Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác Động Của Thu Nhập Ngoài Lãi Đến Hiệu Quả Kinh Doanh Của Các Ngân Hàng Thương Mại Tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với các kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng gồm mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình các yếu tố ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình các yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM). Sau đó thực hiện kiểm định để chọn ra mô hình phù hợp. Để đảm bảo kết quả không bị sai lệch, mô hình phù hợp sẽ được kiểm định các khuyết tật gồm hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Trường hợp mô hình phù hợp xảy ra một trong các hiện tượng này cùng với hiện tượng nội sinh thì luận văn sử dụng phương pháp moment tổng quát (GMM) để khắc phục. Sau khi thu thập dữ liệu và tính toán các biến của mô hình đang nghiên cứu, học viên sử dụng Stata 16 là phần mềm để thực hiện các kỹ thuật ước lượng định lượng như sau:
Đầu tiên, sử dụng số liệu thống kê mô tả biến đổi để mô tả và hiểu rõ các thuộc tính của tập dữ liệu nghiên cứu. Thứ hai, trong mô hình phân tích định lượng, thực hiện phân tích tương quan giữa hiện tượng đa cộng tuyến và các biến để xác định mối tương quan tuyến tính giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc, cũng như giữa các biến độc lập. Sau đó, mô hình nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng được hồi quy bằng một trong ba phương pháp: hồi quy Pooled OLS, mô hình FEM hoặc mô hình REM. Thựchiện kiểm tra để chọn mô hình tốt nhất trong số ba mô hình: Pooled OLS, FEM và REM. Thực hiện F-Test để chọn Pool OLS hoặc FEM. Đồng thời, tác giả thực hiện bài kiểm tra Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM. Trường hợp mô hình được chọn có khiếm khuyết như hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan thì tác giả sẽ cần một ước lượng khác để khắc phục. Ngoài ra, đối với các mô hình kinh tế lượng về lĩnh vực kinh tế, thường xảy ra vấn đề nội sinh. Do vậy trường hợp mô hình nghiên cứu xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi và/hoặc hiện tượng tự tương quan và nội sinh nghiên cứu sử dụng phương pháp GMM do Arellano and Bond (1991) đề xuất và Blundell and Bond (1998) phát triển toàn diện.
Cụ thể, nghiên cứu được thực hiện theo quy trình sau đây:

Nguồn: Tác giả đề xuất
3.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
3.2.1. Mô hình nghiên cứu
Dựa trên mô hình nghiên cứu của Hamdi et al. (2017), Vinh and Mai (2015), mô hình nghiên cứu tổng quát của luận văn như sau: 𝑩𝒂𝒏𝒌 − 𝒑𝒆𝒓𝒇𝒐𝒓𝒎𝒂𝒏𝒄𝒆𝒊,𝒕 = 𝜶𝟎 + 𝜷𝒊𝒏𝒐𝒏 − 𝒊𝒏𝒕𝒆𝒓𝒆𝒔𝒕 𝒊𝒏𝒄𝒐𝒎𝒆𝒊𝒕 + 𝜸𝒊𝒄𝒐𝒏𝒕𝒓𝒐𝒍 − 𝒗𝒂𝒓𝒊𝒂𝒃𝒍𝒆𝒔𝒊𝒕 + µ𝒊𝒕 + 𝜺𝒊𝒕 (3.1)
Trong mô hình (3.1), i và t thể hiện cho ngân hàng i trong năm t; bankperformance là biến phụ thuộc đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, được đo lường bằng hai chỉ số gồm ROE, ROA; noninterest income là biến đại diện cho thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại; control-variables là các biến kiểm soát gồm một số đặc điểm của NHTM và nền kinh tế, µ và ε thể hiện phần dư và sai số.
3.2.2. Các biến trong mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu
3.2.2.1. Các biến đại diện cho hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại
Trong các nghiên cứu trước đây, đã sử dụng khá nhiều các chỉ tiêu để đại diện cho hiệu quả kinh doanh của NHTM, như tỷ suất ROA, ROE, hay tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM),…. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, luận văn sử dụng hai chỉ tiêu thường được các nghiên cứu áp dụng để đại diện cho hiệu quả kinh doanh của NHTM là ROA,
ROE. Hai chỉ tiêu này được nhiều nghiên cứu sử dụng như Nguyễn Quốc Anh và Tăng Mỹ Sang (2022), Phan et al. (2023), Isshaq et al. (2019) sử dụng. Trong đó:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity) (ROE) được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ. ROE phản ánh khả năng sử dụng vốn để tạo ra lợi nhuận dành cho chủ sở hữu, do vậy tỷ lệ ROE càng lớn cho thấy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets) được đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân trong kỳ. ROA cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, do đó tỷ lệ ROA càng lớn, cho thấy năng lực tận dụng nguồn lực của ngân hàng càng tốt, điều này tạo điều kiện để NHTM nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.2.2.2. Biến đại diện cho thu nhập ngoài lãi Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Để đo lường thu nhập ngoài lãi của NHTM, nghiên cứu này sử dụng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhâp làm đại diện cho chỉ tiêu trên. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập bao gồm ba bộ phận gồm tỷ lệ thu nhập thuần từ đầu tư, từ các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ và tỷ lệ thu nhập thuần từ các hoạt động khác. Trong đó, thu nhập hoạt động thuần được tính bằng tổng thu nhập thuần từ lãi và thu nhập thuần từ các hoạt động ngoài lãi. Chỉ tiêu này được nhiều nhà nghiên cứu trước sử dụng như Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2017), Phan et al. (2023), Chiorazzo et al. (2008) sử dụng.
Thực tế, các khoản thu nhập từ lãi vẫn là bộ phận quan trọng trong tổng thu nhập của NHTM. Tuy nhiên các khoản thu nhập từ lãi tương đối rủi ro khi nền kinh tế hoặc NHTM có các biến động bất ngờ, do vậy nếu nguồn thu của NHTM chủ yếu tập trung vào thu nhập từ lãi sẽ khiến NHTM gặp rủi ro giảm doanh thu lớn khi nguồn thu từ lãi giảm. Đối với các khoản thu nhập ngoài lãi, đây là bộ phận lợi nhuận tương đối ổn định của NHTM và không chịu tác động lớn khi nền kinh tế có các biến động bất thường.
Điều này tạo điều kiện thuận lợi để NHTM gia tăng hiệu quả kinh doanh. Do đó, trong luận văn này, tác giả đề xuất giả thuyết như sau:
Giả thuyết H1: Thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
3.2.2.3. Các biến kiểm soát khác
Bên cạnh biến giải thích chính đại diện cho thu nhập ngoài lãi của NHTM, để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận văn còn sử dụng một số biến kiểm soát cho mô hình nghiên cứu gồm:
Quy mô ngân hàng (Banksize): Quy mô ngân hàng là một trong những thước đo tài chính quan trọng được sử dụng để xem xét về độ lớn của NHTM. Quy mô của NHTM có thể đo lường bằng nhiều cách khác nhau như thông qua tổng tài sản, doanh thu,…Tuy nhiên, cách đo lường được nhiều tác giả sử dụng nhất là thông qua tổng tài sản. Trong nghiên cứu này, quy mô ngân hàng được đo lường bằng logarite tự nhiên của tổng tài sản (DeYoung & Rice, 2004a).
Thực tế, các ngân hàng có quy mô vốn lớn, thường dễ dàng trong việc đầu tư nâng cấp các hệ thống quản trị bao gồm quản trị nâng cao chất lượng khoản vay, quản trị nguồn nhân lực. Điều này sẽ tác động cùng chiều làm gia tăng lợi nhuận của NHTM.
Bên cạnh đó, các ngân hàng lớn hơn có thể mở rộng hoạt động cả về số lượng khách hàng và mạng lưới hoạt động bằng cách tận dụng nguồn vốn có chi phí thấp hơn. Các NHTM có quy mô lớn, thường có lợi thế cạnh tranh hơn khi hoạt động cũng như đa dạng hóa trong danh mục tài sản so với các NHTM có quy mô nhỏ hơn. Trong khi đó, các NHTM nhỏ sẽ phải tìm kiếm những khách hàng có rủi ro tín dụng thấp hoặc họ sẽ phải yêu cầu nhiều tài sản thế chấp hơn để bảo đảm tính an toàn hoạt động vốn trong kinh doanh của mình. Thông thường, các ngân hàng có quy mô lớn tại Việt Nam sẽ có lợi thế hơn về vốn lưu động với chi phí thấp do dựa vào mạng lưới chi nhánh, địa điểm kinh doanh và sản phẩm dịch vụ đa dạng. Trong các nghiên cứu trước đây của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) và Chiorazzo et al. (2008) cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và hiệu quả kinh doanh của NHTM. Do vậy trong nghiên cứu này, đề xuất giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết H2: Quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản: Tỷ lệ này cho biết quy mô tín dụng của NHTM, phản ánh chiến lược sử dụng tài sản của NHTM. Khi tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản càng cao, thể hiện NHTM đang tập trung nhiều vào hoạt động tín dụng. Thực tế, tại Việt Nam, hoạt động cho vay vốn là hoạt động truyền thống mang lại cho NHTM nguồn thu lớn từ lãi. Các NHTM có dư nợ về tín dụng càng cao thì thu nhập lãi càng nhiều, ngoài ra, NHTM còn có nhiều cơ hội tư vấn thêm các sản phẩm phi tín dụng cho khách hàng vay hiện có để góp phần cải thiện doanh số trong kinh doanh và thu nhập của ngân hàng. Dẫu vậy, hoạt động cho vay chứa đựng nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,…nên chứa đựng nhiều rủi ro khi sự gia tăng về quy mô cho vay không tương thích với sự gia tăng về chất lượng khoản vay. Khi chất lượng khoản vay có vấn đề, NHTM xuất hiện nợ xấu buộc họ phải trích lập dự phòng, ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM.
Mặc dù vậy, theo Ahmad & Ariff (2007), tỷ lệ cho vay không phải là yếu tố quan trọng để hình thành rủi ro tín dụng, nên do vậy trong bài luận này tác giả cho rằng hoạt động cho vay sẽ mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng, điều này kích thích hiệu quả kinh doanh. Do vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết: Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Giả thuyết H3: Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM tại Việt Nam.
Hiệu quả quản trị chi phí: Hiệu quả quản trị chi phí cho biết để tạo ra một đồng thu nhập hoạt động, NHTM cần phải sử dụng bao nhiêu đồng chi phí hoạt động, chỉ tiêu này đo lường thông qua tỷ số chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động. Khi tỷ lệ này càng cao nghĩa là NHTM sử dụng càng nhiều chi phí để tạo ra một đồng thu nhập, hay NHTM đang bị giảm hiệu quả quản trị chi phí. Trong thực tế, thu nhập là phần doanh thu còn lại sau khi loại bỏ chi phí, do vậy khi công tác quản trị hiệu quả chi phí giảm, làm giảm thu nhập ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Với ý tưởng này, luận văn đề xuất giả thuyết:
Giả thuyết H4: Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Nợ xấu (NPL): Nợ xấu là một trong những biến số đo lường rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ nợ xấu (tổng nợ nhóm 3, 4, 5) trên tổng dư nợ của NHTM. Nợ xấu càng cao, nghĩa là NHTM đang gặp phải rủi ro tín dụng càng lớn. Để NHTM tránh các tổn thất do nợ xấu gây ra, các NHTM buộc phải thực hiện trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu này. Điều này làm cho lợi nhuận của NHTM sụt giảm, ảnh hưởng ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Với ý nghĩa này, luận văn đề xuất giả thuyết:
Giả thuyết H5: Nợ xấu có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Tăng trường kinh tế GDP: Trong bài này, tác giả sử dụng chỉ số GDP thực tế được công bố hàng năm để kiểm soát đối với các chu kỳ kinh tế bên ngoài ngân hàng. Sự gia tăng hoạt động ngân hàng là một trong nhiều tác động của sự mở rộng nền kinh tế, được đo bằng yếu tố tốc độ tăng trưởng GDP. Tốc độ tăng trưởng GDP liên tục tăng qua các năm là một tín hiệu đáng mừng, nó cho thấy cơ hội kinh doanh được cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh được khôi phục và diễn ra mạnh mẽ. Điều này làm cho mong muốn về vốn cũng như việc áp dụng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng như bao lãnh, thư tín dụng, thanh toán,…gia tăng nhanh chóng, góp phần cho sự phát triển của các NHTM thông qua sự tăng trưởng từ thu nhập ngoài lãi và thu nhập từ lãi. Bên cạnh đó, nền kinh tế có sự tăng trưởng ổn định sẽ giúp cho môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi. Do đó, nghiên cứu kỳ vọng giả thuyết như sau:
Giả thuyết H6: Tăng trưởng kinh tế GDP tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Lạm phát CPI: Ngoài tăng trưởng kinh tế GDP, lạm phát cũng được sử dụng như một biến kiểm soát về nền kinh tế vĩ mô. Trong đó, lạm phát được biết đến như một hiện tượng mất giá trị của tiền tệ. Trong thực tế, lạm phát cao là một trong những lý do khiến các ngân hàng có xu hướng nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản. Đồng thời, các ngân hàng trở nên dề bị tác động tiêu cực hơn khi lạm phát gia tăng, đặc biệt đối với các ngân hàng chú trọng cho vay dài hạn. Đồng thời khi lạm phát tăng mạnh, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của nền kinh tế, khiến hoạt động kinh doanh đình trệ, các chủ thể khó có khả năng hoàn trả gốc lãi khoản vay, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Do vậy, nghiên cứu kỳ vọng giả thuyết sau:
Giả thuyết H7: Lạm phát tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
Đại dịch COVID-19: Đại dịch COVID-19 xuất hiện lần đầu trên thế giới vào tháng 12/2019 tại Vũ Hán (Trung Quốc). Tuy nhiên tại Việt Nam, ca nhiễm đầu tiên được ghi nhận từ tháng 02/2020, mặc dù với sự nỗ lực tận tâm của toàn hệ thống chính trị Việt Nam, tuy nhiên do dịch bùng nổ tại nhiều quốc gia trên thế giới, giai đoạn gần cuối 2020 dịch lan nhanh hầu hết các tỉnh nước ta. Dưới ảnh hưởng của đại dịch, Chính phủ đã ban hành nhiều biện pháp để kiểm soát như giãn cách xã hội, đóng cửa doanh nghiệp, trường học,… Điều này khiến tình hình kinh doanh nói chung bị trì trệ, các doanh nghiệp mất khả năng chi trả các khoản lãi và gốc đến hạn cho ngân hàng, ảnh hưởng đến thu nhập, dẫn đến hiệu quả kinh doanh sụt giảm. Do vậy, luận văn kỳ vọng giả thuyết:
Giả thuyết H8: Đại dịch COVID-19 tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Tóm lại, trong nghiên cứu này, biến ROA, ROE được đại diện để đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM. Trong khi đó, biến tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập được đại diện cho biến thu nhập ngoài lãi. Ngoài ra, các biến được nghiên cứu ứng dụng để làm biến kiểm soát bao gồm các biến đặc thù ngân hàng (bao gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập hoạt động trên chi phí hoạt động và nợ xấu của NHTM) và các biến đại diện cho nền kinh tế vĩ mô (gồm tăng trưởng kinh tế GDP, lạm phát CPI và đại dịch COVID-19). Cụ thể, các biến này được trình bày tóm tắt tại bảng 3.1.
Bảng 3.1. Định nghĩa các biến trong mô hình nghiên cứu
| Tên biến | Cách đo lường | Kỳ vọng dấu | Các nghiên cứu trước |
| Biến phụ thuộc Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh. | |||
| ROA | 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 |
Nguyễn Quốc Anh và Tăng Mỹ Sang (2022), Phan et al. (2023), Isshaq et al. (2019), Vinh and Mai (2015), Lee, Yang, and Chang (2014) | |
| ROE | 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế
𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 |
Nguyễn Quốc Anh và Tăng Mỹ Sang (2022), Phan et al. (2023), Isshaqet al. (2019), Lee et al. (2014) | |
| Biến độc lập | |||
| Các biến giải thích chính | |||
| NONII | + | Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2017), Phanet al. (2023), Chiorazzo et al. (2008), Lee et al. (2014) | |
| Biến kiểm soát | |||
| BANKSIZE | Ln(tổng tài sản) | + | Lê Đình Luân & ctg (2021), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) và Chiorazzo et al. (2008), DeYoung and Rice (2004b), Lee et al. (2014) |
| LTA | + | Chiorazzo et al. (2008), Lepetit, Nys, Rous, and Tarazi (2008), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) | |
| CIR | 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔
𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 |
– | Lê Đình Luân & ctg (2021) |
| NPL | 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 (𝑁ợ 𝑛ℎó𝑚 3; 4; 5)
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 |
– | Phan et al. (2023), Lee et al. (2014) |
| GDP | Được thu thập từ Website của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF | + | Chiorazzo et al. (2008),
Lê Đình Luân & ctg (2021) |
| CPI | Được thu thập từ Website của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF | – | Lê Đình Luân & ctg (2021) |
| DUMMY | Biến giả, nhận giá trị là 1 trong năm có xảy ra đại dịch COVID-19 là năm 2020, 2021 và giá trị 0 cho các năm còn lại | – | Tác giả đề xuất |
Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu trước
3.3. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu trong quá trình nghiên cứu, luận văn vận dụng cả dữ liệu cấp ngân hàng và dữ liệu cấp quốc gia. Do đặc thù công bố dữ liệu nên luận văn áp dụng mẫu nghiên cứu gồm 28 trên 31 NHTM trong giai đoạn 2008-2021. Sỡ dĩ các NHTM này được lựa chọn vì đây là các NHTM cung cấp đủ dữ liệu cho luận văn cần. Đồng thời nghiên cứu thu thập được dữ liệu trong giai đoạn 2008-2021, đây là giai đoạn đủ dài để nghiên cứu phân tích về tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Để đảm bảo dữ liệu nghiên cứu là đáng tin cậy, tác giả đã thu thập các thông tin này tại các nguồn uy tín. Trong đó, dữ liệu liên quan đến NHTM được tác giả thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của các NHTM, trong khi các dữ liệu vĩ mô được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF. Bảng 3.2. trình bày thông tin các NHTM trong mẫu nghiên cứu.
Bảng 3.2. Danh sách các NHTM trong mẫu nghiên cứu
STT Tên ngân hàng
- Ngân hàng TMCP An Bình
- Ngân hàng TMCP Á Châu
- Ngân hàng TMCP Bắc Á
- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 5 Ngân hàng TMCP Bảo Việt
- Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
- Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
- Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh
- Ngân hàng TMCP Kiên Long
- Ngân hàng TMCP Bản Việt
- Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Nam
- Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam
- Ngân hàng TMCP Nam Á
- Ngân hàng TMCP Quốc dân
- Ngân hàng TMCP Phương Đông
- Ngân Hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex
- Ngân hàng TMCP Sài Gòn
- Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương
- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội
- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín
- Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
- Ngân hàng TMCP Tiên Phong
- Ngân hàng TMCP Liên Việt
- Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
- Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam
- Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
- Ngân hàng TMCP Việt Á
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong chương 3, luận văn đã trình bày phương pháp để nghiên cứu đạt được mục tiêu. Đồng thời, dựa trên việc khảo lược các nghiên cứu trước, chương 3 đã đề xuất mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Bên cạnh đó, chương này cũng mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu và đề xuất giả thuyết nghiên cứu. Cuối cùng chương 3 trình bày cách thu thập dữ liệu nghiên cứu để thực hiện hồi quy và phân tích kết quả trong chương 4. Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hiệu quả kinh Doanh của NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

