Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác Động Của Thu Nhập Ngoài Lãi Đến Hiệu Quả Kinh Doanh Của Các Ngân Hàng Thương Mại Tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ
Để xem xét về đặc điểm dữ liệu của các biến trong mô hình nghiên cứu, luận văn thực hiện phân tích thống kê mô tả. Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu của 28 NHTM trong khoảng thời gian 14 năm từ 2008 – 2021, tuy nhiên các quan sát bị thiếu dữ liệu đều bị loại bỏ, do đó nghiên cứu có 347 quan sát. Chi tiết cụ thể về thống kê mô tả của các biến (bao gồm các thông số liên quan đến giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất của mỗi biến) được trình bày tại bảng 4.1.
| Bảng 4.1. Thống kê các biến trong mô hình nghiên cứu | |||||
| Biến Số quan sát | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất | |
| ROA | 347 | 0.009 | 0.007 | 0.000 | 0.048 |
| ROE | 347 | 0.102 | 0.068 | 0.000 | 0.336 |
| NONII | 347 | 0.200 | 0.148 | -0.552 | 0.801 |
| BANKSIZE | 347 | 18.378 | 1.284 | 14.699 | 21.290 |
| LTA | 347 | 0.560 | 0.131 | 0.114 | 0.852 |
| CIR | 347 | 0.510 | 0.141 | 0.225 | 0.927 |
| NPL | 347 | 0.023 | 0.040 | 0.000 | 0.126 |
| GDP | 347 | 0.059 | 0.014 | 0.026 | 0.072 |
| CPI | 347 | 0.068 | 0.062 | 0.006 | 0.231 |
| DUMMY | 347 | 0.135 | 0.343 | 0 | 1 |
Nguồn: Tính toán của tác giả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Kết quả bảng 4.1. cho thấy trong giai đoạn từ 2008 đến 2021, giá trị bình quân về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) của các NHTM Việt Nam lần lượt là 0.9% và 10.2%, trong khi độ lệch chuẩn của ROA và ROE lần lượt là 0.7% và 6.8%. Trong đó, giá trị ROA thấp nhất thuộc về NHTM cổ phần Quốc Dân năm 2020 với giá trị là 0.0014% và giá trị ROA cao nhất thuộc về NHTM cổ phần Sài Gòn công thương năm 2010 với giá trị 4.8%. Đối với chỉ tiêu ROE, giá trị thấp nhất là 0.028% cũng thuộc về NHTM cổ phần Quốc Dân năm 2020 và giá trị lớn nhất là 33.63% thuộc về NHTM cổ phần Quân đội Việt Nam vào năm 2021. Từ kết quả ROA và ROE này, có thể thấy các NHTM có hiệu quả kinh khác nhau.
Về biến đại hiện cho thu nhập ngoài lãi (NONII), giá trị này được tính bằng tỷ lệ của thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập. Do vậy, khi giá trị NONII càng cao cho thấy thu nhập ngoài lãi của NHTM càng lớn. Giá trị trung bình về tỷ lệ thu nhập ngoài lãi của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2008-2021 là 20%, với giá trị độ lệch chuẩn là 14.8%. Trong đó, NHTM có giá trị tỷ lệ thu nhập ngoài lãi nhỏ nhất là NHTM Bản việt (Vietcapital bank) vào năm 2008 với giá trị âm 55.16%. Nguyên nhân là do nguồn thu nhập của Ngân hàng phụ thuộc toàn bộ vào thu nhập từ lãi. Các hoạt động phi lãi khác đều bị lỗ, khiến giá trị thu nhập ngoài lãi của ngân hàng này bị âm. Giá trị tỷ lệ thu nhập ngoài lãi lớn nhất thuộc về NHTM cổ phần Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank) năm 2013 với giá trị 80.05%, cho thấy ngân hàng này đã có sự đa dạng hóa rất lớn trong nguồn thu của mình. Từ giá trị thu nhập ngoài lãi, có thể thấy mức độ thu nhập ngoài lãi của các NHTM Việt Nam có sự khác biệt.
Đối với một số biến kiểm soát khác trong mô hình nghiên cứu, quy mô NHTM có giá trị trung bình là 18.378 trong đó NHTM có quy mô vốn nhỏ nhất và lớn nhất lần lượt Tienphong Bank năm 2008 và BIDV năm 2021 với giá trị lần lượt là 14.699 và 21.290. Về tỷ lệ cho vay, các NHTM có tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản bình quân là 56%, trong đó NHTM có tỷ lệ cho vay thấp nhất là 11.4% thuộc về NHTM Tiên phong năm 2008 và NHTM có tỷ lệ cho vay cao nhất là 85.2% thuộc về Ngân hàng TMCP Phương Đông năm 2008. Về hiệu quả quản trị chi phí, trong quá trình nghiên cứu, các NHTM có tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động bình quân là 51%, trong khi NHTM thực hiện hiệu quả quản trị chi phí tốt nhất là Ngân hàng TMCP Sài Gòn công thương năm 2010 với giá trị nhỏ nhất là 22.5% và NHTM có tỷ lệ CIR cao nhất là Ngân hàng TMCP Quốc dân năm 2013 với giá trị 92.74%. Biến kiểm soát thuộc về đặc thù ngân hàng cuối cùng, biến tỷ lệ nợ xấu. Trung bình trong giai đoạn nghiên cứu, nợ xấu của các NHTM Việt Nam là 2.3%, bé hơn mức quy định của NHNN, trong đó NHTM có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống là NHTM cổ phần Nam Á, năm 2017 với tỷ lệ 0.0019% và NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao nhất là NHTM cổ phần Sài Gòn năm 2010 với tỷ lệ 12.61%.
Đối với các biến thuộc về nền kinh tế vĩ mô, trong giai đoạn 2008-2021, năm 2021 là năm có tăng trưởng GDP thấp nhất do ảnh hưởng của đại dịch COVID – 19 là 2.59% và năm có tăng trưởng GDP cao nhất là năm 2018 chứng kiến nền kinh tế có sự phát triển nhất với tỷ lệ 7.2%. Về chỉ tiêu lạm phát CPI, năm 2008 là năm có lạm phát lớn nhất với tỷ lệ 23.1% và năm 2015 là năm có tỷ lệ lạm phát thấp nhất với tỷ lệ 0.63%. Về biến DUMMY, đại diện cho dịch COVID-19 nhận giá trị là 1 vào các năm xảy ra đại dịch là 2020 và 2021 và các năm còn lại giá trị 0. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Sau khi thực hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, luận văn còn kiểm tra mức độ tương quan giữa các biến trong mô hình. Bảng 4.2. trình bày hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình. Hệ số tương quan cho biết mức độ tương quan của các biến, khi các hệ số này tiến về 1 hoặc âm 1 cho thấy các biến trong mô hình có mức độ tương quan rất mạnh, trong khi hệ số tương quan tiến về 0 cho thấy mức độ tương quan yếu dần.
Bảng 4.2. Ma trận hệ số tương quan của các biến trong mô hình nghiên cứu
| ROA | ROE | NONII | BANK- SIZE | LTA | CIR | NPL | GDP | CPI | DUM- MY | |
| ROA | 1.000 | |||||||||
| ROE | 0.761 | 1.000 | ||||||||
| NONII
BANK- |
0.130 | 0.138 | 1.000 | |||||||
| SIZE | 0.071 | 0.468 | 0.189 | 1.000 | ||||||
| LTA | 0.018 | 0.084 | -0.015 | 0.263 | 1.000 | |||||
| CIR | -0.714 | -0.698 | -0.193 | -0.279 | -0.071 | 1.000 | ||||
| NPL | -0.169 | -0.263 | 0.093 | -0.156 | -0.075 | 0.202 | 1.000 | |||
| GDP | -0.178 | -0.166 | -0.108 | -0.072 | -0.050 | 0.201 | -0.009 | 1.000 |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Kết quả bảng 4.2 cho thấy hầu hết hệ số tương quan của các biến trong mô hình tương đối thấp đều bé hơn 50% (chỉ duy nhất mối quan hệ giữa biến DUMMY (đại diện cho dịch COVID-19) và tăng trưởng kinh tế GDP có hệ số tương quan âm 89.7%. Để kiểm tra xem mô hình có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến hay không, nghiên cứu thực hiện kiểm định thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF). Bảng 4.3. trình bày kết quả về hệ số VIF của các biến trong mô hình nghiên cứu.
Bảng 4.3. Hệ số VIF các biến trong mô hình nghiên cứu
| Tên biến | VIF | 1/VIF |
| DUMMY | 8.52 | 0.117 |
| GDP | 7.7 | 0.130 |
| CPI | 1.61 | 0.621 |
| BANKSIZE | 1.5 | 0.668 |
| CIR | 1.27 | 0.788 |
| LTA | 1.18 | 0.848 |
| NONII | 1.11 | 0.898 |
| NPL | 1.11 | 0.903 |
| Trung bình VIF | 3 |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Kết quả bảng 4.3 cho thấy tất cả các hệ số VIF đều nhỏ hơn 10 (kể cả biến DUMMY và GDP). Do vậy, có thể kết luận mô hình xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến không nghiêm trọng, có thể tiếp tục thực hiện hồi quy để xem xét về mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của NHTM.
4.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sau khi kiểm định về tính phù hợp của các biến trong mô hình nghiên cứu, luận văn thực hiện ước lượng các mô hình nghiên cứu để tìm ra mô hình phù hợp cho nghiên cứu. Bảng 4.4 và 4.5. trình bày kết quả ước lượng của các mô hình biến phụ thuộc Pooled OLS, FEM, REM đối với các biến phụ thuộc lần lượt là ROA và ROE.
Bảng 4.4. Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc ROA
| Tên biến | Ước lượng Pooled OLS | Ước lượng FEM | Ước lượng REM | |||
| Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | |
| NONII | 0.001 | 0.002 | 0.005*** | 0.002 | 0.003* | 0.002 |
| BANKSIZE | -0.001*** | 0.000 | 0.001** | 0.001 | 0.000 | 0.000 |
| LTA | 0.001 | 0.002 | 0.004* | 0.002 | 0.003 | 0.002 |
| CIR | -0.033*** | 0.002 | -0.033*** | 0.002 | -0.032*** | 0.002 |
| NPL | -0.023 | 0.018 | -0.015 | 0.017 | -0.016 | 0.017 |
| GDP | -0.008 | 0.049 | -0.108** | 0.050 | -0.051 | 0.046 |
| CPI | 0.009* | 0.005 | 0.020*** | 0.005 | 0.014*** | 0.005 |
| DUMMY | 0.001 | 0.002 | -0.005** | 0.002 | -0.002 | 0.002 |
| _cons | 0.037 | 0.005 | 0.008 | 0.008 | 0.024 | 0.006 |
| p-value | 0.0000 | 0.0000 | 0.0000 | |||
| R-square | 0.5254 | 0.4613 | 0.5185 | |||
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
(Ghi chú ***, **, * có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; 5%; 10%)
Kết quả ước lượng đối với mô hình biến phụ thuộc ROA (thông qua bảng 4.4) cho thấy giá trị p-value của các mô hình này đều là α=0.000<0.05 cho thấy các mô hình biến phụ thuộc ROA có ý nghĩa thống kê. Giá trị R-square cho biết mức độ giải thích biến phụ thuộc của các biến độc lập. Với mô hình biến phụ thuộc ROA, giá trị R-square của các mô hình Pooled OLS, FEM, REM lần lượt là 0.5254; 0.4613 và 0.5185 cho thấy các biến độc lập giải thích lần lượt được 52.54%; 46.13% và 51.85% sự thay đổi của ROA đối với các mô hình nghiên cứu. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Đối với mô hình biến phụ thuộc ROE, bảng 4.5. trình bày kết quả ước lượng của các mô hình Pooled OLS, FEM, REM đối với mô hình này.
Bảng 4.5. Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc ROE
| Tên biến | Ước lượng Pooled OLS | Ước lượng FEM | Ước lượng REM | |||
| Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | |
| NONII | -0.006 | 0.017 | 0.029* | 0.017 | 0.012 | 0.017 |
| BANKSIZE | 0.019*** | 0.002 | 0.037*** | 0.005 | 0.025*** | 0.003 |
| LTA | -0.009 | 0.020 | 0.038 | 0.024 | 0.023 | 0.022 |
| CIR | -0.272*** | 0.019 | -0.276*** | 0.019 | -0.269*** | 0.019 |
| NPL | -0.522*** | 0.179 | -0.383** | 0.168 | -0.400** | 0.168 |
| GDP | -0.237 | 0.477 | -1.285** | 0.495 | -0.576 | 0.452 |
| CPI | 0.153*** | 0.048 | 0.271*** | 0.048 | 0.200*** | 0.045 |
| DUMMY | -0.003 | 0.020 | -0.059*** | 0.023 | -0.022 | 0.020 |
| _cons | -0.087 | 0.049 | -0.398 | 0.084 | -0.197 | 0.060 |
| p-value | 0.0000 | 0.0000 | 0.0000 | |||
| R-square | 0.5863 | 0.5543 | 0.5859 | |||
| Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả | ||||||
(Ghi chú ***, **, * có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; 5%; 10%) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Kết quả ước lượng từ bảng 4.5 cho thấy giá trị p-value của các mô hình biến phụ thuộc ROE đều là α=0.000 < α=0.05 cho thấy các mô hình có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Giá trị R-square của các mô hình này lần lượt là 0.5863; 0.5543 và 0.5859 cho biết các mô hình Pooled OLS, FEM, REM có biến độc lập giải thích được 58.63%; 55.43% và 58.59% sự thay đổi của biến ROE.
Sau khi thực hiện ước lượng bằng các phương pháp truyền thống gồm mô hình Pooled OLS, FEM, REM, nghiên cứu tiến hành lựa chọn mô hình phù hợp. Vì mô hình Pooled OLS có nhược điểm là không thể hiện được sự khác biệt giữa các đối tượng trong mô hình nghiên cứu, do đó, luận văn tiến hành lựa chọn giữa hai mô hình FEM và REM. Kết quả của kiểm định Hausman đối với mô hình biến phụ thuộc ROA và ROE lần lượt là 0.1686 và 0.0003 (chi tiết kết quả được trình bày tại phụ lục) có giá trị lần lượt lớn hơn và nhỏ hơn α<0.05, do vậy mô hình phù hợp đối với biến phụ thuộc ROA là mô hình REM trong khi mô hình phù hợp với biến phụ thuộc ROE là mô hình FEM. Sau khi đã lựa chọn được mô hình phù hợp, nghiên cứu tiến hành kiểm định các khuyết tật của mô hình gồm hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi.
Để kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi, nghiên cứu tiến hành bằng kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian đối với mô hình biến phụ thuộc ROA và kiểm định Modified Wald đối với mô hình biến phụ thuộc ROE. Kết quả kiểm định ra giá trị p-value cho cả hai mô hình biến phụ thuộc ROA và ROE là 0.0000 bé hơn α=0.05. Với kết quả này, cả hai mô hình phù hợp của biến phụ thuộc ROA và ROE đều xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
Bên cạnh kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi, nghiên cứu tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan. Để kiểm định hiện này, luận văn sử dụng kiểm định Wooldridge. Kết quả kiểm định cho ra giá trị p-value của mô hình biến phụ thuộc
ROA và ROE lần lượt là 0.0007 và 0.0000 bé hơn α=0.05. Với kết quả này, cả hai mô hình biến phụ thuộc ROA và ROE đều xảy ra hiện tượng tự tương quan.
Tóm lại, sau khi thực hiện các ước lượng hồi quy, mô hình biến phụ thuộc ROA và ROE có mô hình phù hợp là FEM và REM. Tuy nhiên cả hai mô hình này đều xảy ra các khuyết tật như hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Ngoài ra, theo Abuzayed, Al-Fayoumi, and Molyneux (2018), các mô hình kinh tế thường hay xảy ra hiện tượng nội sinh, do vậy để khắc phục các hiện tượng gồm phương sai sai số thay đổi, tự tương quan cũng như hiện tượng nội sinh, nghiên cứu tiến hành ước lượng GMM để khắc phục (Blundell & Bond, 1998). Bảng 4.6. trình bày kết quả ước lượng của các mô hình biến phụ thuộc theo phương pháp SGMM.
Bảng 4.6. Kết quả ước lượng bằng phương pháp SGMM đối với các mô hình
| Tên biến | Mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc ROA | Mô hình biến phụ thuộc ROE | ||
| Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | Hệ số hồi quy | Độ lệch chuẩn | |
| L.ROE | 0.308*** | 0.077 | ||
| L.ROA | 0.419*** | 0.076 | ||
| NONII | 0.015*** | 0.002 | 0.181*** | 0.030 |
| BANKSIZE | -0.001*** | 0.000 | 0.005 | 0.005 |
| LTA | 0.024*** | 0.006 | 0.194** | 0.081 |
| CIR | -0.029*** | 0.004 | -0.293*** | 0.046 |
| NPL | 0.043 | 0.044 | 0.323 | 0.367 |
| GDP | 0.027 | 0.005 | 0.123 | 0.333 |
| CPI | 0.001 | 0.002 | 0.272*** | 0.058 |
| DUMMY | 0.067 | 0.028 | 0.009 | 0.016 |
| _cons Các kiểm định | 0.023 | 0.010 | -0.041 | 0.087 |
| AR (1) p-value | 0.081 | 0.005 | ||
| AR (2) p-value | 0.745 | 0.119 | ||
| Hansen p-value | 0.513 | 0.975 | ||
| Số nhóm | 27 | 35 | ||
| Số biến công cụ | 26 | 27 | ||
| F-test p-value | 0.0000 | 0.0000 | ||
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
(Ghi chú ***, **, * có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5%, 10%)
Để đảm bảo kết quả nghiên cứu không bị sai lệch, nghiên cứu thực hiện các kiểm định của mô hình gồm kiểm định F, kiểm định Arellano-Bond (AR) và kiểm định Hansen. Trong đó F để xem xét mức độ ý nghĩa của mô hình nghiên cứu, kiểm định AR kiểm định sự tương quan của phần dư và kiểm định Hansen xem tính ràng buộc. Kết quả từ bảng 4.6. chỉ ra, kiểm định F của cả hai mô hình biến phụ thuộc ROA và ROE đều là 0.000 nhỏ hơn 0.01 cho thấy các mô hình có ý nghĩa thống kê mức 1%. Kiểm định AR(1) của hai mô hình lần lượt là 0.081 và 0.005 đều nhỏ hơn 0.1 cho thấy các mô hình có sự tương quan chuỗi bậc 1; trong khi kiểm định AR(2) của hai mô hình lần lượt là 0.745 và 0.119 cho thấy mô hình không có sự tương quan chuỗi bậc 2 của phần dư. Cuối cùng kết quả kiểm định Hansen chỉ ra giá trị p-value lần lượt là 0.513 và 0.975 cho thấy mô hình được xác định đúng. Từ các kết quả kiểm định này, có thể kết luận các mô hình hồi quy phù hợp, có thể tiếp tục phân tích kết quả nghiên cứu.
4.3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Từ kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu bằng phương pháp SGMM (được trình bày tại bảng 4.6) luận văn có một số thảo luận như sau:
Một là, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra ROA và ROE năm kề trước tác động cùng chiều đến ROA và ROE của năm hiện tại với mức ý nghĩa 1%. Nghĩa là, hiệu quả kinh doanh của NHTM năm liền trước có quan hệ cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM năm hiện tại. Kết quả này phù hợp với tình hình thực tiễn tại các NHTM Việt Nam. Thực tế, để có được hiệu quả kinh doanh, các NHTM không chỉ cần chú trọng tới công tác đa dạng hóa hoạt động, mà còn các công tác quản trị nội bộ khác như quản trị nguồn nhân lực, quản trị chi phí,…Do đó, việc thực hiện hiệu quả các công tác này trong năm liền trước để cho ra kết quả hoạt động tốt sẽ là tiền đề để các NHTM tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh cho năm sau. Ngược lại, nếu hiệu quả hoạt động kinh doanh năm kề trước không tốt, trường hợp NHTM không có phương án xử lý, cũng là nguyên nhân khiến hoạt động kinh doanh các năm sau không hiệu quả.
Hai là, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, biến NONII đại diện cho thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều đến cả hai biến phụ thuộc ROA và ROE với hệ số hồi quy lần lượt là 0.015 và 0.181 ở mức ý nghĩa 1%. Với kết quả này, khi NHTM càng mở rộng thu nhập ngoài lãi, hiệu quả kinh doanh của họ càng gia tăng. Kết quả nghiên cứu trên phù hợp với kỳ vọng dấu ban đầu của nghiên cứu và cũng phù hợp với các nghiên cứu trước như nghiên cứu của Meslier, Tacneng, and Tarazi (2014), Chiorazzo et al. (2008) hay Lê Văn Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017).
Thực tế, hiện nay mặc dù thu nhập của các NHTM vẫn chủ yếu đến từ nguồn lãi. Dẫu vậy, việc chuyển dịch cơ cấu thu nhập của NHTM từ nguồn thu chủ yếu là lãi sang các nguồn thu ngoài lãi giúp NHTM giảm sự phụ thuộc vào tăng trưởng tín dụng. Thực tế, hiện nay, để tránh lạm phát tăng mạnh và đảm bảo việc phát triển hệ thống tài chính ổn định, NHNN đã yêu cầu các NHTM không được tăng trưởng tín dụng vượt quá mức cho phép. Điều này làm cho các NHTM không thể mở rộng quá nhiều nguồn thu nhập từ lãi, thậm chí trường hợp các NHTM lệ thuộc quá lớn vào hoạt động tín dụng sẽ gặp phải rủi ro giảm thu nhập. Do đó, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập giúp NHTM giảm rủi ro hoạt động, cải thiện năng lực cạnh tranh. Đồng thời, gia tăng nguồn thu ngoài lãi tạo động lực và cơ hội để NHTM cải tiến và không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức của mình, tạo động cơ cho sự phát triển ổn định, an toàn và bền vững của ngành ngân hàng.
Thực tế, hiện nay xu hướng phát triển các dịch vụ ngoài lãi (như ngân hàng số, ngân hàng điện tử, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ,…) là xu hướng mà các NHTM sẽ thực hiện trong kỷ nguyên số, kết hợp với xu hướng hội nhập và mở rộng các cơ hội hợp tác với nước ngoài. Điều này cũng phù hợp về chiến lược phát triển đối với ngành Ngân hàng trong việc thực hiện phấn đấu đến năm 2025 và định hướng 2023 là tăng tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của NHTM lên 16-17% theo Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/08/2018 của Chính phủ đã ban hành. Do vậy, nghiên cứu chấp nhận giả thuyết H1 về quan hệ cùng chiều giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
Ba là, kết quả nghiên cứu chỉ ra, quy mô ngân hàng có tác động tác động đến biến ROA với hệ số hồi quy âm 0.001 ở mức ý nghĩa 1% và hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê đối với biến ROE. Với kết quả này, khi NHTM có quy mô tài sản càng lớn thì tỷ suất sinh lời càng giảm. Mặc dù kết quả này trái ngược với kỳ vọng dấu ban đầu của nghiên cứu song lại tương đối phù hợp với tình hình thực tiễn tại Việt Nam.
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy việc tác động cùng chiều hay ngược chiều của biến ROA với tỷ suất sinh lời được nhìn nhận với 2 giai đoạn như sau: Giai đoạn 2011 – 2015 tương quan là nghịch chiều và giai đoạn 2016 – 2021 thể hiện sự tương quan thuận chiều. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Giai đoạn 2011 – 2015, mối quan hệ giữa quy mô và ROA là nghịch chiều cho thấy rằng các NHTM Việt Nam gia tăng quy mô nhưng hiệu quả tài chính lại giảm nguyên nhân 2011 – 2015 là giai đoạn cơ cấu lại hệ thống các TCTD theo Quyết định số 254/QĐ-TTg.
Cùng với đó, Hậu quả của một thời kỳ phát triển bong bóng bất động sản, chứng khoán và tín dụng, cho vay vượt quá khả năng nguồn vốn trong những năm 2005 – 2007 đã tích lũy khó khăn cho các NHTM giai đoạn sau. Có thể nhận thấy rõ qua tỷ lệ nợ xấu liên quan đến bất động sản tăng nhanh, rủi ro tín dụng tiềm ẩn, đây chính là những nguyên nhân dẫn đến tổng lợi nhuận của các ngân hàng sụt giảm mạnh. Giai đoạn này, Chính phủ đã phải đưa ra nhiều giải pháp can thiệp nhằm hạ nhiệt tín dụng như giải pháp xử lý nợ xấu, nợ liên ngân hàng và tái cơ cấu nguồn vốn.
Thêm một hậu quả để lại từ những năm trước đó là việc ồ ạt tuyển dụng nhân viên, mở thêm chi nhánh, tăng cường cơ sở hạ tầng để đáp ứng sự tăng trưởng tài sản nhanh của các ngân hàng. Vì vậy, khi Chính phủ có những biện pháp can thiệp hạ nhiệt thị trường tín dụng, ngân hàng phải gánh chịu các chi phí này ở giai đoạn sau. Điều đó làm gia tăng chi phí hoạt động đáng kể cho ngân hàng, thêm yếu tố cho việc giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Hệ thống doanh nghiệp hoạt động sa sút, phá sản hàng loạt, dẫn tới tổng cầu tín dụng suy giảm theo và khả năng trả nợ của doanh nghiệp giảm thấp, khiến nợ xấu tăng cao, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng.
Giai đoạn 2016 – 2021, mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả tài chính là thuận chiều cho thấy sự gia tăng quy mô tổng tài sản đã tạo ra hiệu quả tài chính tích cực cho các ngân hàng; các ngân hàng càng có quy mô lớn, hiệu quả tài chính đạt được càng cao. Kết quả này phản ánh một phần sự thành công của Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD. Sau 05 năm thực hiện tái cơ cấu các TCTD, bắt đầu từ năm 2016, hệ thống ngân hàng đã có dấu hiệu khởi sắc về lợi nhuận, những năm sau đó, lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng trưởng mạnh cho đến năm 2021. Mặc dù năm 2020 và năm 2021, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức thấp kỷ lục trong 15 năm qua (năm 2020 là 2,9% và năm 2021 là 2,59%) nhưng lợi nhuận ngân hàng vẫn tăng trưởng và quy mô tổng tài sản của các NHTM không ngừng được mở rộng. Qua đây có thể nhận thấy được phần nào lợi ích kinh tế nhờ quy mô và phạm vi mà các NHTM Việt Nam đã tận dụng được trong hoạt động kinh doanh của mình.
Bốn là, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, tỷ lệ cho vay tên tổng tài sản tác động cùng chiều đến cả biến ROA và ROE với hệ số hồi quy lần lượt là 0.024 và 0.194 ở mức ý nghĩa 1%. Kết quả này cho thấy khi ngân hàng có tỷ lệ cho vay càng cao, hiệu quả kinh doanh càng tốt và đồng thời cũng phù hợp với kỳ vọng dấu ban đầu của nghiên cứu và các nghiên cứu trước như Stiroh (2004), Chiorazzo et al. (2008) hay Mercieca et al. (2007). Như đã trình bày, đến nay, các NHTM Việt Nam vẫn có nguồn thu chủ yếu đến từ lãi, do vậy khi tỷ lệ cho vay càng cao, thì thu nhập lãi càng lớn, kích thích gia tăng lợi nhuận, từ đó gia tăng tỷ suất sinh lời đối với tài sản và vốn chủ sở hữu sẽ tăng, đồng thời hiệu quả kinh doanh được đẩy mạnh. Từ kết quả nghiên cứu, luận văn chấp nhận giả thuyết H3 về mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Năm là, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động tác động đến cả hai biến ROA và ROE ở mức ý nghĩa 1% với hệ số hồi quy lần lượt là âm 0.029 và âm 0.293.
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy khi NHTM có tỷ lệ chi phí hoạt động càng cao (nghĩa là khả năng quản trị chi phí càng thấp) thì hiệu quả kinh doanh bị sụt giảm. Điều này phù hợp với kỳ vọng dấu ban đầu của nghiên cứu, đồng thời cũng phù hợp với tình hình thực tiễn tại các NHTM. Khi NHTM thực hiện quản trị chi phí không tốt sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng này. Do vậy nghiên cứu chấp nhận giả thuyết H4 về mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động và hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Sáu là, kết quả nghiên cứu chỉ ra biến nợ xấu (NPL) có tác động đến ROA và ROE nhưng hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Với kết quả này cho thấy nợ xấu không phải là yếu tố làm cho kết quả kinh doanh của NHTM bị sụt giảm. Điều này trái với kỳ vọng ban đầu của nghiên cứu, nhưng có thể được giải thích như sau. Trong những năm vừa qua các NHTM rất tích cực trong việc xử lý các khoản nợ có vấn đề chẳng hạn như đôn đốc nhắc nhở khách hàng trả nợ hay bán nợ cho VAMC. Đồng thời các NHTM cũng rất chú ý đến việc thẩm định khách hàng trước khi thực hiện cho vay (được thể hiện thông qua tỷ lệ nợ xấu của các NHTM trong những năm gần đây hầu hết ở mức dưới 3% theo quy định của NHNN). Với mức nợ xấu thấp cùng các biện pháp mà NHTM thực hiện đã giúp cho chỉ tiêu này không ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Do vậy nghiên cứu này không có cơ sở để chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết H5 về mối quan hệ giữa nợ xấu và hiệu quả kinh doanh.
Bảy là, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tăng trưởng GDP có tác động đến chỉ tiêu ROA và ROE nhưng hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cũng khác so với kỳ vọng dấu ban đầu của nghiên cứu, nhưng giống kết quả nghiên cứu của Combey and Togbenou (2017), Delis (2012). Tuy nhiên, có thể giải thích vấn đề này như sau, trong giai đoạn nghiên cứu từ 2008 đến 2021, kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến chẳng hạn giai đoạn 2008-2009 là thời gian xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới; giai đoạn từ 2010 đến 2015 nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng và có nhiều bước đột phá phát triển trong giai đoạn từ 2016 đến 2019. Tuy nhiên đến 2020-2021 nền kinh tế lại có dấu hiệu suy giảm do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên nghiên cứu chưa thể tìm ra mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Tám là, chỉ tiêu lạm phát CPI có tác động đến hệ số ROA nhưng không có ý nghĩa thống kê trong khi có tác động cùng chiều đến ROE với mức ý nghĩa 1% và hệ số hồi quy là 0.272. Kết quả này cho thấy CPI có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của NHTM và đồng thời cũng trái ngược với kỳ vọng dấu ban đầu của nghiên cứu nhưng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Combey and Togbenou (2017), Delis (2012). Thực tế, nếu tỷ lệ lạm phát được duy trì mức thấp (dưới 1 con số) là tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua, dưới sự điều hành CSTT của NHNN, lạm phát thường được duy trì ở mức một con số, điều này kích thích các hoạt động đầu tư, sản xuất, từ đó ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Do vậy, nghiên cứu này bác bỏ giả thuyết H6 về mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ lạm phát CPI và hiệu quả kinh doanh của NHTM. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Cuối cùng là, biến đại diện cho dịch COVID-19 (biến DUMMY) có tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM, song hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này khá đặc biệt bởi khi đại dịch COVID-19 bùng nổ tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trong khu vực, Chính phủ các quốc gia đã thực hiện nhiều biện pháp xã hội, chẳng hạn như phong tỏa, giãn cách xã hội,…Khi áp dụng biện pháp này làm cho các doanh nghiệp bị đình trệ trong quá trình sản xuất, tuy nhiên lại không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. Lý giải điều này, là nhờ sự điều hành chính sách linh hoạt của NHNN, vào thời điểm bắt đầu xuất hiện dịch COVID-19, NHNN đã ban hành thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch COVID-19 ngày 13/03/2020; sau đó đến ngày 07/09/2021 NHNN tiếp tục ban hành thông tư 14/2021/TT-NHNN để bổ sung một số điều của thông tư 01/2020/TT-NHNN. Chính các biện pháp linh hoạt này đã giúp cho các NHTM không phải chuyển nhóm nợ cho khách hàng, từ đó tránh được các hoạt động trích lập dự phòng,…đảm bảo hoạt động kinh doanh ngân hàng diễn ra ổn định, bình thường. Tóm lại, từ kết quả nghiên cứu, luận văn không có căn cứ để bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H7 về mối quan hệ giữa đại dịch COVID-19 và hiệu quả kinh doanh ngân hàng.
Như vậy, về cơ bản kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được sự phù hợp trong tình hình hoạt động kinh doanh của NHTM. Bảng 4.7 trình bày tóm tắt về kết quả nghiên cứu.
Bảng 4.7. Tóm tắt kết quả nghiên cứu
| Tên biến | Kỳ vọng dấu | Thực tế | Chấp nhận / Bác bỏ giả thuyết |
| NONII | + | + | Chấp nhận |
| BANKSIZE | + | – | Bác bỏ |
| LTA | + | + | Chấp nhận |
| CIR | – | – | Chấp nhận |
| NPL | – | Không tác động | Không có căn cứ |
| GDP | + | Không tác động | Không có căn cứ |
| CPI | – | + | Bác bỏ |
| DUMMY | – | Không tác động | Không có căn cứ |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Chương 4 của luận văn đã trình bày khái quát về thông tin dữ liệu các biến trong mô hình nghiên cứu, trình bày kết quả của các mô hình nghiên cứu cũng như các kiểm định được thực hiện để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp và thực hiện phân tích các kết quả của nghiên cứu để xem xét về tác động của thu nhập ngoài lãi cũng như các yếu tố thuộc về ngân hàng và các yếu tố thuộc về nền kinh tế vĩ mô khác tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Kết quả nghiên cứu của chương 4 là cơ sở để luận văn đề xuất một số hàm ý chính sách trong chương 5.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1. KẾT LUẬN
Phát triển thêm các nguồn thu nhập ngoài lãi là một trong những xu hướng tất yếu mà các NHTM đang thực thi. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ tổng thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động của NHTM làm đại diện cho hoạt động thu nhập ngoài lãi; các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm đại diện cho hiệu quả kinh doanh của NHTM. Luận văn sử dụng mẫu dữ liệu của 28 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2008-2021, bằng các kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng gồm Pooled OLS, FEM, REM, GMM kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, thu nhập ngoài lãi là động lực để các NHTM gia tăng hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố thuộc về nội bộ ngân hàng và các yếu tố thuộc về nền kinh tế vĩ mô có tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Trong đó, các yếu tố tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của NHTM gồm tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và lạm phát CPI, trong khi quy mô NHTM và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập tác động ngược chiều đến yếu tố này. Đồng thời, nghiên cứu chưa tìm ra mối quan hệ của các yếu tố gồm tỷ lệ nợ xấu, tăng trưởng kinh tế GDP, đại dịch COVID-19 và hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
5.2. HÀM Ý QUẢN TRỊ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Thu nhập ngoài lãi hiện đang là một vấn đề được quan tâm bởi nhiều thành phần khác nhau, từ cơ quan quản lý nhà nước cho đến nhà quản trị ngân hàng. Việc đa dạng hóa các hoạt động phi tín dụng nhằm tăng tỉ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập, trở thành các ngân hàng đa năng đúng nghĩa nên là giải pháp ưu tiên nhất của tất cả các NHTM Việt Nam và cũng là xu thế phát triển tất yếu trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, cạnh tranh khốc liệt.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kiến nghị để gia tăng thu nhập ngoài lãi từ đó sẽ làm hiệu quả kinh doanh của NHTM tăng lên:
Một là, kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập ngoài lãi có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của NHTM:
NHTM cần tiếp tục đa dạng hóa các hoạt động bên cạnh việc tập trung vào hoạt động chính là tín dụng. Để đạt được mục tiêu này, NHTM cần thường xuyên nâng cấp chất lượng sản phẩm, cải tiến quy trình, tiếp tục ứng dụng các công nghệ số hóa để cho khách hàng có các trải nghiệm trong suốt khi thực hiện giao dịch với ngân hàng. Ngoài ra, NHTM cũng cần nghiên cứu để đa dạng hóa cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, chẳng hạn như ứng dụng phát triển theo nhiều sản phẩm với hàm lượng công nghệ cao để khách hàng có thể sử dụng dịch vụ ngày một thuận tiện và nhanh chóng hơn.
Bên cạnh đó, NHTM nên tiên phong trong việc cung ứng những sản phẩm, dịch vụ mới để thu hút khách hàng gia tăng nền khách hàng của ngân hàng. Xây dựng bộ phận nghiên cứu phát triển những sản phẩm, dịch vụ mới chưa có ở Việt Nam nhưng sản phát triển hiệu quả tại những nước khác. NHTM phát triển danh mục sản phẩm dịch vụ theo mặt bằng chung thị trường, mở rộng tiện ích, đối tượng, phạm vi triển khai trong đó tập trung phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ trên nền tảng công nghệ hiện đại như dịch vụ E-Banking, dịch vụ thẻ…Cuối cùng bổ sung, phát triển thêm nhiều sản phẩm bán chéo như bancassurance, sản phẩm thẻ, dịch vụ để một mặt ngân hàng gia tăng thêm các nguồn thu, mặt khác giúp khách hàng có những trải nghiệm tốt nhất về các sản phẩm dịch vụ tài chính.
Việc đầu tư và ứng dụng công nghệ hiện đại sẽ giúp các Ngân hàng giải quyết được các bài toán khó về việc mở rộng hoạt động kinh doanh mà không cần mở thêm các phòng, điểm giao dịch mà vẫn thu hút được khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ, giúp kiểm soát, giảm chi phí hoạt động, tăng nguồn thu phí dịch vụ. Tuy nhiên, việc phát triển công nghệ ngân hàng cần phải được lập thành một kế hoạch có lộ trình cụ thể, đảm bảo tăng hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng
Hai là, kết quả nghiên cứu chỉ ra, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Với kết quả này, bên cạnh việc đa dạng hóa các sản phẩm thì NHTM vẫn cần chú trọng để tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, để đảm bảo việc tăng trưởng tín dụng là bền vững, các NHTM cần chú trọng đến chất lượng khoản vay, năng lực khách hàng. Đảm bảo việc tăng trưởng về số lượng đi kèm với việc tăng trưởng về chất lượng.
Ba là, kết quả nghiên cứu chỉ ra, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động có tác động ngược chiều đến kết quả kinh doanh của NHTM. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
Với kết quả này, các NHTM cần chú ý hơn trong việc quản trị chi phí. Sự gia tăng chi phí hoạt động sẽ làm giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, NHTM cần quản lý tốt chi phí hoạt động để gia tăng lợi nhuận. Quản lý tốt chi phí hoạt động là vấn đề cần thiết của mỗi ngân hàng để góp phần gia tăng lợi nhuận. Đồng thời, tăng cường các ứng dụng công nghệ thông tin để giảm bớt các chi phí liên quan đến hoạt động như chi phí mặt bằng, nhân công,….Tuy nhiên để phát triển bền vững, bên cạnh việc tiết giảm các chi phí hoạt động, NHTM cũng cần gia tăng đầu tư vào các sản phẩm công nghệ tài chính mới để đảm bảo năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh hiện nay.
Bốn là, Kết quả nghiên cứu cho thấy các NHTM Việt Nam có thể giảm rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời thông qua:
- Tăng nguồn thu nhập từ các hoạt động phi tín dụng;
- Bên cạnh đó, tiếp tục nâng cao nguồn thu từ các hoạt động tín dụng;
- Cơ cấu nguồn vốn hợp lý, tránh tập trung phần lớn nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng
Cuối cùng, để đảm bảo hiệu quả kinh doanh của NHTM
Các NHTM cần chủ động trong việc phòng ngừa các rủi ro từ phía môi trường kinh tế vĩ mô để đảm bảo không gặp phải các cú sốc khi nền kinh tế có các biến động không thuận lợi.
5.3. HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Về cơ bản, mặc dù nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đề ra, xong vẫn còn một số hạn chế, chẳng hạn:
Một là, nghiên cứu này hiện tại đang sử dụng mẫu dữ liệu của các NHTM Việt Nam mà chưa xem xét đến các loại hình ngân hàng khác như ngân hàng liên doanh, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, Ngân hàng 100% vốn nhà nước. Do vậy trong các nghiên cứu tiếp theo, học viên sẽ thực hiện nghiên cứu với số lượng loại hình ngân hàng nhiều hơn để có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh ngân hàng.
Hai là, nghiên cứu hiện nay đang xem xét tổng quan về toàn bộ các nguồn thu nhập ngoài lãi, mà chưa đi sâu vào trong từng bộ phận các nguồn thu ngoài lãi (chẳng hạn thu phí dịch vụ, ngoại hối,…). Do vậy trong các nghiên cứu tiếp theo, tác giả sẽ thực hiện xem xét chi tiết về tác động của từng nguồn thu nhập cũng như tác động của toàn bộ thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của NHTM. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH […]