Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thủ Dầu Một dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thủ Dầu Một.
Tóm tắt nội dung luận văn: Luận văn này đã tiến hành tóm lược các nội dung về lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng cùng với các nhân tố ảnh hưởng đến chúng. Ngoài ra, dựa trên các lý thuyết nền tảng chỉ ra mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Mặt khác, dựa vào việc tóm lược các công trình trong nước và nước ngoài liên quan đến sự ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng thì luận văn đã đánh giá được nét tương đồng trong lý thuyết và xác định được các khoảng trống mà các công trình còn tồn tại. Từ đó, kế thừa và đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho hoàn cảnh của BIDV Thủ Dầu Một. Các biến độc lập được xem xét phân tích ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng đó là tuổi; giới tính; tình trạng kết hôn; hình thức sở hữu nhà ở; trình độ học vấn; thu nhập bình quân; hạn mức tín dụng thẻ; nghề nghiệp; chức vụ; loại hình công ty; hình thức bảo đảm; dư nợ tại ngân hàng khác; hệ số thanh toán thẻ; hệ số ứng tiền mặt.
Từ đó, luận văn thu thập dữ liệu gồm 196 thẻ tín dụng quốc tế do BIDV Thủ Dầu Một phát hành và có phát sinh giao dịch trong giai đoạn năm 2022 – 2024, xử lý và thực hiện hàng loạt các ước lượng, kiểm định với các mô hình hồi quy nhằm thu được kết quả cuối cùng đó là trình độ học vấn, nghề nghiệp, chức vụ công tác, hình thức đảm bảo tài sản ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Nhưng hạn mức tín dụng thẻ, dư nợ tín dụng tại các ngân hàng khác, hệ số thanh toán thẻ, hệ số ứng tiền mặt ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Ngoài ra, tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, hình thức sở hữu nhà ở, thu nhập bình quân và loại hình công ty không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Từ kết quả đó, luận văn tiến hành đề xuất các hàm ý chính sách tương ứng cho các nhân tố ảnh hưởng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một trong tương lai.
Từ khóa: Các nhân tố ảnh hưởng, rủi ro tín dụng, thẻ tín dụng, tín dụng.
- ABSTRACT
Title of thesis: Factors Affecting Credit Risk of Credit Card Products at the Bank for Investment and Development of Vietnam – Thu Dau Mot Branch.
Summary of the thesis: This thesis summarizes the theoretical framework related to credit risk in credit card products and the factors influencing such risks. It further establishes relationships between these factors and the credit risk of credit card products at BIDV Thu Dau Mot. Based on foundational theories and reviews of domestic and international studies concerning factors influencing credit risk in credit card products, the thesis identifies theoretical similarities and gaps in existing research. It inherits and proposes a research model and hypotheses tailored to the context of BIDV Thu Dau Mot. The independent variables analyzed for their impact on credit risk include age, gender, marital status, housing ownership, education level, average income, credit card limit, occupation, job position, company type, collateral type, outstanding loans at other banks, card payment ratio, and cash advance ratio.
Therefore, the study collected data from 196 international credit cards issued by BIDV Thu Dau Mot with transactions recorded between 2022 and 2024. A series of estimations and regression model tests were conducted, yielding the following results: Education level, occupation, job position, and collateral type negatively affect credit risk in credit card products. However, Credit card limit, outstanding loans at other banks, card payment ratio, and cash advance ratio positively affect credit risk in credit card products. In addition, Variables such as age, gender, marital status, housing ownership, average income, and company type have no statistically significant impact on credit risk in credit card products at BIDV Thu Dau Mot. From that result, the thesis proposes policy implications to address the factors influencing credit risk, aiming to mitigate such risks in credit card products at BIDV Thu Dau Mot in the future. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Keywords: Factors affecting, credit risk, credit card, credit.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Đặt vấn đề
Trong bối cảnh xu hướng chuyển đổi số và các tiến bộ khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội tại Việt Nam. Phương thức thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ góp phần thúc đẩy thị trường thanh toán Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại và đổi mới, mà còn đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của xã hội và đồng thời phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế trong tương lai. Trong những năm qua, Chính phủ và ngành Ngân hàng đã và đang không ngừng nỗ lực hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đến nay, phương thức thanh toán này tiếp tục được nghiên cứu để đưa ứng dụng đồng bộ trên các nền tảng công nghệ hiện đại tích hợp nhiều tiện ích ưu việt trong toàn hệ thống ngân hàng. Trong đó, thẻ tín dụng được xem là một trong những sản phẩm tài chính tiên tiến, một hình thức chi tiêu không dùng tiền mặt góp phần thúc đẩy tiêu dùng, nâng cao khả năng thanh toán và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Bên cạnh vai trò hỗ trợ chi tiêu cá nhân, thẻ tín dụng còn giúp làm giảm khối lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế, qua đó giúp tiết kiệm các chi phí in ấn, vận chuyển, kiểm kê và góp phần ngăn chặn tình trạng tiền giả.
Tại Việt Nam, các Ngân hàng thương mại đang tích cực đầu tư phát triển phương thức thanh toán không sử dụng tiền mặt thông qua việc ứng dụng công nghệ hiện đại, cải thiện chất lượng dịch vụ cũng như đa dạng hoá các tiện ích thanh toán dành cho khách hàng. Những nỗ lực này thể hiện rõ qua việc mở rộng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ trên toàn quốc góp phần thúc đẩy sự gia tăng đáng kể về số lượng giao dịch qua thẻ tín dụng, ví điện tử và các nền tảng thanh toán di động. Trong thời gian qua, dịch vụ thẻ ngân hàng đã ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều phương diện, bao gồm số lượng thẻ phát hành, tổng doanh số thanh toán, hệ thống máy ATM, số lượng đơn vị chấp nhận thẻ cũng như mạng lưới máy POS được lắp đặt rộng khắp. Những kết quả này không chỉ mang lại nhiều tiện ích cho người dùng và ngân hàng mà còn đóng góp tích cực vào quá trình hiện đại hóa nền kinh tế số. Song song đó, cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ cho thanh toán phi tiền mặt cũng liên tục được nâng cấp, hoàn thiện và đổi mới để theo kịp xu hướng chuyển đổi số trong ngành tài chính – ngân hàng. Theo Tạp chí Ngân hàng, tính đến cuối tháng 01/2024, toàn quốc có khoảng 20.986 máy ATM và 554.580 máy POS đang hoạt động. Hệ thống POS đang ngày càng được mở rộng, không chỉ hiện diện tại các cơ sở kinh doanh lớn như trung tâm thương mại, khách sạn, nhà hàng, bệnh viện mà còn được triển khai tại các trường học và các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt đi sâu vào đời sống hàng ngày của người dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường thẻ tại Việt Nam còn non trẻ, phần lớn người dùng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng quản lý tài chính cá nhân, đặc biệt là khi sử dụng thẻ tín dụng – một hình thức vay tiêu dùng ngắn hạn được cấp theo nhiều hình thức bảo đảm khác nhau. Với thẻ tín dụng, khách hàng có thể sử dụng trước một phần hoặc toàn bộ hạn mức do ngân hàng cấp để thanh toán hàng hóa, dịch vụ và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn. Nếu không được thanh toán kịp thời, khoản vay này có thể trở thành nợ quá hạn, thậm chí chuyển thành nợ xấu. Chính vì vậy, bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường các giải pháp công nghệ nhằm phát hiện và ngăn ngừa những hành vi gian lận, các Ngân hàng thương mại cần đặc biệt chú trọng đến khả năng trả nợ của khách hàng ngay từ khâu thẩm định và phê duyệt cấp thẻ tín dụng. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Mặc dù thẻ tín dụng đã trở thành phương tiện thanh toán phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng các nghiên cứu chuyên sâu về rủi ro tín dụng liên quan đến sản phẩm này vẫn còn rất hạn chế. Tiêu biểu có thể kể đến nghiên cứu của Dunn và Kim (1999) khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc khách hàng không thanh toán nợ thẻ tín dụng dẫn đến việc vỡ nợ ở Bang Ohio, Hoa Kỳ hay nghiên cứu của Florentin Butaru và cộng sự (2015) khi tập trung phân tích các rủi ro và đề xuất các phương pháp quản trị rủi ro trong ngành thẻ tín dụng tại sáu Ngân hàng thương mại lớn ở Mỹ. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về rủi ro tín dụng liên quan đến thẻ tín dụng vẫn còn ít được quan tâm, dù thực tế cho thấy nợ xấu từ sản phẩm này đang có xu hướng ngày càng gia tăng và khó kiểm soát tại nhiều Ngân hàng thương mại.
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã tích cực thúc đẩy phát triển các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thông qua hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, trong đó có thẻ tín dụng. Với những tiện ích vượt trội, dịch vụ thẻ đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trên nhiều phương diện như số lượng thẻ được phát hành, tổng doanh số thanh toán cũng như số lượng Đơn vị chấp nhận thẻ được mở rộng trên phạm vi toàn quốc. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong quý I năm 2024, giao dịch qua thẻ tín dụng nội địa đã đạt khoảng 1,3 triệu lượt với tổng giá trị giao dịch lên đến 10 nghìn tỷ đồng, tăng 75,43% về số lượng và 87,12% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Đối với các Ngân hàng thương mại, thẻ tín dụng được xem là một hình thức vay tiêu dùng ngắn hạn được cấp theo nhiều hình thức bảo đảm khác nhau. Việc phát triển sản phẩm này không chỉ giúp tăng trưởng dư nợ cho vay và gia tăng thu nhập từ phí dịch vụ mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các ngân hàng. Nhằm thu hút khách hàng, nhiều ngân hàng đã triển khai các chính sách ưu đãi hấp dẫn trong hoạt động phát hành thẻ. Chẳng hạn, Techcombank cung cấp dịch vụ mở thẻ miễn phí với với các tính năng như chi tiêu trước – trả sau và hỗ trợ quản lý tài chính cá nhân. BIDV triển khai kênh đăng ký thẻ trực tuyến thông qua ứng dụng BIDV SmartBanking, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng thao tác ngay tại nhà. VietinBank cũng đưa ra biểu phí cạnh tranh cho các dòng thẻ tín dụng quốc tế, bao gồm miễn phí phát hành lần đầu và giảm phí thường niên. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng là những rủi ro tiềm ẩn, đặc biệt là rủi ro tín dụng – yếu tố có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh doanh, uy tín và thương hiệu của ngân hàng. Sau đại dịch Covid-19, nền kinh tế toàn cầu và trong nước phải đối mặt với nhiều biến động dẫn đến hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng càng trở nên nhạy cảm và dễ bị tác động tiêu cực. Do đó, ngoài việc tiếp tục đầu tư phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ thì việc kiểm soát và phòng ngừa Rủi ro tín dụng trong lĩnh vực thẻ tín dụng đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các Ngân hàng thương mại. Mặc dù thẻ tín dụng đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu, nhưng các nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến rủi ro tín dụng từ sản phẩm này vẫn còn tương đối hạn chế. Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như: Dunn và Kim (1999) khi nghiên cứu về tình trạng vỡ nợ thẻ tín dụng ở Bang Ohio, Hoa Kỳ; Florentin Butaru và cộng sự (2015) nghiên cứu về rủi ro và quản lý rủi ro trong ngành công nghiệp thẻ tín dụng tại sáu Ngân hàng thương mại lớn ở Mỹ; hay nghiên cứu của Chen và Pan (2012) về khả năng dự đoán và phân tích các yếu tố tác động đến khả năng vỡ nợ của khách hàng sử dụng thẻ tín dụng tại Đài Loan. Ở Việt Nam, số lượng nghiên cứu liên quan đến rủi ro tín dụng của thẻ tín dụng vẫn còn khá khiêm tốn. Một số nghiên cứu đáng chú ý có thể kể đến là công trình của Nguyễn Minh Hà và Trịnh Hoàng Nam (2013) khi nghiên cứu về các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại Việt Nam đăng tại Tạp chí công nghệ Ngân hàng; và nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2019) khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam đăng tại Tạp chí Ngân hàng.
Cùng với xu hướng phát triển chung của thế giới, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những ngân hàng tiên phong trong việc nâng cao chất lượng thẻ tín dụng thông qua các hoạt động cải tiến sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, BIDV nói chung và BIDV Thủ Dầu Một nói riêng cũng đang phải đối mặt với nhiều loại rủi ro bao gồm rủi ro trong khâu phát hành, rủi ro trong quá trình thanh toán, rủi ro về công nghệ kỹ thuật và đặc biệt là rủi ro tín dụng – một trong những thách thức lớn nhất trong hoạt động kinh doanh thẻ. Mặc dù đạt nhiều thành tựu trong việc triển khai dịch vụ thẻ tín dụng, nhưng thực tiễn cho thấy công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một vẫn còn tồn tại không ít khó khăn và thách thức.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thủ Dầu Một” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình.
1.2 Mục tiêu của đề tài Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu được thực hiện nhằm nhận diện và phân tích các nhân tố có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Thủ Dầu Một.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một.
- Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một trong tương lai.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một như thế nào?
- Những hàm ý chính sách nào được đề xuất nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một trong tương lai?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một.
- Không gian nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Thủ Dầu Một.
- Thời gian nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp sử dụng để phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng được thu thập trong giai đoạn năm 2022 – 2024.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn kết hợp đồng thời phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm bảo đảm tính khoa học và tính ứng dụng thực tiễn của các nội dung nghiên cứu. Trong đó, phương pháp định tính được thực hiện thông qua tổng hợp các lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng. Đồng thời, chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại các Ngân hàng thương mại. Tiếp đó, thông qua các lược khảo nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố trong thời gian qua nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu, từ đó làm cơ sở đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu phù hợp. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Phương pháp định lượng được triển khai thông qua việc xử lý dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một trong giai đoạn 2022 – 2024. Từ những dữ liệu đó, nghiên cứu tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kết quả. Sau đó, nghiên cứu sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số và sử dụng phương pháp hồi quy logistic để đạt được kết quả phân tích cuối cùng. Từ kết quả đó, tác giả kết luận các giả thuyết nghiên cứu, thảo luận và đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một trong tương lai.
1.6 Nội dung nghiên cứu
Xuất phát từ các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra và trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết có liên quan, luận văn tiến hành xây dựng cơ sở lý thuyết, cơ sở lý luận cho đề tài và định hướng triển khai các nội dung nghiên cứu trọng yếu sau đây:
- Trình bày lược khảo các nghiên cứu ở trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến đề tài nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích dữ liệu kết hợp xây dựng mô hình nghiên cứu để xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một.
- Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu. Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
- Từ kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra các kết luận quan trọng và đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một trong tương lai.
1.7 Đóng góp của đề tài Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Về mặt lý luận: Nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng trong công tác quản trị rủi ro, đồng thời hỗ trợ việc chủ động nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của khách hàng sử dụng thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo hữu ích, đồng thời gợi mở hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.
Về mặt thực tiễn: Các hàm ý chính sách được đề xuất trong nghiên cứu này có tính ứng dụng cao góp phần hiệu quả vào việc kiểm soát rủi ro tín dụng liên quan đến sản phẩm thẻ tín dụng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động, uy tín và vị thế thương hiệu BIDV Thủ Dầu Một.
1.8 Bố cục của nghiên cứu
- Nghiên cứu được triển khai thành 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vị nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đóng góp của đề tài và kết cấu của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết, khái niệm nghiên cứu và lược khảo một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các nhân tố có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Từ đó, phát triển các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Những nội dung chính được trình bày trong chương này gồm: Phương pháp và quy trình nghiên cứu (nghiên cứu định tính và định lượng kết hợp phương pháp thu thập, phân tích, xử lý số liệu và các cơ sở đánh giá kết quả phân tích).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày kết quả phân tích dữ liệu, nghiên cứu, đánh giá các kết quả có được.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày kết luận và đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hạn chế và quản trị rủi ro tín dụng liên quan đến sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Đồng thời, đưa ra những hạn chế của đề tài và đưa ra được hướng nghiên cứu tiếp theo.
TÓM TẮT CHƯƠNG I
Chương 1, tác giả đã giới thiệu đề tài nghiên cứu, bao gồm việc nêu rõ tính cấp thiết và lý do chọn đề tài này. Chương này cũng tập trung làm rõ mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra, chương 1 cũng chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cùng với các phương pháp được áp dụng để thực hiện nghiên cứu. Cuối cùng, chương này sẽ phác thảo cấu trúc của Luận văn, tạo cơ sở nền tảng cho việc trình bày các chương tiếp theo. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Trong Chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu. Nội dung chương này tập trung vào việc cụ thể hóa các khái niệm cơ bản, lý thuyết và các lược khảo nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Chương này sẽ xem xét các mô hình nghiên cứu trước đó và đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng
2.1.1 Tổng quan về thẻ tín dụng
2.1.1.1 Khái niệm thẻ tín dụng
Theo Mishkin (2021), thẻ tín dụng được xem là một công cụ thanh toán do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phát hành, cho phép người dùng tiếp cận tín dụng để mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt với cam kết thanh toán số tiền đã vay kèm lãi suất trong tương lai. Công cụ này không chỉ hỗ trợ thanh toán mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chi tiêu và tăng cường luồng tín dụng trong nền kinh tế.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2022), thẻ tín dụng là một công cụ tài chính do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng phát hành, cho phép người sử dụng vay tiền trong một hạn mức tín dụng để mua sắm hoặc rút tiền mặt với cam kết hoàn trả số tiền vay kèm lãi suất hoặc các khoản phí khác theo thời gian quy định.
Như vậy, thẻ tín dụng được xem là một phương thức thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành, cho phép chủ thẻ sử dụng một hạn mức tín dụng để chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ. Hạn mức tín dụng này được ngân hàng quy định đối với từng đối tượng khách hàng cụ thể dựa trên uy tín, năng lực tài chính hoặc giá trị tài sản được bảo đảm. Thực chất đây là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau và ưu đãi miễn lãi trong khoảng thời gian từ 30 đến 45 ngày. Sau kỳ sao kê, chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ hoặc tối thiểu số tiền đã chi tiêu với mức lãi suất của từng loại thẻ.
Xét về bản chất kinh tế, thẻ tín dụng là sự cam kết thanh toán cho những khoản chi tiêu của chủ thẻ. Có nghĩa là, ngân hàng phát hành cam kết cho chủ thẻ vay tiền để mua hàng hoá dịch vụ, rút tiền mặt tại máy thanh toán tiền tự động ATM trong hạn mức cho phép. Bên cạnh đó, thẻ tín dụng được chủ thẻ sử dụng để chi tiêu thay thế cho việc mang một lượng lớn tiền mặt nên thẻ tín dụng được xem như một phương tiện thanh toán thay tiền mặt chứ không phải là một loại tiền tệ vì không mang những đặc tính, tính chất và chức năng của tiền tệ. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
2.1.1.2 Phân loại thẻ tín dụng
Tại Việt Nam, căn cứ vào mục đích và nhu cầu phát hành mà các Ngân hàng thương mại sẽ phân loại thẻ tín dụng khác nhau. Từ đó có thể phân loại thẻ tín dụng theo một số tiêu chí sau:
Phân loại theo phạm vi sử dụng
- Thẻ tín dụng nội địa: Là loại thẻ khách hàng được thực hiện giao dịch phạm vi ở trong nước.
- Thẻ tín dụng quốc tế: Là loại thẻ khách hàng được thực hiện giao dịch ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Phân loại theo chủ thể sử dụng
- Thẻ tín dụng cá nhân: Thẻ được phát hành cho cá nhân và việc chi tiêu, thanh toán sẽ do cá nhân thực hiện. Có 2 loại thẻ là thẻ chính và thẻ phụ. Thẻ chính do người đứng tên phát hành, thẻ phụ thấp hơn thẻ chính và do người đứng tên phát hành thẻ chính chịu trách nhiệm.
- Thẻ tín dụng doanh nghiệp: Là loại thẻ cấp cho các tổ chức, công ty có nhu cầu sử dụng và dùng nguồn tiền của tổ chức để thanh toán tín dụng.
Phân loại theo hạng thẻ
Hầu hết các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng đều phân theo hạng thẻ. Thông thường sẽ có 3 hạng thẻ chính là:
- Hạng chuẩn (Standard): Là thẻ có hạn mức tín dụng từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng tùy ngân hàng phát hành.
- Hạng vàng (Gold): Là thẻ có hạn mức tín dụng từ trên 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng tùy ngân hàng phát hành.
- Hạng bạch kim (Platinum): là thẻ có hạn mức tín dụng trên 50 triệu đồng, nhiều sản phẩm thẻ có hạn mức 500 triệu đồng đến hàng tỷ đồng tùy ngân hàng phát hành thẻ và thường dành cho những người có thu nhập cao, chủ doanh nghiệp hay lãnh đạo ban ngành.
Phân loại theo tính năng thẻ
- Thẻ tín dụng hoàn tiền (Cashback): là thẻ có ưu đãi hoàn tiền theo tỷ lệ chi tiêu.
- Thẻ tín dụng tích điểm (Reward Points): là thẻ có tính năng tích lũy điểm thưởng mỗi khi thanh toán để đổi quà.
- Thẻ tín dụng du lịch (Travel Credit Card): là thẻ tín dụng có những ưu đãi khi thanh toán mua vé máy bay, khách sạn.
Phân loại theo thương hiệu phát hành
- Thẻ Visa Card: là thẻ tín dụng do tổ chức Visa International Service Association phát hành.
- Thẻ MasterCard: là thẻ tín dụng do tổ chức MasterCard Worldwide phát hành.
- Thẻ American Express (AmEx): là một loại thẻ tín dụng cao cấp, nổi tiếng toàn cầu do công ty tài chính American Express Company phát hành. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
- Thẻ JCB: là thẻ tín dụng được phát hành bởi Japan Credit Bureau (JCB), một công ty tài chính lớn và uy tín tại Nhật Bản.
- Thẻ UnionPay: là thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được phát hành bởi China UnionPay (CUP), một tổ chức thanh toán quốc tế hàng đầu tại Trung Quốc (Học viện Ngân hàng, 2022).
2.1.1.3 Ưu và nhược điểm của thẻ tín dụng
- Ưu điểm của thẻ tín dụng
Thẻ tín dụng ra đời đánh dấu một bước phát triển vượt bậc về công nghệ của ngành tài chính ngân hàng. Hoà chung với sự phát triển và hội nhập của thế giới, thẻ tín dụng đã phát huy vai trò tích cực của mình:
Thứ nhất, thẻ tín dụng góp phần làm giảm khối lượng lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế. Tại các nước phát triển trên thế giới, việc chi tiêu hàng hoá dịch vụ bằng thẻ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các phương tiện thanh toán. Nhờ vậy mà khối lượng tiền mặt trong lưu thông được giảm đáng kể góp phần làm giảm các chi phí vận chuyển, phát hành và kiểm kê tiền đồng thời hạn chế được vấn nạn sản xuất và lưu thông tiền giả.
Thứ hai, thẻ tín dụng góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển thanh toán. Thay vì các giao dịch thanh toán phải thực hiện thủ công trên giấy tờ chiếm mất nhiều thời gian và tiền của như trước đây thì thanh toán qua thẻ tín dụng ở phạm vi trong nước và quốc tế đều giúp cho mọi thông tin đều được xử lý qua hệ thống trực tuyến một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn so với những phương thức thanh toán khác.
Thứ ba, thẻ tín dụng giúp Nhà nước thực hiện chính sách quản lý vĩ mô. Việc ngày càng nhiều người dân sử dụng thẻ để thanh toán thông qua mạng trực tuyến dưới sự kiểm soát của ngân hàng phát hành đã tạo điều kiện quan trọng trong việc kiểm soát khối lượng tiền giao dịch thanh toán của dân cư và nền kinh tế. Từ đó, Nhà nước có thể tính toán được lượng tiền cung ứng, tăng cường tính chủ đạo và quản lý trong nền kinh tế vĩ mô đồng thời cũng giảm thiểu được các hoạt động kinh tế ngầm.
Thứ tư, thẻ tín dụng giúp cải thiện môi trường thương mại văn minh và hiện đại, thu hút khách du lịch và đầu tư nước ngoài, giúp hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng thông qua các tổ chức phát hành thẻ quốc tế. Chỉ với tấm thẻ nhỏ trong tay, chúng ta có thể thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ trên toàn thế giới bằng bất kỳ loại tiền nào một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Được cấp một hạn mức tín dụng dùng để chi tiêu trước, trả tiền sau; chủ động trong việc thanh toán dư nợ; đăng ký trả góp.
Rút tiền mặt khi cần thiết tại hệ thống máy ATM hay quầy giao dịch tại các ngân hàng trên thế giới.
Được hưởng một số dịch vụ khác do ngân hàng phát hành triển khai áp dụng cho chủ thẻ như dịch vụ y tế, nghỉ dưỡng, sân bay hay trợ giúp toàn cầu. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
- Nhược điểm của thẻ tín dụng
Chi phí cao: Phí rút tiền mặt từ thẻ tín dụng cao và số tiền này bị tính lãi suất ngay từ ngày rút, lãi suất thẻ thường dao động từ 15-30%/năm tuỳ từng loại thẻ nên không khuyến khích dùng thẻ tín dụng để rút tiền mặt.
Việc sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán có thể khiến cho người dùng mất kiểm soát chi tiêu do đặc điểm tiêu trước – trả sau dễ dẫn đến hành vi mua sắm vượt quá khả năng tài chính. Nếu không có kế hoạch trả nợ hợp lý, người dùng có thể gặp khó khăn tài chính trong tương lai và rơi vào vòng xoáy nợ tín dụng.
Rủi ro bảo mật khi thẻ tín dụng có thể bị lạm dụng nếu thông tin thẻ bị rò rỉ do bị mất hoặc đánh cắp thẻ nhưng chưa có đủ kiến thức trong việt xử lý rủi ro khi mất thẻ.
Rủi ro nợ xấu khi không thanh toán đúng hạn hoặc vượt hạn mức tín dụng có thể làm giảm điểm tín dụng gây khó khăn khi vay vốn hoặc mở thẻ tín dụng mới. (Học viện Ngân hàng, 2022).
2.1.1.4 Vai trò của thẻ tín dụng
- Đối với chủ thẻ
Thẻ tín dụng đã trở thành công cụ thanh toán tiện lợi giúp cho chủ thẻ có thể thanh toán các khoản chi tiêu một cách dễ dàng và nhanh chóng mà không cần phải mang quá nhiều tiền mặt.
Giúp chủ thẻ có thể chủ động tiếp cận được các nguồn tài chính trước mắt nhằm giải quyết các chi tiêu hay những nhu cầu phát sinh đột xuất ngay cả khi chưa có tiền mặt nhờ tính năng “mua trước, trả sau”.
Cung cấp các tính năng và tiện ích chất lượng nhất giúp cho chủ thẻ có những trải nghiệm tuyệt vời khi giao dịch.
Đồng thời, thẻ tín dụng giúp khách hàng có thể quản lý tài chính cá nhân và kiểm soát chi tiêu hiệu quả khi cung cấp bảng sao kê chi tiêu chi tiết định kỳ. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
- Đối với ngân hàng
Thẻ tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng thông qua các khoản thu từ phí và lãi suất, bao gồm: phí phát hành, phí thường niên, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí rút tiền mặt, cũng như lãi suất áp dụng đối với dư nợ chưa thanh toán đúng hạn của khách hàng.
Là công cụ giúp ngân hàng cạnh tranh và gia tăng thị phần trên thị trường tài chính. Đồng thời cũng là sợi dây dùng để thu hút cũng như giữ chân khách hàng giúp ngân hàng xây dựng lòng trung thành và niềm tin của khách hàng.
Là nguồn dữ liệu quan trọng cho ngân hàng thông qua chi tiết các lịch sử giao dịch, từ đó ngân hàng có thể phát triển sản phẩm, dịch vụ phù hợp hơn.
Góp phần đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm thẻ tín dụng của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa ngành ngân hàng khi buộc các Ngân hàng thương mại phải liên tục đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ và thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn góp phần nâng cao vị thế của các ngân hàng Việt Nam trên trường quốc tế.
- Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
Thanh toán bằng thẻ tín dụng tại các Đơn vị chấp nhận thẻ không chỉ góp phần nâng cao hình ảnh chuyên nghiệp và uy tín của cơ sở kinh doanh mà còn góp phần làm tăng doanh thu khi thu hút nhiều khách hàng sẵn sàng chi tiêu cao hơn nhờ các tiện ích như mua trước – trả sau, trả góp linh hoạt và các chương trình ưu đãi hấp dẫn.
Chấp nhận thanh toán thẻ sẽ giúp các Đơn vị chấp nhận thẻ giảm thiểu rủi ro liên quan đến vấn đề tiền giả, hạn chế nguy cơ mất cắp tiền, tiết kiệm chi phí kiểm đếm đồng thời hỗ trợ quản lý doanh thu hiệu quả. Giao dịch được thực hiện nhanh chóng, chính xác và an toàn, mang đến trải nghiệm mua sắm thuận tiện và hài lòng cho khách hàng.
- Đối với nền kinh tế – xã hội Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Thẻ tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hiện đại hoá các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, qua đó góp phần làm giảm lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế. Nhờ đó, hệ thống tài chính có thể tiết kiệm đáng kể chi phí liên quan đến in ấn, vận chuyển, kiểm đếm và bảo quản, đồng thời hạn chế hiệu quả vấn nạn lưu thông tiền giả.
Ngoài ra, thẻ tín dụng còn có tác động tích cực đến nhu cầu tiêu dùng, khi khai thác yếu tố tâm lý của khách hàng thông qua các tính năng mua trước trả sau, trả góp linh hoạt cùng với hàng loạt chương trình khuyến mãi và ưu đãi khi thanh toán bằng thẻ.
Về mặt quản lý vĩ mô, việc thanh toán qua thẻ giúp tất cả các giao dịch tài chính được ghi nhận và theo dõi qua hệ thống ngân hàng, từ đó hỗ trợ Nhà nước nâng cao khả năng kiểm soát dòng tiền, góp phần thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ và tăng cường quản lý kinh tế vĩ mô.
Bên cạnh đó, việc phát triển chất lượng sản phẩm thẻ và hạ tầng thanh toán hiện đại còn góp phần xây dựng một môi trường giao dịch văn minh, tiện lợi, tạo điều kiện thuận lợi thu hút du khách quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài. Qua đó, góp phần nâng cao khả năng kết nối giữa các ngân hàng trong nước với các tổ chức phát hành thẻ quốc tế, rút ngắn khoảng cách về công nghệ ngân hàng, đồng thời củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng hiện đại và chuyên nghiệp. (Học viện Ngân hàng, 2022)
2.1.2 Tổng quan về rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng
2.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng
- Khái niệm rủi ro tín dụng:
Theo Timothy W. Koch (1995), Rủi ro tín dụng là sự rủi ro tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.
Theo Thomas P. Fitch (1997), Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Theo Ủy ban Giám sát Basel, Basel II (2004), Rủi ro tín dụng là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận.
Tại Việt Nam, theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho rằng, Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Như vậy, đứng dưới góc độ tín dụng qua thẻ tín dụng tại các Ngân hàng thương mại thì rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng được hiểu là rủi ro xảy ra khi chủ thẻ không có khả năng thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ các khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng theo các điều khoản đã thoả thuận tại hợp đồng đăng ký và phát hàng thẻ tín dụng.
2.1.2.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng
Việc ngân hàng chấp thuận phát hành thẻ tín dụng đồng nghĩa với việc cấp trước một khoản tín dụng cho khách hàng. Trong trường hợp chủ thẻ không thanh toán hoặc mất khả năng chi trả các khoản đã sử dụng, ngân hàng sẽ phải gánh chịu rủi ro mất vốn. Nếu tình trạng này xảy ra trên diện rộng, với quy mô lớn và kéo dài sẽ dẫn đến nguy cơ gia tăng nợ xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh khoản và tiềm ẩn nguy cơ phá sản, tương tự như các khoản vay không thể thu hồi. Theo Giáo trình Ngân hàng Thương mại (Phan Thị Thu Hà, 2013) rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng có thể xảy ra do một số nguyên nhân chính sau:
- Nguyên nhân xuất phát từ chủ thẻ
Thứ nhất, khách hàng thiếu kiểm soát trong quản lý chi tiêu thẻ tín dụng. Với những tiện ích vượt trội mà thẻ tín dụng mang lại như tính năng “mua trước, trả sau” cùng quy trình thanh toán diễn ra nhanh chóng và thuận tiện, nhiều chủ thẻ đã rơi vào tình trạng chi tiêu quá mức, thiếu kế hoạch tài chính rõ ràng dẫn đến việc mua sắm không kiểm soát gây khó khăn tài chính, nợ thẻ tín dụng chồng chất và thậm chí mất khả năng thanh toán dư nợ thẻ.
Thứ hai, khách hàng gặp khó khăn tài chính khi nguồn thu nhập bị sụt giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán các khoản chi tiêu đã sử dụng. Những tình huống như mất việc tạm thời, kinh doanh thua lỗ, chuyển sang công việc có thu nhập thấp hơn hoặc thậm chí mất hoàn toàn khả năng lao động có thể khiến nguồn tài chính của chủ thẻ bị suy giảm nghiêm trọng. Điều này làm tăng nguy cơ chậm trễ hoặc thậm chí không còn khả năng thanh toán các khoản dư nợ thẻ, gây ra những hệ lụy tiêu cực về tài chính và tín dụng.
Thứ ba, việc sử dụng dịch vụ ứng tiền mặt từ thẻ tín dụng có thể giúp khách hàng giải quyết nhanh chóng các nhu cầu tài chính khẩn cấp. Tuy nhiên, hình thức này thường đi kèm với mức phí rút tiền cao và lãi suất được áp dụng ngay tại thời điểm giao dịch, không có thời gian ân hạn như đối với giao dịch mua hàng. Khi người dùng lạm dụng dịch vụ này một cách thường xuyên mà thiếu kế hoạch quản lý tài chính hợp lý, rất dễ dẫn đến tình trạng nợ tích lũy vượt quá khả năng thanh toán hàng tháng, từ đó làm gia tăng rủi ro tài chính cá nhân. Điều này, không chỉ gây khó khăn cho chủ thẻ trong việc thanh toán khi đến kỳ sao kê mà còn làm tăng nguy cơ mất cân đối tài chính nghiêm trọng. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Thứ tư, khách hàng thiếu thiện chí trong việc thanh toán dư nợ thẻ tín dụng là một nguyên nhân xuất phát từ vấn đề đạo đức của chủ thẻ. Để nhận diện được những khách hàng này, cán bộ tín dụng cần có sự nhạy bén và kinh nghiệm dày dặn trong việc thẩm định và đánh giá khách hàng. Đồng thời, quy trình quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ cùng với việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình này trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng của ngân hàng cũng là yếu tố quan trọng giúp phát hiện và giảm thiểu rủi ro từ những khách hàng không có thiện chí trong việc thanh toán nợ.
- Nguyên nhân xuất phát từ phía ngân hàng
Thứ nhất, chính sách và quy trình phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng tại một số Ngân hàng thương mại còn tương đối dễ dàng và chưa chặt chẽ. Điều này, vô tình tạo ra cơ hội cho các đối tượng xấu lợi dụng các kẻ hở pháp lý làm giả hồ sơ phát hành thẻ tín dụng nhằm mục đích rút tiền và chi tiêu mà không có ý định hoàn trả, dẫn đến tình trạng gia tăng nợ xấu liên quan đến thẻ tín dụng.
Thứ hai, cán bộ tín dụng thiếu đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn yếu kém và phát hành thẻ tín dụng vì chạy theo chỉ tiêu đã gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực. Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tín dụng đóng vai trò cốt lõi trong hoạt động của ngân hàng. Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng là yếu tố then chốt giúp nhận diện và giảm thiểu rủi ro tín dụng trong quá trình phát hành thẻ. Tuy nhiên, việc chạy theo thành tích, cấu kết với khách hàng làm giả hồ sơ, nâng khống giá trị tài sản đảm bảo cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong thẩm định và đánh giá khách hàng đã dẫn đến sai sót nghiêm trọng. Những sai lầm này, khiến việc thu thập thông tin khách hàng thiếu độ tin cậy, không phản ánh chính xác hoặc kịp thời trước khi cấp hạn mức tín dụng. Hậu quả là ngân hàng có thể đối mặt với nguy cơ phát sinh tổn thất lớn khi rủi ro tín dụng xảy ra, gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng tài sản và uy tín của ngân hàng trên thị trường.
Thứ ba, rủi ro trong chính sách phát hành thẻ tín dụng tín chấp khi hầu hết các đối tượng được cấp thẻ chủ yếu là công nhân viên nhận lương qua tài khoản ngân hàng. Mô hình này tiềm ẩn nguy cơ lớn khi khách hàng thay đổi công việc hoặc nơi làm việc không còn sử dụng dịch vụ chi lương qua ngân hàng phát hành thẻ. Điều này, có thể dẫn đến tình trạng khách hàng chậm trễ trong việc thanh toán hoặc thậm chí mất khả năng thanh toán dư nợ thẻ. Hậu quả không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng mà còn gia tăng áp lực quản lý và thu hồi nợ, khiến rủi ro tín dụng trong mảng thẻ tín chấp trở thành một thách thức đáng lo ngại đối với các Ngân hàng thương mại. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Thứ tư, công tác kiểm tra nội bộ vẫn còn nhiều bất cập và chưa được thực hiện một cách chặt chẽ tại một số ngân hàng. Việc tiến hành kiểm tra nội bộ thường xuyên không chỉ giúp ngân hàng kịp thời phát hiện các rủi ro tiềm ẩn mà còn tạo điều kiện để tìm hiểu nguyên nhân cũng như triển khai các biện pháp khắc phục hiệu quả. Ngược lại, nếu thiếu sự giám sát và phát hiện sớm những sai sót trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng, ngân hàng có nguy cơ phải gánh chịu những tổn thất nghiêm trọng.
- Nguyên nhân khách quan khác
Ảnh hưởng bởi thiên tai và các thảm họa như dịch bệnh, bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn hay động đất thường có thể gây ra những tác động nghiêm trọng đến đời sống kinh tế – xã hội. Những biến cố này không chỉ làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp mà còn khiến thu nhập của chủ thẻ tín dụng suy giảm đáng kể, trong khi các nhu cầu chi tiêu lại tăng mạnh nhằm đáp ứng các nhu cầu đời sống thiết yếu.
Ngoài ra, sự bất ổn trong nền kinh tế và chính trị, chẳng hạn như biến động của chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất và tỷ giá hối đoái kết hợp với những thay đổi trong nhu cầu xã hội, bạo loạn đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Những khó khăn này tác động trực tiếp đến thu nhập của người lao động khiến họ rơi vào tình trạng không đủ khả năng chi trả các khoản nợ thẻ tín dụng.
Tóm lại, dù nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng hay ngân hàng, nguyên nhân chủ quan hay khách quan, hậu quả chung vẫn là khách hàng không thể trả được nợ. Vì vậy, việc phân tích và xác định những nguyên nhân trọng yếu gây ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng là vô cùng cần thiết. Điều này sẽ giúp ngân hàng xây dựng các biện pháp hiệu quả nhằm phòng ngừa và giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh thẻ tín dụng tại ngân hàng thương mại.
2.2 Các lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
2.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng của George Akerlof (1970) đề cập đến tình trạng khi các bên tham gia giao dịch không có sự cân bằng về thông tin. Cụ thể là một bên nắm giữ nhiều thông tin hơn hoặc thông tin chính xác hơn tạo ra lợi thế không công bằng so với bên còn lại. Khi xảy ra bất cân xứng thông tin, giá cả có thể không phản ánh đúng giá trị thực của hàng hóa hoặc dịch vụ, dẫn đến sự sai lệch có thể quá cao hoặc quá thấp.
Lý thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng. Trong quá trình cho vay, ngân hàng thường đối mặt với tình trạng thông tin bất cân xứng dẫn khi thu thập những thông tin về khả năng trả nợ, hành vi và mục đích sử dụng vốn của khách hàng không rõ ràng hoặc thiếu chính xác. Điều này có thể dẫn đến hai hệ quả chính:
- Rủi ro lựa chọn bất lợi: Ngân hàng khó phân biệt được khách hàng có rủi ro cao và rủi ro thấp trong giai đoạn thẩm định tín dụng dẫn đến khả năng vô tình cấp vốn cho khách hàng không đáng tin cậy.
- Rủi ro đạo đức: Sau khi khoản vay được cấp, khách hàng có thể sử dụng vốn sai mục đích hoặc không thực hiện các cam kết trả nợ đúng hạn, khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc giám sát và thu hồi nợ.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng không chỉ giúp ngân hàng nhận diện và quản lý rủi ro hiệu quả hơn mà còn là nền tảng để thiết lập các chiến lược tối ưu hóa hoạt động tín dụng. Bằng cách cải thiện chất lượng thông tin, các ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng hiệu quả kinh doanh và xây dựng niềm tin với khách hàng.
2.2.2 Lý thuyết định giá tín dụng
David Durand (1941) được xem là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết định giá tín dụng với công trình nghiên cứu về phân tích thống kê để đánh giá rủi ro tín dụng. Trong lý thuyết này, tác giả sử dụng dữ liệu lịch sử tín dụng của khách hàng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ bao gồm lịch sử thanh toán, dư nợ tín dụng, lịch sử tín dụng, loại sản phẩm vay và nhu cầu vay mới thông qua việc ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy logistic hoặc phương pháp cây quyết định giúp xác định mối quan hệ giữa các biến số như thu nhập, lịch sử thanh toán và khả năng trả nợ kết hợp phương pháp điểm tín dụng giúp xác định mức độ đáng tin cậy về tín dụng của khách hàng.
Thông qua lý thuyết này, các ngân hàng có thể đánh giá rủi ro tín dụng trước khi cấp khoản vay hoặc phát hành thẻ tín dụng, xác định khả năng thanh toán nợ của khách hàng cũng như phân loại khách hàng để tối ưu hóa danh mục và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
2.2.3 Lý thuyết 5C Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Lý thuyết 5C xuất hiện từ những thập kỷ giữa thế kỷ 20 và đã được ứng dụng rộng rãi trong ngành ngân hàng trên toàn cầu. Lý thuyết này được xem là một khung phân tích phổ biến trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, được sử dụng để đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng trước khi cấp vốn nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.
- Lý thuyết 5C bao gồm 5 yếu tố chính:
Tư cách của chủ thẻ (Character): Ngân hàng xem xét mức độ uy tín và lịch sử tín dụng của khách hàng thông qua việc tra cứu thông tin tại Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC), đồng thời có thể tham khảo thêm thông tin từ người thân, bạn bè hoặc đối tác liên Mục tiêu là đánh giá thói quen trả nợ, độ tin cậy và ý thức tài chính của người đề nghị phát hành thẻ.
Năng lực tài chính và pháp lý (Capacity): Để được cấp thẻ tín dụng, khách hàng cần đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự theo quy định hiện hành. Bên cạnh đó, khách hàng cũng phải chứng minh được khả năng tài chính đủ để đảm bảo việc thanh toán các khoản nợ phát sinh từ việc sử dụng thẻ.
Thu nhập và khả năng chi trả của chủ thẻ (Capital): Ngân hàng yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu chứng minh thu nhập ổn định, chẳng hạn như bảng lương hoặc sao kê tài khoản nhận lương trong ít nhất ba tháng gần nhất. Đây là cơ sở để đánh giá khả năng chi trả và mức tín dụng phù hợp khi cấp thẻ.
Bảo đảm tiền vay (Collateral): Ngân hàng xem xét giá trị tài sản mà khách hàng cung cấp để thế chấp khi yêu cầu phát hành thẻ tín dụng. Có ba hình thức bảo đảm bao gồm: tín chấp, đảm bảo toàn phần hoặc đảm bảo một phần tùy thuộc vào quy định cụ thể của từng ngân hàng và năng lực tài chính của chủ thẻ.
Các điều kiện khác (Conditions): Ngân hàng chủ động trong việc nắm bắt các thông tin và dự báo xu hướng thị trường nhằm đưa ra các điều kiện, chính sách ở từng thời kỳ khác nhau, phù hợp với quy định của ngân hàng Nhà nước và pháp luật đối với sản phẩm thẻ tín dụng.
2.3 Các nghiên cứu trước liên quan Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Đã có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện liên quan đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại các Ngân hàng thương mại. Những nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu ban đầu của đề tài. Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ lược khảo một số các nghiên cứu tiêu biểu trước liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài.
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Tại Ấn Độ, khi nghiên cứu dự đoán về khả năng xảy ra rủi ro tín dụng của người sử dụng thẻ tín dụng, Patel và cộng sự (2020) sử dụng các mô hình mạng nơ-ron trên dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 5 Ngân hàng thương mại tại Đài Loan với hơn 30.000 quan sát trong giai đoạn từ 2006 – 2008. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, thu nhập bình quân, số lượng thẻ tín dụng hiện có, dư nợ thẻ hiện tại và số lần thanh toán nợ trễ có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng đối với chủ thẻ.
Tại Hoa Kỳ, khi tìm hiểu về khả năng dự đoán và phân tích các rủi ro dẫn đến nợ quá hạn thẻ tín dụng cũng như đo lường mức độ hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại, Florentin Butaru và cộng sự (2015) sử dụng các mô hình toán kinh tế với dữ liệu thứ cấp được chọn ra từ 6 Ngân hàng thương mại lớn ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 2008 – 2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, trình độ học vấn, hình thức bảo đảm và hệ số thanh toán thẻ là các nhân tố ảnh hưởng tích cực đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng.
Tại Đài Loan, khi nghiên cứu về khả năng dự đoán và phân tích các yếu tố tác động đến khả năng vỡ nợ của khách hàng sử dụng thẻ tín dụng, Chen và Pan (2012) đã sử dụng phương pháp truyền thống (hồi quy logistic) và phương pháp hiện đại (mạng nơ-ron nhân tạo) dựa trên dữ liệu được thu thập với hơn 30.000 quan sát đến từ 10 ngân hàng thương mại ở Đài Loan. Sau đó, nhóm tác giả này so sánh hiệu quả giữa hai phương pháp này để xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ thẻ tín dụng bao gồm độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng kết hôn, dư nợ thẻ tín dụng, lịch sử thanh toán nợ, số tiền thanh toán nợ và tỷ lệ sử dụng thẻ tín dụng.
Tại Anh, nghiên cứu của Thomas, Oliver, và Hand (2005) đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về các vấn đề chính trong việc phát triển và áp dụng các mô hình dự đoán rủi ro tín dụng tiêu dùng. Nhóm tác giả này sử dụng phương pháp hồi quy logistic, phương pháp nơ-ron nhân tạo kết hợp với phương pháp chấm điểm tín dụng và cây quyết định để nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu của một Ngân hàng thương mại tại Anh bao gồm hơn 50.000 khách hàng nhằm xác định các yếu tố có khả năng ảnh hưởng rủi ro thẻ tín dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố bao gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, trình độ học vấn, thu nhập, dư nợ thẻ tín dụng, lịch sử tín dụng, tỷ lệ sử dụng tín dụng, thói quen chi tiêu và lịch sử thanh toán đều ảnh hưởng tích cực đến rủi ro nợ thẻ tín dụng và khả năng vỡ nợ của chủ thẻ.
Tại Hoa Kỳ, Dunn và Kim (1999) đã sử dụng phương pháp hồi quy logistic, phương pháp phân loại kết hợp phương pháp phân tích thống kê để tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc khách hàng không thanh toán được nợ thẻ tín dụng dẫn đến việc vỡ nợ dựa trên bộ dữ liệu được thu thập từ hơn 5.000 khách hàng sử dụng thẻ tín dụng tại Hoa Kì trong giai đoạn những năm 1990. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến độc lập gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, trình độ học vấn, thu nhập bình quân, lịch sử tín dụng, lịch sử thanh toán, dư nợ thẻ tín dụng và tỷ lệ nợ thẻ trên thu nhập đều ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng đối với chủ thẻ.
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Nguyễn Thị Thu Hằng (2019) với nghiên cứu về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam khi sử dụng phương pháp hồi quy đa biến và phương pháp mô hình cấu trúc để phân tích các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng đối với khách hàng sử dụng thẻ tín dụng tại 5 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam với gần 500 quan sát trong khoảng thời gian 2018 – 2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ dư nợ thẻ không được thanh toán bao gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, nghề nghiệp, thu nhập bình quân và tỷ lệ dư nợ trên hạn mức thẻ.
Bùi Hữu Phước và Ngô Thành Danh (2017) sử dụng mô hình logit nhị phân và mô hình logit đa thức để phân tích những yếu tố có ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Kiên Giang sử dụng dữ liệu thu được từ 120 hồ sơ tín dụng ngân hàng trong năm 2016 (01/01/2016 đến 31/12/2016). Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình logit đa thức thực hiện tốt hơn logit nhị phân. Ở mức độ rủi ro 1, các yếu tố ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng của các ngân hàng bao gồm là tài sản đảm bảo, năng lực tài chính của khách hàng, hoạt động kinh doanh đa dạng, kinh nghiệm của nhân viên ngân hàng và kiểm tra giám sát khoản vay. Ở mức độ rủi ro 2, bao gồm bốn yếu tố có ý nghĩa ở mức độ rủi ro 1 và một yếu tố tài sản bảo đảm không ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng.
Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành (2017) nghiên cứu kết hợp sử dụng hai mô hình logit nhị phân và logit đa thức để phân tích các yếu tố vi mô có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại cổ phần có sở hữu nhà nước ở địa bàn tỉnh Hậu Giang dựa trên số liệu được thu thập từ 316 quan sát của năm ngân hàng đối với các hồ sơ vay có dư nợ đến thời điểm 30/04/2014. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mô hình logit đa thức có khả năng giải thích tốt hơn so với mô hình logit nhị phân. Ở mức độ rủi ro 1, các yếu tố tác động tới Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại cổ phần có sở hữu nhà nước bao gồm tài sản đảm bảo, lịch sử tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, ngành nghề tạo thu nhập chính và hoạt động kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay. Trong khí đó tại mức độ rủi ro 2, ngoài năm yếu tố có ý nghĩa nêu ở mức độ rủi ro 1 còn xuất hiện thêm hai yếu tố có ảnh hưởng đáng kể là năng lực tài chính của khách hàng và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng.
Nguyễn Minh Hà và Trịnh Hoài Nam (2013) khi nghiên cứu về việc phân tích các nhân tố tác động đến Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logistic kết hợp phương pháp phân loại và phương pháp phân tích thống kê trên dữ liệu gồm 1.969 thẻ tín dụng nội địa tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam phát hành trong giai đoạn 2012 – 2013. Kết quả cho thấy có sáu yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến Rủi ro tín dụng gồm đặc tính ngành nghề, thu nhập bình quân, hệ số sử dụng thẻ, hệ số thanh toán thẻ, hệ số ứng tiền mặt và thời gian sử dụng thẻ trung bình.
- Bảng 2.1: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng từ các nghiên trong và ngoài nước Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
2.3.3 Khoảng trống nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu đã cho thấy cái nhìn toàn diện về cơ sở lý luận liên quan đến Rủi ro tín dụng, đồng thời xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong lĩnh vực thẻ tín dụng tại các ngân hàng trong những điều kiện và bối cảnh khác nhau. Dựa trên các kết quả thu được, mỗi công trình đều đề xuất những giải pháp và khuyến nghị cụ thể nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở khu vực nghiên cứu. Tuy nhiên, do sự khác biệt về điều kiện vùng miền, vị trí địa lý, thể chế chính trị ở mỗi quốc gia cũng như đặc điểm nội tại của từng ngân hàng, các kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách có thể không đồng nhất. Chính vì vậy, những hàm ý chính sách đề xuất cho từng bối cảnh khu vực khác nhau sẽ không thể phù hợp khi vận dụng vào các nghiên cứu trên địa bàn khác.
Thứ hai, đa số các nghiên cứu trên chỉ tập trung đánh giá các nhân tố về nhân khẩu học và lịch sử thanh toán tín dụng của khách hàng mà chưa phân tích sâu vào các yếu tố khá quan trọng khác như hình thức sở hữu nhà ở, chức vụ, loại hình công ty, hạn mức thẻ tín dụng, dư nợ vay tại các TCTD khác và hệ số ứng tiền mặt của thẻ. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà tác giả muốn chú trọng xem xét và phân tích. Những nhân tố này được xem là điều kiện hàng đầu trong việc xét duyệt tiêu chí phát hành thẻ tín dụng hiện nay, đặc biệt là thời điểm sau dịch Covid-19, khi vấn đề tài chính và uy tín của khách hàng được các ngân hàng đặc biệt quan tâm.
Qua các khoảng trống nghiên cứu trên, tác giả nhận ra rằng việc xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một là thực sự cấp thiết. Kết quả sau khi nghiên cứu sẽ là cơ sở để tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách phù hợp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một là trong tương lai.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong Chương 2, tác giả đã trình bày khái niệm về rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến loại rủi ro này. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã tiến hành lược khảo một số nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố thời gian qua có liên quan đề tài, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại. Dựa trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu cùng với các giả thuyết về 14 nhân tố có ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng liên quan đến sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một.
Để kiểm chứng mô hình nghiên cứu này, Chương 3 tập trung xây dựng và đánh giá các thang đo phù hợp cho các khái niệm nghiên cứu, đồng thời lập kế hoạch kiểm định các lý thuyết liên quan. Qua đó, mô hình được kiểm tra để khẳng định các nhân tố có ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV

Pingback: Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV