Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thủ Dầu Một dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Thủ Dầu Một
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
- Giới thiệu chung về BIDV:
Thành lập vào năm 1957, BIDV là ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời nhất và là ngân hàng Thương mại cổ phần có tổng tài sản lớn nhất tại Việt Nam với quy mô 2,7 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 100 tỷ USD (31/12/2024). BIDV có mạng lưới rộng khắp Việt Nam với hơn 1.100 chi nhánh và phòng giao dịch trong và ngoài nước, thiết lập quan hệ đối tác với 2.300 định chế tài chính trên toàn cầu. BIDV là ngân hàng tiên phong trong chiến dịch chuyển đổi số, sở hữu hệ sinh thái số đa dạng với một số sản phẩm, dịch vụ nổi bật như BIDV SmartBanking đối với khách hàng cá nhân, Ommi BIDV iBank đối với khách hàng tổ chức và dẫn đầu xu thế ngân hàng mở với hệ thống BIDV Open API… Năm 2023, BIDV tiếp tục được các tổ chức, cộng đồng đánh giá cao với những giải thưởng uy tín khi đứng ở vị trí thứ 1.081 (tăng hơn 500 bậc) trong Bảng xếp hạng Forbes Global 2000 doanh nghiệp niêm yết lớn nhất toàn cầu; Giải thưởng “Top 50 Công ty niêm yết tốt nhất” (Tạp chí Forbes Việt Nam); 9 năm liên tiếp nhận Giải thưởng “Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam”, “Dịch vụ ngân hàng cao cấp tốt nhất Việt Nam”, “Thẻ tín dụng quốc tế tốt nhất Việt Nam”, “Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam” và “Ngân hàng Lưu ký – Giám sát tốt nhất Việt Nam năm 2023” (The Asian Banker); Giải thưởng “Ngân hàng SME tốt nhất Việt Nam” (Alpha Southeast Asia); Giải thưởng “Ngân hàng cung cấp giải pháp số hàng đầu Việt Nam” (Asiamoney); 9 sản phẩm công nghệ thông tin của BIDV đạt giải Sao Khuê 2023; Top 10 thương hiệu mạnh Việt Nam 2023 (Vietnam Economic Times)… Tháng 8/2024, BIDV vinh dự khi được vinh danh là “Nơi làm việc tốt nhất Châu Á năm 2024” và chiến thắng hạng mục “Doanh nghiệp quan tâm chăm sóc nhân viên tuyệt vời nhất năm 2024” do HR Asia Magazine – Tạp chí uy tín về nhân sự tại Châu Á trao tặng dựa trên kết quả khảo sát 704 doanh nghiệp Châu Á.
- Giới thiệu chung về Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thủ Dầu Một:
Ngày 01/06/2015, từ một phòng giao dịch trực thuộc BIDV chi nhánh Bình Dương, BIDV Thủ Dầu Một chính thức khai trương hoạt động với định hướng chiến lược là chi nhánh hỗn hợp phát triển cả bán buôn và bán lẻ với trụ sở chính được đặt tại số 37 Yersin, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Mạng lưới hoạt động khi đó bao gồm Hội sở chi nhánh và 01 phòng giao dịch. Đến nay sau gần 10 năm hoạt động, BIDV Thủ Dầu Một đã hoạt động và phát triển mạng lưới rộng khắp bao gồm 5 Phòng giao dịch trải dài trên địa bàn tỉnh Bình Dương: Phòng giao dịch Thuận An, Phòng giao dịch Hội Nghĩa, Phòng giao dịch Khu công nghiệp Tân Bình, Phòng giao dịch Thành Phố Mới và Phòng giao dịch thành phố Thủ Dầu Một.
4.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh
- Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh của BIDV Thủ Dầu Một
Nhìn chung, các chỉ tiêu kinh doanh của BIDV Thủ Dầu Một đạt được trong giai đoạn 2022 – 2024 tương đối khả quan, tăng trưởng tốt qua các năm, tỷ lệ nợ xấu luôn kiểm soát ở mức cho phép. Điều này cho thấy BIDV Thủ Dầu Một luôn chú trọng trong công tác quản lý, đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng, kiên quyết không hạ chuẩn cho vay cũng như quyết liệt và linh hoạt trong việc điều hành và đưa ra các chiến lược kinh doanh giúp giữ vững và phát huy vai trò ngân hàng đầu tàu cùng đưa nền kinh tế Việt Nam ngày một phồn vinh và phát triển.
4.1.3 Thực trạng về hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV Thủ Dầu Một Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
4.1.3.1 Các loại thẻ tín dụng do BIDV triển khai và phát hành
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, BIDV luôn nỗ lực nâng cao và cải thiện hệ thống sản phẩm dịch vụ thẻ từ việc đa dạng hóa các sản phẩm thẻ đến nâng cao các tính năng, chất lượng dịch vụ và biện pháp kỹ thuật nhằm bảo mật tốt nhất thông tin của chủ thẻ. Bên cạnh đó, BIDV cũng luôn cập nhật và cải tiến công nghệ thẻ nhằm bảo đảm đáp ứng các công nghệ tiên tiến nhất giúp khách hàng có những trải nghiệm tuyệt vời khi sử dụng thẻ.
Các loại thẻ tín dụng được BIDV phát hành hiện nay bao gồm: BIDV Private Banking, BIDV Visa Infinite, BIDV Premier, BIDV JCB Credit Ultimate, BIDV JCB Well-being, BIDV Visa Cashback 360, BIDV Visa Cashback Online, BIDV Mastercard Inspire, BIDV Mastercard World Travel, BIDV Visa Easy, BIDV Visa Flexi, BIDV MC Standard TPV.
- Bảng 4.2: Danh sách các loại thẻ tín dụng tại BIDV
4.1.3.2 Hoạt động phát hành thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một
- Hình 4.1: Hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một giai đoạn 2022 – 2024
Hình 4.1 cho thấy tình hình kinh doanh thẻ tín dụng của BIDV Thủ Dầu Một đều tăng trưởng hàng năm và cũng là giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất trong suốt quá trình hoạt động của chi nhánh. Đây là một bằng chứng thuyết phục cho việc nỗ lực thực hiện mục tiêu chiến lược tiếp tục trở thành “Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam” và ngân hàng có chất lượng “Thẻ tín dụng quốc tế tốt nhất Việt Nam”. Đầu năm 2024, BIDV Thủ Dầu Một thành lập phòng Khách hàng ưu tiên và đẩy mạnh hoạt động phát hành thẻ tín dụng cho phân khúc khách hàng cao cấp, góp phần thu hút một lượng lớn khách hàng thượng lưu về sử dụng dịch vụ tại chi nhánh.
4.1.4 Thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một
Phát hành thẻ tín dụng cũng chính là một hình thức cho vay tiêu dùng. Bên cạnh những lợi ích mà kinh doanh thẻ tín dụng mang lại thì BIDV Thủ Dầu Một cũng phải gánh chịu nhiều rủi ro, trong đó rủi ro lớn nhất phải kể đến chính là rủi ro tín dụng. Từ đầu năm 2024, BIDV Thủ Dầu Một chủ trương phát triển kinh doanh thẻ tín dụng theo hướng mở rộng phát hành thẻ bằng hình thức cấp tín chấp nhằm phù hợp với nhu cầu của khách hàng cũng như xu hướng phát triển chung của thị trường. Do đó, việc tăng nhanh số lượng thẻ tín dụng tín chấp cũng đồng nghĩa với dư nợ quá hạn thẻ tín dụng cũng từ đó mà tăng lên.
- Bảng 4.3: Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn thẻ tín dụng của BIDV Thủ Dầu Một giai đoạn 2022 – 2024
Bảng 4.3 cho thấy nợ quá hạn thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm chiếm tỷ lệ lớn nhất từ 83% – 88%. Năm 2023, nợ quá hạn thẻ tín dụng là 7.322 triệu đồng (tăng 18,93% so với năm 2022), trong đó nợ quá hạn của thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm chiếm tỷ lệ 85% và nợ xấu là 1.424 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 19% trên tổng nợ quá hạn thẻ tín dụng. Đến năm 2024, nợ quá hạn thẻ tín dụng là 8.931 triệu đồng (tăng 21,96% so với năm 2023), trong đó nợ quá hạn của thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm chiếm tỷ lệ 83% và nợ xấu là 1.926 triệu đồng chiếm tỷ lệ 22% trên tổng nợ quá hạn thẻ tín dụng.
Nhìn chung, ta thấy nợ quá hạn thẻ tín dụng của BIDV Thủ Dầu Một vẫn nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận. Tuy nhiên, bên cạnh việc chạy theo chỉ tiêu phát hành thẻ, cán bộ tín dụng cũng cần phải quan tâm trong khâu thẩm định năng lực tài chính cũng như uy tín và lịch sử tín dụng của chủ thẻ khi phát hành thẻ tín chấp qua lương và theo khúc khách hàng cao cấp, không nên chạy theo chỉ tiêu mà hạ chuẩn khi đánh giá xếp hạng tín dụng. Việc mở rộng phát hành thẻ tín dụng theo hình thức cấp tín chấp cho thấy tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn ngày càng tăng. Chính vì vậy, đẩy mạnh tăng trưởng nhưng cũng cần phải cần bám sát với định hướng phát triển của BIDV đã đề ra là phát triển theo hướng bền vững và ổn định về chất lượng tín dụng.
4.2 Phân tích thống kê mô tả các biến nghiên cứu Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu gồm 196 thẻ tín dụng quốc tế do BIDV Thủ Dầu Một phát hành, với các giao dịch phát sinh trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2022 đến 31/12/2024. Kết quả phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp và trình bày tại Bảng 4.4 dưới đây:
- Bảng 4.4: Bảng thống kê mô tả các biến nghiên cứu
Kết quả thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu đối với các biến, cho thấy:
Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng (NOMINPAY) được ước lượng bằng biến giả dummy, có giá trị 1 nếu chủ thẻ bị quá hạn thẻ từ 1 ngày trở lên, giá trị 0 nếu chủ thẻ không bị quá hạn, giá trị trung bình là 0.5255 (52.55%). Điều này cho thấy hơn một nửa khách hàng tại BIDV Thủ Dầu Một bị quá hạn nợ thẻ tín dụng.
Độ tuổi (AGE) của chủ thẻ tại BIDV Thủ Dầu Một nằm trong khoảng từ 20 đến 63 tuổi với giá trị trung bình là 37.34 tuổi. Điều này cho thấy phần lớn chủ thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu nằm trong độ tuổi trung niên, là những người có nhận thức tốt, thu nhập tương đối ổn định và có kinh nghiệm trong việc quản lý tài chính cá nhân. Đây cũng là nhóm khách hàng tiềm năng mà BIDV Thủ Dầu Một hướng tới trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng trong tương lai.
Giới tính (GENDER) của chủ thẻ được lượng hóa dưới dạng biến giả dummy, có giá trị 0 là nữ và giá trị 1 là nam và giá trị trung bình là 0.5153 (51.53%). Kết quả này phản ánh sự cân đối tương đối giữa số lượng chủ thẻ nam và nữ, cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về giới tính trong tập khách hàng sử dụng thẻ tín dụng.
Tình trạng kết hôn (MARITAL) được lượng hóa bởi biến giả dummy, có giá trị 1 nếu chủ thẻ đã có gia đình và giá trị 0 nếu chủ thẻ thuộc các nhóm trường hợp còn lại (độc thân, ly hôn, góa…) và giá trị trung bình là 0.6276 (62.76%). Điều này cho thấy hầu hết các chủ thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một là những người đã có gia đình, có trách nhiệm tài chính cao hơn cũng như nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng để chi tiêu cũng lớn hơn. Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Hình thức sở hữu nhà ở (HOMEOWNER) được lượng hoá bằng biến giả dummy, có giá trị 1 nếu chủ thẻ sở hữu nhà ở riêng và giá trị 0 nếu đang sinh sống trong các loại hình nhà ở khác và giá trị trung bình là 0.5612 (56.12%). Điều này cho thấy hơn một nửa khách hàng phát hành thẻ tại BIDV Thủ Dầu Một có sở hữu nhà riêng, đây có thể là một yếu tố giúp tăng độ tin cậy khi xét duyệt cấp tín dụng cho khách hàng.
Trình độ học vấn (EDU) được lượng hóa dưới dạng biến giả dummy, có giá trị 1 đối với chủ thẻ có trình độ học vấn từ đại học trở lên và giá trị 0 đối với chủ thẻ có trình độ học vấn thấp hơn và giá trị trung bình là 0.4847 (48.47%). Điều này phản ánh rằng, gần một nửa khách hàng mở thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một có trình độ học vấn cao, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức tài chính cũng như khả năng quản lý chi tiêu qua thẻ tín dụng.
Thu nhập bình quân của chủ thẻ (INCOME) dao động từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng và có giá trị trung bình là khoảng 36.20 triệu đồng. Đây là mức thu nhập khá cao, đủ bảo đảm cho khả năng thanh toán nợ vay thẻ tín dụng của khách hàng khi đến hạn. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn cao (43.83 triệu đồng) cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm thu nhập.
Hạn mức tín dụng thẻ (LIMIT) của chủ thẻ dao động từ 10 triệu đồng đến 200 triệu đồng, giá trị trung bình là khoảng 68.37 triệu đồng. Điều này phù hợp với quy định cấp hạn mức thẻ của ngân hàng, trong đó hạn mức tín dụng của tín dụng thường dao động từ 1 đến 3 lần mức thu nhập trung bình tháng của chủ thẻ.
Nghề nghiệp (OCCUP) được lượng hóa bằng biến giả dummy, có giá trị 1 nếu là nhân viên văn phòng và có giá trị là 0 nếu hoạt động trong các ngành nghề khác và giá trị trung bình là 0.4643 (46.43%). Điều này phản ánh rằng gần một nửa khách hàng là nhân viên văn phòng hoặc có công việc ổn định, đây là nhóm khách hàng tiềm năng vì họ có mức thu nhập ổn định hoặc được chi trả thu nhập qua BIDV Thủ Dầu Một và có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của ngân hàng.
Chức vụ công tác (OLEVEL) của chủ thẻ được lượng hoá dưới dạng biến giả dummy, có giá trị 1 nếu khách hàng đang giữ chức vụ cao tại cơ quan làm việc và có giá trị 0 đối với những người không giữ chức vụ và giá trị trung bình là 0.3418 (34.18%). Điều này phản ánh rằng chỉ có khoảng 34.18% chủ thẻ tại BIDV Thủ Dầu Một là người giữ cao chức vụ tại cơ quan làm việc, đây là nhóm khách hàng tiềm năng, có uy tín xã hội cần được BIDV Thủ Dầu Một ưu tiên phát triển trong thời gian tới.
Loại hình công ty (TOC) được lượng hóa bằng biến giả dummy, có giá trị 1 nếu khách hàng đang làm việc tại các công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương khác… và có giá trị 0 nếu khách hàng đang làm việc tại các loại hình tổ chức khác và giá trị trung bình là 0.3418 (34.18%). Điều này cho thấy phần lớn khách hàng mở thẻ tại BIDV Thủ Dầu Một làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước hoặc tập đoàn lớn, nơi có chế độ tài chính minh bạch hơn. Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Hình thức bảo đảm (GUARTY) được lượng hóa dưới dạng biến giả dummy, có giá trị 1 nếu chủ thẻ được bảo đảm bằng tài sản và giá trị 0 nếu chủ thẻ được phát hành thẻ tín chấp, có giá trị trung bình là 0.5816 (58.16%). Điều này cho thấy phần lớn khách hàng được BIDV Thủ Dầu Một phát hành thẻ tín dụng dựa trên hình thức có tài sản bảo đảm thay vì được cấp tín chấp, đây là yếu tố giúp BIDV Thủ Dầu Một hạn chế nợ xấu khi có thể dùng các tài sản thế chấp để thanh toán nợ quá hạn thẻ.
Dư nợ tại ngân hàng khác (BLOAN) được lượng hoá bởi biến giả dummy, có giá trị 1 nếu khách hàng có dư nợ tại ngân hàng khác và giá trị 0 nếu khách hàng không có quan hệ tín dụng và giá trị trung bình là 0.4438 (44.38%). Điều này phản ánh rằng phần lớn chủ thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một không có dư nợ tại ngân hàng khác, đây cũng là yếu tố giúp làm giảm áp lực tài chính cho khách hàng.
Hệ số thanh toán thẻ (BALincome) có giá trị trung bình là 0.6724, nghĩa là mức dư nợ thẻ tín dụng chiếm khoảng 67.24% thu nhập của chủ thẻ. Điều này phản ánh mức độ sử dụng tín dụng khá cao trong nhóm khách hàng BIDV Thủ Dầu.
Hệ số ứng tiền mặt (CASHBal) có giá trị trung bình là 0.1426 (14.26%) có nghĩa tỷ lệ khách hàng có nhu cầu ứng tiền mặt ở mức thấp, ưu tiên dùng thẻ tín dụng để sử dụng cho những chi tiêu thanh toán hàng hoá, dịch vụ.
Như vậy, kết quả thống kê mô tả cho thấy có nhiều nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng chậm thanh toán dư nợ thẻ tín dụng của khách hàng tại BIDV Thủ Dầu Một, đặc biệt là các yếu tố về thu nhập, hạn mức tín dụng, hình thức sở hữu nhà ở, nghề nghiệp và hình thức bảo đảm tín dụng.
4.3 Phân tích kết quả hồi quy Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Tiếp theo, tác giả trình bày kết quả phân tích hồi quy đa biến dựa trên mô hình nghiên cứu đã đề xuất nhằm xác định và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến biến phụ thuộc là Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Kết quả ước lượng về mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc được thể hiện chi tiết ở bảng dưới đây:
- Bảng 4.5: Đánh giá mô hình hồi quy
Mô hình hồi quy logistic được ước lượng trên 196 quan sát, với 14 biến độc lập. Giá trị LR chi-square (χ²) là 244.57, với p-value = 0.0000, cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể, tức là ít nhất một trong các biến độc lập có tác động đáng kể đến biến phụ thuộc.
Giá trị log-likelihood = -13.31 thể hiện mức độ phù hợp của mô hình với dữ liệu. Quan trọng hơn, Pseudo R² = 0.9018 là một giá trị rất cao, cho thấy mô hình giải thích đến 90.18% biến thiên của biến phụ thuộc. Điều này, cho thấy mô hình có độ phù hợp tốt, nghĩa là các biến độc lập trong mô hình có khả năng dự báo mạnh mẽ đối với Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một (NOMINPAY).
Nhìn chung, với mức ý nghĩa cao của mô hình và giá trị Pseudo R² lớn, mô hình hồi quy logistic này có độ chính xác tốt trong việc dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán thẻ tín dụng của khách hàng.
- Bảng 4.6: Kết quả phân tích hồi quy logistic
Bảng kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc NOMINPAY (rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một) và các biến độc lập khác. Dựa trên kết quả hồi quy logistic, có thể phân tích các nhân tố ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một (NOMINPAY).
Trước tiên, các nhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một bao gồm trình độ học vấn (EDU), hạn mức tín dụng thẻ (LIMIT), nghề nghiệp (OCCUP), chức vụ công tác (OLEVEL), hình thức bảo đảm (GUARTY), dư nợ tại ngân hàng khác (BLOAN), hệ số thanh toán thẻ (BALincome) và hệ số ứng tiền mặt (CASHBal). Cụ thể, trình độ học vấn có hệ số âm và có ý nghĩa thống kê (p = 0.021), cho thấy những khách hàng có trình độ học vấn từ đại học trở lên ít có nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng hơn so với những người có trình độ học vấn thấp hơn. Hạn mức tín dụng thẻ có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê (p = 0.024), nghĩa là chủ thẻ có hạn mức tín dụng càng cao thì nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng càng lớn. Nghề nghiệp và chức vụ đều có hệ số âm và có ý nghĩa thống kê (p = 0.003 và p = 0.029), chỉ ra rằng những khách hàng có nghề nghiệp ổn định và chức vụ cao có ít nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ thẻ tín dụng hơn. Hình thức bảo đảm tín dụng có hệ số âm và có ý nghĩa (p = 0.026), nghĩa là những chủ thẻ được bảo đảm bằng tài sản sẽ có nguy cơ chậm thanh toán dư nợ thẻ cao hơn so với các chủ thẻ được phát hành tín chấp. Dư nợ tín dụng tại ngân hàng khác có hệ số dương và có ý nghĩa (p = 0,042) cho thấy chủ thẻ có dư nợ tại các ngân hàng khác thì nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng cao hơn chủ thẻ không có dư nợ. Cuối cùng, hệ số thanh toán thẻ và hệ số ứng tiền mặt đều có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê (p = 0.035 và p = 0.011), cho thấy khi tỷ lệ dư nợ thẻ trên thu nhập trung bình tháng hoặc hệ số ứng tiền mặt tăng thì đồng nghĩa với nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng khi đến hạn cũng tăng theo. Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Ngược lại, một số nhân tố không có ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng do không có ý nghĩa thống kê, bao gồm độ tuổi (AGE), giới tính (GENDER), tình trạng kết hôn (MARITAL), hình thức sở hữu nhà ở (HOMEOWNER), thu nhập bình quân (INCOME) và loại hình công ty (TOC). Cụ thể, độ tuổi có hệ số âm nhưng p = 0.890, cho thấy độ tuổi của chủ thẻ không có tác động rõ ràng đến khả năng chậm thanh toán nợ thẻ. Giới tính cũng không có ý nghĩa (p = 0.855), tức là không có nhiều khác biệt đáng kể giữa nam và nữ về rủi ro tín dụng. Tình trạng kết hôn có hệ số dương nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0.109), cho thấy chưa có đủ bằng chứng để kết luận rằng người đã kết hôn có nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ cao hơn người còn độc thân. Hình thức sở hữu nhà ở cũng không có tác động đáng kể (p = 0.298). Thu nhập bình quân có hệ số âm nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0.178), cho thấy thu nhập của chủ thẻ cũng không phải là nhân tố tiên quyết trong việc chậm thanh toán dư nợ thẻ. Cuối cùng, loại hình công ty có hệ số dương nhưng chưa đủ ý nghĩa thống kê (p = 0.085), điều này cho thấy chưa thể kết luận rằng người làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân có nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng cao hơn.
Như vậy, các nhân tố gồm trình độ học vấn, hạn mức tín dụng thẻ, nghề nghiệp, chức vụ công tác, hình thức bảo đảm, dư nợ tại ngân hàng khác, hệ số thanh toán thẻ và hệ số ứng tiền mặt có ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng. Trong khi đó, các nhân tố còn lại là độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, hình thức sở hữu nhà ở, thu nhập bình quân và loại hình công ty không có ảnh hưởng rõ ràng.
Phương trình hồi quy được mô tả như sau: NOMINPAY = – 4.98*EDU + 0.10*LIMIT – 6.62*OCCUP – 4.80*OLEVEL – 5.31*GUARTY + 3.39*BLOAN + 2.35*BALincome + 43.63*CASHBal
Dựa trên kết quả bảng 4.6 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi nhân tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ kết luận không phù hợp. Nếu hệ số p của biến số đó lớn hơn 5% thì giả thuyết đó sẽ bị bác bỏ.
- Bảng 4.7: Kết quả tổng hợp
4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Trên cơ sở kết quả hồi quy, phần tiếp theo tác giả sẽ phân tích và thảo luận các nội dung chính về kết quả nghiên cứu đối với các biến độc lập có ý nghĩa thống kê nhằm làm rõ vai trò và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến Rủi ro tín dụng trong mô hình nghiên cứu. Cụ thể:
Trình độ học vấn (EDU) ảnh hưởng ngược chiều đến số ngày chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng. Kết quả kiểm định cho thấy chủ thẻ có trình độ học vấn cao từ đại học trở lên thì Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một được giảm đáng kể. Điều này chứng minh rằng trình độ học vấn không chỉ ảnh hưởng đến nhận thức tài chính mà còn góp phần cải thiện khả năng quản lý chi tiêu qua thẻ tín dụng. Nghiên cứu cũng cho thấy trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng cần được xem xét khi thu thập thông tin khách hàng trước khi phát hành thẻ tín dụng nhằm hạn chế rủi ro chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Florentin Butaru và cộng sự (2015), Chen và Pan (2012), Thomas, Oliver, và Hand (2005), cũng như Dunn và Kim (1999).
Hạn mức tín dụng thẻ (LIMIT) ảnh hưởng cùng chiều đến số ngày chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng của chủ thẻ. Nói cách khác, khi hạn mức tín dụng thẻ của khách hàng càng cao thì Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một càng lớn. Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu của tác giả, rằng hạn mức thẻ tín dụng của khách hàng càng cao thì nhu cầu thanh toán càng tăng. Điều này, cho thấy khách hàng tận dụng tính năng “chi trước, trả sau” của thẻ tín dụng cho những khoản chi tiêu vượt quá năng lực tài chính dẫn đến nguy cơ chậm thanh toán thẻ tín dụng khi đến hạn. Phát hiện này là điểm mới so với các nghiên cứu được công bố trước đây, đồng thời cung cấp cơ sở quan trọng giúp cán bộ tín dụng đánh giá khách hàng và đưa ra quyết định phù hợp khi đề xuất hạn mức tín dụng thẻ.
Nghề nghiệp (OCCUP) của chủ thẻ ảnh hưởng ngược chiều đến số ngày chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Kết quả kiểm định cho thấy, các chủ thẻ là nhân viên văn phòng có số ngày chậm thanh toán dư nợ thẻ ít hơn so với các chủ thẻ thuộc các nhóm nghề nghiệp khác. Nói cách khác, Rủi ro tín dụng của khách hàng làm việc trong lĩnh vực văn phòng thấp hơn so với những người hoạt động trong các ngành nghề khác. Điều này tiếp tục khẳng định mối quan hệ giữa ngành nghề công tác và hành vi tiêu dùng của khách hàng, trong đó các nhân viên văn phòng có xu hướng quản lý thời gian trong việc thanh toán nợ thẻ tín dụng tốt hơn so với những khách hàng còn lại. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Thu Hằng (2019), Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành (2017), cùng Nguyễn Minh Hà và Trịnh Hoài Nam (2013).
Chức vụ công tác (OLEVEL) của chủ thẻ ảnh hưởng ngược chiều đến số ngày chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng. Kết quả cho thấy, các chủ thẻ giữ chức vụ càng cao tại nơi làm việc thì khả năng chậm thanh toán nợ thẻ càng thấp so với những chủ thẻ không giữ chức vụ. Nói cách khác, Rủi ro tín dụng đối với những khách hàng có chức danh hoặc vị trí cao trong tổ chức là thấp hơn đáng kể so với các nhóm khách hàng khác. Phát hiện này khẳng định rằng, việc bổ sung biến số này vào mô hình nghiên cứu là hoàn toàn hợp lý trong bối cảnh hiện nay. Đồng thời, kết quả cũng lý giải rằng những người giữ vị trí cao trong xã hội thường chú trọng đến việc kiểm soát thời gian trong việc thanh toán nợ thẻ tín dụng nhằm để bảo vệ uy tín cá nhân cũng như lịch sử tín dụng của mình. Điều này nhấn mạnh mối quan hệ giữa vị trí công tác và trách nhiệm tài chính của khách hàng.
Hình thức đảm bảo (GUARTY) ảnh hưởng ngược chiều đến Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Nói cách khác, các chủ thẻ được đảm bảo bằng tài sản có nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng cao hơn so với các khách hàng được cấp thẻ tín chấp. Kết quả kiểm định cho thấy, việc đảm bảo toàn bộ hoặc một phần hạn mức thẻ bằng các hình thức bảo đảm tài sản thường áp dụng cho những khách hàng có nguồn thu nhập không ổn định hoặc có lịch sử nợ quá hạn thẻ trong quá khứ. Phát hiện này mang tính khác biệt so với các nghiên cứu trước đây của Florentin Butaru và cộng sự (2015), Bùi Hữu Phước và Ngô Thành Danh (2017), cùng Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành (2017), vốn chủ yếu cho rằng việc cấp tín chấp là yếu tố làm gia tăng nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng. Nghiên cứu hiện tại đã bổ sung thêm một góc nhìn mới về vai trò của hình thức đảm bảo tài sản trong đánh giá rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Dư nợ tại các ngân hàng khác (BLOAN) ảnh hưởng cùng chiều đến Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi chủ thẻ có nhiều khoản nợ vay tại ngân hàng khác thì nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tăng cao, kéo theo các rủi ro liên quan đến thẻ tín dụng cũng gia tăng. Phát hiện này mang lại góc nhìn mới cho nghiên cứu, so với các nghiên cứu trước đây, bằng cách đào sâu hơn vào lịch sử tín dụng của khách hàng. Cụ thể, việc xem xét dư nợ tại các tổ chức tín dụng khác giúp đánh giá chính xác hơn khả năng tài chính và áp lực trả nợ của chủ thẻ.
Hệ số thanh toán thẻ (BALincome) ảnh hưởng cùng chiều đến số ngày chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng của khách hàng tại BIDV Thủ Dầu Một. Kết quả hồi quy chỉ ra rằng, khi hệ số thanh toán thẻ của khách hàng tăng cao, nguy cơ chậm thanh toán cũng gia tăng. Nói cách khác, việc khách hàng sử dụng hạn mức thẻ tín dụng vượt quá thu nhập bình quân hàng tháng làm tăng khả năng không thanh toán dư nợ đúng hạn. Điều này cho thấy khách hàng có thể đang đối mặt với khó khăn tài chính và thiếu hiệu quả trong quản lý chi tiêu cá nhân. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Florentin Butaru và cộng sự (2015), Nguyễn Minh Hà và Trịnh Hoài Nam (2013).
Hệ số ứng tiền mặt (CASHBal) ảnh hưởng cùng chiều đến số ngày chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng khi đến hạn. Kết quả kiểm định cho thấy, khi hệ số ứng tiền mặt của chủ thẻ tăng thì khả năng không thanh toán đúng hạn dư nợ thẻ tín dụng cũng tăng theo. Điều này có thể được giải thích bởi việc khách hàng thường xuyên sử dụng thẻ tín dụng rút tiền mặt qua máy ATM hoặc POS, chủ thẻ không chỉ phải chịu mức phí và lãi suất cao hơn so với giao dịch thông thường, mà lãi còn được tính ngay tại thời điểm giao dịch phát sinh. Hiện tượng này phản ánh khả năng khách hàng đang đối mặt với những khó khăn tài chính trong ngắn hạn dẫn đến việc sử dụng thẻ tín dụng như một công cụ hỗ trợ dòng tiền tạm thời. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Minh Hà và Trịnh Hoài Nam (2013). Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Trong chương 4, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng để xác định các nhân tố cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Đồng thời, thông qua mô hình hồi quy đa biến thì luận văn tiến hành điểm định sự phù hợp và cho ra kết quả nghiên cứu cuối cùng có sự tương đồng với các kỳ vọng của giả thuyết nghiên cứu ban đầu đặt ra. Kết quả nghiên cứu cuối cùng cho thấy trình độ học vấn, nghề nghiệp, chức vụ công tác và hình thức đảm bảo ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Nhưng hạn mức tín dụng thẻ, dư nợ tại ngân hàng khác, hệ số thanh toán thẻ và hệ số ứng tiền mặt của chủ thẻ lại ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Ngoài ra, các biến gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, hình thức sở hữu nhà ở, thu nhập bình quân và loại hình công ty không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
5.1 Kết luận nghiên cứu
Luận văn sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết và những công trình nghiên cứu đi trước nhằm xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một. Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho Rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng là số ngày khách hàng chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng, các biến độc lập được sử dụng đó là trình độ học vấn, nghề nghiệp, chức vụ công tác, hình thức đảm bảo, hạn mức tín dụng thẻ, dư nợ tại ngân hàng khác, hệ số thanh toán thẻ, hệ số ứng tiền mặt, độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, hình thức sở hữu nhà ở, thu nhập bình quân và loại hình công ty. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập ngẫu nhiên từ 196 thẻ tín dụng được phát hành mới và có phát sinh giao dịch trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/12/2024 tại BIDV Thủ Dầu Một.
Các mục tiêu cụ thể đã được luận văn hoàn thành về mặt cơ bản, trong đó với mục tiêu xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một thì kết quả cho thấy trình độ học vấn, nghề nghiệp, chức vụ công tác, hình thức đảm bảo ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Nhưng hạn mức tín dụng thẻ, dư nợ tại các ngân hàng khác, hệ số thanh toán thẻ, hệ số ứng tiền mặt lại ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Ngoài ra, các biến gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng kết hôn, hình thức sở hữu nhà ở, thu nhập bình quân và loại hình công ty không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng. Tương ứng với độ lớn của các hệ số hồi quy thì mức độ ảnh hưởng từ cao xuống thấp đó là dư nợ tại ngân hàng khác BLOAN (p = 0.042), hệ số thanh toán thẻ BALincome (p = 0.035), chức vụ công tác OLEVEL (p = 0.029), hình thức bảo đảm GUARTY (p = 0.026), hạn mức tín dụng thẻ LIMIT (p = 0.024), tình trạng học vấn EDU (p = 0.021), hệ số ứng tiền mặt CASHBal (p = 0.011) và nghề nghiệp OCCUP (p = 0.003).
Vì vậy, dựa trên các kết quả nghiên cứu tương ứng thì luận văn sẽ tiến hành đề xuất các hàm ý chính sách khả thi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thủ Dầu Một nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng trong tương lai tại phần dưới đây.
5.2 Đề xuất hàm ý chính sách Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đã xác định được các nhân tố có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một bao gồm: trình độ học vấn (EDU), hạn mức tín dụng thẻ (LIMIT), nghề nghiệp (OCCUP), chức vụ công tác (OLEVEL), hình thức bảo đảm (GUARTY), dư nợ tại ngân hàng khác (BLOAN), hệ số thanh toán thẻ (BALincome) và hệ số ứng tiền mặt (CASHBal). Các nhân tố này có thể được chia làm ba nhóm sau:
- Nhóm nhân tố về nhân thân của chủ thẻ: trình độ học vấn, nghề nghiệp, chức vụ công tác.
- Nhóm nhân tố về năng lực thanh toán của chủ thẻ: hạn mức tín dụng thẻ, hình thức bảo đảm, dư nợ tại ngân hàng khác.
- Nhóm nhân tố về lịch sử giao dịch của thẻ: hệ số thanh toán thẻ, hệ số ứng tiền mặt.
Dựa trên cơ sở phân chia nhóm này, phần tiếp theo của nghiên cứu tác giả sẽ trình bày các nhóm giải pháp tương ứng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một trong tương lai.
5.2.1 Giải pháp từ nhóm nhân tố về nhân thân của chủ thẻ
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các nhân tố về nhân thân của chủ thẻ bao gồm trình độ học vấn (hệ số p = 0.021, giá trị trung bình là 48.47%), nghề nghiệp (hệ số p = 0.003, giá trị trung bình là 46.43%), chức vụ công tác (hệ số p = 0.029, giá trị trung bình là 34.18%), điều này cho thấy phần lớn các chủ thẻ có trình độ học vấn từ đại học trở lên, nghề nghiệp ổn định và giữ chức vụ cao tại chi nhánh chiếm tỷ trọng chưa cao và chức vụ công tác có hệ số p-value khá cao cũng chính là nhân tố có tác động lớn đến nguy cơ chậm thanh toán dư nợ thẻ tín dụng. Do đó, BIDV Thủ Dầu Một nên tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ dựa trên các thông tin được thu thập từ chủ thẻ như trình độ học vấn, nghề nghiệp và chức vụ công tác ngay từ khâu xét duyệt hồ sơ nhằm đánh giá chính xác khả năng cũng như uy tín của khách hàng trong việc thanh toán nợ thẻ tín dụng. Bên cạnh đó, chi nhánh cũng cần đẩy mạnh chào bán và ưu tiên trong việc xét duyệt hồ sơ phát hành thẻ tín dụng đối với nhóm đối tượng khách hàng là nhân viên văn phòng, những người có trình độ học vấn và giữ chức vụ cao trong công việc cũng như khả năng tiếp cận nhanh công nghệ mới, vừa giúp gia tăng số lượng phát hành và doanh số sử dụng thẻ tín dụng, vừa kiểm soát tốt tỷ lệ rủi ro tín dụng thẻ ở mức thấp. Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Ngoài ra, BIDV Thủ Dầu Một cần quan tâm hơn trong việc đào tạo và hướng dẫn cán bộ tín dụng trong việc nhận diện cũng như đánh giá những nhân tố tiềm ẩn rủi ro về nhân thân của chủ thẻ khi đánh giá hồ sơ. Bên cạnh đó, việc tăng cường thẩm định và xét duyệt hồ sơ phát hành thẻ tín dụng đối với nhóm khách hàng tự doanh, lao động tự do hoặc không chứng minh được thu nhập ổn định cũng là giải pháp nhằm hạn chế rủi ro thanh toán dư nợ thẻ tín dụng.
5.2.2 Giải pháp từ nhóm nhân tố về năng lực thanh toán của chủ thẻ
Thông qua kết quả của nghiên cứu, nhóm các nhân tố về năng lực thanh toán của chủ thẻ bao gồm hạn mức tín dụng thẻ (hệ số p = 0.024, giá trị trung bình là 68.37 triệu đồng), hình thức bảo đảm (hệ số p = 0.026, giá trị trung bình là 58.16%), dư nợ tại ngân hàng khác (hệ số p = 0.042, giá trị trung bình là 44.38%) cho thấy rằng những chủ thẻ có hạn mức tín dụng thẻ cao, có dư nợ vay tại ngân hàng khác hoặc thẻ được bảo đảm bằng tài sản là nhóm đối tượng chiếm tỷ trong cao và có tác động lớn nhất đến Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tại chi nhánh.
Trong thời gian tới, BIDV Thủ Dầu Một cần rà soát và đánh giá kỹ lưỡng việc cấp hạn mức cho chủ thẻ, đảm bảo mức cấp phù hợp với khả năng chi tiêu cũng như năng lực trả nợ thực tế của chủ thẻ. Việc xác định hạn mức thẻ không chỉ dựa trên đề nghị và nhu cầu của khách hàng mà còn căn cứ trên các yếu tố khác như thu nhập bình quân, lịch sử tín dụng, khả năng trả nợ cũng như dư nợ vay hiện có tại các tổ chức tín dụng khác để tránh trường hợp chi nhánh cấp hạn mức thẻ vượt quá khả năng chi trả của khách hàng, đặc biệt đối với những khách hàng lần đầu giao dịch với BIDV Thủ Dầu Một. Giải pháp này giúp kiểm soát và hạn chế tối đa rủi ro tín dụng có thể xảy ra trong trường hợp chủ thẻ không còn khả năng thanh toán dư nợ thẻ khi đến hạn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, đa số các chủ thẻ được đảm bảo tài sản có nguy cơ chậm thanh toán thẻ cao hơn các chủ thẻ được cấp tín chấp. Do đó, BIDV Thủ Dầu Một cần thận trọng hơn trong việc xét duyệt cấp thẻ đối với nhóm khách hàng có tài sản bảo đảm, và việc sở hữu tài sản thế chấp không nên là yếu tố duy nhất để đánh giá mức độ an toàn tín dụng. Do đó, chi nhánh cần xem xét và đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố khác như thu nhập thực tế, dư nợ tại các ngân hàng khác cũng như lịch sử tín dụng và mức độ uy tín của khách hàng nhằm giảm thiểu nguy cơ chậm thanh toán thẻ.
5.2.3 Giải pháp từ nhóm nhân tố về lịch sử giao dịch của chủ thẻ Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố về lịch sử giao dịch thẻ tín dụng bao gồm hệ số thanh toán thẻ BALincome (hệ số p = 0.035, giá trị trung bình 67.24%), hệ số ứng tiền mặt CASHBal (p = 0.011, giá trị trung bình là 14.26%) có tác động đến nguy cơ chậm thanh toán nợ thẻ tín dụng. Điều này cho thấy rằng, các chủ thẻ hệ số thanh toán thẻ càng cao hay chủ thẻ có tỷ lệ dư nợ thẻ trên thu nhập càng cao thì nguy cơ chậm thanh toán dư nợ càng lớn. Ngoài ra, hệ số ứng tiền mặt cũng cho thấy các chủ thẻ tại chi nhánh ít thói quen dùng thẻ tín dụng để rút tiền mặt, mặc dù hệ số p-value thể hiện mức độ tác động thấp nhất so với các nhân tố còn lại nhưng đây cũng là nhân tố đáng để BIDV Thủ Dầu Một quan tâm trong việc kiểm soát và quản trị rủi ro thẻ tín dụng trong thời gian sắp tới.
Cụ thể, chi nhánh cần đẩy mạnh công tác giám sát lịch sử thanh toán của chủ thẻ thông qua việc triển khai hệ thống cảnh báo sớm và nhắc nhở kịp thời. Hệ thống này được xây dựng dựa trên các chỉ số như hệ số thanh toán thẻ, hệ số ứng tiền mặt và thời gian chậm thanh toán dư nợ của chủ thẻ. Qua đó, đội ngũ cán bộ quản lý khách hàng có thể nhanh chóng phát hiện các dấu hiệu bất thường, đưa ra cảnh báo và triển khai kịp thời có biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn sớm các hành vi tiềm ẩn rủi ro tín dụng có thể xảy ra đối như chậm thanh toán thẻ, chi tiêu vượt hạn mức cho phép hoặc lợi dụng tính năng ứng tiền mặt của thẻ một cách liên tục.
5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo
5.3.1 Hạn chế của luận văn
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV Thủ Dầu Một trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2024, vì vậy không thể tránh khỏi những sai sót trong lúc thu thập dữ liệu nghiên cứu và có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Một hạn chế của đề tài là cỡ mẫu nghiên cứu còn tương đối nhỏ, dẫn đến tính phổ quát chưa cao cũng như chưa phản ánh được đầy đủ tính chất của chủ thẻ tín dụng tại BIDV Thủ Dầu Một.
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo
Bên cạnh những nhân tố đã đề cập trong mô hình nghiên cứu đề xuất, thì vẫn còn những nhân tố tiềm ẩn khác chưa được đề cập trong phạm vi nghiên cứu này. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai có thể mở rộng và phát triển theo hướng này nhằm phát hiện và phân tích thêm các nhân tố khác có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Hoặc có thể mở rộng giai đoạn hoặc phạm vi nghiên cứu cũng như cỡ mẫu lớn hơn để thu được kết quả nghiên cứu chi tiết hơn.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 Luận văn: KQNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV.
Chương 5 tóm tắt các kết quả của luận văn liên quan đến các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra trong chương 1. Đồng thời, đề xuất các hàm ý chính sách có thể thực hiện giúp BIDV Thủ Dầu Một hạn chế rủi ro tín dụng của sản phẩm thẻ tín dụng trong tương lai. Chương 5 cũng đề cập đến các hạn chế và mục tiêu nghiên cứu tiếp theo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nhân tố rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV

Pingback: Luận văn: PPNC rủi ro tín dụng sản phẩm thẻ tín dụng tại BIDV