Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích và đánh giá hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Cần Thơ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ
Ngày 01/10/1989, Vietcombank đã ghi dấu sự hiện diện của mình bằng việc thành lập chi nhánh thứ 11 trong hệ thống mang tên Vietcombank Cần Thơ tại miền đất này. Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ luôn là ngân hàng gương mẫu đi đầu trong việc quán triệt và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và phát triển kinh tế xã hội tại Thành phố Cần Thơ. Đối với hệ thống Vietcombank, Chi nhánh Cần Thơ luôn là một trong những chi nhánh điển hình tiên tiến, hoạt động kinh doanh hiệu quả nhất tại khu vực Tây Nam Bộ.
- Tên đầy đủ bằng tiếng việt: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương chi nhánh Cần Thơ
- Tên viết tắt: Vietcombank Cần Thơ
- Trụ sở chính: Số 03-05-07 Hòa Bình, Phường Tân An, Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ. Địa chỉ sau sáp nhập: Số 03-05-07 Hòa Bình, Phường Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ luôn là ngân hàng gương mẫu đi đầu trong việc quán triệt và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và phát triển kinh tế xã hội tại Thành phố Cần Thơ.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Hiện nay, Vietcombank Cần Thơ có tất cả 229 cán bộ nhân viên, trong đó có 01 chi nhánh và 06 Phòng giao dịch, tại chi nhánh bao gồm Ban Giám đốc và 07 Phòng nghiệp vụ. Trong đó:
- Ban Giám đốc: 04 người, bao gồm 01 Giám đốc và 03 Phó Giám đốc
Giám đốc: là người điều hành cao nhất, trực tiếp chỉ đạo, điều hành hoặc phân công, ủy quyền cho Phó Giám đốc để thực hiện công tác nghiệp vụ chuyên môn theo quy định. Đồng thời triển khai các chủ trương, chính sách của Nhà nước có liên quan đến hoạt động của ngân hàng và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của ngân hàng, chịu trách nhiệm phân công công việc cho các phòng ban một cách hợp lý. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Phó Giám đốc: được Giám đốc phân công phụ trách trong một số mảng công tác, đó là bộ phận kho quỹ, phòng dịch vụ khách hàng, mảng tín dụng tại các phòng khách hàng và Phòng giao dịch tại chi nhánh.
Phòng Khách hàng Bán lẻ: 23 người Với chức năng của phòng là tham mưu cho Giám đốc, trực tiếp thẩm định kinh tế kỹ thuật, kinh tế đầu tư và cho vay theo các kì hạn ngắn, trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam. Đồng thời, cũng chịu trách nhiệm quản lý chi tiêu của các dự án và kinh doanh của các dịch vụ ngân hàng, thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và cho vay đối với các khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp SME với nhiều loại khoản vay như: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn…ngoài ra bộ phận này còn quản lý dịch vụ thẻ ATM, thẻ tín dụng quốc tế….
Phòng Khách hàng doanh nghiệp: 14 người cũng thực hiện các nghiệp vụ như Phòng Khách hàng Bán lẻ nhưng với đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, bao gồm khách hàng là doanh nghiệp lớn. Ngoài ra bộ phận này còn quản lý thêm một số nghiệp vụ khác như thanh toán quốc tế, bảo lãnh, L/C….
- Phòng Dịch vụ khách hàng cá nhân: 25 người
Thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi, tiết kiệm, thu lãi vay, giải ngân, thanh toán và chuyển tiền tại quầy đối với những khách hàng cá nhân và doanh nghiệp SME, đảm bảo lợi ích và làm hài lòng khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ tại đơn vị.
- Phòng Dịch vụ khách hàng tổ chức: 18 người
Thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi, tiết kiệm, thu lãi vay, giải ngân, thanh toán và chuyển tiền tại quầy trong nước và thanh toán quốc tế, nộp NSNN,…. đối với những khách hàng doanh nghiệp lớn, đảm bảo lợi ích và làm hài lòng khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ tại đơn vị.
- Phòng Kế toán: 09 người
Thực hiện các hoạt động liên quan đến tài chính, kế toán và thanh toán của Chi nhánh. Đảm bảo chi nhánh chấp hành đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với NSNN và các quy định về nghĩa vụ tài chính trong hệ thống. Lưu trữ và quản lý chứng từ giao dịch của cả chi nhánh. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
- Phòng Quản lý nợ: 25 người
Thực hiện các hoạt động liên quan đến tác nghiệp, quản lý và kiểm tra đối với hồ sơ tín dụng của các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, thực hiện định giá tài sản của khách hàng và soạn hồ sơ tín dụng gửi khách hàng.
- Phòng Ngân quỹ: 14 người
Thực hiện việc tiếp quỹ cho các giao dịch viên và nhận hoàn quỹ về cuối ngày, đảm bảo cân quỹ, trực tiếp thu những khoản tiền lớn, thực hiện việc đóng bó tiền và hoàn thành kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với NHNN.
- Phòng Hành chính Nhân sự: 19 người
Thực hiện chức năng hành chính, thực hiện công tác văn thư, hành chính, tuyên truyền, tiếp thị lễ tân, tiếp khách, tuyển dụng nhân sự, lên kế hoạch chi tiêu mua sắm quà tặng, làm sự kiện nhằm mục tiêu xây dựng chi nhánh văn minh, lịch sự.
Giữa các phòng ban luôn có mối quan hệ phối hợp cho nên có sự liên kết chặt chẽ, hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng cho hoạt động chi nhánh được tiến hành một cách liên tục có hệ thống để đạt được hiệu quả kinh doanh cao.
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ trong thời gian qua
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Với phương châm “Đi vay để cho vay” Vietcombank Cần Thơ đã xác định được tầm quan trọng của công tác huy động vốn nhằm tạo lập nguồn vốn huy động đáp ứng nhu cầu vốn cho Sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trên địa bàn, chi nhánh đã tích cực chủ động khai thác nguồn vốn nhàn rỗi, mở rộng mạng lưới hoạt động, đưa ra nhiều hình thức huy động phù hợp với mọi tầng lớp dân cư như: huy động tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, tiết kiệm có kỳ hạn ngắn nhất là 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng,…tiết kiệm dự thưởng và phát hành giấy tờ có giá. Lãnh đạo ngân hàng thường xuyên gặp gỡ và có chính sách khuyến khích, ưu đãi với các khách hàng có nguồn tiền gửi lớn, các cơ quan có các đơn vị tài khoản thanh toán mở tại ngân hàng, tạo điều kiện cho nhiều cá nhân, hộ kinh doanh mở tài khoản chuyển qua ngân hàng. Hiểu rõ tầm quan trọng của vốn đối với sự hoạt động kinh doanh của ngân hàng và để đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế, Vietcombank Cần Thơ luôn coi trọng nghiệp vụ nguồn vốn và chủ yếu là công tác huy động vốn. Phát huy thế mạnh trên địa bàn, chi nhánh đã tập trung chỉ đạo bằng các biện pháp tích cực để thu hút được nguồn vốn lớn, rẻ góp phần tăng cường nguồn vốn để mở rộng cho vay cũng như điều chuyển vốn trong hệ thống Vietcombank.
- Bảng 2.1. Nguồn vốn huy động tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Ta có biểu đồ thể hiện như sau:
- Biểu đồ 2.1: Nguồn vốn huy động tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021- 2024
Nhìn vào Bảng 2.1 và Biểu đồ 2.1, có thể thấy rằng: Trong giai đoạn 2021–2024, quy mô nguồn vốn huy động của Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ, phản ánh năng lực mở rộng thị phần huy động vốn, đồng thời khẳng định uy tín và vị thế của ngân hàng trên địa bàn. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng liên tục qua các năm, từ 13.164 tỷ đồng năm 2021 lên 21.767 tỷ đồng năm 2024, tương ứng tăng 8.603 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân đạt khoảng 18,4%/năm. Đặc biệt, năm 2024 ghi nhận mức tăng trưởng đột phá 43,79% so với năm 2023. Điều này cho thấy chi nhánh đã có những biện pháp hiệu quả trong việc thu hút nguồn tiền gửi từ cả khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, góp phần đảm bảo nguồn vốn ổn định phục vụ cho hoạt động tín dụng.
- Tiền gửi của tổ chức kinh tế (TCKT)
Nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế tăng đáng kể qua các năm, từ 3.928 tỷ đồng năm 2021 lên 7.501 tỷ đồng năm 2024, tăng hơn 90% trong ba năm. Tỷ trọng nhóm này trong tổng huy động cũng tăng từ 29,8% lên 34,4%, phản ánh niềm tin ngày càng cao của doanh nghiệp đối với Vietcombank Cần Thơ.
Xét theo kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh nhất, từ 1.602 tỷ đồng lên 3.683 tỷ đồng (tăng 130%), do chi nhánh đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ tài khoản thanh toán và quản lý dòng tiền cho doanh nghiệp. Tiền gửi có kỳ hạn cũng tăng đều đặn, đặc biệt năm 2024 tăng 30,33% so với 2023, thể hiện xu hướng các doanh nghiệp duy trì dòng vốn nhàn rỗi ổn định tại ngân hàng. Trong khi đó, tiền gửi ký quỹ chiếm tỷ trọng nhỏ và biến động không đáng kể.
- Tiền gửi của dân cư
Tiền gửi dân cư tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu huy động vốn, chiếm khoảng 65% tổng nguồn vốn. Quy mô tăng từ 9.216 tỷ đồng năm 2021 lên 14.236 tỷ đồng năm 2024, tăng tuyệt đối 5.020 tỷ đồng, tương ứng 54,3% so với năm trước.
Giai đoạn 2021–2023, tiền gửi dân cư tăng chậm do mặt bằng lãi suất huy động thấp, nhưng sang năm 2024, khi lãi suất được điều chỉnh hợp lý và niềm tin của người gửi tiền được củng cố, quy mô tiền gửi cá nhân đã tăng mạnh. Tiền gửi không kỳ hạn tăng gấp đôi, phản ánh xu hướng người dân sử dụng nhiều sản phẩm ngân hàng số, thanh toán không tiền mặt. Tiền gửi có kỳ hạn giảm nhẹ giai đoạn 2022–2023 nhưng bật tăng 59,8% trong năm 2024, cho thấy hiệu quả của các chính sách lãi suất linh hoạt và chương trình khuyến khích tiết kiệm của chi nhánh.
- Nguồn huy động khác Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Nhóm huy động khác có quy mô nhỏ (dao động từ 20–52 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng nguồn vốn. Các khoản này chủ yếu là tiền ủy thác, ký quỹ hoặc vốn tạm thời nên biến động thất thường qua các năm.
Giai đoạn 2021–2024 đánh dấu sự phát triển tích cực của Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ trong công tác huy động vốn. Với tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu vốn hợp lý và chiến lược huy động đa dạng, chi nhánh đã khẳng định được vai trò là một trong những đơn vị chủ lực của hệ thống Vietcombank tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
2.1.3.2 Hoạt động huy động vốn
- Bảng 2.2. Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Ta có biểu đồ thể hiện như sau:
- Biểu đồ 2.2: Cơ cấu dư nợ cho vay tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021- 2024
Qua Bảng 2.2 và Biểu đồ 2.2, có thể thấy Trong giai đoạn 2021–2024, hoạt động cho vay của Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ đạt được sự tăng trưởng ổn định, thể hiện rõ nỗ lực mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát rủi ro. Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh tăng từ 14.650 tỷ đồng năm 2021 lên 20.480 tỷ đồng năm 2024, tương ứng tăng 5.830 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 12,3%/năm. Đặc biệt, năm 2024 ghi nhận mức tăng cao nhất trong giai đoạn với 14,67% so với năm 2023. Sự tăng trưởng này phản ánh khả năng mở rộng tín dụng hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn, đồng thời thể hiện uy tín, năng lực quản trị rủi ro và chính sách tín dụng linh hoạt của chi nhánh.
- Cho vay ngắn hạn
Dư nợ ngắn hạn của chi nhánh tăng liên tục qua các năm, từ 5.670 tỷ đồng năm 2021 lên 9.380 tỷ đồng năm 2024, tăng tuyệt đối 3.710 tỷ đồng, tương đương 65,5%. Tốc độ tăng bình quân đạt trên 17%/năm, trong đó năm 2024 tăng đột biến 39,68% so với năm trước. Điều này cho thấy Vietcombank Cần Thơ đã chú trọng phát triển các khoản vay ngắn hạn phục vụ nhu cầu vốn lưu động, sản xuất – kinh doanh, thương mại và dịch vụ của khách hàng doanh nghiệp và cá nhân. Cơ cấu cho vay ngắn hạn tăng dần qua các năm cũng phản ánh chính sách tín dụng linh hoạt, tập trung vào các khoản vay có chu kỳ vốn nhanh, khả năng thu hồi tốt và mức độ rủi ro thấp, phù hợp với định hướng an toàn của hệ thống Vietcombank.
- Cho vay dài hạn Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Dư nợ cho vay dài hạn có xu hướng tăng trong giai đoạn đầu nhưng giảm nhẹ vào năm 2024. Cụ thể, dư nợ dài hạn tăng từ 2.245 tỷ đồng năm 2021 lên 3.009 tỷ đồng năm 2023, sau đó giảm còn 2.775 tỷ đồng năm 2024, tương ứng giảm 7,78% so với năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do chi nhánh hạn chế mở rộng cho vay dài hạn để giảm rủi ro thanh khoản và nợ xấu, đặc biệt trong các lĩnh vực có độ rủi ro cao như bất động sản hoặc đầu tư hạ tầng dài hạn. Tuy nhiên, việc giảm tỷ trọng cho vay dài hạn cũng phần nào ảnh hưởng đến tính đa dạng của danh mục tín dụng, đòi hỏi chi nhánh cần có chiến lược cân bằng hơn giữa các kỳ hạn trong thời gian tới.
Nhìn chung, dư nợ cho vay của Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021–2024 tăng trưởng ổn định và bền vững, trong đó cho vay ngắn hạn và trung hạn chiếm tỷ trọng chủ yếu, thể hiện sự tập trung vào các khoản vay có khả năng luân chuyển vốn nhanh và ít rủi ro. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức cao cho thấy chi nhánh đã thực hiện tốt công tác huy động vốn, thẩm định và quản lý tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng mà vẫn đảm bảo tuân thủ các quy định an toàn của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, sự sụt giảm nhẹ trong cho vay dài hạn cũng là tín hiệu để chi nhánh xem xét đa dạng hóa cơ cấu tín dụng, hướng đến tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
2.1.3.3. Các hoạt động khác
Vietcombank Cần Thơ đã tích cực thực hiện công tác Marketing và đưa ra những chính sách ưu đãi hợp lý nhằm tăng doanh số và lượng khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh, phối hợp với các phòng, điểm giao dịch để nắm bắt các thông tin về phía khách hàng. Bên cạnh đó, Vietcombank Cần Thơ đã tiến hành tăng cường việc tìm kiếm, phát triển khách hàng, tập trung vào các đối tượng Doanh nghiệp vừa và nhỏ, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động trong những ngành nghề triển vọng, đẩy mạnh công tác quảng cáo, quảng bá sản phẩm mới, dịch vụ thanh toán trong nước được mở rộng, tăng cả về quy mô và chất lượng. Hoạt động thẻ được phát huy mạnh mẽ, hệ thống thanh toán tự động ATM được lắp đặt và sử dụng trên nhiều địa bàn trong cả nước. Vietcombank nói chung cũng như Vietcombank Cần Thơ nói riêng luôn cố gắng đem đến cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ nhanh chóng và thuận lợi nhất. Thực hiện chính sách phát triển sản phẩm dịch vụ, ngoài các sản phẩm dịch vụ truyền thống, chi nhánh đã triển khai hầu hết các nhóm sản phẩm dịch vụ ngân hang hiện đại trên nền công nghệ cao như: Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
- Gửi, lĩnh nhiều nơi cho khách hàng cá nhân;
- Phát hành thẻ ATM, Visa Card cho khách hàng cá nhân;
- Chi trả lương qua tài khoản;
- Thanh toán biên mậu, thanh toán CAD;
- Mobile Banking, Internet Banking;
- Nhóm sản phẩm liên kết ngân hàng, bảo hiểm, thu đổi ngoại tệ…
2.1.3.4. Kết quả hoạt động kinh doanh
- Bảng 2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Nhìn vào Bảng 2.3, có thể thấy rằng, trong giai đoạn 2021–2024, kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ có nhiều biến động, phản ánh nỗ lực mở rộng quy mô hoạt động song song với thách thức trong việc kiểm soát chi phí và duy trì hiệu quả lợi nhuận.
Về thu nhập, chi nhánh ghi nhận xu hướng tăng trưởng ổn định qua các năm. Cụ thể, năm 2021 đạt 601 tỷ đồng, đến năm 2024 tăng lên 970 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 369 tỷ đồng, tức tăng 61,4% so với năm đầu kỳ. Mức tăng cao nhất ghi nhận vào năm 2024 với tốc độ tăng 20,7% so với năm 2023. Kết quả này cho thấy chi nhánh đã đạt được hiệu quả tích cực trong công tác huy động vốn, mở rộng hoạt động tín dụng cũng như đa dạng hóa các nguồn thu ngoài lãi.
Về chi phí, giai đoạn này ghi nhận mức tăng khá mạnh, đặc biệt trong năm 2024. Từ mức 114 tỷ đồng năm 2021, chi phí tăng lên 493 tỷ đồng năm 2024, gấp hơn 4 lần, tương ứng tăng 331,6% trong 3 năm. Trong đó, riêng năm 2024 chi phí tăng đột biến 151,96% so với năm 2023. Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc mở rộng quy mô hoạt động, chi phí huy động vốn gia tăng, hoặc phát sinh thêm các khoản đầu tư cho cơ sở vật chất, nhân sự và công nghệ.
Đối với lợi nhuận, chi nhánh duy trì mức tăng trưởng khả quan trong giai đoạn 2021–2023, từ 487 tỷ đồng năm 2021 lên 608 tỷ đồng năm 2023, tương ứng tăng 24,9%. Tuy nhiên, đến năm 2024, lợi nhuận giảm còn 477 tỷ đồng, giảm 21,55% so với năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập, làm thu hẹp biên lợi nhuận và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung.
Tổng thể, kết quả kinh doanh của Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021–2023 cho thấy xu hướng tăng trưởng tích cực về quy mô và hiệu quả. Tuy nhiên, sự sụt giảm lợi nhuận trong năm 2024 là dấu hiệu cảnh báo về áp lực chi phí ngày càng lớn. Do đó, trong thời gian tới, chi nhánh cần tập trung kiểm soát chi phí hoạt động, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng và đa dạng hóa nguồn thu nhập để đảm bảo tăng trưởng bền vững và ổn định hơn trong giai đoạn tiếp theo.
2.2. Tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Cần Thơ Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
2.2.1 Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Cần Thơ
- Bảng 2.4. Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Nhìn vào bảng 2.4, có thể thấy rằng Trong giai đoạn 2021–2024, số lượng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trên địa bàn thành phố Cần Thơ có nhiều biến động, phản ánh rõ nét tác động của bối cảnh kinh tế cũng như quá trình phục hồi sau đại dịch COVID-19.
Cụ thể, tổng số lượng doanh nghiệp đang hoạt động tại thành phố Cần Thơ có xu hướng giảm mạnh trong năm 2022, sau đó phục hồi trở lại trong hai năm tiếp theo. Năm 2021, thành phố có 11.906 doanh nghiệp, nhưng đến năm 2022 chỉ còn 9.740 doanh nghiệp, giảm 2.166 đơn vị, tương ứng giảm 18,19%. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng kéo dài của đại dịch khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, gián đoạn chuỗi cung ứng và thu hẹp sản xuất. Bước sang năm 2023 và 2024, khi tình hình kinh tế dần ổn định, số lượng doanh nghiệp đã phục hồi đáng kể, đạt lần lượt 10.118 và 10.937 doanh nghiệp, tương ứng tăng 3,88% và 8,09% so với năm trước. Xu hướng này cho thấy môi trường đầu tư – kinh doanh tại Cần Thơ đang từng bước cải thiện và lấy lại đà tăng trưởng.
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) – khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh nghiệp của thành phố, biến động cũng diễn ra tương tự. Năm 2021, Cần Thơ có 9.400 Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động, nhưng con số này giảm xuống còn 7.789 vào năm 2022 (giảm 17,14%). Nguyên nhân chủ yếu là do quy mô của nhóm doanh nghiệp này nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế nên khả năng chống chịu trước khủng hoảng thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các chính sách tín dụng ưu đãi từ hệ thống ngân hàng, cùng với sự phục hồi của nền kinh tế, số lượng Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng trở lại trong hai năm sau, đạt 8.095 doanh nghiệp năm 2023 và 8.765 doanh nghiệp năm 2024, tương ứng tăng 3,93% và 8,28%.
Riêng tại Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ, số lượng Doanh nghiệp vừa và nhỏ giao dịch với ngân hàng cũng có sự thay đổi đáng chú ý. Năm 2021, chi nhánh phục vụ 321 Doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm nhẹ xuống còn 316 vào năm 2022 (giảm 1,56%) nguyên nhân do một số khách hàng được chuyển sang phân phúc KHDN Lớn có doanh thu trong năm gần nhất trên 03 tỷ đồng. Đến năm 2023, con số này tăng mạnh lên 485 doanh nghiệp, tương ứng mức tăng 53,48%, cho thấy mức độ hoạt động và giao dịch của Doanh nghiệp vừa và nhỏ phục hồi rõ rệt sau đại dịch. Tuy nhiên, năm 2024 ghi nhận sự sụt giảm nhẹ còn 470 doanh nghiệp (giảm 3,09%).
Nhìn chung, giai đoạn 2021–2024 cho thấy quá trình phục hồi bền bỉ của khu vực Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Cần Thơ. Dù gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu, các doanh nghiệp này đã từng bước ổn định, khôi phục sản xuất và mở rộng quy mô hoạt động. Đối với Vietcombank Cần Thơ, việc duy trì và mở rộng quan hệ tín dụng với nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh của chi nhánh, mà còn hỗ trợ tích cực cho sự phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt trong giai đoạn hậu dịch.
2.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Cần Thơ Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Cần Thơ được thể hiện dưới một số mặt sau: Thứ nhất, quy mô vốn của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Cần Thơ còn nhỏ, gần 50% số doanh nghiệp có mức vốn sở hữu dưới 10 tỷ đồng, do vậy tình trạng thiếu vốn luôn xảy ra. Vốn tự có không đủ, thị trường kinh tế cạnh tranh gay gắt gây nhiều khó khăn cho DNVVN trong việc tiếp cận với nguồn vốn. Do vậy, nguồn vốn vay của các Ngân hàng thương mại là một lựa chọn ưu tiên đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đang gặp những vướng mắc về lãi suất, thủ tục, chính sách và phương thức vay của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn, do vậy các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không dễ dàng xin vay được. Do thiếu vốn để sản xuất và kinh doanh nên đa số các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh đã chọn cách sản xuất cầm chừng để duy trì hoạt động. Điều này gây ảnh hưởng đến sự phát triển của chính bản thân Doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng và với nền kinh tế nói chung.
Thứ hai, trình độ chuyên môn của các chủ Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Cần Thơ chưa cao. Trên địa bàn tỉnh, có nhiều chủ Doanh nghiệp vừa và nhỏ có trình độ học vấn trung cấp trở xuống, số người tốt nghiệp đại học chiếm tỷ trọng gần 40%, trình độ thạc sĩ và tiến sĩ hầu như không có. Điều đáng chú ý đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại đây là đa số các chủ doanh nghiệp không được đào tạo bài bản về kiến thức quản trị doanh nghiệp và chủ yếu thực hiện quản lý theo kinh nghiệm. Điều này gây ảnh hưởng đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại đây.
Thứ ba, trình độ sử dụng công nghệ của các nhân viên trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Cần Thơ còn thấp. Do tài chính thấp, nên các Doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tiếp cận được với công nghệ mới và các sản phẩm đưa ra thị trường không có tính cạnh tranh.
Thứ tư, hạn chế trong tiếp cận nguồn nguyên liệu với giá cả cạnh tranh và chưa đề cao vấn đề thương hiệu của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đa số các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh đều phải nhập nguyên liệu đầu vào. Bên cạnh đó, công nghiệp chế tạo vẫn chủ yếu là gia công lắp ráp. Cụ thể, một số sản phẩm có sự tăng trưởng cao như hạt điều, may mặc, chế biến thực phẩm….đều phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ bên ngoài. Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh, do các DN này có quy mô nhỏ và vốn tự có ít, vị thế yếu do vậy nếu không có hình thức hợp tác thích hợp để mua nguyên vật liệu thì sẽ luôn ở thế bất lợi về giá cả sản phẩm đầu ra.
2.3. Phân tích hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
2.3.1 Tình hình dư nợ
- Bảng 2.5. Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ của khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Qua Bảng 2.5, chúng ta thấy trong giai đoạn 2021–2024 hoạt động tín dụng của Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ ghi nhận sự tăng trưởng tích cực, thể hiện qua doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ khách hàng đều có xu hướng tăng qua các năm.
Về doanh số cho vay, tổng doanh số tăng từ 7.022 tỷ đồng năm 2021 lên 9.116 tỷ đồng năm 2024, tương ứng mức tăng tuyệt đối 2.094 tỷ đồng (tăng 29,82% so với năm 2021). Năm 2022, doanh số cho vay đạt 7.521 tỷ đồng, tăng 7,11% so với năm trước; năm 2023 tăng mạnh 18,23% và năm 2024 tiếp tục tăng nhẹ 2,52%. Xét theo thời hạn cho vay, các khoản vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng chủ yếu, tăng liên tục từ 6.774 tỷ đồng lên 8.973 tỷ đồng (tăng 32,44% sau bốn năm). Trong khi đó, cho vay trung và dài hạn biến động không ổn định: năm 2022 giảm mạnh 98,81%, nhưng phục hồi mạnh năm 2023 (tăng hơn 95 lần), rồi lại giảm gần 50% vào năm 2024. Điều này cho thấy chính sách tín dụng của chi nhánh chủ yếu tập trung vào các khoản vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của khách hàng, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Xét theo ngành kinh tế, doanh số cho vay lĩnh vực thương mại – dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng ổn định qua các năm, từ 3.260 tỷ đồng năm 2021 lên 5.785 tỷ đồng năm 2024 (tăng 77,5%). Ngành công nghiệp – xây dựng cơ bản cũng ghi nhận mức tăng tích cực giai đoạn 2021–2023 nhưng giảm nhẹ 2,57% vào năm 2024. Trong khi đó, lĩnh vực cấp thoát nước duy trì mức cho vay tương đối ổn định, còn nhóm ngành khác lại giảm mạnh trong năm 2022 do cơ cấu lại danh mục tín dụng, sau đó phục hồi nhẹ trong hai năm tiếp theo.
Về doanh số thu nợ, chi nhánh cũng đạt kết quả khả quan với mức tăng từ 6.500 tỷ đồng năm 2021 lên 8.507 tỷ đồng năm 2024 (tăng 30,88%). Lĩnh vực thương mại – dịch vụ tiếp tục đóng góp lớn nhất, tăng hơn 84% trong bốn năm, phản ánh hiệu quả thu hồi vốn tốt và khả năng quay vòng vốn nhanh. Ngược lại, các ngành như cấp thoát nước và các ngành khác có sự dao động nhẹ, cho thấy ảnh hưởng từ đặc thù chu kỳ hoạt động và nhu cầu vốn không ổn định.
Dư nợ khách hàng của Vietcombank Cần Thơ cũng tăng trưởng tích cực, từ 4.292 tỷ đồng năm 2021 lên 5.608 tỷ đồng năm 2024, tăng 30,67%. Cơ cấu dư nợ cho thấy chi nhánh tập trung chủ yếu vào nhóm thương mại – dịch vụ (chiếm tỷ trọng cao nhất và tăng 78,6% sau bốn năm), tiếp theo là sản xuất kinh doanh (tăng 66,4%). Điều này phản ánh định hướng tín dụng của chi nhánh phù hợp với đặc điểm kinh tế địa phương, nơi khu vực thương mại – dịch vụ và doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Nhìn chung, giai đoạn 2021–2024, hoạt động tín dụng của Vietcombank Cần Thơ phát triển ổn định, vừa đảm bảo mở rộng quy mô cho vay, vừa duy trì chất lượng tín dụng tốt thể hiện qua tốc độ thu nợ tăng đều. Tuy nhiên, cơ cấu tín dụng vẫn còn thiên lệch về ngắn hạn và tập trung nhiều vào lĩnh vực thương mại – dịch vụ, do đó chi nhánh cần tiếp tục đa dạng hóa danh mục cho vay và tăng tỷ trọng cho vay trung, dài hạn trong thời gian tới để cân đối rủi ro và hỗ trợ phát triển bền vững cho nền kinh tế địa phương.
2.3.2 Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu Tình hình nợ quá hạn
Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu Tình hình nợ quá hạn: Tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay mà ngân hàng phải đối mặt. Mặc dù vậy, trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, nợ quá hạn là một hiện tượng tất yếu, không thể tránh khỏi, chỉ có thể hạn chế chứ không thể triệt tiêu hoàn toàn. Điều quan trọng là phải giảm tỷ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất. Bảng 2.6, thể hiện tình hình nợ quá hạn tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024:
- Bảng 2.6. Tình hình nợ quá hạn trong cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Ta có biểu đồ thể hiện như sau
- Biểu đồ 2.3: Nợ quá hạn trong cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Qua Bảng 2.6 và Biểu đồ 2.3, có thể thấy rằng trong giai đoạn 2021–2024, tình hình nợ quá hạn trong cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ có nhiều biến động đáng chú ý. Tổng dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ nhìn chung có xu hướng tăng qua các năm, ngoại trừ năm 2022 ghi nhận mức giảm nhẹ. Cụ thể, tổng dư nợ giảm từ 4.292 tỷ đồng năm 2021 xuống 4.199 tỷ đồng năm 2022 (tương đương giảm 2,18%). Tuy nhiên, từ năm 2023, hoạt động cho vay phục hồi mạnh mẽ, với dư nợ đạt 4.999 tỷ đồng (tăng 19,06%) và tiếp tục tăng lên 5.608 tỷ đồng vào năm 2024 (tăng 12,19%). Diễn biến này phản ánh sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế địa phương, cùng với nhu cầu vốn ngày càng cao từ phía các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh hoạt động sản xuất – kinh doanh được cải thiện.
Về tình hình nợ quá hạn, năm 2022 ghi nhận mức giảm từ 28 tỷ đồng xuống còn 26 tỷ đồng (giảm 8,2%), cho thấy công tác kiểm soát chất lượng tín dụng đã đạt hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, từ năm 2023 trở đi, nợ quá hạn có xu hướng tăng trở lại, lần lượt đạt 29 tỷ đồng (tăng 13,2%) và 37 tỷ đồng vào năm 2024 (tăng 27,66%). Việc nợ quá hạn tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ trong năm 2024 cho thấy tiềm ẩn rủi ro về chất lượng tín dụng khi ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay.
Xét về tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, chỉ tiêu này có xu hướng giảm nhẹ từ 0,65% năm 2021 xuống 0,58% vào năm 2023, phản ánh nỗ lực đáng ghi nhận trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và kiểm soát nợ xấu. Tuy nhiên, đến năm 2024, tỷ lệ này tăng trở lại lên 0,66%, vượt cả mức của năm 2021, cho thấy dấu hiệu suy giảm trong công tác quản lý rủi ro tín dụng, đặc biệt là trong bối cảnh dư nợ tăng nhanh. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Tổng thể, mặc dù Vietcombank Cần Thơ đã đạt được kết quả tích cực trong việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng xu hướng gia tăng nợ quá hạn trong năm 2024 là một cảnh báo quan trọng. Ngân hàng cần xem xét lại các chính sách tín dụng, tăng cường công tác thẩm định khách hàng, kiểm soát dòng tiền sau giải ngân, cũng như áp dụng các cơ chế cảnh báo sớm để đảm bảo hoạt động cho vay tăng trưởng bền vững và an toàn trong thời gian tới.
- Tình hình nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Vietcombank Cần Thơ được thể hiện dưới Bảng 2.7 sau:
- Bảng 2.7. Tỷ lệ nợ xấu cho vay khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Qua Bảng 2.7, có thể thấy rằng trong giai đoạn 2021–2024 chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ nhìn chung được kiểm soát tốt, tuy nhiên cũng có thời điểm phát sinh rủi ro cần lưu ý. Cụ thể, trong hai năm đầu (2021 và 2022), toàn bộ dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ đều nằm trong nhóm 1 – tức là các khoản vay được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. Không ghi nhận bất kỳ khoản nợ nào rơi vào nhóm nợ xấu (nhóm 3, 4 hoặc 5), từ đó tỷ lệ nợ xấu trong hai năm này duy trì ở mức 0%. Điều này phản ánh hiệu quả tích cực trong công tác quản lý tín dụng, xét duyệt và thẩm định khách hàng tại chi nhánh trong giai đoạn đầu của kỳ phân tích.
Tuy nhiên, bước sang năm 2023, bắt đầu xuất hiện nợ xấu trong danh mục cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tổng dư nợ cho vay nhóm khách hàng này đạt 4.999 tỷ đồng, trong đó phát sinh 26 tỷ đồng nợ xấu, chiếm tỷ lệ 0,52% trên tổng dư nợ. Cơ cấu nợ xấu gồm 19 tỷ đồng thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) và 7 tỷ đồng thuộc nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Dù tỷ lệ này vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo quy định (<3%), nhưng việc nợ xấu phát sinh sau hai năm liên tục bằng 0 là dấu hiệu cảnh báo về nguy cơ gia tăng rủi ro tín dụng nếu không có các biện pháp kiểm soát kịp thời.
Sang năm 2024, tình hình nợ xấu đã được cải thiện rõ rệt. Dư nợ cho vay tiếp tục tăng lên 5.608 tỷ đồng, trong khi nợ xấu giảm mạnh xuống còn 7,5 tỷ đồng, chủ yếu là nợ nhóm 3. Tỷ lệ nợ xấu theo đó giảm còn 0,13%, thể hiện nỗ lực tích cực của chi nhánh trong việc thu hồi nợ, cơ cấu lại khoản vay, cũng như tăng cường các biện pháp kiểm soát rủi ro sau giải ngân. Việc đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới mức của năm 2023 cho thấy tín hiệu tích cực trong công tác xử lý nợ và khẳng định sự linh hoạt, hiệu quả trong hoạt động tín dụng của đơn vị.
Tổng kết lại, giai đoạn 2021–2024 ghi nhận mức độ kiểm soát nợ xấu tốt của Vietcombank Cần Thơ trong cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là khả năng ứng phó nhanh với tình huống phát sinh rủi ro trong năm 2023. Tuy vậy, chi nhánh vẫn cần tiếp tục theo dõi sát sao danh mục tín dụng, đẩy mạnh giám sát sau cho vay, đánh giá định kỳ khả năng trả nợ của khách hàng, nhằm duy trì tỷ lệ nợ xấu ổn định ở mức thấp và đảm bảo an toàn hoạt động tín dụng trong dài hạn.
2.3.3. Vòng quay vốn tín dụng Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Vòng quay vốn tín dụng trong cho vay khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024 được thể hiện trong Bảng 2.8:
- Bảng 2.8. Vòng quay vốn tín dụng trong cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Qua bảng 2.8, ta có thể thấy rằng trong giai đoạn 2021–2024, chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng của Vietcombank Cần Thơ đối với nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có sự biến động qua các năm, phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử dụng và thu hồi nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Cụ thể, năm 2021 vòng quay vốn tín dụng đạt 2,44 vòng, tuy nhiên đến năm 2022 đã giảm xuống còn 1,99 vòng, tương ứng mức giảm 0,46 vòng, tức giảm 18,74% so với năm trước. Sự suy giảm này cho thấy tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng bị chậm lại, có thể do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, khả năng trả nợ bị hạn chế, dẫn đến thời gian thu hồi vốn kéo dài hơn. Bước sang năm 2023, chỉ tiêu này tăng nhẹ lên 2,02 vòng, tăng 0,03 vòng (tương đương 1,62%) so với năm 2022. Điều này phản ánh sự phục hồi tích cực của nền kinh tế cũng như sự cải thiện trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần thúc đẩy tốc độ thu hồi vốn tín dụng tại ngân hàng. Tuy nhiên, đến năm 2024, vòng quay vốn tín dụng lại giảm xuống còn 1,78 vòng, giảm 0,24 vòng (tương đương 11,83%) so với năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu là do dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục tăng mạnh, trong khi doanh số thu nợ không tăng tương ứng, làm cho tốc độ luân chuyển vốn chậm lại.
Nhìn chung, trong giai đoạn 2021–2024, vòng quay vốn tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Cần Thơ có xu hướng giảm dần, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chưa thật sự ổn định. Mặc dù ngân hàng đã mở rộng quy mô cho vay, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình phục hồi và phát triển, song việc thu hồi vốn vẫn còn hạn chế.
Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng trong thời gian tới, Vietcombank Cần Thơ cần chú trọng hơn đến việc tăng cường công tác kiểm soát và thu hồi nợ, đặc biệt là các khoản vay đến hạn; nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, lựa chọn khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh và khả năng trả nợ tốt; đồng thời đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng doanh nghiệp nhằm nắm bắt kịp thời nhu cầu và hỗ trợ họ trong quá trình sử dụng vốn hiệu quả hơn.
2.3.4. Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cho vay
Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Vietcombank Cần Thơ được thể hiện trong Bảng 2.9:
- Bảng 2.9. Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cho vay DNVNN tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Ta có biểu đồ thể hiện như sau: Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
- Biểu đồ 2.4: Thu nhập từ hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Cần Thơ giai đoạn 2021-2024
Nhìn vào Bảng 2.9 và Biểu đồ 2.4, có thể thấy rằng thu nhập từ hoạt động cho vay tiếp tục khẳng định vai trò chủ lực trong cơ cấu doanh thu của Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ. Trong đó, thu nhập đến từ đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt trong hai năm đầu của giai đoạn.
Cụ thể, thu nhập từ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng từ 86,34 tỷ đồng năm 2021 lên 112,84 tỷ đồng năm 2022 (tăng 30,69%), sau đó tiếp tục tăng vọt lên 173,89 tỷ đồng trong năm 2023 (tăng 54,10%). Tuy nhiên, bước sang năm 2024, chỉ tiêu này ghi nhận mức giảm nhẹ xuống còn 170,68 tỷ đồng (giảm 1,85% so với năm trước). Mặc dù mức giảm không lớn, nhưng đây là tín hiệu cho thấy sự tăng trưởng thu nhập từ nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang có dấu hiệu chững lại do các doanh nghiệp ngày càng tối ưu hoá chi phí và do cạnh tranh với các Tổ chức tín dụng thuộc nhóm Big 4 do các Tổ chức tín dụng cần gia tăng thị phần nên hạ thấp lãi suất vay, vì thế Vietcombank Cần Thơ cần điều chỉnh chính sách giá tốt hơn nhằm giữ chân khách hàng do đó thu nhập có sự sụt giảm.
Đối với thu nhập từ toàn bộ hoạt động cho vay, giá trị cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực trong hai năm đầu: từ 133,4 tỷ đồng năm 2021 lên 174,22 tỷ đồng năm 2022 (tăng 30,60%), sau đó tăng mạnh lên 267,05 tỷ đồng vào năm 2023 (tăng 53,28%). Tuy nhiên, năm 2024 chứng kiến sự sụt giảm xuống còn 252,09 tỷ đồng, tương ứng mức giảm 5,60% so với năm 2023. Điều này phản ánh những thách thức nhất định trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng, có thể đến từ áp lực cạnh tranh, biến động lãi suất, hoặc xu hướng giảm nhu cầu vay vốn từ phía khách hàng.
Xét về tỷ lệ thu nhập từ hoạt động cho vay so với tổng thu nhập của chi nhánh, chỉ tiêu này được duy trì ổn định và có xu hướng tăng nhẹ qua từng năm. Cụ thể, tỷ lệ này tăng từ 64,72% năm 2021 lên 67,71% vào năm 2024. Mức tăng không lớn nhưng mang tính tích cực, cho thấy mặc dù tổng thu nhập có thể biến động, nhưng hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu chủ đạo và giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của chi nhánh.
Tổng thể, trong giai đoạn 2021–2024, hoạt động cho vay tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ vẫn giữ được vai trò cốt lõi trong tạo ra thu nhập cho ngân hàng, đặc biệt là đối với nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, xu hướng sụt giảm nhẹ về giá trị thu nhập trong năm 2024 cần được quan tâm và đánh giá lại, nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng tiếp tục phát triển bền vững, đồng thời duy trì và nâng cao hiệu quả đóng góp vào tổng thu nhập của ngân hàng trong các giai đoạn tiếp theo.
2.3.5. Khảo sát ý kiến của khách hàng về chất lượng dịch vụ cho vay của Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ đối với khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Mô tả thông tin chung về phiếu khảo sát: Để có cơ sở đưa ra những giải pháp thiết thực, Luận văn đã sử dụng phiếu khảo sát Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã sử dụng dịch vụ cho vay của Vietcombank Cần Thơ với các nội dung: về quy trình, thủ tục cho vay; tốc độ xử lý công việc, thời gian hoàn thành giao dịch vay vốn; tính đa dạng của sản phẩm cho vay vốn lưu động ngắn hạn; về mức lãi suất vay vốn; tỷ lệ cho vay/giá trị định giá tài sản bảo đảm; khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay và đánh giá chung về chất lượng cho vay. Tác giả đã tiến hành khảo sát thông qua gửi email và nhận về kết quả như sau: Khảo sát 50 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó: Về số năm hoạt động: Dưới 1 năm là 03 chiếm tỉ lệ 6%; Từ 1 năm đến 5 năm là 07 chiếm tỉ lệ 14%; Trên 5 năm là 40 chiếm tỉ lệ 50%.
Đánh giá chung: Kết quả về chất lượng dịch vụ cho vay của Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ đối với khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ được thể hiện dưới bảng sau:
- Bảng 2.10. Kết quả khảo sát Doanh nghiệp vừa và nhỏ về chất lượng dịch vụ cho vay của Vietcombank Cần Thơ
Nhìn vào Bảng 2.10, có thể thấy rằng:
Kết quả khảo sát 50 doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ tín dụng với Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ cho thấy đa số khách hàng đánh giá tích cực về chất lượng hoạt động cho vay của chi nhánh.
Về quy trình và thủ tục cho vay, có 62% khách hàng đánh giá ở mức “phù hợp” và “rất phù hợp”, trong đó 44% cho rằng quy trình hợp lý và 18% đánh giá rất tốt. Tuy nhiên, vẫn còn 38% ý kiến đánh giá ở mức “ít phù hợp” hoặc “trung bình”, cho thấy chi nhánh cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian giải ngân để nâng cao trải nghiệm khách hàng.
Đối với tính đa dạng của sản phẩm cho vay vốn lưu động ngắn hạn, 96% khách hàng nhận xét ở mức từ “trung bình” trở lên, trong đó 52% cho rằng sản phẩm phù hợp và 4% đánh giá rất phù hợp. Điều này phản ánh ngân hàng đã đáp ứng khá tốt nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, song vẫn có thể mở rộng thêm các gói tín dụng linh hoạt hơn.
Về mức lãi suất cho vay, hầu hết khách hàng đều hài lòng: 90% đánh giá “phù hợp” và 10% “rất phù hợp”. Đây là kết quả cho thấy chính sách lãi suất của Vietcombank được xem là cạnh tranh, ổn định và hợp lý so với mặt bằng chung.
Tương tự, các chi phí khác (phí dịch vụ, phí thẩm định…) cũng nhận được phản hồi tích cực với 80% đánh giá “phù hợp” và 20% “rất phù hợp”, thể hiện tính minh bạch và hợp lý trong chính sách phí.
Về tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm (TSBĐ), có đến 94% khách hàng đánh giá “phù hợp” hoặc “rất phù hợp”, cho thấy ngân hàng có chính sách thẩm định và định giá tài sản thế chấp tương đối hợp lý, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Ngoài ra, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay được 64% khách hàng đánh giá “phù hợp” và “rất phù hợp”, trong khi 36% đánh giá “trung bình”. Điều này cho thấy vẫn còn một bộ phận doanh nghiệp cảm thấy hạn mức vay hoặc thời gian phê duyệt chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu thực tế, cần được chi nhánh xem xét cải thiện.
Đáng chú ý, đánh giá chung về chất lượng cho vay có tới 88% khách hàng hài lòng, trong đó 74% “phù hợp” và 14% “rất phù hợp”. Kết quả này khẳng định uy tín, chất lượng dịch vụ và chính sách tín dụng của Vietcombank Cần Thơ được khách hàng đánh giá cao, là nền tảng quan trọng để chi nhánh tiếp tục mở rộng cho vay đối với khu vực Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới.
- Bảng 2.11. Kết quả khảo sát Doanh nghiệp vừa và nhỏ về cán bộ, nhân viên ngân hàng trong cho vay của Vietcombank Cần Thơ
Qua Bảng 2.11, kết quả khảo sát 50 doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ vay vốn tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ cho thấy đa số khách hàng đánh giá cao chất lượng phục vụ và năng lực của đội ngũ nhân viên tín dụng.
Về khả năng xử lý công việc và thời gian hoàn thành giao dịch vay vốn, có 84% khách hàng đánh giá từ mức “trung bình” trở lên, trong đó 24% cho rằng “phù hợp” và 14% “rất phù hợp”. Tuy nhiên, vẫn còn 16% khách hàng cho rằng việc xử lý hồ sơ và hoàn tất thủ tục còn chậm, cho thấy chi nhánh cần tiếp tục cải thiện quy trình nội bộ và tăng cường ứng dụng công nghệ số để rút ngắn thời gian xử lý giao dịch vay vốn.
Đối với khả năng tư vấn của nhân viên ngân hàng, mức độ hài lòng của khách hàng rất cao: 85% doanh nghiệp đánh giá “phù hợp” và “rất phù hợp”, chỉ 15% đánh giá “trung bình”. Điều này cho thấy đội ngũ nhân viên Vietcombank Cần Thơ có kiến thức nghiệp vụ tốt, tư vấn rõ ràng và hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng trong việc lựa chọn gói tín dụng phù hợp.
Bên cạnh đó, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng cũng nhận được phản hồi tích cực. Có đến 66% khách hàng đánh giá “phù hợp” hoặc “rất phù hợp”, 26% đánh giá “trung bình” và chỉ 8% cho rằng “ít phù hợp”. Kết quả này cho thấy phần lớn khách hàng hài lòng với sự tận tâm, chuyên nghiệp và thân thiện của nhân viên tín dụng, tuy nhiên chi nhánh vẫn cần thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng mềm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ khách hàng.
Tổng thể, kết quả khảo sát phản ánh chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên Vietcombank Cần Thơ ở mức tốt, thể hiện tính chuyên nghiệp trong xử lý công việc, tư vấn hiệu quả và thái độ tích cực trong giao tiếp với khách hàng. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp ngân hàng duy trì niềm tin và mối quan hệ lâu dài với khu vực khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động tín dụng của chi nhánh trong thời gian tới.
2.4. Đánh giá về hiệu quả cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ
2.4.1 Những kết quả đạt được Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Trong giai đoạn 2021–2024, hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua sự tăng trưởng ổn định về dư nợ, doanh số cho vay, doanh số thu nợ cũng như hiệu quả thu nhập từ hoạt động tín dụng.
Về quy mô cho vay, tổng dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng dần qua các năm, từ 4.292 tỷ đồng năm 2021 lên 5.608 tỷ đồng năm 2024, tương ứng mức tăng 30,66% sau bốn năm. Riêng năm 2023 ghi nhận mức tăng trưởng mạnh nhất, đạt 19,06% so với năm 2022. Điều này cho thấy Vietcombank Cần Thơ đã không ngừng mở rộng quy mô tín dụng, tập trung hỗ trợ nguồn vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn.
Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt. Mặc dù nợ quá hạn có xu hướng tăng nhẹ vào năm 2024 (từ 29 tỷ lên 37 tỷ đồng), song tỷ lệ nợ quá hạn vẫn được duy trì ở mức thấp, dưới 1%, cho thấy công tác thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng của chi nhánh được thực hiện hiệu quả.
Về hiệu quả hoạt động, thu nhập từ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng đáng kể qua các năm, từ 86,34 tỷ đồng năm 2021 lên 170,68 tỷ đồng năm 2024, tăng gấp đôi so với đầu kỳ. Tỷ trọng thu nhập từ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng thu nhập từ hoạt động cho vay cũng duy trì ở mức cao, dao động từ 64,7% đến 67,7%, phản ánh tầm quan trọng ngày càng lớn của nhóm khách hàng này trong cơ cấu thu nhập tín dụng của chi nhánh.
Ngoài ra, kết quả khảo sát mức độ hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cho thấy phần lớn ý kiến đánh giá cao về chất lượng dịch vụ của Vietcombank Cần Thơ. Cụ thể, đa số khách hàng đánh giá “phù hợp” và “rất phù hợp” đối với các tiêu chí như quy trình, thủ tục cho vay; mức lãi suất; khả năng đáp ứng nhu cầu vốn; và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng. Điều này thể hiện sự chuyên nghiệp, tận tâm và năng lực phục vụ khách hàng ngày càng được nâng cao.
Nhìn chung, trong giai đoạn 2021–2024, hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ đã đạt được nhiều kết quả tích cực cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả. Các kết quả này góp phần củng cố vị thế của chi nhánh trên địa bàn, đồng thời thể hiện vai trò quan trọng của Vietcombank trong việc hỗ trợ phát triển khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ – một động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế địa phương.
2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Bên cạnh những kết quả đạt được đáng ghi nhận, hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ trong giai đoạn 2021–2024 vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được xem xét và khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả tín dụng trong thời gian tới.
Thứ nhất, quy mô cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường. Mặc dù dư nợ cho vay tăng qua các năm, song tỷ trọng cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng dư nợ toàn chi nhánh vẫn còn ở mức khiêm tốn so với nhu cầu vốn thực tế của khu vực doanh nghiệp này trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Một phần nguyên nhân là do chi nhánh vẫn ưu tiên cấp tín dụng cho các khách hàng doanh nghiệp lớn, có tình hình tài chính ổn định và khả năng trả nợ cao, trong khi Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn trong việc chứng minh năng lực tài chính và khả năng đảm bảo nợ vay.
Thứ hai, cơ cấu ngành nghề cho vay chưa thực sự đa dạng và cân đối. Nguồn vốn cho vay vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ, trong khi các lĩnh vực khác như công nghiệp, xây dựng cơ bản, cấp thoát nước hay nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Điều này phần nào cho thấy hoạt động tín dụng của chi nhánh chưa thật sự khai thác hết tiềm năng phát triển ở các ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương.
Thứ ba, tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng tăng trở lại vào năm 2024. Mặc dù tỷ lệ này vẫn được duy trì ở mức thấp, song sự gia tăng nhẹ từ 0,58% năm 2023 lên 0,66% năm 2024 cho thấy rủi ro tín dụng vẫn tiềm ẩn. Nguyên nhân có thể đến từ việc một số doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế sau đại dịch, chi phí đầu vào tăng, thị trường tiêu thụ thu hẹp, dẫn đến khả năng trả nợ suy giảm.
Thứ tư, công tác tiếp cận và phục vụ khách hàng vẫn còn những hạn chế. Kết quả khảo sát cho thấy vẫn còn một tỷ lệ nhỏ khách hàng đánh giá “trung bình” hoặc “ít phù hợp” đối với quy trình, thủ tục cho vay và thời gian xử lý hồ sơ. Một số doanh nghiệp phản ánh rằng quá trình xét duyệt và thẩm định hồ sơ còn mất nhiều thời gian do yêu cầu chứng minh năng lực tài chính phức tạp, làm giảm tính linh hoạt của sản phẩm tín dụng.
Thứ năm, sản phẩm cho vay dành cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thật sự phong phú. Các sản phẩm tín dụng hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào cho vay vốn lưu động ngắn hạn, trong khi các sản phẩm tài trợ trung – dài hạn, cho vay theo chuỗi giá trị hoặc cho vay dự án đầu tư đổi mới công nghệ chưa được khai thác mạnh. Điều này khiến chi nhánh chưa đáp ứng toàn diện nhu cầu vốn đa dạng của doanh nghiệp. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Thứ sáu, hoạt động marketing và chính sách khách hàng còn hạn chế. Vietcombank Cần Thơ vẫn chủ yếu dựa vào uy tín thương hiệu sẵn có, trong khi các hoạt động tiếp thị, chăm sóc và duy trì mối quan hệ với nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đầu tư đúng mức. Điều này khiến việc mở rộng tệp khách hàng mới còn gặp khó khăn so với một số ngân hàng thương mại khác trên địa bàn.
Tóm lại, mặc dù Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ đã đạt được nhiều thành tựu trong hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ, song vẫn còn tồn tại một số hạn chế liên quan đến quy mô tín dụng, cơ cấu ngành nghề, thủ tục cho vay và đa dạng sản phẩm. Việc nhận diện rõ các hạn chế này là cơ sở quan trọng để chi nhánh đề xuất các giải pháp phù hợp trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần phát triển kinh tế địa phương bền vững.
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế nêu trên trong hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng và nguyên nhân khách quan từ phía khách hàng và môi trường kinh tế – xã hội.
- Nguyên nhân của chủ quan:
Thứ nhất, quy trình thẩm định và phê duyệt tín dụng còn phức tạp. Vietcombank Cần Thơ tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý rủi ro, song điều này cũng khiến quá trình xét duyệt hồ sơ vay vốn của Doanh nghiệp vừa và nhỏ kéo dài hơn so với mong đợi của khách hàng. Việc yêu cầu nhiều loại giấy tờ chứng minh năng lực tài chính, phương án kinh doanh, tài sản bảo đảm… đôi khi gây khó khăn cho các doanh nghiệp quy mô nhỏ, dẫn đến thời gian giải ngân chậm và giảm tính cạnh tranh của chi nhánh. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Thứ hai, công tác tiếp thị và chăm sóc khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đầu tư đúng mức. Hoạt động quảng bá sản phẩm tín dụng chủ yếu dựa vào uy tín sẵn có của thương hiệu Vietcombank, trong khi các chương trình tiếp cận khách hàng mới, tổ chức hội thảo, tư vấn tài chính cho doanh nghiệp… còn hạn chế. Điều này khiến chi nhánh chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn.
Thứ ba, danh mục sản phẩm tín dụng chưa đa dạng và linh hoạt. Phần lớn các khoản vay vẫn tập trung vào hình thức cho vay vốn lưu động ngắn hạn truyền thống, trong khi các sản phẩm tài trợ đầu tư, cho vay theo dự án, hay gói tín dụng theo chuỗi giá trị ngành hàng chưa được phát triển mạnh. Điều này làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp.
Thứ tư, năng lực công nghệ và tự động hóa trong hoạt động tín dụng chưa được khai thác tối đa. Một số khâu trong quy trình xét duyệt, kiểm tra, theo dõi khoản vay vẫn thực hiện thủ công hoặc bán tự động, khiến quá trình xử lý hồ sơ và quản lý khoản vay mất nhiều thời gian. Điều này ảnh hưởng đến tốc độ phục vụ và trải nghiệm của khách hàng doanh nghiệp.
Thứ năm, đội ngũ cán bộ tín dụng còn chịu áp lực về chỉ tiêu và khối lượng công việc. Số lượng cán bộ tín dụng phụ trách nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa nhiều, trong khi khối lượng hồ sơ cần thẩm định, tái thẩm định và giám sát sau vay khá lớn. Điều này đôi khi dẫn đến việc xử lý hồ sơ chưa thật sự nhanh chóng hoặc thiếu tính chủ động trong công tác chăm sóc khách hàng.
- Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, năng lực tài chính và khả năng quản trị của nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Cần Thơ có quy mô nhỏ, vốn tự có thấp, hệ thống kế toán chưa chuẩn mực, báo cáo tài chính chưa được kiểm toán độc lập. Do đó, việc chứng minh năng lực tài chính và tính khả thi của phương án vay vốn còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
Thứ hai, biến động kinh tế và môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Trong giai đoạn 2023–2024, giá nguyên vật liệu tăng cao, nhu cầu tiêu dùng giảm, thị trường xuất khẩu gặp khó khăn đã khiến một số doanh nghiệp bị giảm doanh thu, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng đúng hạn, làm gia tăng nhẹ tỷ lệ nợ quá hạn.
Thứ ba, cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng ngày càng gay gắt. Nhiều ngân hàng thương mại khác trên địa bàn cũng triển khai các chính sách ưu đãi lãi suất, thủ tục nhanh gọn để thu hút nhóm khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với Vietcombank Cần Thơ. Trong khi đó, chi nhánh vẫn duy trì các quy định kiểm soát rủi ro chặt chẽ, khiến mức độ linh hoạt trong cho vay thấp hơn so với đối thủ.
Thứ tư, khung pháp lý và chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn bất cập. Một số quy định về định giá tài sản bảo đảm, chứng minh nguồn vốn tự có hay hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp nhỏ vẫn còn phức tạp. Ngoài ra, việc triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ từ Nhà nước còn hạn chế, khiến ngân hàng khó mở rộng quy mô tín dụng với chi phí vốn thấp.
- Kết luận chương 2
Trong giai đoạn 2021-2024 hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ tăng trưởng ổn định, mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và đóng góp tích cực vào quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Cần Thơ. Tuy nhiên, hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro cao đặc biệt trong điều kiện Việt Nam hội nhập sâu, rộng vào kinh tế quốc tế, khu vực và trước những biến động phức tạp của môi trường vĩ mô. Trong chương 2, luận văn đã đi sâu phân tích thực trạng kết quả và hiệu quả cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank –Chi nhánh Cần Thơ, phân tích các thành tích đạt được và các mặt hạn chế và nguyên nhân của hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Qua phân tích cho thấy mặc dù hiệu quả cho vay ngày càng được cải thiện song hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank –Chi nhánh Cần Thơ vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Trên cơ sở đó, luận văn đã đánh giá những ưu điểm, tồn tại của hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietcombank –Chi nhánh Cần Thơ. Vì vậy việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ là hết sức cần thiết. Điều này sẽ được nghiên cứu trong chương tiếp theo. Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank

Pingback: Luận văn: Hiệu quả cho vay DN vừa và nhỏ tại Vietcombank
Luận văn: Phân tích hiệu quả cho vay đối với DN tại Vietcombank