Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ open banking của khách hàng cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm cá nhân được khảo sát

  • Trong Bảng 4.1 chúng ta nhận thấy rằng:

Về giới tính: Với 400 người tham gia khảo sát, 238 người là nữ (chiếm 59,5%) và 162 người là nam (chiếm 40,5%). Điều này cho thấy tỷ lệ nam giới trong mẫu khảo sát ít hơn so với nữ giới. Sự chênh lệch này có thể phản ánh mức độ quan tâm nhiều hơn từ phía nữ giới đối với dịch vụ ngân hàng mở hoặc thể hiện xu hướng sử dụng công nghệ tài chính ngày càng phổ biến trong nhóm khách hàng nữ.

Về độ tuổi: Phân bố độ tuổi của người tham gia khảo sát cho thấy nhóm từ 18 đến dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (33,8%), tiếp theo là nhóm từ 30 đến dưới 45 tuổi (30,0%), nhóm từ 45 đến dưới 60 tuổi (17,8%) và nhóm trên 60 tuổi (18,5%). Có thể nhận thấy rằng nhóm khách hàng trẻ tuổi (dưới 45 tuổi) chiếm tỷ lệ lớn (63,8%), phù hợp với đối tượng mục tiêu của các dịch vụ ngân hàng mở – những người thường có khả năng tiếp cận và chấp nhận công nghệ cao hơn.

Về trình độ học vấn: phần lớn người thực hiện khảo sát có trình độ từ đại học trở lên, trong đó nhóm có trình độ đại học chiếm 41,5%, sau đại học chiếm 18,5%. Các nhóm có trình độ trung cấp/cao đẳng và trung học phổ thông lần lượt chiếm 20,3% và 19,8%. Điều này cho thấy người tham gia khảo sát có trình độ học vấn tương đối cao, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận, sử dụng và đánh giá các dịch vụ ngân hàng hiện đại như open banking.

Về thu nhập mỗi tháng: nhóm có thu nhập từ 10 triệu đến dưới 25 triệu đồng chiếm tỷ lệ cao nhất (30,3%), tiếp theo là nhóm dưới 10 triệu đồng (25,0%), từ 25 triệu đến dưới 40 triệu đồng (23,0%) và trên 40 triệu đồng (21,8%). Như vậy, phần lớn người tham gia có mức thu nhập ổn định, đủ khả năng tiếp cận và chi trả cho các dịch vụ tài chính số, trong đó gần 45% có thu nhập từ 25 triệu đồng trở lên.

Về số tài khoản ngân hàng cá nhân đang sở hữu: Kết quả cho biết rằng, 37,3% người khảo sát sở hữu từ 01 đến 02 tài khoản ngân hàng, 36,5% có từ 03 đến 05 tài khoản và 26,3% có trên 05 tài khoản. Số lượng tài khoản tương đối lớn phản ánh mức độ sử dụng dịch vụ ngân hàng khá cao của khách hàng, từ đó làm tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ open banking, vốn thường yêu cầu sự tích hợp và quản lý nhiều tài khoản trên một nền tảng số.

  • Bảng 4.1 Đặc điểm cá nhân được khảo sát

4.1.2. Thống kê các nhân tố trong mô hình nghiên cứu Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Kết quả thống kê mô tả thể hiện được các nhân tố có trong mô hình nghiên cứu đều được người tham gia khảo sát và đánh giá ở mức khá cao, giá trị trung bình phần lớn dao động trên 4 điểm, phản ánh nhận thức tích cực của khách hàng cá nhân tại TP.HCM đối với dịch vụ open banking.

Đầu tiên, nhân tố PE ghi nhận mức trung bình từ 4,19 đến 4,27, với độ lệch chuẩn thấp (khoảng 0,78 – 0,87), cho thấy người dùng đồng thuận cao với nhận định rằng open banking có thể giúp họ tăng hiệu quả trong quản lý tài chính, tiết kiệm thời gian, công sức và tiếp cận nhiều ưu đãi. Đây là nhân tố có ảnh hưởng mạnh, tích cực và rất ổn định trong mô hình.

Tiếp theo, EE cũng có giá trị khá cao (từ 4,02 đến 4,15), nhưng độ lệch chuẩn cao hơn (đặc biệt EE1 đạt 1,083), phản ánh một số người dùng vẫn còn cảm giác lúng túng hoặc chưa thực sự thấy rõ ràng khi tiếp cận dịch vụ. Điều này gợi ý rằng các ngân hàng cần cải thiện tài liệu hướng dẫn, trải nghiệm người dùng và các chiến dịch onboarding.

Đối với nhân tố SI, các biến đo lường có giá trị trung bình từ 4,17 đến 4,32, cho thấy áp lực xã hội (từ bạn bè, gia đình, cộng đồng hoặc xu hướng công nghệ) đóng vai trò thúc đẩy mạnh mẽ trong việc hình thành UI open banking. Người dùng không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, mà còn chịu ảnh hưởng từ kỳ vọng và hành vi của người khác.

Ngược lại, nhân tố PR, mặc dù có trung bình cao (4,03 – 4,41), lại phản ánh chiều ngược trong nhận thức. Các nội dung như lo ngại mất tiền, sai sót giao dịch, vi phạm chính sách riêng tư và bảo mật thông tin đều được đánh giá cao, với một số biến có độ lệch chuẩn trên 1,0. Điều này cho thấy người dùng có mức độ lo lắng đáng kể và Rủi ro cảm nhận chính là rào cản quan trọng làm giảm UI dịch vụ.

Cuối cùng, IT là nhân tố nổi bật nhất với mức trung bình rất cao (4,21 đến 4,58) và độ lệch chuẩn ổn định (< 0,9). Người dùng thể hiện sự tin tưởng mạnh mẽ vào hệ thống ngân hàng, tổ chức tài chính, đặc biệt nếu các đơn vị này có chính sách minh bạch, bảo vệ người dùng và dữ liệu rõ ràng. Đây được xem là yếu tố nền tảng giúp giảm thiểu cảm nhận rủi ro và gia tăng UI open banking.

Tóm lại, các kết quả mô tả cho thấy các nhân tố được đề xuất trong mô hình nghiên cứu đều phản ánh đúng nhận thức và kỳ vọng của khách hàng tại TP.HCM. Trong đó, PE, IT và SI là các yếu tố thúc đẩy mạnh, trong khi EE cần hỗ trợ thêm, còn PR là nhân tố tiêu cực cần được kiểm soát thông qua giải pháp truyền thông và chính sách bảo vệ người dùng.

Kết quả chi tiết được thể hiện trong Bảng 4.2 dưới đây.

  • Bảng 4.2 Đặc điểm các nhân tố trong mô hình nghiên cứu

4.2. Kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

4.2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha

Kiểm định này nhằm xác định mức độ tin cậy của các biến số trong mô hình nghiên cứu là phù hợp và các quan sát là thang đo định tính cho các biến số này là hoàn toàn đạt được độ tin cậy. Sau khi đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha của các nhân tố độc lập qua 2 lần kiểm định và loại biến (do hệ số tin cậy không đạt chuẩn nhỏ hơn 0,6), tác giả lần lượt loại các biến PR10, IT13, IT12 trong lần kiểm định đầu tiên và loại các biến IT11, IT10 trong lần kiểm định thứ hai. Kết quả tổng hợp sau khi loại biến như sau:

  • Bảng 4.3 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo và loại biến

Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha của các nhân tố độc lập sau khi loại biến không đạt chuẩn được tổng hợp trong Bảng 4.4 đều có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha đạt chuẩn (lớn hơn 0,6) để tiến hành phân tích nhân tố khám phá sau đó. Các hệ số Cronbach’s Alpha cụ thể: PE là 0,891; EE là 0,895; SI là 0,895; PR là 0,798; IT là 0,872. Điều này cho thấy các biến số này xây dựng trên mô hình nghiên cứu thể hiện được độ tin cậy cao. Ngoài ra, khi xét đến độ tin cậy của các biến quan sát là thang đo định tính thì tương quan biến tổng đều cao hơn 0,3 có nghĩa là các thang đo đo lường này hoàn toàn phù hợp và có thể làm cơ sở phân tích EFA.

Kết quả chi tiết được thể hiện trong Bảng 4.4 dưới đây.

  • Bảng 4.4 Kết quả đánh giá độ tin cậy của các nhân tố độc lập

Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo của các nhân tố phụ thuộc trong Bảng 4.5 đều có hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha đạt chuẩn (lớn hơn 0,6) cho phép phân tích nhân tố khám phá. Hệ số Cronbach’s Alpha của biến phụ thuộc Ý định sử dụng là 0,851.

  • Bảng 4.5 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo của nhân tố phụ thuộc

4.2.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Phân tích này nhằm mục đích xét tính hội tụ của các quan sát về tại một nhân tố đại diện thông qua ma trận xoay nhân tố, từ đó tạo cơ sở cho phân tích tương quan và hồi quy. Sau khi kiểm định độ tin cậy của thang đo, trước khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá, 30 biến quan sát đủ chuẩn cho bước kiểm định kết quả tiếp theo.

Kết quả được thể hiện chi tiết trong Bảng 4.6 dưới đây.

  • Bảng 4.6 Ma trận xoay nhân tố của các quan sát và kết quả phân tích EFA

Kết quả phân tích EFA cho thấy các biến đo lường thuộc nhóm Nỗ lực mong đợi (EE) và một số biến của nhóm Rủi ro cảm nhận (PR) đã cùng hội tụ vào một nhân tố duy nhất. Cụ thể, các biến PR liên quan đến lo ngại hệ thống hoạt động không hiệu quả, thao tác sai hoặc gây mất kiểm soát tài chính (PR1, PR2, PR3, PR5, PR8) có tải nhân tố cao cùng với các biến EE phản ánh sự dễ hiểu, dễ học và dễ sử dụng của dịch vụ. Điều này phản ánh rằng, trong nhận thức của người dùng cá nhân tại TP.HCM, rủi ro khi sử dụng dịch vụ open banking không hoàn toàn đến từ bản chất công nghệ hay sự thiếu tin cậy hệ thống, mà còn chịu ảnh hưởng bởi chính cảm nhận về mức độ khó khăn khi sử dụng. Tức là, càng cảm thấy khó thao tác, người dùng càng thấy rủi ro – và ngược lại. Kết quả này gợi ý rằng, việc đơn giản hóa quy trình sử dụng và nâng cao tính thân thiện trong thiết kế giao diện, trải nghiệm người dùng (UX/UI) không chỉ cải thiện mức độ chấp nhận công nghệ mà còn góp phần giảm thiểu cảm nhận tiêu cực về rủi ro trong giai đoạn đầu tiếp cận dịch vụ open banking. Nhìn chung, tác giả vẫn giữ lại và định danh tên thang đo này là Nỗ lực mong đợi sau khi có một số biến của Rủi ro cảm nhận bị hội tụ vào Nỗ lực mong đợi, vì về nội dung các biến này không mang tính rủi ro về hệ thống hay bảo mật pháp lý mà nó đều phản ánh sự e ngại hoặc khó khăn trong thao tác sử dụng nên chúng phù hợp với nội dung của thang đo Nỗ lực mong đợi.

Hệ số KMO là 0,853 nằm trong (0,5;1) điều này có nghĩa là phân tích EFA có giá trị thống kê về mặt ý nghĩa.

Kiểm định Barlett với hệ số Sig là 0 thấp hơn mức ý nghĩa 5%, điều này có nghĩa là các quan sát là thang đo định tính có tương quan tuyến tính với nhân tố đại diện.

Mặt khác, phân tích EFA với ma trận xoay nhân tố thì có thể thấy các quan sát hội tụ vào 5 nhóm nhân tố hay đó cũng chính là các biến số độc lập trong mô hình nghiên cứu, hay nói cách khác ta có 5 nhân tố đại diện cho 30 quan sát với tiêu chuẩn Eigenvalues lớn hơn 1 nhận giá trị là 1,914 và phương sai trích là 65,520% đây là tỷ lệ giải thích của các nhân tố đại diện cho 30 biến quan sát. Với các trị số phân tích như trên thì phân tích EFA hoàn toàn phù hợp để thực hiện các bước phân tích tiếp theo.

Các nhân tố đại diện đã trình bày trên Bảng 4.6 tương ứng là EE, IT, PR, SI và PE.

4.2.3. Phân tích tương quan giữa các biến số trong mô hình nghiên cứu

Phân tích này nhàm xác định các biến số độc lập trong mô hình nghiên cứu có sự tương quan với các biến phụ thuộc hay không? Đồng thời xác định được chiều hướng tương quan giữa các biến với mức ý nghĩa là bao nhiêu? Kết quả phân tích tương quan được trình bày dựa trên ma trận tương quan Pearson, nếu các giá trị lớn hơn 0 thì các biến số tương quan thuận chiều và ngược lại.

Kết quả phân tích tương quan thể hiện trong Bảng 4.7, cho thấy tương quan giữa UI và các biến số độc lập PE, EE, SI, IT lần lượt là 0,238**; 0,228**; 0,412**; 0,346** có tương quan dương với UI và có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 99,95% (p-value < 5%). Bên cạnh đó, biến số PR có tương quan âm với UI là -0,029. Do đó, có thể kết luận mô hình đo lường phù hợp với kỳ vọng lý thuyết.

  • Bảng 4.7 Kết quả phân tích ma trận tương quan của các biến số

4.2.4. Phân tích hồi quy Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Sau khi đã xác định được các biến số độc lập PE, EE, SI, IT có tương quan thuận chiều với UI và PR tương quan nghịch chiều với UI thì để xác định mức độ ảnh hưởng của các biến số này đến UI thì cần đến phân tích hồi quy và các kiểm định liên quan. Trong đó sẽ bao gồm các phân tích liên quan như xác định kết quả mô hình hồi quy, kiểm định các hệ số góc, kiểm định sự phù hợp của mô hình, kiểm định đa cộng tuyến, tự tương quan và phương sai thay đổi.

4.2.4.1. Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Bảng 4.8 trình bày tóm tắt kết quả mô hình hồi quy, bao gồm hệ số R, R2, R2 hiệu chỉnh, sai số chuẩn của ước lượng và hệ số Durbin–Watson..

  • Bảng 4.8 Kết quả mô hình hồi quy

Theo đó, cho thấy hệ số R² đạt 0,270, nghĩa là mô hình hồi quy giải thích được 27,0% biến thiên trong UI open banking. Hệ số R2 hiệu chỉnh (Adjusted R²) là 0,261 cho thấy sau khi điều chỉnh theo số lượng biến độc lập, mô hình vẫn giải thích được 26,1% biến thiên của biến phụ thuộc. Mức độ này là phù hợp với các nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, vốn thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố bên ngoài mô hình (Hair et al., 1998). Sai số chuẩn của ước lượng là 0,67120 phản ánh mức dao động trung bình giữa giá trị thực tế và giá trị dự báo từ mô hình.

Giá trị hệ số Durbin–Watson (DW) trong mô hình là 1.856 (nằm trong khoảng 1.5 đến 2.5), cho thấy không có hiện tượng tự tương quan phần dư trong mô hình hồi quy. Điều này đồng nghĩa với việc các sai số ngẫu nhiên không bị phụ thuộc lẫn nhau, giúp đảm bảo một trong các giả định quan trọng của mô hình hồi quy tuyến tính bội.

Để kiểm định ý nghĩa thống kê tổng thể của mô hình hồi quy, phân tích ANOVA được thực hiện. Bảng 4.9 thể hiện kết quả kiểm định F, cho biết liệu mô hình hồi quy tuyến tính có phù hợp để giải thích biến phụ thuộc hay không.

  • Bảng 4.9 Kiểm định ANOVA của mô hình hồi quy

Kiểm định F trong bảng ANOVA cho thấy giá trị Sig. = 0,000 (nhỏ hơn 0,05), chứng minh rằng mô hình hồi quy tuyến tính bội có ý nghĩa thống kê tổng thể ở mức 5%. Điều này có nghĩa là ít nhất một biến độc lập có ảnh hưởng có ý nghĩa đến biến phụ thuộc, mô hình phù hợp để giải thích hiện tượng nghiên cứu.

4.2.4.2. Kết quả mô hình hồi quy đa biến và kết luận giả thuyết thống kê

Bảng 4.10 dưới đây trình bày kết quả kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ tuyến tính giữa các nhân tố PE, EE, SI, PR và IT với UI dịch vụ open banking. Bên cạnh đó, Bảng 4.10 thể hiện hệ số hồi quy chuẩn hóa (β), giá trị ý nghĩa thống kê (Sig.) và hệ số phóng đại phương sai (VIF) của từng biến độc lập trong mô hình. Đây là cơ sở để đánh giá mức độ ảnh hưởng, chiều hướng tác động và kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến. Từ đó, kết quả cho thấy được sự phù hợp của các giả thuyết mà tác giả đã đặt ra ở Chương 3. Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Bảng 4.10 Kết quả hồi quy tuyến tính bội

  • Theo đó, kết quả chỉ ra rằng:

Hệ số phóng đại phương sai (VIF) của tất cả các biến độc lập đều nằm trong khoảng từ 1.1 đến dưới 2.0. Theo Hair et al. (1998), ngưỡng VIF < 5 cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng trong mô hình. Do đó, các biến độc lập không bị trùng lặp thông tin lẫn nhau và có thể sử dụng đồng thời trong mô hình hồi quy.

Kết quả của mô hình hồi quy được chuẩn hóa được thể hiện lại chi tiết như sau: UI = 0,285SI + 0,228IT + 0,184EE + 0,118PE – 0,128PR

Trong đó:

  • UI: Ý định sử dụng dịch vụ open banking SI: Sự ảnh hưởng của xã hội
  • IT: Niềm tin ban đầu EE: Nỗ lực mong đợi PE: Hiệu quả mong đợi PR: Rủi ro cảm nhận

Các hệ số hồi quy trên phản ánh mức độ ảnh hưởng của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc là Ý định sử dụng trong điều kiện các biến khác giữ nguyên. Cụ thể:

SI có hệ số β = 0.285, cho thấy đây là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất trong mô hình. Khi mức độ ảnh hưởng của xã hội tăng thêm 1 độ lệch chuẩn, Ý định sử dụng dịch vụ open banking của khách hàng tăng trung bình 0.285 độ lệch chuẩn. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của yếu tố xã hội như lời khuyên từ bạn bè, gia đình, hoặc xu hướng chung của cộng đồng trong việc thúc đẩy hành vi sử dụng dịch vụ công nghệ tài chính mới, đặc biệt là dịch vụ open banking.

IT có hệ số β = 0.228, biểu hiện mức độ tin tưởng ban đầu đối với hệ thống và tổ chức cung cấp dịch vụ có tác động mạnh đến UI. Khi niềm tin tăng, khách hàng cảm thấy yên tâm hơn và sẵn sàng tiếp cận với dịch vụ open banking.

EE có hệ số β = 0.184, thể hiện rằng nếu khách hàng cảm nhận việc sử dụng dịch vụ đơn giản, dễ thao tác, thì UI sẽ tăng lên. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước trong mô hình UTAUT, thể hiện rõ tầm quan trọng của yếu tố trải nghiệm người dùng.

PE có hệ số β = 0.118. Mặc dù có ảnh hưởng dương, yếu tố này có mức tác động thấp hơn so với các biến còn lại. Tuy nhiên, điều này vẫn cho thấy rằng nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ mang lại lợi ích rõ ràng (như tiết kiệm thời gian, quản lý tài chính tốt hơn), thì họ sẽ có xu hướng sử dụng nhiều hơn. Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

PR có hệ số β = -0.128, mang ý nghĩa tiêu cực. Điều này minh chứng rằng, khi khách hàng cảm nhận mức độ rủi ro cao (ví dụ: lo ngại về bảo mật, mất mát dữ liệu, sự cố giao dịch), họ sẽ giảm UI dịch vụ. Mức độ ảnh hưởng tiêu cực này tương đối đáng kể và phản ánh mối lo ngại thực tế của khách hàng đối với các công nghệ tài chính mới.

Từ mô hình trên, có thể thấy rằng UI dịch vụ open banking chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, trong đó SI và IT là hai yếu tố quan trọng nhất. Ngược lại, PR là yếu tố duy nhất tác động tiêu cực đến UI. Những kết quả này phù hợp với bối cảnh tại TP.HCM, nơi khách hàng có xu hướng chịu tác động mạnh từ xu hướng xã hội và các yếu tố tâm lý như sự tin tưởng và an toàn thông tin.

Kết quả này gợi ý rằng các tổ chức tài chính nên chú trọng vào việc xây dựng niềm tin, truyền thông xã hội hiệu quả, nâng cao trải nghiệm người dùng và giảm thiểu rủi ro cảm nhận nhằm thúc đẩy việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ open banking trong tương lai.

4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng tất cả các giả thuyết đề xuất đều được chấp nhận, qua đó khẳng định tính phù hợp của các mô hình lý thuyết tích hợp được sử dụng, bao gồm: lý thuyết TPB, mô hình TAM, UTAUT, lý thuyết nhận thức rủi ro. Những phát hiện này không chỉ củng cố các lý thuyết nền tảng mà còn góp phần mở rộng hiểu biết về hành vi người tiêu dùng trong lĩnh vực công nghệ tài chính tại Việt Nam, cụ thể là TP.HCM – nơi đang từng bước tiếp cận các xu hướng ngân hàng mở hiện đại.

Một điểm đáng chú ý là SI được xác định là yếu tố có tác động tích cực đến UI. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam – nơi các yếu tố xã hội và truyền miệng vẫn có ảnh hưởng lớn đến quyết định tiêu dùng. Mặc dù một số nghiên cứu trước đây như Oliveira et al. (2014) từng cho rằng ảnh hưởng xã hội có thể kém nổi bật trong lĩnh vực tài chính do tính riêng tư cao, song kết quả này lại phù hợp với quan điểm của lý thuyết UTAUT, cho rằng người tiêu dùng – nhất là trong giai đoạn đầu tiếp cận một công nghệ mới – thường dựa vào mạng lưới xã hội để định hướng hành vi. Sự đồng thuận và khuyến khích từ bạn bè, đồng nghiệp hay truyền thông có thể tạo ra “hiệu ứng lan truyền” tích cực, thúc đẩy người tiêu dùng hình thành UI dịch vụ open banking. Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Tiếp theo, IT được xác nhận là yếu tố có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến UI open banking. Điều này phù hợp với mô hình được Kim và đồng tác giả (2009) và McKnight và đồng tác giả (1998) đề xuất, trong đó nhấn mạnh vai trò của niềm tin trong giai đoạn đầu khi người dùng chưa từng trải nghiệm với sản phẩm hoặc dịch vụ. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam – nơi open banking vẫn còn mới mẻ và chưa có nhiều người dùng thực tế – niềm tin vào uy tín tổ chức, chính sách bảo mật và cam kết từ ngân hàng, fintech là yếu tố tiên quyết để khách hàng cân nhắc sử dụng dịch vụ. Việc củng cố niềm tin ban đầu sẽ giúp giảm thiểu sự e ngại và tạo nền tảng vững chắc cho hành vi sử dụng thực tế sau này.

Bên cạnh đó, EE cũng được chứng minh là có tác động tích cực đến UI, cho thấy rằng người tiêu dùng đánh giá cao sự đơn giản, dễ tiếp cận và dễ sử dụng của hệ thống. Điều này phản ánh đúng tinh thần của lý thuyết TAM và UTAUT, vốn cho rằng sự dễ sử dụng là một yếu tố tiên quyết trong việc hình thành thái độ tích cực và ý định hành.

Kết quả nghiên cứu tại TP.HCM cho thấy nếu các dịch vụ open banking được thiết kế với giao diện thân thiện, rõ ràng, không đòi hỏi quá nhiều nỗ lực học hỏi thì người dùng sẽ sẵn sàng trải nghiệm. Phát hiện này cũng tương đồng với các kết luận từ các nghiên cứu tại Ấn Độ hay Pakistan.

Ngoài ra, yếu tố PE được xác nhận có ảnh hưởng tích cực đến UI dịch vụ open banking. Kết quả này phù hợp với lý thuyết UTAUT do Venkatesh và đồng tác giả (2003) phát triển, trong đó nhấn mạnh rằng người dùng có xu hướng chấp nhận công nghệ nếu họ tin rằng việc sử dụng sẽ giúp nâng cao hiệu suất hoặc giá trị nhận được. Trong bối cảnh nghiên cứu, khách hàng cá nhân TP.HCM cho rằng open banking sẽ giúp họ quản lý tài chính thuận tiện hơn, tiết kiệm thời gian và tiếp cận nhiều ưu đãi tài chính. Điều này đã được chứng minh qua nghiên cứu của Lin (2011) hay Oliveira và đồng tác giả (2014) trong lĩnh vực ngân hàng số và fintech.

Ngược lại, PR được khẳng định có tác động tiêu cực đến UI, đúng như dự đoán của lý thuyết rủi ro cảm nhận do Featherman và Pavlou (2003) phát triển. Khách hàng cá nhân tại TP.HCM vẫn còn lo ngại về sự an toàn của dữ liệu cá nhân, khả năng bảo mật và nguy cơ tài chính khi sử dụng các dịch vụ open banking – vốn liên quan đến việc chia sẻ dữ liệu với bên thứ ba. Phát hiện này cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu quốc tế tại Thái Lan, Kenya và Đài Loan, cho thấy rủi ro vẫn là một rào cản đáng kể trong việc chấp nhận các dịch vụ tài chính dựa trên công nghệ mới.

Tổng thể, các kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ chế hành vi của khách hàng cá nhân tại TP.HCM đối với dịch vụ open banking, đồng thời củng cố độ tin cậy của các lý thuyết nền tảng trong bối cảnh địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ chấp nhận open banking trong thời gian tới, đồng thời tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực công nghệ tài chính tại Việt Nam. Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Chương này đã tiến hành sử dụng số liệu thu thập của 400 khách hàng cá nhân có hiểu biết cơ bản về open banking để tiến hành thống kê. Bước đầu khóa luận đã thống kê mô tả mẫu nghiên cứu để nhận diện đặc điểm mẫu. Tiếp đó thực hiện phân tích độ tin cậy, EFA. Từ đó, các nhân tố đại diện sẽ được hồi quy để xác định mô hình phản ánh sự ảnh hưởng của các biến số Hiệu quả mong đợi (PE); Nỗ lực mong đợi (EE); Sự ảnh hưởng của xã hội (SI); Rủi ro cảm nhận (PR) và Niềm tin ban đầu (IT). Kết quả hồi quy cho thấy các biến số Hiệu quả mong đợi (PE); Nỗ lực mong đợi (EE); Sự ảnh hưởng của xã hội (SI) và Niềm tin ban đầu (IT) đều ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ open banking. Mặt khác, Rủi ro cảm nhận (PR) có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng dịch vụ open banking của khách hàng cá nhân tại TP.HCM. Đồng thời mô hình hồi quy không vi phạm bất cứ hiện tượng khuyết tật nào, tạo cơ sở cho việc chấp nhận các giả thuyết nghiên cứu đưa ra vào thảo luận kết quả đó.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Kết luận

Luận văn tập trung vào việc tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến UI, các mô hình lý thuyết về UI và chấp nhận công nghệ, các công trình nghiên cứu liên quan tồn tại các khoảng trống nên tạo cơ sở cho việc đề xuất mô hình phù hợp với bối cảnh tại TP.HCM với UI dịch vụ open banking của khách hàng cá nhân. Mặt khác, thông qua nghiên cứu định tính đặc biệt là thảo luận nhóm với các chuyên gia thì hoàn thành mục tiêu thứ nhất là xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến UI dịch vụ open banking của khách hàng cá nhân, đồng thời kế thừa và hiệu chỉnh các thang đo gốc cho phù hợp với bối cảnh tại TP.HCM. Sau đó, thông qua việc khảo sát chính thức 400 khách hàng cá nhân đang sử dụng dịch vụ tại ngân hàng thuộc khu vực TP.HCM, dữ liệu này được thống kê với phần mềm SPSS 27.0 thì mục tiêu thứ hai được hoàn thành khi xác định được các nhân tố SI, IT, EE, PE ảnh hưởng tích cực đến UI dịch vụ open banking. Bên cạnh đó nhân tố PR có ảnh hưởng tiêu cực đến UI dịch vụ open banking. Kết quả hồi quy cho thấy mức độ của các biến số này đều ảnh hưởng đến UI dịch vụ open banking. Điều này phù hợp với thực tế tại TP.HCM và dịch vụ open banking. Cuối cùng, dựa trên các hệ số hồi quy kể trên thì luận văn sẽ có những hàm ý quản trị cho các cơ quan quản lý Nhà nước và các ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ open banking trong thời gian sắp tới.

5.2. Hàm ý quản trị

Với kết quả nghiên cứu trên, các hàm ý quản trị được đề xuất cho các ngân hàng thương mại và tổ chức cung cấp dịch vụ open banking như sau: Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Đối với sự ảnh hưởng của xã hội: Kết quả nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của xã hội là yếu tố có tác động mạnh nhất đến ý định sử dụng dịch vụ open banking (β = 0,285). Điều này cho thấy quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng chịu ảnh hưởng đáng kể từ ý kiến của người thân, bạn bè, cộng đồng và truyền thông. Do đó, các ngân hàng thương mại và tổ chức cung cấp dịch vụ open banking cần chú trọng chiến lược truyền thông xã hội, tăng cường hiện diện trên các nền tảng số và khuyến khích chia sẻ trải nghiệm tích cực từ người dùng hiện hữu. Việc xây dựng hình ảnh dịch vụ thông qua đánh giá thực tế, phản hồi khách hàng và nội dung truyền thông minh bạch sẽ góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong cộng đồng.

Đối với niềm tin ban đầu: Niềm tin ban đầu có tác động tích cực và đáng kể đến ý định sử dụng (β = 0,228). Các tổ chức cung cấp dịch vụ cần minh bạch cơ chế chia sẻ dữ liệu, công bố rõ ràng chính sách bảo mật và quy trình xử lý sự cố. Bên cạnh đó, việc truyền thông về tiêu chuẩn an toàn thông tin và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân sẽ góp phần củng cố niềm tin ban đầu của khách hàng.

Đối với nỗ lực mong đợi: Kết quả cho thấy nỗ lực mong đợi có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng (β = 0,184), phản ánh rằng khi khách hàng cảm nhận dịch vụ dễ sử dụng, khả năng chấp nhận sẽ tăng lên. Vì vậy, các ngân hàng cần tối ưu hóa thiết kế giao diện và quy trình thao tác theo hướng đơn giản, trực quan, giảm thiểu số bước thực hiện và đảm bảo tính tương thích trên nhiều nền tảng. Ngoài ra, việc cung cấp hướng dẫn sử dụng rõ ràng và kênh hỗ trợ khách hàng hiệu quả cũng góp phần giảm rào cản tiếp cận dịch vụ.

Đối với hiệu quả mong đợi: Hiệu quả mong đợi có tác động tích cực nhưng ở mức độ thấp hơn (β = 0,118). Điều này cho thấy mặc dù lợi ích chức năng có ảnh hưởng đến ý định sử dụng, nhưng không phải là yếu tố quyết định hàng đầu. Do đó, các tổ chức cung cấp dịch vụ cần truyền thông rõ ràng về giá trị gia tăng của open banking như khả năng quản lý tài chính cá nhân, tối ưu hóa thanh toán và tích hợp đa dịch vụ, nhằm nâng cao nhận thức của khách hàng về tính hữu ích của dịch vụ.

Đối với rủi ro cảm nhận: Rủi ro cảm nhận là yếu tố duy nhất có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng (β = -0,128). Điều này cho thấy khi mức độ lo ngại về bảo mật và an toàn dữ liệu gia tăng, ý định sử dụng có xu hướng giảm. Do đó, các ngân hàng và tổ chức cung cấp dịch vụ cần tăng cường các biện pháp bảo mật kỹ thuật và minh bạch thông tin liên quan đến quyền kiểm soát dữ liệu của khách hàng. Việc công bố rõ quy trình xử lý rủi ro và cam kết bảo vệ quyền lợi người dùng sẽ góp phần giảm thiểu cảm nhận tiêu cực.

5.3. Đề xuất Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Dựa trên kết quả nghiên cứu và các hàm ý quản trị đã nêu, tác giả đề xuất một số đề xuất cụ thể và thiết thực nhằm thúc đẩy UI dịch vụ open banking tại Việt Nam như sau:

5.3.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Hoàn thiện hành lang pháp lý về open banking: Để tạo nền tảng vững chắc cho việc triển khai và phát triển mô hình ngân hàng mở tại Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với thực tiễn chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Việc ban hành một khung pháp lý chính thức về chia sẻ dữ liệu tài chính là yêu cầu cấp thiết, trong đó cần xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan như ngân hàng, đối tác thứ ba và khách hàng. Song song đó, Nhà nước nên xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật về giao diện lập trình ứng dụng mở (API) thống nhất, giúp bảo đảm khả năng kết nối, tương thích và chia sẻ dữ liệu an toàn giữa các tổ chức tài chính. Một hệ thống chuẩn hóa như vậy sẽ góp phần hạn chế rủi ro kỹ thuật, nâng cao tính minh bạch và tăng cường niềm tin vào môi trường giao dịch số.

Đảm bảo quyền lợi và bảo vệ người tiêu dùng: Cơ quan quản lý nên ban hành các quy định bắt buộc về bảo mật dữ liệu và có cơ chế xử phạt nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm, đặc biệt là hành vi rò rỉ hoặc sử dụng trái phép thông tin cá nhân. Đồng thời, các tổ chức tài chính phải có trách nhiệm thông báo rõ ràng cho khách hàng về phạm vi và mục đích chia sẻ dữ liệu, cũng như đảm bảo quyền được từ chối hoặc rút lại sự đồng ý của người dùng khi họ không muốn tiếp tục chia sẻ thông tin. Điều này không chỉ giúp tăng tính minh bạch mà còn củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng số.

Thúc đẩy giáo dục tài chính số: Việc thúc đẩy giáo dục tài chính số trong cộng đồng là một giải pháp bền vững nhằm nâng cao nhận thức và năng lực sử dụng dịch vụ open banking một cách an toàn, hiệu quả. Cơ quan quản lý có thể phối hợp với các ngân hàng và tổ chức xã hội triển khai các chương trình giáo dục tài chính tại trường học, doanh nghiệp hoặc khu dân cư, tập trung vào kỹ năng bảo mật thông tin và nhận diện rủi ro khi giao dịch trực tuyến. Các hoạt động truyền thông cộng đồng như hội thảo, tọa đàm, hoặc các buổi livestream tương tác trực tiếp giữa chuyên gia và người dân cũng là kênh hữu hiệu để phổ biến kiến thức, giải đáp thắc mắc, đồng thời tạo sự đồng thuận xã hội đối với việc ứng dụng open banking trong hệ thống tài chính Việt Nam.

5.3.2. Đối với các ngân hàng

Thúc đẩy truyền thông xã hội và chiến dịch ảnh hưởng: các ngân hàng cần đẩy mạnh hoạt động truyền thông xã hội nhằm gia tăng nhận thức và niềm tin của khách hàng. Việc hợp tác với những người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội như chuyên gia tài chính, nhà bình luận công nghệ hoặc các KOLs có uy tín sẽ giúp lan tỏa thông tin về tính năng và lợi ích của open banking một cách gần gũi, dễ tiếp cận hơn. Các chiến dịch truyền thông nên tập trung vào yếu tố “người thật – việc thật”, chia sẻ những câu chuyện trải nghiệm thực tế của khách hàng để tạo sự đồng cảm và thuyết phục. Bên cạnh đó, việc triển khai các chương trình giới thiệu bạn bè (referral program) với phần thưởng hấp dẫn cũng là công cụ hiệu quả để lan truyền dịch vụ theo hình thức mạng lưới tự nhiên, gia tăng lượng người dùng mới. Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Xây dựng niềm tin thông qua minh bạch thông tin và bảo mật: Các ngân hàng cần minh bạch trong công bố quy trình bảo vệ dữ liệu cá nhân, đồng thời chứng minh năng lực bảo mật thông qua các chứng nhận quốc tế như ISO/IEC 27001 hay PCI-DSS. Ngoài ra, việc áp dụng chính sách bảo hiểm giao dịch hoặc cơ chế hoàn tiền trong trường hợp lỗi kỹ thuật phát sinh từ hệ thống sẽ giúp khách hàng cảm thấy an tâm hơn khi trải nghiệm open banking. Hệ thống chăm sóc khách hàng cũng cần được nâng cấp theo hướng tương tác hai chiều, tận dụng công nghệ chatbot, đường dây nóng 24/7 và kênh hỗ trợ qua mạng xã hội để tăng tính sẵn sàng và hiệu quả trong xử lý yêu cầu của người dùng.

Tối ưu trải nghiệm người dùng: Giao diện ứng dụng cần được thiết kế theo hướng đơn giản, trực quan, dễ sử dụng đối với mọi nhóm khách hàng, kể cả những người ít tiếp xúc với công nghệ. Việc tích hợp các hướng dẫn nhanh qua video hoặc pop-up ngắn gọn ngay trên ứng dụng sẽ giúp người dùng làm quen thuận tiện hơn. Ngoài ra, ngân hàng cần đảm bảo sự liền mạch trong trải nghiệm giữa các dịch vụ nội bộ và đối tác liên kết trong hệ sinh thái open banking, giúp khách hàng cảm nhận được tính đồng bộ và tiện lợi khi thực hiện các hoạt động như kết nối tài khoản, thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Việc truyền thông rõ ràng về các lợi ích thực tế như tiết kiệm chi phí, quản lý chi tiêu hiệu quả hoặc tích hợp nhiều tiện ích trên cùng một nền tảng sẽ góp phần nâng cao giá trị cảm nhận. Trên cơ sở dữ liệu khách hàng (với sự đồng ý của họ), các ngân hàng có thể áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo để cung cấp các gói dịch vụ tài chính cá nhân hóa, tự động gợi ý sản phẩm phù hợp, cảnh báo thấu chi, hoặc cung cấp báo cáo thu – chi thông minh, từ đó nâng cao mức độ hài lòng và lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng.

5.3.3. Đối với khách hàng cá nhân

Đối với khách hàng cá nhân, việc nâng cao kiến thức và kỹ năng số là điều kiện tiên quyết để có thể tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dịch vụ ngân hàng mở. Người tiêu dùng cần chủ động tìm hiểu về cách thức vận hành của các dịch vụ ngân hàng số, ví điện tử, cũng như quyền và nghĩa vụ của bản thân khi chia sẻ dữ liệu tài chính. Việc trang bị hiểu biết cơ bản về an toàn thông tin, nhận diện rủi ro và bảo mật trực tuyến sẽ giúp người dùng tránh được các hình thức lừa đảo, giả mạo hoặc xâm nhập trái phép. Bên cạnh đó, khách hàng nên ưu tiên sử dụng các ứng dụng, nền tảng số có chứng nhận bảo mật rõ ràng, được cung cấp bởi những tổ chức tài chính uy tín nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình giao dịch.

Ngoài ra, người dùng cần thể hiện vai trò tích cực trong việc phản hồi và đóng góp ý kiến cho các tổ chức cung cấp dịch vụ. Việc thường xuyên đánh giá, chia sẻ trải nghiệm hoặc đề xuất cải tiến tính năng sẽ giúp ngân hàng hiểu rõ hơn nhu cầu thực tế của khách hàng, từ đó hoàn thiện sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ. Đây cũng là cách để người tiêu dùng tham gia vào quá trình đồng sáng tạo giá trị, góp phần xây dựng môi trường ngân hàng số lấy khách hàng làm trung tâm.

Cuối cùng, quản lý dữ liệu cá nhân một cách có trách nhiệm là yêu cầu then chốt trong bối cảnh open banking. Khách hàng cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đồng ý chia sẻ thông tin cho bên thứ ba, chỉ thực hiện khi đã hiểu rõ mục đích sử dụng và chính sách bảo mật của đơn vị cung cấp dịch vụ. Việc đọc kỹ các điều khoản, điều kiện sử dụng và duy trì thói quen kiểm soát quyền truy cập dữ liệu không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi cá nhân mà còn góp phần nâng cao mức độ an toàn và bền vững của toàn hệ sinh thái ngân hàng mở.

5.4. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

5.4.1. Hạn chế của nghiên cứu

Mặc dù nghiên cứu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc xác định và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ open banking của khách hàng cá nhân, song vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được thừa nhận.

Thứ nhất, phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh – khu vực có mức độ phát triển kinh tế, dân trí và công nghệ cao hơn so với nhiều địa phương khác trong cả nước. Điều này khiến cho kết quả nghiên cứu có thể chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về hành vi, mức độ sẵn sàng và khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng mở của khách hàng tại các khu vực nông thôn hoặc các tỉnh thành có hạ tầng tài chính – công nghệ chưa phát triển. Do đó, tính khái quát hóa của mô hình còn bị giới hạn ở phạm vi địa lý.

Thứ hai, đối tượng khảo sát chủ yếu là những người đã có hiểu biết cơ bản về công nghệ và dịch vụ ngân hàng số. Mặc dù điều này giúp đảm bảo độ chính xác trong việc trả lời các câu hỏi chuyên môn, nhưng lại có thể tạo ra sai lệch trong đánh giá, bởi nhóm người dùng phổ thông hoặc chưa từng tiếp cận open banking có thể có nhận thức và thái độ khác biệt đáng kể.

Thứ ba, mô hình nghiên cứu hiện tại mới dừng lại ở việc xem xét mối quan hệ trực tiếp giữa các biến, mà chưa tính đến tác động của các yếu tố trung gian hoặc điều tiết như độ tuổi, thu nhập, hay mức độ sẵn sàng công nghệ. Những yếu tố này có thể làm thay đổi mức độ và hướng ảnh hưởng của các nhân tố chính, từ đó mang lại cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về hành vi người tiêu dùng.

Thứ tư, nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng mà chưa kết hợp phân tích định tính nhằm lý giải sâu hơn các động cơ và yếu tố văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến hành vi của người dùng. Việc thiếu góc nhìn định tính khiến cho một số kết quả thống kê tuy có ý nghĩa nhưng chưa được diễn giải đầy đủ về mặt bản chất hành vi, từ đó hạn chế khả năng mở rộng và áp dụng mô hình cho các bối cảnh khác nhau.

5.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Từ những hạn chế đã được nêu, một số hướng nghiên cứu trong tương lai có thể được triển khai nhằm khắc phục các giới hạn của đề tài và mở rộng khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu.

Thứ nhất, cần mở rộng phạm vi khảo sát ra ngoài khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm các tỉnh và thành phố khác trên cả nước. Việc thu thập dữ liệu từ nhiều khu vực với đặc điểm dân cư, mức thu nhập và khả năng tiếp cận công nghệ khác nhau sẽ giúp kiểm định lại mô hình nghiên cứu trên một tập mẫu đa dạng hơn, qua đó nâng cao tính khái quát và độ tin cậy của kết quả.

Thứ hai, các nghiên cứu tiếp theo nên xem xét bổ sung những biến trung gian hoặc điều tiết (mediating/moderating variables) có khả năng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình. Cụ thể, những biến như mức độ sẵn sàng công nghệ (technology readiness), nhận thức về quyền riêng tư dữ liệu, hay trải nghiệm sử dụng thực tế của người tiêu dùng có thể giúp lý giải sâu hơn cơ chế tác động và hành vi chấp nhận open banking.

Thứ ba, việc kiểm định lại mô hình trong các bối cảnh khác nhau với sự tham gia của các biến điều tiết mới như hiểu biết công nghệ (IT literacy), niềm tin vào hệ thống pháp lý, hoặc mức độ trung thành với ngân hàng hiện tại cũng là hướng nghiên cứu tiềm năng. Những yếu tố này không chỉ giúp mở rộng phạm vi nghiên cứu mà còn phản ánh rõ hơn đặc trưng hành vi của người tiêu dùng Việt Nam trong bối cảnh văn hóa – pháp lý đặc thù.

Thứ tư, các nghiên cứu tương lai nên kết hợp phương pháp định lượng với phương pháp định tính, thông qua phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm, nhằm khám phá thêm những yếu tố tâm lý – hành vi chưa được thể hiện rõ trong dữ liệu định lượng. Sự kết hợp này sẽ giúp làm phong phú hơn kết quả nghiên cứu và mang lại cái nhìn toàn diện hơn về động cơ, cảm nhận và rào cản của người dùng đối với open banking.

Cuối cùng, việc so sánh giữa các nhóm đối tượng đặc thù – chẳng hạn giữa người sử dụng dịch vụ ngân hàng truyền thống và người dùng ví điện tử – có thể giúp xác định rõ hơn sự khác biệt trong mức độ chấp nhận và hành vi sử dụng dịch vụ ngân hàng mở. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần củng cố cơ sở lý luận mà còn mang lại giá trị thực tiễn trong việc thiết kế chiến lược phát triển sản phẩm và chính sách khách hàng phù hợp với từng phân khúc người dùng.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng.

Dựa vào kết quả của Chương 4, chương này kết luận lại bài luận văn và đưa ra những hàm ý quản trị, những đề xuất có liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng, công ty fintech; các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan và các khách hàng cá nhân nhằm mục đích phát triển và đẩy mạnh dịch vụ open banking trong thời gian sắp tới.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Ý định sử dụng dịch vụ Open Banking của khách hàng

One thought on “Luận văn: KQNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng

  1. Pingback: Luận văn: PPNC đến sử dụng DV Open Banking của khách hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *