Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1 Giới thiệu về Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam)

Standard Chartered là một tập đoàn tài chính quốc tế có trụ sở chính tại Vương quốc Anh, hiện diện tại 53 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với mục tiêu thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư và tăng cường sự thịnh vượng chung, tập đoàn này nhấn mạnh giá trị cốt lõi thông qua cam kết thương hiệu “Here for good”.

Tại Việt Nam, quá trình hiện diện của Standard Chartered bắt đầu từ năm 1904 với việc thành lập chi nhánh đầu tiên tại Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Đến ngày 1 tháng 8 năm 2009, Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) – đơn vị sở hữu 100% vốn nước ngoài – chính thức đi vào hoạt động, đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển của ngân hàng tại thị trường Việt Nam.

Với lợi thế chuyên môn và kinh nghiệm tích lũy từ nhiều thị trường trọng điểm ở châu Á, châu Phi và Trung Đông, Standard Chartered đóng góp vào sự phát triển của ngành tài chính – ngân hàng Việt Nam, đồng thời cung cấp dịch vụ toàn diện cho nhiều đối tượng khách hàng, bao gồm doanh nghiệp, định chế tài chính, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như khách hàng cá nhân. Ngoài ra, ngân hàng còn thể hiện trách nhiệm xã hội thông qua các chương trình hỗ trợ cộng đồng, tập trung vào lĩnh vực y tế, giáo dục tài chính và phát triển thanh thiếu niên.

4.2 Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Mọi hoạt động của Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) luôn cần tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, thông lệ quốc tế, các chính sách của Tập đoàn về Phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố; và phòng chống tài trợ, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; bảo vệ ngân hàng khỏi rủi ro pháp lý, rủi ro tuân thủ và rủi ro danh tiếng ở thị trường trong nước và quốc tế. Toàn bộ nhân viên trong hệ thống SCBVL luôn phải hiểu rõ yêu cầu, nghĩa vụ, cũng như chủ động trong các hoạt động PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL.

Hoạt động PCRT tại SCBVL bao gồm các nghiệp vụ chính:

  • Nhận biết khách hàng
  • Giám sát khách hàng và giao dịch của khách hàng
  • Hỗ trợ điều tra và thực hiện yêu cầu trong các công văn của cơ quan quản lý
  • Báo cáo giao dịch đáng ngờ

Báo cáo các giao dịch tiền mặt giá trị lớn và giao dịch chuyển tiền điện tử Ngoài ra, nhằm quản trị và giảm thiếu rủi ro về PCRT, SCBVL còn có các quy định liên quan đến:

  • Quản trị và Đánh giá rủi ro
  • Kiểm soát và kiểm toán nội bộ
  • Đào tạo về PCRT
  • Lưu trữ và bảo quản tài liệu
  • Các quy định về tiết lộ thông tin và vi phạm
  • Rà soát quy định

4.2.1 Nhận biết khách hàng (CDD) Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Quy trình nhận biết khách hàng được áp dụng cho tất cả khách hàng, được thực hiện tập trung tại hội sở cũng như đối với các khách hàng có tài khoản hoặc giao tại các chi nhánh trong hệ thống. Để nhận diện khách hàng, nhân viên SCBVL cần hoàn thành các yêu cầu về nhận biết khách hàng, bao gồm:

  • Thu thập thông tin cơ bản về nhận biết khách hàng;
  • Xác định chủ sở hữu hưởng lợi là cá nhân đối với khách hàng doanh nghiệp, tổ chức;
  • Rà soát các tên của toàn bộ các khách hàng và các bên liên quan;

Ngoài quy trình nhận biết khách hàng tại thời điểm bắt đầu thiết lập mối quan hệ với khách hàng, SCBVL luôn giám sát và rà soát thông tin khách hàng định kỳ cũng như yêu cầu rà soát khởi phát nếu xảy ra các sự kiện cụ thể cần cập nhật thông tin khách hàng.

Bộ phận Nhận diện khách hàng (CDD Ops) chịu trách nhiệm chính cho công tác nhận biết khách hàng tại thời điểm bắt đầu thiết lập mối quan hệ, rà soát định kỳ cũng như rà soát khởi phát. Đối với các khách hàng không đáp ứng được các yêu cầu của quy trình nhận biết, SCBVL được yêu cầu không giao dịch hoặc thiết lập quan hệ với khách hàng cho đến khi quy trình nhận biết hoàn tất.

4.2.2 Giám sát khách hàng và giao dịch của khách hàng

Hoạt động giám sát và rà soát giao dịch của khách hàng được thực hiện bởi bộ phận Tuân thủ tội phạm tài chính bao gồm các hoạt động chính: Giám sát giao dịch; Giám sát đối với giao dịch Tài trợ thương mại; Rà soát tên; Rà soát giao dịch.

Hoạt động giám sát giao dịch: bao gồm việc giám sát các giao dịch của khách hàng nhằm mục đích PCRT/TTKB, điều tra các cảnh báo, rà soát thông tin CDD, báo cáo lên các cơ quan quản lý có thẩm quyền, … Một số giao dịch đặc biệt bị giám sát có thể kể đến là giao dịch có giá trị lớn bất thường; giao dịch không phù hợp với quy mô, loại hình và lĩnh vực hoạt động của khách hàng; giao dịch với các tổ chức, cá nhân tại các quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do FATF công bố hoặc Danh sách cảnh báo. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Giám sát đối với giao dịch Tài trợ thương mại: các cảnh báo liên quan đến loại giao dịch này được phân loại là “gian lận thương mại” (Trade Fraud) hoặc “rửa tiền trong hoạt động thương mại” (Trade AML). Hai loại cảnh báo này đều xuất phát từ cùng một quy trình giám sát giao dịch nhưng sẽ được khởi tạo từ các dấu hiện đáng ngờ khác nhau.

Rà soát tên: là quy trình được áp dụng cho tất cả khách hàng và bên liên quan. Khi tên khách hàng hoặc bên liên quan có trùng khớp với tên đối tượng là PEP, đối tượng nêu trong các thông tin bất lợi có liên quan đến tội phạm tài chính hoặc liên quan đến một quốc gia/cá nhân bị cấm vận; thông tin cần được báo cáo lên các cấp có thẩm quyền để xem xét và quyết định các biện pháp giảm thiểu rủi ro nếu cần thiết.

Rà soát giao dịch: được thực hiện khi có cảnh báo từ hệ thống và trong trường hợp phát hiện trùng khớp hoặc có dấu hiệu nghi ngờ sẽ cần báo cáo lên các cấp bộ phận liên quan để được tư vấn từ góc độ rủi ro tội phạm tài chính và đưa qua quyết định chấp thuận hay từ chối giao dịch đó.

4.2.3 Hỗ trợ điều tra và thực hiện yêu cầu trong các công văn của cơ quan quản lý

Cơ quan quản lý có thẩm quyền có thể đưa ra yêu cầu (thông qua đường công văn) yêu cầu SCBVL cung cấp thông tin để hỗ trợ quá trình điều tra. Công văn liên quan đến tội phạm tài chính từ các cơ quan thực thi pháp luật tại Việt Nam hoặc quốc gia/vùng lãnh thổ khác sẽ được chuyển đến bộ phận Tuân thủ tội phạm tài chính. Bộ phận Tuân thủ tội phạm tài chính sẽ phối hợp các bộ phận có liên quan để có trách nhiệm xử lý cẩn trọng để đảm bảo việc tuân thủ tất cả các yêu cầu trong công văn, đặc biệt là các yêu cầu liên quan đến bảo mật và tiết lộ thông tin nhằm tránh ảnh hưởng tới quá trình điều tra đang diễn ra. Đồng thời, các công văn đó là những dấu hiệu cảnh báo từ bên ngoài để bộ phận Tuân thủ tội phạm tài chính cân nhắc việc rà soát đối với một cá nhân hoặc tổ chức là khách hàng của ngân hàng.

4.2.4 Báo cáo giao dịch đáng ngờ

  • (i) Báo cáo nội bộ: Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Tất cả các nhân viên công tác tại SBCVL đều có trách nhiệm báo cáo các hoạt động đáng ngờ theo yêu cầu của Chính sách nội bộ và quy định pháp luật. Việc không tuân thủ yêu cầu về báo cáo có thể khiến nhân viên và/hoặc ngân hàng có thể phải chịu các cáo buộc hình sự. Thông tin cho báo cáo có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau. Trừ trường hợp quy định pháp luật yêu cầu, nhân viên Ngân hàng không được tiết lộ với khách hàng (hoặc với bất kỳ ai khác trừ khi có sự chấp thuận của người được ủy quyền cho mục đích báo cáo) rằng Ngân hàng đang điều tra về khách hàng hoặc báo cáo giao dịch đáng ngờ đã được gửi đi.

Bảng 4.1 thể hiện số lượng SARs được báo cáo nội bộ đến bộ phận Tuân thủ phụ trách về Phòng, chống Rửa tiền tại SCBVL và số lượng SARs được kết luận là có hành vi đáng ngờ. Ta có thể thấy, số lượng SARs được báo cáo nội bộ có xu hướng tăng, đặc biệt vào năm 2020, số lượng SARs tăng gần gấp đôi so với số lượng SARs được báo cáo trong năm 2019.

  • Bảng 4.1 Số lượng SARs được báo cáo nội bộ đến bộ phận Tuân thủ phụ trách về Phòng, chống Rửa tiền tại SCBVL giai đoạn 2018 – 2024

Ngoài ra, trong giai đoạn 2018 – 2024, tỷ lệ SARs được kết luận là có hành vi đáng ngờ tăng qua từng năm (theo hình 4.1). Năm 2018 chỉ 76.38% số SARs báo cáo được kết luận là có hành vi đáng ngờ, trong khi con số này là 98.18% ở năm 2024. Tỷ lệ này phần nào cho thấy khả năng nhận diện các hành vi đáng ngờ liên quan đến PCRT/TTKB của nhân viên SCBVL đã được nâng cao qua từng năm.

Hình 4.1 Tỷ lệ SARs được kết luận là có hành vi đáng ngờ

  • (ii) Báo cáo cho cơ quan quản lý có thẩm quyền:

Sau khi tiến hành rà soát các báo cáo nội bộ và căn cứ trên nguyên tắc quản lý rủi ro, bộ phận Tuân thủ phụ trách công tác phòng, chống rửa tiền (hoặc cá nhân được ủy quyền) sẽ xác định và triển khai các biện pháp giảm thiểu rủi ro cần thiết, phù hợp với các quy định nội bộ của Tập đoàn cũng như các quy định pháp luật hiện hành.

Trường hợp sau quá trình điều tra, bộ phận Tuân thủ đánh giá rằng hoạt động có dấu hiệu đáng ngờ, hoặc có căn cứ hợp lý để nhận định hoặc nghi ngờ rằng đã xảy ra hành vi liên quan đến tội phạm tài chính, thì hoạt động này phải được báo cáo đến các cơ quan quản lý có thẩm quyền theo thời hạn do pháp luật hoặc quy định nội bộ yêu cầu — tùy theo thời hạn nào ngắn hơn sẽ được áp dụng. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Đặc biệt, nếu phát hiện một giao dịch đáng ngờ do khách hàng yêu cầu thực hiện có dấu hiệu liên quan đến hành vi tội phạm, bộ phận Tuân thủ có trách nhiệm báo cáo kịp thời đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Ngân hàng Nhà nước trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện. Báo cáo phải bao gồm đầy đủ các thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý và bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan.

Ngược lại, trong trường hợp sau khi điều tra, bộ phận Tuân thủ kết luận rằng hoạt động không có dấu hiệu đáng ngờ, cần phải ghi nhận rõ ràng lý do của kết luận này trong hệ thống quản lý nội bộ của Ngân hàng, bất kể cảnh báo ban đầu được phát sinh từ hệ thống giám sát tự động hay từ các nguồn báo cáo khác.

  • (ii) Báo cáo SAR về thuế:

Khi nhân viên Ngân hàng biết hoặc có cơ sở hợp lý để nghi ngờ rằng một khách hàng có hoặc có ý định che dấu chủ sở hữu hưởng lợi của tài sản, nguồn tiền hoặc thu nhập có được từ cơ quan quản lý tài chính, hoặc cơ cấu hay lợi dụng các sản phẩm, dịch vụ nhằm trá hình hoặc che giấu nguồn thu nhập hoặc tạo ra các chi phí có chủ đích để trốn tránh các nghĩa vụ thuế, thì cần coi đây là một dấu hiệu của tội phạm thuế tiềm tàng, và hành vi tiềm tàng đó phải được báo cáo, điều tra và lập báo cáo SAR nếu phù hợp.

4.2.5 Báo cáo các giao dịch tiền mặt giá trị lớn và giao dịch chuyển tiền điện tử

Theo hướng dẫn của NHNN tại Quyết định 11/2023/QD-TTg ngày 27 tháng 4 năm 2023, Thông tư 09/2023/TT-NHNN ngày 28 tháng 7 năm 2023, SCBVL phải báo cáo với NHNN về các giao dịch tiền mặt giá trị lớn và các giao dịch chuyển tiền điện tử vượt quá số tiền do NHNN quy định. Phạm vi báo cáo bao gồm:

  • Giao dịch tiền mặt lớn có giá trị từ 400 triệu đồng hoặc tương dương
  • Giao dịch chuyển tiền trong nước có giá trị từ 500 triệu đồng hoặc tương đương (người chuyển tiền và người thụ hưởng đều ở Việt Nam) Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.
  • Giao dịch chuyển tiền nước ngoài có giá trị từ 000 đôla Mỹ trở lên (người chuyển tiền hoặc người thụ hưởng ở nước ngoài)

Bộ phận Nghiệp vụ chịu trách nhiệm thực hiện báo cáo và nộp lên Cục PCRT của NHNN theo biểu mẫu và thời hạn quy định.

4.2.6 Quản trị và Đánh giá rủi ro

Ngoài các hoạt động nghiệp vụ diễn ra hằng ngày liên quan đến hoạt động PCRT, SCBVL còn có Hội đồng Rủi ro Tội phạm Tài chính được ủy quyền bởi Hội đồng Quản lý Rủi ro nhằm mục đích:

  • Quản lý rủi ro tội phạm tài chính của Việt Nam nằm trong giới hạn của khẩu vị rủi ro và các hạn mức, chính sách được Tập đoàn đề ra.
  • Rà soát mức độ nghiêm trọng của các rủi ro và đưa ra các biện pháp phù hợp.
  • Can thiệp và hạn chế kinh doanh nếu mức rủi ro không phù hợp với khẩu vị rủi ro hoặc/và các Chính sách nội bộ.

Đồng thời, SCBVL cần tuân theo Quy trình Đánh giá Rủi ro Toàn cầu hằng năm của Tập đoàn nhằm xác định, đánh giá và nhận biết được rủi ro rửa tiền và TTKB liên quan đến các khách hàng của mình, quốc gia hoặc vùng lãnh thổ của khách hàng cũng như các sản phẩm, dịch vụ, giao dịch và kênh phân phối của ngân hàng. Việc đánh giá hàng năm về PCRT/TTKB sẽ được Ngân hàng thực hiện dựa trên quy định của NHNN, kết quả đánh giá rủi ro quốc gia và những hướng dẫn của Tập đoàn. Kết quả đánh giá này sẽ được nộp lên các cơ quan quản lý khác có liên quan nếu được yêu cầu.

Trên cơ sở của kết quả đánh giá hàng năm, các biện pháp điều chỉnh/tăng cường cần thiết sẽ được thực hiện nhằm quản lý rủi ro rửa tiền/TTKB và phổ biến VKHDHL, cập nhật, sửa đổi, bổ sung chính sách, quy trình quản lý rủi ro đã ban hành.

4.2.7 Kiểm soát và kiểm toán nội bộ Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

  • SCBVL áp dụng mô hình ba lớp phòng vệ để giảm thiểu rủi ro PCRT/TTKB và phổ biến VKHDHL.

Lớp phòng vệ thứ nhất – Bộ phận Kinh doanh và Hỗ trợ: Tuyến phòng vệ thứ nhất phải tuân thủ với các quy định pháp luật có liên quan để quản lý rủi ro tội phạm tài chính phát sinh từ các hoạt động của mình, cũng như thực hiện các Chính sách do Tuyến phòng vệ thứ hai đặt ra. Các cấp quản lý trong tuyến phòng vệ này cũng chịu trách nhiệm xây dựng văn hóa về rủi ro tội phạm tài chính. Mọi nhân viên ngân hàng có nghĩa vụ đảm bảo rằng rủi ro tội phạm tài chính được quản lý hiệu quả trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình.

Lớp phòng vệ thứ hai – Bộ phận Tuân thủ tội phạm tài chính: là bộ phận chịu trách nhiệm quản lý rủi ro về PCRT/TTKB và phòng chống phổ biến VKHDHL, đồng thời đưa ra các chính sách, quy định mà toàn bộ ngân hàng phải tuân thủ. Đây cũng là bộ phận có nhiệm vụ đảm bảo rằng lớp phòng vệ đầu tiên tuân thủ các quy định pháp luật về PCRT/TTKB và PCPB Đồng thời, bộ phận này cũng có nhiệm vụ thường xuyên giám sát và đảm bảo rằng khẩu vị rủi ro về tội phạm tài chính của SCBVL nằm trong giới hạn cho phép của Tập đoàn.

Lớp phòng vệ thứ ba – Kiểm toán nội bộ: tuyến phòng vệ thứ ba cần đảm bảo tính hiệu quả của chương trình tuân thủ PCRT. Căn cứ quy định pháp luật hiện hành, Kiểm toán nội bộ sẽ thực hiện kiểm toán về PCRT theo định kỳ hàng năm. Việc kiểm toán về PCRT sẽ được thực hiện độc lập hoặc kết hợp với các nội dung khác. Phạm vi kiểm toán phải tuân theo hướng dẫn của NHNN.

4.2.8 Đào tạo về PCRT

  • SCBVL thường xuyên có các chương trình đào tạo về PCRT cho cán bộ nhân viên, chia thành các mục như sau:

Đào tạo ban đầu: nhằm đảm bảo tất cả nhân viên có đầy đủ kiến thức và năng lực PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL, tất cả nhân viên, bao gồm nhân viên mới và nhân viên hiện tại, phải được tham gia các khóa học phù hợp.

Theo Chính sách PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL của Tập đoàn, tất cả nhân viên phải hoàn thành các khóa học trực tuyến (e-learning) bắt buộc của ngân hàng về PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL trong vòng ba (03) tháng làm việc đầu tiên. Khóa học này cung cấp cho nhân viên nền tảng về rửa tiền/TTKB, hướng dẫn cụ thể về các yêu cầu của cơ quản quản lý nhà nước và hậu quả của việc vi phạm các yêu cầu này. Tài liệu đào tạo phải được cập nhật và phù hợp với các yêu cầu và tiêu chuẩn hiện hành. Tất cả các hồ sơ đào tạo cần được quản lý và lưu giữ phù hợp. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Nhân viên cũng sẽ được đào tạo hàng năm về các quy định PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL của Việt Nam, Quy trình PCRT của SCBVL, trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không tuân thủ; các rủi ro PCRT và những dấu hiệu nhận biết hành vi rửa tiền (red flags) liên quan đến các sản phẩm, dịch vụ và/hoặc các nhiệm vụ được thực hiện bởi các nhân viên có liên quan.

Đào tạo nhắc lại: Sau khi hoàn thành các khóa học ban đầu, tất cả nhân viên được đào tạo nhắc lại ít nhất một năm một lần về PCRT/TTKB thông qua chương trình e-learning của Tập đoàn. Trong một vài trường hợp, nhân viên có thể được yêu cầu làm bài kiểm tra để đánh giá kiến thức hoặc hiểu biết trước khi phải bắt đầu khóa học nhắc lại. Những nhân viên đạt được điểm số đạt yêu cầu sẽ không phải học lại khóa học đó trên cơ sở họ đã thể hiện được họ có kiến thức và hiểu biết chuyên môn.

Đào tạo chuyên biệt: Bên cạnh các khóa đào tạo cơ bản, một số cán bộ, nhân viên được đào tạo chuyên sâu nhằm đáp ứng yêu cầu của công việc và giảm thiểu khả năng dễ bị ảnh hưởng bởi rủi ro rửa tiền do đặc thù công việc của nhân viên đó. Việc đào tạo chuyên biệt sẽ được nhắc lại sau hai năm.

4.2.9 Lưu trữ và bảo quản tài liệu

Việc lưu trữ các thông tin và tài liệu liên quan đến PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL phải tuân theo Chính sách PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL của Tập đoàn, Chính sách Lưu trữ và Quản lý Thông tin của Tập đoàn cũng như các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam. Theo đó, các thông tin, hồ sơ, tài liệu được lưu trữ trong thời gian tối thiểu năm (05) năm kể từ ngày kết thúc giao dịch hoặc ngày đóng tài khoản hoặc ngày báo cáo, phù hợp Luật phòng chống rửa tiền. Hồ sơ được lưu trữ ở dạng tệp tin điện tử hoặc bản in và có thể dễ dàng truy cập và sẵn có theo yêu cầu.

4.2.10 Các quy định về tiết lộ thông tin và vi phạm Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Tiết lộ thông tin (Tipping-off) là hành động đưa ra những thông tin có khả năng gây ảnh hưởng đến việc điều tra giao dịch hoặc sau khi báo cáo nội bộ hoặc báo cáo SAR được thực hiện. Nhân viên Ngân hàng không được tiết lộ thông tin về việc đã báo cáo giao dịch đáng ngờ hoặc các thông tin có liên quan đến giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Khi giao tiếp với khách hàng có hành vi thực hiện giao dịch đáng ngờ dù là trực tiếp (tại quầy giao dịch) hoặc thông qua thư điện tử, nhân viên Ngân hàng cần cẩn trọng và sử dụng những câu hỏi hợp lý tương tự như khi thực hiện biện pháp nhận biết khách hàng để có được những thông tin cần thiết phục vụ cho việc điều tra giao dịch. Các câu hỏi được đặt ra thông thường để làm rõ mục đích giao dịch đang được xem xét, mối quan hệ giữa khách hàng và các bên đối ứng trong các giao dịch đó. Trong một số trường hợp, nếu cần khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh hoặc bổ sung cho giao dịch, nhân viên ngân hàng phải thực hiện đúng theo các điều khoản và điều kiện trong hợp đồng mở tài khoản và quy định pháp luật có liên quan.

Những câu hỏi phù hợp về khách hàng, được thực hiện một cách tế nhị, liên quan đến cơ sở của giao dịch hoặc hoạt động không nhất quán với các hoạt động thông thường, được thực hiện một cách thận trọng và là một phần không thể tách rời của các biện pháp CDD, không bị coi là tiết lộ thông tin

Cần lưu ý đảm bảo tuân thủ tất cả các yêu cầu trong các Công văn nhận được từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là những yêu cầu liên quan đến bảo mật hay tiết lộ thông tin để tránh gây ảnh hưởng đến bất kỳ quá trình điều tra nào đang diễn ra. Đối với trường hợp có những trùng khớp với các tổ chức, cá nhân trong các Công văn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần thêm thông tin để xác định xem đó có phải trùng khớp đúng hay không, nhân viên ngân hàng không được tiết lộ các thông tin cá nhân của các đối tượng nằm trong các Công văn đó cho khách hàng biết.

Nhân viên Ngân hàng phát hiện hành vi vi phạm Quy định này phải báo cáo ngay lập tức đến bộ phận Tuân thủ phụ trách về Phòng, chống Rửa tiền. Không nhân viên Ngân hàng nào được phép tham gia vào các hành động nhằm mục đích né tránh Chính sách của Tập đoàn về PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL

4.2.11Rà soát quy định

Quy định về PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL sẽ được rà soát và cập nhật khi có sự thay đổi đáng kể của quy định pháp luật Việt Nam về rửa tiền & TTKB; hoặc Quy trình và Chính sách PCRT/TTKB và PCPB VKHDHL của Tập đoàn; hoặc ít nhất định kỳ hàng năm. Quy định này sẽ được nộp lên Ngân hàng Nhà nước trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được ký, ban hành sửa đổi, bổ sung đồng thời phải được phổ biến, công khai trong toàn hệ thống.

4.3 Thông tin mẫu nghiên cứu Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Tác giả thực hiện khảo sát 162 cán bộ quản lý và nhân viên thực hiện công việc có liên quan đến các giao dịch và nghiệp vụ PCRT tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) nhằm thu thập dữ liệu nghiên cứu.

Về giới tính của người được khảo sát theo Bảng 4.2, có 92 đối tượng tham gia khảo sát là Nam – chiếm 56.8% trong tổng số mẫu khảo sát; và 70 đối tượng tham gia khảo sát là Nữ – chiếm 43.2% trong tổng số 162 mẫu khảo sát.

  • Bảng 4.2 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu theo giới tính

Về độ tuổi của người được khảo sát theo Bảng 4.3, có 79 đối tượng tham gia khảo sát dưới 30 tuổi (chiếm 48.8% trong tổng số mẫu khảo sát); 59 đối tượng có độ tuổi từ 30 đến dưới 45 tuổi (chiếm 36.4% trong tổng số mẫu) và có 24 đối tượng tham gia khảo sát từ 45 tuổi trở lên (chiếm 14.8% trong tổng số 162 mẫu khảo sát).

  • Bảng 4.3 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu theo độ tuổi

Về bộ phận làm việc của người được khảo sát theo Bảng 4.4, có 77 đối tượng tham gia khảo sát thuộc Bộ phận Kinh doanh (chiếm 47.5%); 31 đối tượng tham gia khảo sát thuộc Bộ phận Nhận diện, đánh giá khách hàng (chiếm 19.1%) trong tổng số 162 mẫu khảo sát; 22 đối tượng thuộc Bộ phận Tuân thủ (chiếm 13.6%); 18 đối tượng thuộc Bộ phận Quản lý rủi ro gian lận (chiếm 11.1%); và 14 đối tượng thuộc các Bộ phận khác (chiếm 8.6%).

  • Bảng 4.4 . Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu theo bộ phận làm việc tại SCBVL

4.4 Đánh giá thang đo Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

4.4.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua phân tích Cronbach’s Alpha

Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho tất cả các thang đo dùng trong nghiên cứu cho thấy rằng: giá trị Cronbach’s Alpha tổng của các thang đo đều đạt yêu cầu của kiểm định (a > 0.6 – do đây là nghiên cứu chưa được thực hiện nhiều bằng các phương pháp định lượng, do đó đa phần các thang đo còn khá mới). Nhỏ nhất là thang đo “Hiệu quả Phòng chống rửa tiền” với hệ số a = 0.767 và lớn nhất là thang đo “Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng” với hệ số a = 0.862

Kết quả phân tích cũng cho thấy tất cả các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.3 – đạt yêu cầu để tiếp tục phân tích nhân tố khám phá EFA. Tổng hợp kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho các thang đo dùng trong nghiên cứu được trình bày trong Bảng 4.5.

  • Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả phân tích Cronbach’s Alpha

Kết quả phân tích cho thấy tất cả các thang đo đều có hệ số Alpha tổng thể và các hệ số tương quan biến tổng đạt yêu cầu, chứng tỏ các thang đo đạt độ tin cậy cần thiết, phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA.

4.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA

  • Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập

Thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập, ta có hệ số KMO = 0.846 > 0.5 và kiểm định Barlett có Sig = 0.000 (< 0.05) chứng tỏ các biến quan sát tham gia vào phân tích EFA có tương quan với nhau, phân tích nhân tố là phù hợp.

  • Bảng 4.6 Kết quả kiểm định Barlett và KMO – Biến độc lập

Kết quả phân tích phương sai trong Bảng 4.7 bên dưới thể hiện: tại giá trị Eigenvalues bằng 1.249, phân tích nhân tố khám phá rút trích ra được 5 nhân tố với tổng phương sai trích là 66.296% (>50%) cho thấy các nhân tố được trích ra giải thích được 66.296% sự biến thiên của dữ liệu. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

  • Bảng 4.7 Kết quả giải thích phương sai – Biến độc lập

Sử dụng phép xoay Varimax, ta có kết quả như Bảng 4.8:

  • Bảng 4.8 Kết quả phân tích EFA – Biến độc lập

Tác giả mong muốn chọn ra các biến quan sát chất lượng nên sử dụng ngưỡng hệ số tải là 0.5 thay vì chọn hệ số tải tương ứng theo cỡ mẫu. So sánh ngưỡng này với kết quả ở ma trận xoay, biến SS5 cần xem xét loại bỏ do Biến SS5 tải lên ở cả ba nhân tố là Nhân tố 1, Nhân tố 2 và Nhân tố 4 với hệ số tải lần lượt là 0.489; 0.465; và 0.485, tất cả đều thấp hơn ngưỡng hệ số tải 0.5.

Từ 20 biến quan sát ở lần phân tích EFA thứ nhất, loại bỏ biến SS5 và đưa 19 biến quan sát còn lại vào phân tích EFA lần thứ hai.

Thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA lần thứ hai cho biến độc lập, ta có hệ số KMO = 0.844 > 0.5 và kiểm định Barlett có Sig = 0.000 (< 0.05) cho thấy các biến quan sát tham gia vào phân tích EFA có tương quan với nhau, phân tích nhân tố là phù hợp.

  • Bảng 4.9 Kết quả kiểm định Barlett và KMO – Biến độc lập (phân tích lần thứ hai)

Bảng 4.10 thể hiện kết quả phân tích phương sai: tại giá trị Eigenvalues là 1.249, phân tích nhân tố khám phá rút trích ra được 5 nhân tố với tổng phương sai trích là 66.337% (>50%) cho thấy các nhân tố được trích ra giải thích được 66.337% sự biến thiên của dữ liệu.

  • Bảng 4.10 Kết quả giải thích phương sai – Biến độc lập (phân tích lần thứ hai)

Với phép xoay Varimax (Bảng 4.11), kết quả thang đo rút trích được 5 nhân tố và các biến quan sát trong các nhân tố được trích đều có hệ số tải nhân tố đạt yêu cầu khi phân tích nhân tố khám phá (hệ số tải > 0.5).

Nhân tố 1 “Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng” – Ký hiệu là “SS” – được hình thành từ 5 biến quan sát: SS2, SS4, SS3, SS1, SS6; Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Nhân tố 2 “Quy định pháp lý về phòng chống rửa tiền” – Ký hiệu là “PL” – được hình thành từ 4 biến quan sát: PL1, PL2, PL3, PL4;

Nhân tố 3 “Sự hiểu biết về phòng chống rửa tiền” – Ký hiệu là “HB” – được hình thành từ 4 biến quan sát: HB2, HB3, HB1, HB4;

Nhân tố 4 “Hoạt động đào tạo về phòng chống rửa tiền” – Ký hiệu là “DT” – được hình thành từ 3 biến quan sát: DT3, DT1, DT2;

Nhân tố 5 “Ứng dụng công nghệ vào hoạt động phòng chống rửa tiền” – Ký hiệu là “CN” – được hình thành từ 3 biến quan sát: CN2, CN3, CN1.

  • Bảng 4.11 Kết quả phân tích EFA – Biến độc lập (phân tích lần thứ hai)

Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc:

Thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc, ta có hệ số KMO = 0.682 > 0.5 và kiểm định Barlett có Sig = 0.000 (< 0.05) cho thấy phân tích EFA phù hợp với dữ liệu khảo sát đã thu thập.

  • Bảng 4.12 Kết quả kiểm định Barlett và KMO – Biến phụ thuộc

Tổng phương sai trích khi phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc là 68.270% cho thấy các nhân tố được trích ra giải thích được 68.270% sự biến thiên của dữ liệu.

  • Bảng 4.13 Kết quả giải thích phương sai – Biến độc lập

Với phép xoay Varimax (Bảng 4.14), kết quả thang đo rút trích được 1 nhân tố tại các giá trị Eigenvalues = 2.048. Các biến quan sát của nhân tố được trích đều đạt yêu cầu khi kiểm định EFA (có hệ số tải > 0.5).

  • Bảng 4.14 Kết quả phân tích EFA – Biến phụ thuộc

Các biến quan sát HQ2, HQ1, HQ3 cấu thành nên nhân tố “Hiệu quả phòng chống rửa tiền” – Ký hiệu là “HQ”

Sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA, ta thấy các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình đều đạt giá trị hội tụ và giá trị phân biệt có thể chấp nhận được, đủ điều kiện để tiến hành phân tích các bước tiếp theo.

4.5 Phân tích tương quan

Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với các yếu tố độc lập được thể hiện qua hệ số tương quan. Bảng 4.15 bên dưới thể hiện kết quả phân tích tương quan Pearson, ta có thể thấy các nhân tố đều có mối quan hệ với biến phụ thuộc – Hiệu quả phòng chống rửa tiền ở mức ý nghĩa 1% bao gồm các nhân tố: Hoạt động đào tạo; Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên; Quy định pháp lý; Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng; và Ứng dụng công nghệ.

Hệ số tương quan giữa các biến này với biến phụ thuộc đều ở mức khá cao (> 0.3) – cho thấy chúng có sự tương quan và các nhân tố độc lập đều phù hợp để đưa vào phân tích hồi quy.

  • Bảng 4.15 Kết quả phân tích tương quan

4.6 Phân tích hồi quy tuyến tính bội Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Sau khi tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) và phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả cho thấy biến SS5 có hệ số tải < 0.5 và bị loại ra khỏi thang đo do không có giá trị đo lường. Tác giả tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA lần thứ hai, các biến quan sát được nhóm lại vào các nhân tố rút trích ra được (các nhóm biến mới). Gía trị đại diện của mỗi nhân tố được tính bằng trung bình cộng của các biến quan sát cấu thành nhân tố đó, nhằm đảm bảo tính khái quát và độ tin cậy cho các biến sử dụng trong các phân tích tiếp theo.

Kết quả phân tích hồi quy nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố trong mô hình với biến phụ thuộc. Sau khi phân tích, nghiên cứu có phương trình hồi quy như sau: HQ = b0 + b1DT + b2HB + b3PL +b4SS + b5CN + e

Trong đó:

  • HQ: Hiệu quả hoạt động PCRT tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam)
  • DT: Hoạt động đào tạo
  • HB: Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên
  • PL: Quy định pháp lý
  • SS: Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng
  • CN: Ứng dụng công nghệ
  • e: Các yếu tố khác

4.6.1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình

Sử dụng phương pháp Enter trong phân tích hồi quy, ta thấy có mối quan hệ tuyến tính giữa biến độc lập và biến phụ thuộc – Hiệu quả hoạt động PCRT tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam). Tại Bảng 4.16, Sig kiểm định F = 0.000 < 0.05, cho thấy phân tích hồi quy là phù hợp và mô hình hồi quy có ý nghĩa.

  • Bảng 4.16 Kết quả phân tích ANOVA trong hồi quy Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Bảng 4.17 cho thấy mức độ phù hợp của mô hình đạt 67.8% sau khi phân tích hồi quy, nghĩa là các biến độc lập giải thích được 67.8% sự biến thiên trong dữ liệu của biến phụ thuộc.

  • Bảng 4.17 Bảng tóm tắt mô hình hồi quy

4.6.2 Dò tìm các quy phạm giả định cần thiết

Mô hình hồi quy tuyến tính bội được xây dựng dựa trên các giải thuyết sau:

  • Giả định về phân phối chuẩn phần dư
  • Giả định về phương sai của sai số không đổi
  • Các biến độc lập không có tương quan với nhau hay không có hiện tượng đa cộng tuyến
  • Giả định về liên hệ tuyến tính

Kết quả ước lượng sẽ không còn chính xác nếu các giả thuyết nêu trên bị vi phạm. Tác giả tiến hành các dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính nhằm đảm bảo độ tin cậy của mô hình. Kiểm tra sự vi phạm giả thuyết được thực hiện như sau:

  • (i) Giả định về phân phối chuẩn phần dư

Tác giả sử dụng các biểu đồ tần số Histogram để kiểm tra giả định về phân phối chuẩn phần dư. Dựa vào hình 4.2 ta thấy giá trị trung bình Mean = -1.39E-15 (gần bằng 0) và độ lệch chuẩn Std. Dev. = 0.984 (gần bằng 1). Như vậy, có thể kết luận phân phối phần dư là xấp xỉ chuẩn, không vi phạm giả định về phân phối chuẩn phần dư.

Hình 4.2 Biểu đồ Histogram

  • (ii) Giả định phương sai sai số không đổi

Phương sai của phần dư được đánh giá thông qua biểu đồ phần dư chuẩn hóa so với giá trị dự báo của biến phụ thuộc. Quan sát Hình 4.3 cho thấy các điểm dữ liệu phân bố tập trung xung quanh đường chéo, không xuất hiện các xu hướng rõ rệt hay sai lệch đáng kể khỏi đường này. Từ đó có thể kết luận phần dư xấp xỉ chuẩn.

Hình 4.3 Biểu đồ Normal P-P Plot

  • (iii) Giả định không có hiện tượng đa cộng tuyến

Bảng 4.18 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Dựa trên kết quả phân tích trình bày tại Bảng 4.18, có thể nhận thấy rằng độ chấp nhận biến (Tolerance) của các biến độc lập trong mô hình đều ở mức khá cao, đồng thời hệ số phóng đại phương sai (VIF) của các biến đều nhỏ hơn 10 – ngưỡng được Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) đề xuất để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến. Do đó, có thể kết luận rằng mô hình hồi quy đa biến không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến, tức là các biến độc lập trong mô hình không có mối tương quan tuyến tính cao với nhau, đảm bảo tính ổn định và độ tin cậy của ước lượng hồi quy.

  • (iv) Giả định liên hệ tuyến tính

Phương pháp được sử dụng là biểu đồ phân tán Scatter với phần dư chuẩn hóa trên trục tung và giá trị dự đoán chuẩn hóa trên trục hoành như Hình 4.3. Kết quả cho thấy các điểm dữ liệu phân bố ngẫu nhiên trong một vùng đi qua gốc tọa độ và không tạo thành một hình dạng đặc biệt nào. Do đó, giả định liên hệ tuyến tính không bị vi phạm và mô hình hồi quy là phù hợp.

  • Hình 4.4 Biểu đồ Scatter

Tóm lại, mô hình hồi quy được xây dựng không vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính thông qua kết quả kiểm tra được nêu trên. Điều này cũng đồng nghĩa các kết quả phân tích hồi quy đạt được độ tin cậy cần thiết.

4.6.3 Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Bảng 4.19 thể hiện kết quả ước lượng hệ số hồi quy, kết quả cho thấy cả 5 biến độc lập được phân tích đều có ảnh hưởng tuyến tính đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL (Sig. của kiểm định t đều < 0.05). Các biến độc lập bao gồm: (1) Hoạt động đào tạo – DT; (2) Sự hiểu biết về PCRT – HB; (3) Quy định pháp lý – PL; (4) Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng – SS; (5) Ứng dụng công nghệ – CN. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

  • Bảng 4.19 Bảng ước lượng hệ số hồi quy

Hệ số Beta chuẩn hóa của 5 biến ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL lần lượt bằng 0.358; 0.210; 0.340; 0.166; 0.142, hệ số trên cho thấy rằng các biến này có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Từ kết quả phân tích trên, ta có phương trình hồi quy tuyến tính chuẩn hóa như sau: HQ = 0.358DT + 0.210HB + 0.340PL +0.166SS + 0.142CN

Trong đó:

  • HQ: Hiệu quả hoạt động PCRT tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam)
  • DT: Hoạt động đào tạo
  • HB: Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên
  • PL: Quy định pháp lý
  • SS: Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng
  • CN: Ứng dụng công nghệ

4.7 Kết luận các giả thuyết nghiên cứu

Sau phân tích hồi quy và kiểm tra sự phù hợp của mô hình hồi quy, các giả thuyết nghiên cứu được nhận xét tóm gọn trong bảng 4.19 bên dưới.

  • Bảng 4.20 Kết luận các giả thuyết

4.8 Thảo luận kết quả phân tích hồi quy

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy cả 5 nhân tố Hoạt động đào tạo, Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên, Quy định pháp lý, Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng và Ứng dụng công nghệ đều có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Trong đó, nhân tố tác động mạnh nhất là Hoạt động đào tạo với β = 0.358. Tiếp đến là nhân tố Quy định pháp lý với β = 0.322. Tác động mạnh thứ ba là nhân tố Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên với β = 0.199. Nhân tố Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng với β = 0.158 tác động mạnh thứ tư. Nhân tố Ứng dụng công nghệ với β = 0.140 cho thấy sự tác động yếu nhất đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Đối với nhân tố Hoạt động đào tạo: khi nhân tố này thay đổi 1 độ lệch chuẩn và các nhân tố khác không đổi thì hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL sẽ thay đổi cùng chiều 0.358 độ lệch chuẩn. Theo đó, mối quan tâm của nhân viên và cán bộ quản lý tại SCBVL liên quan đến việc được cập nhật kịp thời các văn bản hướng dẫn liên quan đến PCRT; tham gia các khóa huấn luyện của ngân hàng về PCRT và đào tạo về PCRT khi bắt đầu công việc tại ngân hàng.

Đối với nhân tố Quy định pháp lý: khi nhân tố này thay đổi 1 độ lệch chuẩn và các nhân tố khác không đổi thì hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL sẽ thay đổi cùng chiều 0.322 độ lệch chuẩn. Theo đó, nhân viên và cấp quản lý tại SCBVL quan tâm đến việc ngân hàng có đầy đủ các quy định và quy trình về PCRT cũng như cách thức để xác định rủi ro liên quan đến những giao dịch qua internet banking hoặc giao dịch thông qua bên thứ 3

Đối với nhân tố Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên: khi nhân tố này thay đổi 1 độ lệch chuẩn và các nhân tố khác không đổi thì hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL sẽ thay đổi cùng chiều 0.199 độ lệch chuẩn. Theo đó, việc nắm rõ các phương thức, thủ đoạn rửa tiền cũng như khả năng nhận biết, đánh giá và xử lý thông tin liên quan đến hoạt động rửa tiền được các cán bộ nhân viên và cấp quản lý đặc biệt quan tâm.

Đối với nhân tố Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng: khi nhân tố này thay đổi 1 độ lệch chuẩn và các nhân tố khác không đổi thì hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL sẽ thay đổi cùng chiều 0.158 độ lệch chuẩn. Theo đó, cán bộ nhân viên và cấp quản lý có liên quan đến hoạt động PCRT của SCBVL quan tâm đến việc các quy định về PCRT được tuân thủ đầy đủ và được cập nhật liên tục. Ngoài ra, khi phát hiện các dấu hiệu cảnh báo hành vi rửa tiền, những hành vi này được báo cáo cho bộ phận có thẩm quyền một cách kịp thời. Đồng thời, các cá nhân, đơn vị trong toàn hệ thống ngân hàng dù trực tiếp hay gián tiếp tham gia giao dịch với khách hàng đều tham gia vào quá trình PCRT Đối với nhân tố Ứng dụng công nghệ: khi nhân tố này thay đổi 1 độ lệch chuẩn và các nhân tố khác không đổi thì hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL sẽ thay đổi cùng chiều 0.140 độ lệch chuẩn. Theo đó, cán bộ quản lý và nhân viên có các giao dịch và nghiệp vụ liên quan đến hoạt động PCRT tại SCBVL quan tâm đến các công cụ, giải pháp công nghệ và hệ thống hỗ trợ cho hoạt động PCRT.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 4 Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Chương 4 đã tiến hành phân tích dữ liệu thu thập từ 162 cán bộ quản lý và nhân viên có các giao dịch và nghiệp vụ liên quan đến hoạt động PCRT tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam). Sau khi thống kê mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu, các kiểm định được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua phân tích Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA; phân tích tương quan; và phân tích hồi quy để đưa ra mô hình hồi quy đồng thời kiểm định mô hình lý thuyết. Sau khi phân tích hồi quy, kết quả cho thấy 5 nhân tố Hoạt động đào tạo; Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên; Quy định pháp lý; Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng; Ứng dụng công nghệ đều có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Trong đó, Hoạt động đào tạo là nhân tố tác động mạnh nhất và nhân tố tác động yếu nhất là Ứng dụng công nghệ. Kết quả này là cơ sở khoa học giúp tác giả đưa ra hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PCRT trong thời gian tới tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam).

CHƯƠNG 5  KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1 Kết luận

Kết quả nghiên cứu định lượng dựa trên khảo sát các cán bộ nhân viên, quản lý tại SCBVL cho thấy tác động cùng chiều từ 5 nhân tố được nghiên cứu đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Trong đó, yếu tố Hoạt động đào tạo và Quy định pháp lý có ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Kết quả cụ thể cho từng nhân tố như sau:

Nhân tố Hoạt động đào tạo (β = 0.358) có tác động mạnh nhất đến hoạt động PCRT tại SCBVL. Kết quả phân tích cho thấy cán bộ nhân viên được cập nhật kịp thời các văn bản hướng dẫn liên quan đến PCRT; được tham gia các khóa huấn luyện của ngân hàng về PCRT và được đào tạo về PCRT khi bắt đầu công việc tại ngân hàng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL.

Nhân tố Quy định pháp lý (β = 0.322) có tác động mạnh thứ nhì đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Kết quả khảo sát cho thấy SCBVL có đầy đủ văn bản pháp lý quy định riêng cho công tác PCRT cũng như quy trình lưu trữ hồ sơ, quy trình phát hiện và báo cáo các giao dịch đáng ngờ. Ngân hàng cũng có những cách thức để xác định rủi ro liên quan đến những giao dịch qua internet banking hoặc giao dịch thông qua bên thứ 3 (khách hàng không giao dịch trực tiếp mà người đại diện của họ sẽ giao dịch với ngân hàng). Hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL sẽ được nâng cao nhờ việc đưa ra các quy trình và văn bản đầy đủ, rõ ràng. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Nhân tố Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên (β = 0.199) tác động mạnh thứ ba đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL theo kết quả khảo sát. Cán bộ nhân viên cần nắm rõ phương thức và thủ đoạn rửa tiền cũng như các quy định về PCRT đồng thời cần có khả năng nhận biết thông tin khách hàng trước khi thực hiện giao dịch. Ngoài ra, cán bộ nhân viên có khả năng đánh giá và phát hiện các dấu hiệu đáng ngờ cũng như đủ kỹ năng xử lý các thông tin liên quan khi có nghi ngờ về rửa tiền. Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên là điều kiện quan trọng nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu rửa tiền, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động PCRT tại ngân hàng.

Nhân tố Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng (β = 0.158) là có tác động mạnh thứ tư đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Các quy định về PCRT cần được tuân thủ nghiêm ngặt cũng như báo cho các cấp có thẩm quyền nếu có dấu hiệu đáng ngờ. Quá trình PCRT lỏng lẻo có thể dẫn đến các khoản tiền “bẩn” thâm nhập thành công vào nền kinh tế. Khi ngân hàng bị nghi ngờ có dấu hiệu rửa tiền sẽ ảnh hưởng lớn đến danh tiếng, khiến cho các khách hàng cũng như đối tác e dè hơn trong việc lựa chọn ngân hàng. Đồng thời, ngân hàng có nguy cơ đối mặt với các khoản phạt cũng như lệnh trừng phạt nếu việc để “lọt lưới” các khoản tiền bẩn được cơ quan điều tra xác định là sự thật. Do đó, nhận thức của cán bộ nhân viên lẫn ban lãnh đạo ngân hàng rất quan trọng trong việc ngăn ngừa hoạt động rửa tiền tại ngân hàng.

Nhân tố Ứng dụng công nghệ (β = 0. 140) có tác động yếu nhất đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL. Cán bộ nhân viên cũng như quản lý quan tâm đến các công cụ và giải pháp công nghệ nhằm phục vụ việc phân tích số liệu cho công tác PCRT cũng như các hệ thống phân tích số liệu, hệ thống hỗ trợ báo cáo giao dịch đáng ngờ. Hệ thống và công cụ hỗ trợ cần được nâng cấp thường xuyên nhằm giảm thời gian xử lý các giao dịch, tăng hiệu quả PCRT cũng như độ hài lòng của khách hàng.

5.2 Hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam)

5.2.1 Về Hoạt động đào tạo

Đối với cán bộ nhân viên, cần tham gia đầy đủ các khóa đào tạo ban đầu về PCRT khi mới tham gia ngân hàng cũng như các khóa đào tạo nhắc lại hằng năm. Ngoài ra, nếu chưa nắm vững kiến thức về PCRT, cán bộ nhân viên nên chủ động đăng ký các khóa học trực tuyến (e-learning) nhằm củng cố lại kiến thức. Không nên bị động và có suy nghĩ chỉ học khi được ngân hàng yêu cầu tham gia khóa đào tạo nhắc lại. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Đối với cấp quản lý, kiến thức và kỹ năng về PCRT cần được trang bị và nâng cấp thường xuyên để có thể hỗ trợ, tư vấn cho nhân viên khi cần. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để nhân viên có thể tham gia các khóa đào tạo, cũng như bám sát tình hình của nhân viên và tổ chức các buổi đào tạo riêng cho bộ phận của mình nếu cần thiết.

Đối với ngân hàng, SCBVL cần tăng cường công tác đào tạo nhằm củng cố cũng như nâng cao nhận thức về PCRT cho cán bộ nhân viên. Hiện tại, cán bộ nhân viên được tham gia Đào tạo ban đầu; Đào tạo nhắc lại và Đào tạo chuyên biệt. Tuy vậy vẫn còn những điểm cần cải thiện trong các chương trình đào tạo – một trong số đó là nên có sự cập nhật nội dung thường xuyên hơn. Đối với các văn bản pháp lý, quy định nội bộ về PCRT, ngân hàng có sự cập nhật kịp thời thông qua email cũng như các kênh thông báo nội bộ. Tuy nhiên, phần kiến thức đào tạo trên hệ thống e-learning đôi lúc chưa được cập nhật kịp thời, dễ dẫn đến hiểu nhầm hoặc khiến nhân viên cảm thấy bối rối khi áp dụng các kiến thức trong bài e-learning vào thực tế.

5.2.2 Về Quy định pháp lý

Đối với cán bộ nhân viên, cần nắm vững các quy định pháp lý, quy trình nội bộ về PCRT của ngân hàng; cũng như luôn tuân thủ đầy đủ quy trình khi thực hiện nghiệp vụ với khách hàng.

Đối với cán bộ cấp quản lý, khi phê duyệt/kiểm soát các giao dịch, cần nắm vững các quy định pháp lý, quy trình nội bộ về PCRT của ngân hàng. Ngoài ra, cán bộ quản lý cần thường xuyên cập nhật các quy định, quy trình mới nhằm phổ biến cho các cán bộ nhân viên, tránh việc xảy ra sai sót vì thiếu cập nhật.

Đối với ngân hàng, các quy định pháp lý cần được tuân thủ nghiêm ngặt và cập nhật kịp thời vào Quy định nội bộ về PCRT. Quy trình lưu trữ hồ sơ về khách hàng có giao dịch đáng ngờ; Quy trình để phát hiện và báo cáo các giao dịch đáng ngờ cũng như những cách thức để xác định rủi ro liên quan đến những giao dịch qua internet banking hoặc giao dịch thông qua bên thứ 3 cũng cần thường xuyên được cập nhật và phổ biến rộng rãi đến các cán bộ nhân viên.

5.2.3 Về Sự hiểu biết của cán bộ nhân viên

Con người là yếu tố quan trọng đối với mọi tổ chức, doanh nghiệp. Tại SCBVL, các yêu cầu của khách hàng được thực hiện trực tiếp bởi cán bộ nhân viên, do đó, sự hiểu biết của cán bộ nhân viên cần được quan tâm và nâng cấp liên tục, tránh để phát sinh các lỗ hổng trong việc thực hiện quy trình dẫn đến tăng nguy cơ rửa tiền tại ngân hàng. Sự hiểu biết của bán bộ nhân viên càng cao, hiệu quả PCRT càng cao do không phát sinh các lỗ hổng trong việc thực hiện quy trình làm tăng nguy cơ rửa tiền.

Đối với cán bộ cấp quản lý, cần thường xuyên tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm cũng như nghiên cứu tình huống (case study) trong nội bộ phòng ban, từ đó giúp nhân viên nắm vững các phương thức, thủ đoạn rửa tiền và các quy định về PCRT, đồng thời tăng kỹ năng nhận biết khách hàng (CDD) cũng như phát triển khả năng đánh giá và phát hiện các dấu hiệu đáng ngờ. Ngoài ra, khi phát hiện các nghi vấn về rửa tiền, kỹ năng xử lý các thông tin liên quan cũng cần được trau dồi thường xuyên.

Về phía ngân hàng, các tình huống (case study) điển hình nên thường xuyên được chia sẻ trên trang thông tin nội bộ, giúp nhân viên có thêm kiến thức cũng như những góc nhìn khác khi xử lý hồ sơ giao dịch. Tội phạm tài chính ngày càng phát triển với mức độ tinh vi cao, sự hiểu biết của cán bộ nhân viên cũng cần được phát triển tương ứng để có thể chiến thắng trong cuộc chiến chống lại tội phạm tài chính. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

5.2.4 Về Sự sẵn sàng tham gia của ngân hàng

Cán bộ nhân viên cần sẵn sàng tham gia vào hoạt động PCRT bằng việc tuân thủ đầy đủ các quy định PCRT đối với khách hàng mới lẫn khách hàng hiện hữu. Khi nhận thấy các dấu hiệu cảnh báo hành vi rửa tiền, những hành vi này cần được báo cáo kịp thời cho bộ phận có thẩm quyền.

Đối với cán bộ cấp quản lý, cần chủ động xem xét, nhận diện các giao dịch đáng ngờ trước khi phê duyệt. Ngoài ra, cán bộ quản lý nên phân tích thực tế giao dịch tại bộ phận và đưa ra các đề xuất để sửa đổi và bổ sung quy trình PCRT.

Đối với ngân hàng, SCBVL cần đảm bảo các cá nhân, đơn vị trong toàn hệ thống dù trực tiếp hay gián tiếp tham gia giao dịch với khách hàng đều tham gia vào quá trình PCRT.

5.2.5 Về Ứng dụng công nghệ

Mặc dù theo kết quả khảo sát, yếu tố Ứng dụng công nghệ có tác động yếu nhất đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL; tuy nhiên vẫn không thể phủ nhận tầm quan trọng của công nghệ, đặc biệt trong thời kỳ 4.0 hiện nay.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động PCRT, SCBVL cần thường xuyên nâng cấp các các công cụ và giải pháp công nghệ nhằm phục vụ việc phân tích số liệu cho công tác PCRT. Ngoài ra, các hệ thống phân tích số liệu nhằm phục vụ việc tra cứu các thông tin liên quan đến PCRT trước khi thực hiện các giao dịch chuyển tiền quốc tế cũng như các hệ thống hỗ trợ báo cáo giao dịch đáng ngờ cũng cần được cập nhật hơn.

Về phía cán bộ quản lý và nhân viên, cần đóng góp ý kiến tới “người sở hữu hệ thống” (Product Owner) dưới góc độ người dùng. Các ý kiến đóng góp sẽ phần nào hỗ trợ cho việc cải thiện hệ thống. Hệ thống được nâng cấp sẽ giúp giảm thời gian chờ xác minh giao dịch của khách hàng, từ đó tăng mức độ hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng.

Ngoài ra, ở thời điểm hiện tại, SCBVL đang phát triển một chatbot trí tuệ nhân tạo nhằm hỗ trợ cán bộ nhân viên trong việc tra cứu các quy trình nội bộ cũng như quy định pháp lý. Chatbot đang được sử dụng nội bộ tuy nhiên vẫn còn một số lỗi, do đó thông tin tra cứu trên chatbot chỉ có thể dùng để tham khảo, cán bộ nhân viên vẫn cần kiểm tra lại trước khi sử dụng các thông tin đó.

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu có những đóng góp nhất định trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động PCRT tại SCBVL, tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế như:

  • Chưa thực hiện phỏng vấn chuyên gia nhằm hoàn thiện hơn bảng câu hỏi
  • Kết quả chưa mang tính tổng quát cao do chỉ thực hiện khảo sát tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam)
  • Kích thước mẫu nghiên cứu (162 mẫu) chưa đủ lớn để đảm bảo tính tổng quát.
  • Ngoài 5 nhân tố được nghiên cứu trong đề tài, vẫn còn tồn tại những nhân tố khác có ảnh hưởng đến hoạt động PCRT tại SCBVL chưa được phân tích trong phạm vi và giới hạn của nghiên cứu này.

Với những hạn chế nêu trên, tác giả đề xuất hướng cải thiện cho những nghiên cứu trong tương lai:

  • Thực hiện nghiên cứu thêm tại các ngân hàng khác để giúp tăng tính tổng quát cho đề tài.
  • Mở rộng quy mô nghiên cứu, kích thước mẫu nghiên cứu cần lớn hơn.
  • Tham khảo và nghiên cứu bổ sung thêm những nhân tố khác nhằm đạt được kết quả đầy đủ và chi tiết hơn.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Chương 5 đã nêu lên kết luận chung cho luận văn. Từ kết quả nghiên cứu ở các chương trước, tác giả đề xuất những giải pháp xoay quanh các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động PCRT tại Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam). Đây là cơ sở khoa học giúp ban lãnh đạo ngân hàng đưa ra các chính sách phù hợp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động PCRT tại ngân hàng trong tương lai.

Ngoài ra, chương 5 cũng đề cập các hạn chế mà đề tài gặp phải cũng như định hướng khắc phục những thiếu sót này trong các nghiên cứu tiếp theo. Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng

One thought on “Luận văn: KQNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng

  1. Pingback: Luận văn: PPNC Hoạt động phòng chống rửa tiền tại Ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *