hạn chế.

Thứ năm, việc tiếp nhận và giải trình ý kiến tham gia của các doanh nghiệp trong quá trình xây dựng dự thảo mức thu phí còn thiếu đồng bộ, không kịp thời và thiếu rõ ràng.

Kể từ thời điểm Nghị quyết 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của HĐND thành phố Hải Phòng được thực hiện, liên tiếp trong sáu kỳ họp của HĐND diễn ra trong năm 2017, trong lĩnh vực phí, lệ phí thì phí sử dụng công trình cảng biển đã là nội dung nhận được nhiều sự quan tâm nhất, số lượng câu hỏi chất vấn nhiều nhất và cũng chậm giải quyết kiến nghị của cử tri nhất. Kết quả là một số lượng không nhỏ các doanh nghiệp đã trì hoãn việc nộp phí sử dụng công trình cảng biển. Theo báo cáo của cơ quan quản lý, tính đến ngày 27/9/2017, Hải Phòng đã thu được là 1.063,6 tỷ đồng, đạt 68,6% kế hoạch và vẫn còn 490 doanh nghiệp chưa nộp phí, với tổng số tiền là 36 tỷ đồng. Tuy nhiên, tại các kỳ họp thường niên của HĐND các cấp, báo cáo của UBND và các cơ quan quản lý Nhà nước về nội dung này gần như chỉ phản ánh kết quả tình hình thu phí. Giữa các kỳ họp, ngoài việc đại biểu HĐND tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của cử tri thì không có bất kì một chuyên đề riêng biệt nào của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND thể hiện sự giám sát chuyên sâu đối với nội dung này. Và chỉ khi có ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ tại văn bản số 5036/VPVP-KTTH ngày 16/5/2017, Ban Kinh tế – Ngân sách của HĐND thành phố mới tổ chức hội nghị với các sở, ngành có liên quan để lấy ý kiến, và đến ngày 14/11/2017, UBND thành phố có Tờ trình số 241/TTr-UBND ngày 14/11/2017 về việc điều chỉnh mức thu phí sử dụng công trình cảng biển thì vấn đề này mới thực sự được HĐND thành phố xem xét để giải quyết triệt để. Vấn đề đặt ra ở đây là, trong suốt một năm áp dụng, với sức nóng của dư luận xã hội và “thái độ chấp hành” của đối tượng chịu phí, tại sao việc xem xét và giải quyết các kiến nghị sau các cuộc tiếp xúc cử tri, chất vấn tại kỳ họp lại “từ tốn” như vậy. Phải chăng các quy định trong Luật Phí và Lệ phí năm 2015, Thông tư 250/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tuy tiến bộ khi tăng cường phân cấp cho HĐND thành phố nhưng lại phân cấp mang tính “chung chung” trong việc quy định nguyên tắc xác định mức thu phù hợp khiến việc áp dụng trong thực tế còn nhiều bất cập.

Sau 01 năm triển khai áp dụng, tại kỳ họp lần thứ 6 của HĐND thành phố Hải Phòng diễn ra vào tháng 12/2017, HĐND thành phố đã ban hành Nghị quyết số 24/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 về việc sửa đổi Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 (có hiệu lực từ 01/01/2018), trong đó điều chỉnh mức thu phí sử dụng công trình cảng biển theo hướng giảm xuống cho một nhóm hàng hóa trong danh mục hàng hóa bị áp dụng và giữ nguyên các nội dung khác của Nghị quyết số 148/2016/NQ-HĐND. Tại Điều 2 của Nghị quyết 24/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 đã nêu rõ rằng: “Giao Thường trực Hội đồng nhân thành phố, các Ban Hội đồng nhân dân thành phố, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân thành phố và đại biểu HĐND thành phố kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này” [26]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Nhiều doanh nghiệp cho rằng mức giảm này có cũng như không, bởi lượng hàng hóa thông qua cảng Hải Phòng chủ yếu là các loại hàng: hàng tạm nhập tái xuất, hàng chuyển khẩu, hàng gửi kho ngoại quan; hàng quá cảnh, hàng chuyển khẩu; hàng hóa nhập khẩu, xuất nhập thì vẫn giữ nguyên mức thu cũ. Về công tác giám sát, trong 07 tháng đầu năm 2018, không có bất cứ một hoạt động giám sát nào về nội dung này được tổ chức. Có lẽ, công tác giám sát của HĐND đối với việc thu phí sử dụng công trình cảng biển vẫn chưa thực sự sâu sát như yêu cầu và kỳ vọng..

2.3.2.2. Hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp xã

Trong giai đoạn từ 2016 đến nay, HĐND cấp xã và HĐND cấp huyện cơ bản chưa triển khai nhiều hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí. Chỉ duy nhất có quận Hải An, là đơn vị được UBND thành phố giao việc thu phí sử dụng công trình cảng biển là có một số hoạt động nhưng chưa thật sự triệt để và hiệu quả. Theo kết quả giám sát của HĐND, UBND quận Hải An đã tuân thủ quy trình thu phí sử dụng công trình cảng biển theo đúng quy định nhưng hiệu quả thu không cao do mức thu phí chưa nhận được sự đồng thuận của tất cả các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong việc giải quyết sự chậm trễ nộp phí sử dụng công trình cảng biển, UBND quận Hải An lại gặp khó khăn do chỉ là đơn vị thừa hành, mọi sự giải thích là mức thu phí đều phải do UBND thành phố Hải Phòng thực hiện. Trong các kỳ họp HĐND của quận Hải An, hay những phiên tiếp xúc cử tri, vấn đề chậm nộp phí do chưa đồng thuận với mức thu phí luôn là điểm nóng nhưng với giới hạn thẩm quyền được giao, UBND quận Hải An cũng không thể giải trình một cách tường tận, triệt để với cử tri về vấn đề này. Mọi thắc mắc, kiến nghị của cử tri đều phải gửi lên cơ quan cấp trên xem xét.

Có thể nhận thấy rằng, công tác giám sát việc tuân theo pháp luật về phí và lệ phí của HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2016-2021 đã có những điểm nhấn đáng ghi nhận. Tuy nhiên, mới chỉ tập trung tại HĐND thành phố, các cấp HĐND dưới là cấp huyện và cấp xã chưa có nhiều hoạt động giám sát. Đồng thời, số lượng phí, lệ phí được đưa vào nội dung giám sát của HĐND các cấp cũng chưa nhiều, mới tập trung vào nhóm phí tỷ trọng đóng góp cao cho nguồn thu ngân sách Nhà nước.

2.4. Đánh giá hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của Hội đồng nhân dân các cấp ở thành phố Hải Phòng từ 2011 đến nay

2.4.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Có thể khẳng định rằng, hoạt động giám sát việc tuân theo quy định pháp luật về phí, lệ phí của HĐND, Thường trực HĐND và các Ban HĐND tại HĐND các cấp của thành phố Hải Phòng từ năm 2011 đến nay có nhiều đổi mới, cải cách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát của HĐND, đặc biệt được thể hiệu rõ nét tại các phương diện sau:

Thứ nhất, thẩm quyền giám sát được bảo đảm tuân thủ.

Trước tiên cần khẳng định, công tác giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng trong thời gian qua đã được thực hiện đúng thẩm quyền. Kết quả này phản ánh sự đúng đắn, đầy đủ và trách nhiệm trong ý thức của từng đại biểu HĐND. Đó là sự tuân thủ pháp luật và tôn trọng cử tri không chỉ của riêng mỗi đại biểu HĐND mà còn là của tập thể HĐND tại địa phương.

Thứ hai, quy trình thực hiện giám sát được bảo đảm.

Giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng chủ yếu tập trung thực hiện tại các kỳ họp. Do đó, công tác tổ chức kỳ họp rất được chú trọng để bảo đảm nội dung báo cáo được đầy đủ, chi tiết.Trong thời gian qua, công tác tổ chức kỳ họp đã có nhiều chuyển biến tích cực như:

Thời điểm gửi tài liệu cuộc họp để các đại biểu HĐND nghiên cứu trước khi tham gia dự họp đã sớm hơn. Đây là một hiện tượng nhỏ nhưng lại vô cùng ảnh hưởng đến chất lượng buổi họp. Thực tế không thể phủ nhận đó là số lượng phí, lệ phí mà thành phố Hải Phòng phải thực hiện thu là rất nhiều, do đó để đánh giá tính hợp lý của mỗi khoản thu trong một thời gian ngắn là không thể. Bên cạnh đó, do tỷ lệ đại biểu HĐND kiêm nhiệm cao, nghĩa là ngoài công tác đại biểu dân cử, các cá nhân còn phải thực hiện các công tác chuyên môn khác, và không phải đại biểu nào cũng có thể hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế ngân sách để có thể phân tích, đánh giá báo cáo kết quả thu phí và lệ phí. Do vậy, việc sớm gửi tài liệu nghiên cứu đến đại biểu HĐND là một điều kiện tích cực và cần thiết. Bên cạnh đó, do có thời gian để nghiên cứu sớm các nội dung cuộc họp mà đại biểu HĐND có thể đưa ra những bình luận, kiến nghị sâu sắc, trọng tâm và cụ thể hơn trong cuộc họp của HĐND thay vì những nhận xét chung chung. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Phương thức gửi tài liệu. Trong giai đoạn 2011 đến nay, việc tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong việc gửi các nội dung dự kiến thảo luận tại cuộc họp tới các đại biểu HĐND là một trong những điểm nổi bật của HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng. Chỉ bằng một nghiệp vụ rất cơ bản đó là lập cho các đại biểu HĐND một email cá nhân, tập hợp email theo nhóm đại biểu tùy từng mục đích là công tác trao đổi tài liệu đã trở nên nhanh chóng và chuyên nghiệp hơn bao giờ hết. Nhờ vậy, các nội dung được truyền tải nhanh hơn, đầy đủ hơn và tiết kiệm hơn.

Thứ ba, mục đích giám sát đã cơ bản hoàn thành.

Mặc dù biểu hiện về mặt số lượng hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng trong thời gian qua không nhiều nhưng được xác định là đã có trọng tâm. Và cao hơn nữa là đã có sự tiếp thu, điều chỉnh của các cơ quan chuyên môn và UBND trong việc điều chỉnh mức thu phí, lệ phí phù hợp hơn.

Thứ tư, kết quả giám sát đạt được và đánh giá của dư luận xã hội.

Mặc dù số lượng khoản phí, lệ phí được đưa vào nội dung giám sát của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng trong thời gian qua còn rất ít, nhưng đối với những lọai phí, lệ phí được đưa vào nội dung giám sát như phí sử dụng công trình cảng biển thì kết quả giám sát đã đạt được một số mục đích nhất định. Sau một năm triển khai áp dụng thu phí tại thành phố Hải Phòng, trên cơ sở báo cáo của Ban Kinh tế-Ngân sách, đề xuất của Thường trực HĐND thành phố, đặc biệt là ý kiến của cử tri và đại biểu HĐND, UBND thành phố Hải Phòng đã xây dựng Tờ trình điều chỉnh mức thu phí sử dụng công trình cảng biển. Mặc dù sự thay đổi chưa nhiều so với kỳ vọng của các doanh nghiệp nhưng cũng là một sự chuyển biến tích cực trong công tác thu phí tại thành phố.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.4.2.1. Hạn chế

Nhìn chung, số lượng phí, lệ phí được đưa vào chương trình giám sát của HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng là chưa nhiều, mới tập trung ở những loại phí, lệ phí có đơn giá thu lớn, tỷ trọng đóng góp cho ngân sách cao. Và những hạn chế, bất cập trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng cũng từ đó bộc lộ, cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Thứ nhất, giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp chưa toàn diện. Mặc dù khẳng định giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí đã được thực hiện đúng thẩm quyền nhưng chưa “đủ”. Với danh mục phí, lệ phí hiện đang triển khai trên địa bàn thành phố thì công tác giám sát như vậy là chưa toàn diện. Đặc biệt, khi đã lựa chọn được loại phí trọng tâm như phí sử dụng công trình cảng biển thì số lượng cuộc giám sát chuyên đề cũng không nhiều ở tất cả các cấp. Việc giám sát thiếu toàn diện sẽ khiến HĐND chậm nắm bắt tình hình thu phí, lệ phí tại địa phương, dẫn đến thiếu chủ động trong việc phát hiện, kiến nghị và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của nhân dân địa phương.

Thứ hai, quy trình giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp vẫn còn bất cập. Trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí sử dụng công trình cảng biển của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng, việc xem xét kiến nghị của nhân dân địa phương về vấn đề phí sử dụng công trình cảng biển còn chậm; phương thức giải quyết chưa triệt để khiến đối tượng bị áp dụng đã phải có ý kiến lên cơ quan Trung ương. Điều này cho thấy, một số giai đoạn trong quy trình giám sát chưa được thực hiện triệt để, còn mang tính hình thức nên chưa thể giải quyết dứt điểm kiến nghị, thắc mắc của nhân dân địa phương. Các bước triển khai quy trình giám sát định kỳ, giám sát phục vụ nội dung về thu phí, lệ phí tại kỳ họp, giám sát đột xuất chưa đồng bộ.

Thứ ba, thiếu sự phối hợp giữa HĐND với các cơ quan, tổ chức chính trị xã hội cùng có thẩm quyền giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí tại địa phương.

Thứ tư, sự tham gia hỗ trợ của các chuyên gia trong lĩnh vực phí, lệ phí nói chung và phí sử dụng công trình cảng biển nói riêng là rất hạn chế dẫn đến tình trạng số lượng phí, lệ phí được giám sát rất ít, công tác giải trình kiến nghị và xử lý kiến nghị của nhân dân địa phương kéo dài.

Thứ năm, cách thức giải trình của cơ quan chuyên môn và UBND thành phố trong việc xây dựng mức thu phí sử dụng công trình cảng biển với cộng đồng doanh nghiệp chưa rõ ràng, gây bức xúc kéo dài.

Thứ sáu, sự quan tâm của các đại biểu HĐND, đặc biệt là đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã đối với lĩnh vực phí, lệ phí còn mờ nhạt.

2.4.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Những tồn tại trong giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng trong thời gian qua xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau đây: Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Thứ nhất, về yếu tố pháp lý: Hiện nay, chức năng giám sát nói chung và giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí được trao cho khá nhiều cơ quan và không quy định cụ thể cơ quan nào là cơ quan chủ trì, giám sát chính nên để hoạt động giám sát không bị trùng lặp, chồng chéo chủ yếu dựa vào sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức này. Bên cạnh đó, quy trình giám sát định kỳ, giám sát phục vụ nội dung thẩm tra tại kỳ họp, giám sát đột xuất còn đang thiếu về cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện trong thực tế. Đặc biệt, vấn đề giám sát lại và chế tài xử lý đối tượng giám sát khi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ kiến nghị sau giám sát chưa được đề cập trong các quy định pháp luật hiện hành.

Thứ hai, về yếu tố nhân lực của HĐND: có thể nhận thấy một thực tế tại HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng là số lượng đại biểu HĐND có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực phí, lệ phí, đặc biệt là đại biểu chuyên trách chưa nhiều. Để thực hiện công tác giám sát, HĐND cần tuân thủ quy trình và hao tốn một lượng nhân lực, thời gian nhất định. Việc chủ động giám sát những lĩnh vực phức tạp như phí, lệ phí, đặc biệt là thực hiện với tất cả các loại phí, lệ phí đang triển khai tại địa phương là không đơn giản. Vấn đề này đặc biệt nổi cộm tại HĐND cấp huyện, cấp xã. Sự hạn chế về nhân lực, khó khăn về chuyên môn khiến chính đại biểu HĐND và HĐND tại các cấp này có tư tưởng “ngại” thực hiện giám sát nội dung này. Đồng thời, do phí, lệ phí là nguồn thu có tính bắt buộc của Nhà nước và là một trong những chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của thành phố nên một số đại biểu HĐND còn ngại đề cập, ngại xem xét, đề xuất giám sát.

Thứ ba, về mặt khách quan, nhìn chung các quy định pháp luật về phí, lệ phí đều được các cơ quan quản lý Nhà nước, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tại địa phương nghiêm túc thực hiện đầy đủ, tạo lập một nguồn thu ổn định cho ngân sách Nhà nước. Điều này phản ánh qua kết quả tiếp xúc cử tri tại các cấp HĐND ở địa phương trong thời gian qua, ngoại trừ phí sử dụng công trình cảng biển thì gần như không có thêm loại phí, lệ phí nào bị kiến nghị, thắc mắc. Bên cạnh đó, ngoài nội dung tuân theo pháp luật về phí, lệ phí, HĐND còn phải thực hiện giám sát nhiều nội dung khác, nên HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng chưa chú trọng vào công tác giám sát toàn diện trong lĩnh vực này mà mới chỉ tập trung vào loại phí, lệ phí có nhiều kiến nghị cần giải đáp.

Thứ tư, trong danh mục phí, lệ phí hiện nay đang triển khai áp dụng tại thành phố, phần lớn là các loại phí, lệ phí có đơn giá thu nhỏ nên sự tác động đến tâm lý của đối tượng nộp phí, lệ phí khi có thay đổi về mức thu cũng không nhiều.

Thứ năm, việc hợp tác với các chuyên gia trong lĩnh vực phí, lệ phí cần một nguồn chi phí thích hợp, việc xây dựng một bài toán kinh tế hiệu quả về cách thức sử dụng kinh phí hoạt động của HĐND trong điều kiện hoạt động của HĐND thì phức tạp, phong phú mà chi phí hoạt động thì có định mức, giới hạn là một việc không đơn giản.

Thứ sáu, đối với phí sử dụng công trình cảng biển, công tác giám sát việc tuân theo pháp luật về phí của HĐND các cấp ở Hải Phòng mặc dù đã có sự tập trung triển khai hơn so với các loại phí, lệ phí khác trong thời gian qua nhưng cũng gặp không ít khó khăn là do: Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

Hải Phòng là thành phố đầu tiên xây dựng, áp dụng một số mức phí mới, trong đó có phí sử dụng công trình cảng biển. Vì vậy sẽ không đơn giản để có thể có những hình thức giám sát, biện pháp giải quyết phù hợp ngay từ những bước đầu tiên. Trong điều kiện đó, tính kế thừa, tham khảo từ các địa phương khác là không có, Hải Phòng gần như là phải tự mình khởi động từ những bước tính đầu tiên để có được một biểu phí phù hợp.

HĐND các cấp chưa đánh giá đúng tính chất phức tạp và tính thời sự của việc áp dụng mức thu phí sử dụng công trình cảng biển theo Nghị quyết 148/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của HĐND thành phố Hải Phòng. Hải Phòng là một thành phố có ngành vận tải đường biển và khai thác cảng biển được xác định là mũi nhọn kinh tế, những đóng góp của các doanh nghiệp này vào ngân sách thành phố không hề nhỏ, chưa nói đến yếu tố “thương hiệu”. Việc ban hành mức phí sử dụng công trình cảng biển có tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp này, nhưng việc tham gia ý kiến của các doanh nghiệp cũng như việc các cơ quan tham mưu của UBND thành phố tiếp thu ý kiến, giải trình khúc mắc của các doanh nghiệp lại chưa hiệu quả.

HĐND thành phố chưa tận dụng ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực cảng biển, nhất là trong điều kiện thành phố tiên phong xây dựng, áp dụng biểu phí sử dụng công trình cảng biển trong khu vực.

Tiểu kết chương 2

Trong những năm gần đây, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp là một trong những nội dung cơ bản của chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, cải cách toàn diện bộ máy Nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND nói chung, hoạt động giám sát của HĐND nói riêng là một sự chuyển biến sâu và rộng.

Hoạt động giám sát của HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng trong thời gian qua mang nhiều dấu ấn đặc trưng, chủ yếu là do sự thay đổi về mô hình tổ chức HĐND các cấp. Cùng với sự phát triển kinh tế địa phương, HĐND các cấp thành phố Hải Phòng đã có nhiều sự thay đổi tích cực về cơ cấu tổ chức, thành phần nhằm hướng đến một bộ máy quản lý mạnh về chất lượng thay vì số lượng. Cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động của HĐND các cấp tại thành phố Hải Phòng có thể đánh giá là đã có sự cải thiện, nâng cao về chất lượng, nhưng lại chưa thể phát huy hết tiềm lực, ưu thế khi thực hiện giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí ở địa phương. Chúng ta ghi nhận sự mạnh dạn của thành phố trong việc tiên phong áp dụng thu loại phí mới như phí sử dụng công trình cảng biển nhưng vẫn phải thừa nhận HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng đã đánh giá khá nhẹ mức độ phức tạp của nội dung này khiến công tác giám sát chưa được tập trung và cách giải quyết vấn đề cũng không được triệt để. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cùng với những bài học kinh nghiệm đúc rút trong thời gian qua, cùng với năng lực và tâm huyết của các đại biểu HĐND, vấn đề này sẽ dần được khắc phục để công tác giám sát việc tuân theo pháp luật về phí, lệ phí của HĐND các cấp ở thành phố Hải Phòng sẽ toàn diện hơn, đầy đủ hơn, kịp thời hơn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về phí lệ phí của hội đồng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về phí lệ phí của hội đồng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *