Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác Động Của Thu Nhập Ngoài Lãi Đến Hiệu Quả Kinh Doanh Của Các Ngân Hàng Thương Mại Tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêu đề: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Tóm tắt: Gia tăng thêm các nguồn thu nhập ngoài lãi là xu hướng không chỉ các NHTM trong nước mà các NHTM trên thế giới đang hướng đến để đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông. Liên quan đến chủ đề nghiên cứu, đã có rất nhiều nghiên cứu được thực thi, song kết quả vẫn chưa có kết quả đồng nhất. Do vậy, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu nhằm phân tích tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM.
Nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ tổng thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động của NHTM làm đại diện cho hoạt động thu nhập ngoài lãi; các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm đại diện cho hiệu quả kinh doanh của NHTM. Luận văn sử dụng mẫu dữ liệu của 28 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2008-2021 với các kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng gồm Pooled OLS, FEM, REM, GMM
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, thu nhập ngoài lãi là động lực để các NHTM gia tăng hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố thuộc về nội bộ ngân hàng và các yếu tố thuộc về nền kinh tế vĩ mô có tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Trong đó, các yếu tố tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của NHTM gồm tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và lạm phát CPI, trong khi quy mô NHTM và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập tác động ngược chiều đến yếu tố này. Đồng thời, nghiên cứu chưa tìm ra mối quan hệ của các yếu tố gồm tỷ lệ nợ xấu, tăng trưởng kinh tế GDP, đại dịch COVID-19 và hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
Từ khóa: thu nhập ngoài lãi, hiệu quả kinh doanh, NHTM, Việt Nam
ABSTRACT Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Title: Impact of non-interest income on bank performance of commercial banks in Vietnam.
Abstract: Increasing non-interest income is a trend not only domestic commercial banks but also commercial banks in the world are aiming to achieve the goal of maximizing shareholders wealth. Regarding the research topic, many studies have been conducted, but these results are still not consistent. Therefore, this study was conducted with the aim to analyze the impact of non-interest income on the business performance of commercial banks in Vietnam.
The study uses the ratio of total non-interest income to total operating income to proxy for non-interest income activities; Return on assets (ROA) and return on equity (ROE) indicators represent the bank performance of commercial banks. The thesis uses data samples of 28 banks in the period from 2008 to 2021 with panel data regression techniques including Pooled OLS, FEM, REM, GMM.
Research results have shown that non-interest income is the driving force for commercial banks to increase business efficiency. In addition, the research results also show that the internal factors of the bank and the macroeconomic factors have an impact on the bank performance. In particular, the factors that positively affect the business performance of commercial banks include the ratio of loans to total assets and CPI inflation, while the bank size and the ratio of operating cost to operating income have the negative effect to bank performance. At the same time, the study has not found the relationship of factors including non-performance loan, GDP growth, COVID-19 pandemic and bank performance of Vietnamese commercial banks.
Key words: non-interest income, bank performance, commercial banks, Vietnam
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Những năm trở lại đây, ngành tài chính – ngân hàng trên khắp các nước đã trải qua nhiều cuộc thay đổi lớn. Trong đó, nhiều quốc gia đã thay đổi nhiều quy định để ngày một phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khi nền kinh tế trong nước có sự giao lưu với kinh tế quốc tế càng lớn, số lượng ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, khả năng quản trị tốt đã tham gia hoạt động tại Việt Nam càng nhiều. Điều này đòi hỏi các ngân hàng điển hình là các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam cần phải gia tăng mức độ cạnh tranh để không chỉ cạnh tranh lẫn nhau mà còn cạnh tranh đối với các NHTM của nước ngoài nhằm đẩy mạnh hiệu quả trong kinh doanh. Thực tế, đề cao hiệu quả hoạt động trong kinh doanh của NHTM là yêu cầu hết sức quan trọng. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực một mặt đáp ứng mục tiêu của nhà đầu tư, mặt khác nhằm phát triển kinh tế vĩ mô, mở rộng thị phần và phát triển ổn định, bền vững. Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Giai đoạn 2011-2015, đề án Cơ cấu lại các hoạt động về tài chính của các tổ chức tín dụng (TCTD) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 254/QĐTTg ngày 01/03/2012 một trong số các nội dung của đề án cơ cấu là “Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng”. Thực thi đề án trên, hầu hết các NHTM đã và đang đề cao hơn đến các hoạt động kinh doanh để tạo ra nguồn thu nhập ngoài lãi, bên cạnh các hoạt động liên quan đến tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro, nguồn thu thì chưa thật sự ổn định. Trước yêu cầu cấp thiết này, các NHTM đã không ngừng triển khai nhiều phương án nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh, chẳng hạn như mở rộng phòng giao dịch, chi nhánh; thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quản trị nhân lực, quản trị hiệu quả chi phí…Trong các biện pháp mà các ngân hàng thực hiện, một trong những giải pháp mà NHTM chú trọng là đa dạng hóa về dịch vụ ngân hàng, bên cạnh hoạt động truyền thống về tín dụng. Thực tế đã chứng minh, tín dụng là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu chính của NHTM, song đây cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro (chẳng hạn rủi ro về mặt lãi suất, rủi ro trong tính thanh khoản, rủi ro hoạt động,…). Do vậy, nếu môi trường vĩ mô có biến động ảnh hưởng liên quan đến tín dụng, ngay lập tức hiệu quả trong kinh doanh của NHTM sẽ bị tác động.
Do vậy, để tránh các ảnh hưởng tiêu cực tác động đến hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng, nhất là trong hai năm gần đây, dịch COVID-19 bùng phát, các NHTM đã phát triển nhiều dịch vụ liên quan đến phi tín dụng như thẻ, bảo hiểm, ngân hàng số,…Việc phát triển các sản phẩm này một mặt giúp các NHTM không bị lệ thuộc nhiều bởi nguồn thu đến từ lãi, mặt khác giúp các NHTM nâng cao được năng lực cạnh tranh. Bởi theo Klein và Saidenberg (2000), việc thay đổi chiến lược mở rộng và làm phong phú hơn các nguồn thu đến từ lãi giúp các ngân hàng thương mại giảm đi các áp lực cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Điều này cũng phù hợp với định hướng của Nhà nước và Chính phủ. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã định hướng rõ trong quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 rằng các NHTM cần từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh theo hướng tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng và giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng.
Xoay quanh chủ đề nghiên cứu, tại Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của thu nhập ngoài lãi đến hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng, như bài nghiên cứu của Chiorazzo, Milani, and Salvini (2008), Stiroh (2004), DeYoung and Rice (2004b) hay Phan, Pham, Le, and Lam (2023), Nguyễn Thị Cành và Hồ Thị Hồng Minh (2014), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016)…Tuy vậy, những bài nghiên cứu trên vẫn còn nhiều tranh luận quay quanh vấn đề mối quan hệ giữa hiệu quả trong kinh doanh và các khoản thu ngoài lãi của ngân hàng, có nghiên cứu nhận định rằng mối quan hệ giữa hai yếu tố này là cùng chiều, song cũng có những bài nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa hai yếu tố trên là ngược chiều hay không có mối quan hệ.
Vì vậy, để làm sáng tỏ hơn về thu nhập ngoài lãi ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, nhất là trong khoảng thời gian bị tác động bởi đại dịch COVID-19, học viên lựa chọn đề tài “Tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm bài luận tốt nghiệp. Một mặt luận văn sẽ đưa ra bằng chứng thiết thực thực nghiệm về vai trò của thu nhập ngoài lãi đối với hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Mặt khác để đề xuất một vài hàm ý về các chính sách liên quan để gia tăng hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới cho NHTM Việt Nam.
1.2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là thông qua tác động của của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam, để từ đó đưa ra một vài đề xuất các chính sách liên quan góp phần gia tăng hiệu quả trong kinh doanh của NHTM trong khoảng thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được các mục tiêu tổng quát nêu trên, đề tài hướng đến thực hiện các mục tiêu cụ thể gồm:
Thứ nhất, lựa chọn mô hình tác động của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM.
Thứ hai, phân tích mức độ tác động và chiều hướng ảnh hưởng của nguồn thu ngoài lãi đối với hiệu quả trong kinh doanh của NHTM Việt Nam.
Thứ ba, dựa vào kết quả vấn đề nghiên cứu đề xuất hàm ý các chính sách liên quan để góp phần gia tăng hiệu quả trong kinh doanh cho các NHTM tại Việt Nam.
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu được các mục tiêu trên, bài luận sẽ hướng tới trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Một là, xác định mô hình nào được thông qua nhằm phân tích ảnh hưởng của nguồn thu ngoài lãi đối với hiệu quả trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại?
Hai là, chiều hướng và mức độ tác động của thu nhập ngoài lãi cũng như các nhân tố khác gây ảnh hưởng tới hiệu quả trong kinh doanh của các NHTM Việt Nam như thế nào?
Ba là, đâu là hàm ý về các chính sách liên quan nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh trong thời gian sắp tới của các NHTM Việt Nam?
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập ngoài lãi, hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng và mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả trong kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu theo thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2021. Nguyên nhân giai đoạn này được lựa chọn là vì đây là giai đoạn đủ dài để chứng kiến các biến chuyển của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Đồng thời là khoảng thời gian phù hợp mà luận văn có thể tập hợp được đầy đủ các dữ liệu mà luận văn cần.
Về phạm vi nghiên cứu theo không gian: Tại Việt Nam, dựa trên thông tin mà Ngân hàng nhà nước (NHNN – SBV) công bố tại website, có nhiều loại hình ngân hàng đang hoạt động như NHTM Việt Nam, Ngân hàng liên doanh, ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng 100% vốn nước ngoài,… Tuy nhiên, Các ngân hàng nước ngoài có thể có cách tiếp cận, hoạt động, quy trình và các chính sách khác với ngân hàng NHTM, vì vậy việc phân tích tác động của thu nhập ngoài lãi lên các ngân hàng này không thể áp dụng cho các NHTM tại Việt Nam, cùng với đó khả năng thu thập nguồn thông tin và dữ liệu của các ngân hàng nước ngoài bị hạn chế, điều này sẽ làm giảm tính khả thi của việc phân tích cũng như đánh giá. Vì các đặc thù hoạt động và công bố thông tin nên trong bài luận này học viên tập trung vào nghiên cứu chủ yếu đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Do đây cũng là loại hình ngân hàng hoạt động nhiều nhất tại Việt Nam, đồng thời đây cũng là nhóm các NHTM cung cấp đủ các dữ liệu cho luận văn cần. Dẫu vậy, vì đặc thù hoạt động nên một vài ngân hàng không cung cấp đầy đủ thông tin, dữ liệu cho các năm trong thời gian nghiên cứu, do đó bài luận sử dụng mẫu dữ liệu của 28 NHTM Việt Nam có công bố đầy đủ thông tin để phân tích và đánh giá các tác động của nguồn thu nhập ngoài lãi và hiệu quả trong kinh doanh.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Để hướng tới các mục tiêu mà bài nghiên cứu đã đề ra, nghiên cứu áp dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên các kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng như Pooled OLS, REM, FEM. Sau đó, tiến hành chọn lựa mô hình nghiên cứu phù hợp. Để kết quả nghiên cứu được đảm bảo cách chính xác, không bị sai lệch, luận văn tiến hành quá trình kiểm định lại khuyết tật các hiện tượng của mô hình như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan, nội sinh. Trường hợp khi nghiên cứu mô hình phù hợp được thực hiện các hiện tượng như phương sai sai số bị thay đổi, tự tương quan và nội sinh, bài luận sử dụng phương pháp GMM – mô men tổng quát để khắc phục và phân tích kết quả ước lượng.
Về dữ liệu thông tin nghiên cứu: Để đảm bảo kết quả quá trình nghiên cứu là đáng tin cậy, bài luận tiến hành áp dụng các dữ liệu thứ cấp. Trong đó, các dữ liệu thuộc về NHTM sẽ được lấy từ nguồn các bài báo cáo tài chính qua kiểm toán hoặc các bài báo cáo thường niên, được NHTM công khai trên website. Bên cạnh các nguồn dữ liệu thuộc nền kinh tế vĩ mô, nghiên cứu sẽ truy xuất các thông tin này từ cơ sở dữ liệu IMF.
1.5. Ý NGHĨA VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài dự kiến có cả các góp sức ý nghĩa tích cực về thực tiễn và khoa học như sau:
Về thực tiễn: Bài luận phân tích các tác động của nguồn thu nhập ngoài lãi đối với hiệu quả trong công tác kinh doanh của các ngân hàng thương mại, từ đó đề ra được một vài hàm ý các chính sách liên quan cho lãnh đạo ngân hàng, nhà làm chính sách nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới cho các NHTM Việt Nam.
Về ý nghĩa khoa học: Mặc dù chủ đề về mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả trong kinh doanh của NHTM hiện nay không phải là mới. Song các nghiên cứu vẫn còn nhiều bàn luận trái chiều, tranh luận về mối quan hệ trên. Do vậy, luận văn này sẽ dẫn chứng một số bằng chứng thiết thực thực nghiệm về mối liên quan giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả trong kinh doanh của NHTM. Bên cạnh đó cũng là một đề tài tham khảo hữu ích dành cho các đối tượng có quan tâm đến.
1.6. BỐ CỤC NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Đề tài chủ yếu thực hiện dựa theo phương pháp nghiên cứu định lượng do vậy sẽ được cấu trúc làm 5 chương:
Chương 1. Giới thiệu
Chương này, luận văn sẽ trình bày nội dung tổng quát về đề tài, chẳng hạn như lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, các câu hỏi, đối tượng nghiên cứu và phạm vi, phương pháp, các đóng góp của nghiên cứu và bố cục của đề tài. Đây được xem là chương mục làm tiền đề để hiểu sâu hơn về các chương phía sau.
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Trong chương 2, luận văn nêu rõ về cơ sở lý thuyết cũng như các lý thuyết nền, cách đo lường liên quan đến thu nhập ngoài lãi và hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng thương mại. Ngoài ra trong chương 2 sẽ khảo lược một số bài nghiên cứu trước đó để làm cơ sở, tiền đề nhằm đề xuất mô hình phù hợp nghiên cứu trong chương 3.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu đã trình bày tại chương 2, chương 3 trình bày phương pháp và quy trình nghiên cứu thực hiện. Bên cạnh đó, chương 3 cũng thực hiện đề xuất mô hình phù hợp thực hiện, mô tả các biến có cũng như dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4. Phân tích kết quả nghiên cứu.
Dựa trên phương pháp, mô hình và dữ liệu nghiên cứu đã thu thập, chương 4 tiến hành thực hiện các hồi quy và lựa chọn mô hình thực nghiệm phù hợp nhằm phân tích ảnh hưởng của nguồn thu ngoài lãi đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam.
Chương 5. Kết luận
Dựa trên kết quả thực hiện đã trình bày trong chương 4, chương 5 của khóa luận thực hiện kết luận và đề xuất hàm ý các chính sách liên quan để gia tăng hiệu quả trong kinh doanh của NHTM. Đồng thời chương 5 trình bày các hạn chế cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Liên quan đến khái niệm NHTM, hiện nay có một số khái niệm phổ biến như sau. Theo Rose (1998), ngân hàng là một định chế tài chính trung gian cung cấp tài chính đa dạng nhất về một số danh mục dịch vụ bao gồm dịch vụ thanh toán, tiết kiệm và tín dụng. So với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế thì đây là tổ chức kinh tế thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất. Còn mỗi quốc gia, có những cách hiểu riêng về ngành ngân hàng. Tại Pháp, theo đạo luật ngân hàng của cộng hòa Pháp năm 1941, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà tại đó thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc các hình thức khác, sau đó sẽ sử dụng nguồn nhân lực này nhằm đáp ứng cho các nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, thanh toán. Tại Việt Nam, theo điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì cho rằng “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Vì vậy, thông qua một số khái niệm trên, trong nghiên cứu này có thể hiểu NHTM là một tổ chức kinh doanh đặc biệt, chuyên kinh doanh về các lĩnh vực liên quan tới tiền tệ, với nghiệp vụ chính chủ yếu về tín dụng, tiết kiệm và thanh toán. Trong đó, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là một trong những mục tiêu chính mà nhà quản trị NHTM hướng đến khi thực hiện lĩnh vực kinh doanh này.
2.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
Khi mới ra đời, NHTM là tổ chức đóng vai trò chủ yếu là trung gian luân chuyển vốn giữa các chủ thể có nhu cầu trong nền kinh tế. Hiện nay cùng với sự phát triển NHTM đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tối đa cho khách hàng. Do vậy, hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện nay rất đa dạng và nhiều tiện ích.
Theo Rose (1998), hiện nay các NHTM đang dần mở rộng hoạt động, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng số để đáp ứng nhu cầu tối đa cho khách hàng dưới áp lực cạnh tranh ngày một gay gắt với các định chế khác. Do vậy, các NHTM đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu doanh thu từ các dịch vụ truyền thống (là dịch vụ tín dụng) sang các dịch vụ phi truyền thống như thanh toán, môi giới, tư vấn tài chính, ủy thác, quản lý tiền mặt, ngân hàng số, dịch vụ bảo hiểm. Do vậy, NHTM cũng dần đáp ứng đa nhiệm từ tín dụng, đến quản lý tiền mặt, ngân hàng đầu tư, bảo lãnh, ủy thác, lập kế hoạch đầu tư, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm, môi giới, thanh toán,… Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
2.1.3. Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Trên cơ sở chức năng của NHTM, hiện nay các NHTM trong nước và nước ngoài tại Việt Nam cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, nhưng tựu chung lại vẫn bao gồm hai hoạt động cơ bản là tín dụng và phi tín dụng.
- Các hoạt động tín dụng
Tín dụng của ngành ngân hàng được kể đến là các hoạt động như bảo lãnh, cho vay, bao thanh toán, chiết khấu, cho thuê tài chính,… Trong quá khứ đây là các hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thông qua thu nhập lãi. Cụ thể, nghiệp vụ tín dụng bao gồm các nghiệp vụ sau đây.
Một là, cho vay. “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo cho bên cho vay giao hoặc cam kết cho vay khách một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định trong một thời xác định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả và gốc và lãi vay” (47.2010.QH12.Doc, n.d.). Theo đó, hoạt động cho vay có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như theo phân khúc khách hàng (gồm cho vay khách hàng cá nhân, cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn, cho vay khách doanh nghiệp S&E,…) hay phân loại theo thời gian (trung hạn và dài hạn, cho vay ngắn hạn,…).
Hai là, bảo lãnh. “Hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận” (47.2010.QH12.Doc, n.d.).
Ba là, “chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán”(47.2010.QH12.Doc, n.d.). Cụ thể là nghiệp vụ mà các NHTM thực hiện chiết khấu giấy tờ có giá cho doanh nghiệp và có thể tái chiết khấu các thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác của các NHTM khác. Đây là nghiệp vụ giúp doanh nghiệp phục hồi, đặc biệt là khả năng thanh toán trong ngắn hạn cũng như thúc đẩy tốc độ chu chuyển vốn của doanh nghiệp. Do vậy, nghiệp vụ chiết khấu được khách hàng và NHTM đều khá ưa chuộng khi nghiệp vụ này được đảm bảo bởi giấy tờ có giá nên rủi ro tín dụng tương đối thấp.
Bốn là, bao thanh toán: Đây là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ được hai bên mua và bán thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế. Với nghiệp vụ này, việc thực hiện bao thanh toán của các ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp có nhu cầu bán các khoản nợ nhằm thu về tiền mặt để phục vụ quá trình kinh doanh và quay vòng vốn. Đồng thời, họ sẽ tiến hành thẩm định năng lực đối với khách hàng mua về tài chính, khi các bên liên quan và ngân hàng đồng ý ký kết hợp đồng này, ngân hàng sẽ mua lại các khoản nợ với giá chiết khấu thích hợp, đây là mức phí mà bên bán phải chịu để đổi lại quyền thu tiền mặt về sớm.
Năm là, cho thuê tài chính. Ngoài các hoạt động tín dụng đã trình bày, NHTM còn thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh trong đó bên chủ sở hữu tài sản (bên cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê được phép sử dụng trong một thời gian nhất định và bên đi thuê sẽ trả tiền thuê cho bên sở hữu tài chính. Theo quy định của Luật hiện tại, NHTM không được phép trực tiếp thực hiện nghiệp vụ này mà phải thông qua bên thứ ba. Về bàn chất, đây cũng là hoạt động tài trợ vốn theo hình thức ngân hàng tiến hành mua tài sản và chuyển giao quyền sử dụng cho bên đi thuê.
Với các hoạt động tín dụng này, về bản chất đây là các hoạt động mà NHTM được phép thu lãi. Trong quá khứ đây là các nguồn thu chính của các ngân hàng, tuy vậy, theo thời gian cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài hay giữa các định chế tài chính khác và ngân hàng. Đồng thời hoạt động liên quan đến tín dụng thường chứa đựng nhiều rủi ro (về tín dụng, rủi ro thị trường, lãi suất) (Bùi Diệu Anh, 2016). Do vậy, các NHTM có nhu cầu chuyển dịch sang thực hiện thêm một loại các hoạt động phi lãi (hay phi tín dụng khác) để đa dạng nguồn thu nhập và gia tăng thị phần khách hàng. Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
- Các hoạt động phi tín dụng
Hoạt động tiền gửi: Nghiệp vụ mà NHTM tiến hành nhận tiền gửi cho khách hàng bao gồm cá nhân và tổ chức dưới các hình thức như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn,…
Các hoạt động thanh toán: Ngân hàng cung ứng đến khách hàng những dịch vụ về thanh toán; thực hiện nghiệp vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thu tín dụng,…
Dịch vụ ngân hàng điện tử và ngân hàng số. Trong bối cảnh công nghệ được quan tâm và ngày càng phát triển, để đáp ứng tốt nhất các trải nghiệm về dịch vụ của khách hàng, các NHTM tích cực trong việc cho ra đời các sản phẩm công nghệ như Internet banking, Digital banking, Mobile banking, CallCenter,…
Hoạt động đầu tư: Các NHTM vừa làm đa dạng loại hình vốn sử dụng vừa mang lại thu nhập, đồng thời còn là khoản dự trữ với các chứng khoán ngắn hạn chất lượng cao. Đầu tư vào gồm các hoạt động chính:
Mua các chứng khoán, trái phiếu Chính phủ: Các chứng khoán Chinh phủ được NHTM xem như không có rủi ro. Trong những năm qua và hiện tại ở Việt Nam, trái phiếu Kho bạc Nhà nước (trái phiếu ngắn hạn) qua các đợt phát hành hầu hết là do NHTM mua thông qua phiên đấu giá do NHNN chủ trì. Hoạt động này đối với ngân hàng vừa mang lại thu nhập bằng lãi trái phiếu, vốn đầu tư có tính an toàn cao, có tiềm năng tạo ta các công cụ thanh toán cho các NHTM khi cần thiết.
Ngoài hoạt động dịch vụ về ngân hàng số, tiết kiệm, thanh toán thì hiện nay các NHTM còn có thêm nhiều nghiệp vụ khác như nghiệp vụ ủy thác thanh toán, nghiệp vụ tư vấn, bảo hiểm,…Đây cũng là các nghiệp vụ được NHTM quan tâm đến trong việc tối đa hóa lợi nhuận bằng cách bổ sung thêm các khoản phí, tạo tiền đề để giá trị ngân hàng gia tăng.
2.2. TỔNG QUAN VỀ THU NHẬP NGOÀI LÃI
2.2.1. Khái niệm về thu nhập ngoài lãi
Hoạt động kinh doanh mang lại cho NHTM thu nhập, từ đó tác động đáng kể cho nền kinh tế của nước nhà. Như đã trình bày, hoạt động của ngân hàng trong kinh doanh được thực hiện chủ yếu với hai loại nghiệp vụ chính là các hoạt động liên quan đến tín dụng mang lại nguồn thu từ lãi và các dịch vụ từ phi tín dụng mang lại nguồn thu ngoài lãi cho NHTM. Trong đó, Thu nhập lãi (Interest income) có được từ các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng dựa vào nghiệp vụ tín dụng. Ngân hàng sẽ hưởng chênh lệch khoản lãi suất trả cho người gửi tiền (được gọi là lãi suất huy động) và lãi suất nhận được từ người đi vay (gọi là lãi suất cho vay). Khoản lãi chênh lệch đó chính là thu nhập lãi (DeYoung & Rice, 2004b).
Thu nhập từ phí hay còn được gọi là thu nhập ngoài lãi (fee income/ noninterest income) là các khoản thu nhập không liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng. Theo DeYoung and Rice (2004b), thu nhập ngoài lãi bao gồm các khoản như phí dịch vụ trên tài khoản tiền gửi, phí dịch vụ và phí sử dụng uy tín từ ngân hàng,…Hiện nay, các NHTM Việt Nam thường có các khoản thu nhập từ phí liên quan đến các hoạt động như bảo lãnh, ủy thác, dịch vụ thẻ, dịch vụ bảo hiểm,…
Theo Stiroh (2004), “thu nhập ngoài lãi là một thể loại không đồng nhất mà bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, thu nhập ngoài lãi được chia thành 4 thành phần chính: thu nhập ủy thác, phí dịch vụ, lệ phí và các khoản thu nhập khác”. Ngoài ra, thu nhập ngoài lãi còn được hình thành từ các khoản thu do NHTM cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động cấp tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư…
Thu nhập ngoài lãi được đề cập nhiều đến trong các báo cáo phân tích, đánh giá hoạt động của các NHTM trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Theo đó, chỉ tiêu này càng lớn càng thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài nghiệp vụ cấp tín dụng truyền thống (Hoàng Ngọc Tiến và cộng sự, 2010)
2.2.2. Cách đo lường thu nhập ngoài lãi Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Theo Stiroh (2004), thu nhập ngoài lãi là một thể loại không đồng nhất mà bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, thu nhập ngoài lãi được chia thành 4 thành phần chính: thu nhập ủy thác, phí dịch vụ, lệ phí và các khoản thu nhập khác.
Trong các nghiên cứu trước đây, thường đo lường nguồn thu ngoài lãi qua hai phương pháp như:
Một là, dựa vào từng nguồn thu ngoài lãi trên tổng thu hoạt động. Theo Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), thì thu nhập ngoài lãi được tính bằng công thức:
Tỷ lệ nguồn thu ngoài lãi trên tổng thu hoạt động = Tỷ lệ thu nhập từ dịch vụ trên tổng thu nhập hoạt động + tỷ lệ thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư trên tổng thu nhập + tỷ lệ thu nhập khác trên tổng thu nhập.
Hai là, để đo lường mức độ của thu nhập ngoài lãi, một số các nghiên cứu còn áp dụng thêm chỉ số Herfindahl-Hirshman (Herfindahl-Hirshman Index- HHI) (Mercieca, Schaeck, & Wolfe, 2007), (Stiroh, 2004). Với chỉ số này, nguồn thu ngoài lãi lớn, nghĩa là NHTM đang phát triển và đa dạng hóa trong quá trình kinh doanh. Ngược lại, nguồn thu ngoài lãi thấp, nghĩa là họ đang tập trung nhiều hơn cho hoạt động tín dụng. Chỉ số HHI, là chỉ số đo lường sự thay đổi trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng (Elsas, Hackethal, & Holzhäuser, 2010), (Sanya & Wolfe, 2011). Theo các tác giả này, HHI được tính như sau:
HHIinc=(NON/NI)2+ (NET/NI)2 (2.1)
Trong công thức (2.1) NON là thu nhập ròng ngoài lãi; NET: Thu nhập ròng từ lãi; NI: Thu nhập hoạt động ròng. Các thu nhập này được tính theo công thức như sau:
- Thu nhập lãi thuần = Thu nhập từ lãi – Chi phí lãi
- Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi
- Tổng thu nhập ròng = Thu nhập ròng ngoài lãi + thu nhập ròng từ lãi (hay NI = NON + NET)
So sánh giá trị HHI với ngưỡng tập trung 0,15 để xác định mức độ tập trung của thị trường đó. Nếu giá trị HHI dưới 0,15 thì thị trường đó được coi là cạnh tranh, còn nếu giá trị HHI cao hơn 0,15 thì thị trường đó được coi là tập trung
2.2.3. Vai trò của thu nhập ngoài lãi
Hoạt động liên quan đến tín dụng truyền thống cho vay, chiết khấu, bao thanh toán,…là các hoạt động chính của hầu hết các NHTM và cũng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho họ. Tuy nhiên, từ thực tiễn (chẳng hạn năm 2008 diễn ra cuộc khủng hoảng toàn cầu về tài chính) nhận thấy được rằng các hoạt động liên quan đến tín dụng thường chứa đựng nhiều rủi ro.
Trong đó, với nguồn thu chính từ lãi thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với tình trạng giảm nghiêm trọng thu nhập khi nền kinh tế xảy ra suy thoát. Do đó, để giảm bớt rủi ro, các NHTM hiện nay còn đa dạng hóa thêm nhiều hoạt động hiện đại khác thay vì chỉ tập trung vào các hoạt động về tín dụng.
Với hoạt động mang tính phi tín dụng, có nhiều ý nghĩa cho xã hội như giảm bớt các hoạt động gian lận, rửa tiền. Hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật. Thông thường, vai trò của thu nhập ngoài lãi sẽ được phân tích dựa trên ba khía cạnh cơ bản là đối với ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Theo DeYoung và Rice (2004), Baele và cộng sự (2007), việc tăng TNNL sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Khi mở rộng các hoạt động phi tín dụng, các ngân hàng sẽ sử dụng triệt để nguồn lực về cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhân lực, từ đó làm giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận tối đa cho ngân hàng.
Theo Nguyễn Thị Cành và Hồ Thị Hồng Minh (2015), trong tổng nợ phải trả, nguồn vốn từ tiền gửi khách hàng được xem là nguồn tài trợ ổn định và rẻ hơn so với các nguồn tài trợ khác. Do đó, việc tăng tỷ lệ tiền gửi giúp ngân hàng tăng thanh khoản, mở rộng hoạt động tín dụng và phi tín dụng, từ đó gia tăng lợi nhuận
Ngoài ra, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, các hoạt động phi tín dụng giúp các NHTM nâng cao được năng lực cạnh tranh, tăng việc thanh toán không dùng tiền mặt. Hơn nữa, bên cạnh cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong nước, ngành Ngân hàng còn phải đối diện với sự xuất hiện và phát triển rộng rãi của các ngân hàng nước ngoài.
- Thứ nhất, đối với khía cạnh ngân hàng
Hoạt động liên quan đến phi tín dụng của ngân hàng sẽ góp phần nâng cao lợi nhuận nhờ chi phí thấp. Nguyên nhân là do các hoạt động này chủ yếu sử dụng cơ sở vật chất được đầu tư ban đầu kết hợp với nhân lực sẵn có để xử lý. Ngoài ra, so với các nghiệp vụ tín dụng có nhiều rủi ro tiềm ẩn, ảnh hưởng tới thu nhập lãi, thì hoạt động phi tín dụng tương đối ổn định khi nền kinh tế có sự thay đổi. Lý do là hầu hết các khoản phí được ngân hàng thu trước hoặc ngay khi sử dụng dịch vụ nên sẽ hạn chế thấp nhất các rủi ro về lãi suất, tín dụng hay các tác động không thuận lợi của nền kinh tế.
Ngoài ra, để phát triển hoạt động trong kinh doanh liên quan đến phi tín dụng và gia tăng thu nhập phi lãi, các NHTM cần phải có các biện pháp để mở rộng khách hàng, gia tăng thị phần. Điều này, vô hình trung lại yêu cầu NHTM phải nâng cao uy tín, gia tăng các hoạt động quảng cáo, tạo dựng hình ảnh để thu hút khách hàng. Đồng thời, để có những trải nghiệm tốt nhất đối với khách hàng về các dịch vụ tài chính, NHTM sẽ cần phải gia tăng đầu tư để phát triển kỹ năng cho nhân viên, từ đó giúp NHTM có hình ảnh đẹp hơn trong mắt công chúng, điều này tạo ra thuận lợi cho ngân hàng trong kinh doanh, nhất là đối với bối cảnh cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính như hiện nay.
- Đối với khách hàng
Việc gia tăng đầu tư vào các sản phẩm nghiệp vụ về phi tín dụng sẽ giúp khách hàng có các trải nghiệm tốt, đa dạng chọn lựa khi sử dụng. Chẳng hạn, trước đây khi có nhu cầu giao dịch bất kỳ sản phẩm nào, khách hàng đều phải ra ngân hàng để thực hiện giao dịch trực tiếp, điều này ảnh hưởng lớn đến công việc và thời gian giao dịch của khách hàng. Tuy nhiên, hiện nay khi các NHTM phát triển ngày một nhiều cách dịch vụ phi tín dụng, khách hàng có thể sử dụng tất cả các sản phẩm dịch vụ ở bất kỳ nơi đâu trong bất kỳ khung thời gian nào, điều này giúp họ thuận tiện hơn trong các giao dịch và tiết kiệm các chi phí đi lại cũng như giảm bớt thời gian tới ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế
Với việc phát triển các dịch vụ kinh doanh phi tín dụng, các NHTM đã giúp nền kinh tế vận hành một cách trơn tru hơn. Đồng thời, việc gia tăng các sản phẩm này đã hướng hoạt động của ngân hàng sang sự phát triển mới, không chỉ chú trọng vào lợi nhuận mà còn chú trọng vào tính ổn định và làm giảm thiểu rủi ro trong mọi vấn đề kinh doanh ở mức tối đa. Bên cạnh đó, với việc phát triển mạnh các sản phẩm như bảo lãnh, thanh toán, thẩm định, tư vấn cũng giúp cho hoạt động phát triển nền kinh tế, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, giao thương thương mại phát triển.
2.3. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
2.3.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Hiện nay, có một số định nghĩa về hiệu quả trong hoạt động kinh doanh theo “Từ điển Toán kinh tế, thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” trang 255 của Nguyễn Khắc Minh thì “hiệu quả-efficiency” được định nghĩa là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ bên cạnh đó khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào. Đây là khái niệm chung dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có được kết quả đó trong những điều kiện nhất định.
Theo Rose (1998), về bản chất, ngân hàng cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Như vậy, hiệu quả ngân hàng phải được đánh giá ở hai khía cạnh: Hiệu quả kinh doanh đối với xã hội và hiệu quả kinh doanh đối với bản thân ngân hàng.
Theo ECB (European Central Bank, 2010) hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, kế đến là cài thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Theo Farrell (1957), hiệu quả là một phạm trù được sử dụng phổ biến nhằm đánh giá khả năng của một đơn vị trong việc tối đa hóa doanh thu đầu ra trong điều kiện chi phí đầu vào cho trước, hay nói cách khác hiệu quả chính là những lợi ích mang lại từ hoạt động cụ thể. Nguyễn Việt Hùng (2008), cho rằng trong hoạt động của NHTM, hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác và xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Hay hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Daft, 2014).
Tóm lại, từ cách hiểu của các nghiên cứu trên, trong luận văn này, có thể hiểu hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM là khả năng sử dụng các nguồn lực của ngân hàng (nguồn vốn, nhân lực, công nghệ) để đạt được kết quả kinh doanh tốt nhất giúp cho ngân hàng đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
2.3.2. Các lý thuyết nền về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng
2.3.2.1. Lý thuyết Mô hình Cấu trúc – Thực thi – Kết quả (Structure – Conduct – Performance) (SCP)
Mô hình SCP cho rằng hiệu quả hoạt động được xác định bằng các đặc điểm của cấu trúc thị trường. Mô hình SCP nói về mối quan hệ giữa cấu trúc, hành vi và hiệu quả, sau đó đã mở đặc điểm cấu trúc phù hợp chống lại mô hình cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh độc quyền và độc quyền về hàng hóa. Kỹ thuật này được phát triển bởi nhà kinh tế học của trường Harvard là Mason (Ferguson & Ferguson, 1994) và (Thong, 2012).
Mô hình SCP có ba yếu tố chính: cấu trúc ngành, thức hiện thị trường và kết quả thị trường. Một cách cụ thể hơn, cấu trúc ngành đề cập đến những vấn đề bán hàng, việc làm, kỹ thuật, tình trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp và đứng ở tầm vĩ mô nó đề cập đến vấn đề phân phối nguồn lực, vị trí địa lý và mô tả ngành (Grønhaug & Fredriksen, 1984). Như một cơ chế truyền dẫn, cấu trúc thị trường ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông qua hành vi của các doanh nghiệp. Những hành vi này được miêu tả bởi các biến số gồm: chiến lược giá, chiến lược hợp tác, chiến lược quảng cáo, chiến lược nghiên cứu và phát triển cùng năng lực đầu tư (Đoàn Ngọc Phi Anh, 2010). Các hành vi này sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Còn cầu tố thứ hai sẽ liên quan đến việc xác định hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp và dính liếu đến thông tin thị trường, đầu tư, những hệ thống cải tiến chất lượng, khung pháp lý và môi trường vĩ mô ổn định (Jasjko, 1999). Cuối cùng, cầu tố thứ ba dính líu tới những nỗ lực tối đa hóa phúc lợi của người tiêu dùng bởi việc tạo ra những sản phẩm với mức phí thấp hơn và một sự phân phối hợp lý của những sản phẩm giữa những người tiêu dùng có nhu cầu khác nhau và cũng như thông qua việc cải tiến và đa dạng hóa sản phẩm, kỹ thuật và sự ổn định trong giá cả và việc làm (Delorme Jr, Kamerschen, Klein, & Voeks, 2002). Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
2.3.2.2. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure Hypothesis –ESH).
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả được viết bởi Smirlock (1985), thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa mức độ tập trung thị trường, sự cạnh tranh và hiệu quả. Giả thuyết này nói rằng các công ty hoạt động hiệu quả có thể giảm chi phí sản xuất do đó có được lợi nhuận cao hơn và thị phần lớn hơn. ESH được sự ủng hộ của Demsetz (1973), lúc đó lý thuyết này còn cho rằng sự tập trung thị trường là kết quả từ hiệu quả vượt trội của các ngân hàng hàng đầu trong việc chiếm thị phần cao trên thị trường.
2.3.2.3. Lý thuyết kinh tế về lợi thế quy mô (Economiesof scale theory).
Lợi thế kinh tế nhờ quy mô (Economies of Scale) là lý thuyết kinh tế cung cấp thông tin liên quan đến những lợi ích mà doanh nghiệp nói chung hay ngân hàng nói riêng nhận được khi tiến hành mở rộng quy mô hoạt động (Benston, 1965). Điều này được giải thích như sau: Khi tiến hành mở rộng quy mô hoạt động sẽ làm cho tổng chi phí gia tăng nhưng chi phí trên một đơn vị sản phẩm dịch vụ hay chi phí trên một khách hàng giảm đi, thêm vào đó nếu các khoản chi phí cố định được khai thác và sử dụng tối đa kết hợp với việc vận hành hiệu quả bộ máy tổ chức sẽ góp phần làm nâng cao hiệu quả hoạt động và mang lại cho ngân hàng lợi nhuận cao hơn. Những lợi ích này có được là do tác động của các yếu tố bên trong ngân hàng và do ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài ngân hàng (Bos & Kool, 2001).
2.3.2.4. Lý thuyết bất lợi kinh tế vi quy mô (Diseconomies of scale theory)
Bất lợi kinh tế khi mở rộng quy mô (Diseconomies of Scale) hay còn được gọi là bất lợi kinh tế do quy mô là lý thuyết kinh tế liên quan đến việc doanh nghiệp hay ngân hàng nếu mở rộng hoạt động quá nhanh sẽ làm phát sinh thêm nhiều khoản mục chi phí và làm gia tăng chi phí bình quân trên một đơn vị một sản phẩm hay chi phí bình phần tính trên một khách hàng (Stigler, 1974). Nếu bất lợi kinh tế do quy mô không tồn tại, mở rộng quy mô hoạt động càng làm cho doanh nghiệp hay ngân hàng hoạt động hiệu quả và khi đó sẽ không còn tồn tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Arthur & Sheffrin, 2003). Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp hay ngân hàng chỉ hoạt động hiệu quả trong giới hạn và các điều kiện cho phép. Hay nói một cách khác luôn tồn tại quy mô hoạt động tối ưu cho từng doanh nghiệp và lợi ích nhờ quy mô không thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp (Riordan & Williamson, 1985).
2.3.3. Đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Hiện nay, các nhà phân tích trong và ngoài nước thường áp dụng phương pháp là phân tích các tỷ số về tài chính với nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Chẳng hạn, như nghiên cứu của Isshaq, Amoah, and Appiah-Gyamerah (2019) sử dụng ROA và ROE là hai chỉ tiêu để đo lường hiệu quả trong hoạt động ngân hàng. Hay nghiên cứu của Phan et al. (2023) sử dụng các chỉ tiêu ROA và ROE, độ lệch chuẩn của ROA và độ lệch chuẩn của ROE để thể hiện cho hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng tại khu vực ASEAN. Ongore and Kusa (2013) dùng NIM, ROA, ROE để đo lường hiệu quả về tài chính của các NHTM tại Kenya. Thông qua các nghiên cứu trên, cho thấy hiệu quả kinh doanh ngân hàng sẽ được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đó, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng hai tiêu chí chung là ROA và ROE để đại diện cho hiệu quả trong hoạt động ngân hàng. Do đó, kế thừa các nghiên cứu trước, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ áp dụng hai chỉ số trên (ROA và ROE) phản ánh hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng.
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets – ROA)
ROA được sử dụng trong nghiên nghiên cứu của Ongore and Kusa (2013); San and Heng (2013), Isshaq et al. (2019) và nhiều nghiên cứu khác sử dụng. Chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận trên mỗi đồng tài sản. Tỷ số này được tính bằng công thức là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân của NHTM.
Theo Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa (2007), doanh nghiệp làm ăn có lợi nhuận khi tỷ suất ROA dương. Tỷ số này càng cao nói lên được doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu quả. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp kinh doanh bị thua lỗ. Tỷ số ROA phản ánh đến hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài sản để tạo ra nguồn thu cho tổ chức. Nói cách khác, ROA là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản. ROA thấp phản ánh kết quả của một số chính sách trong đầu tư hay sử dụng tài sản không hợp lý hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức.
Ngược lại, mức ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý. Tuy nhiên, nếu mức sinh lợi quá lớn cũng có thể ngân hàng đang thực hiện các dự án đầu tư mạo hiểm với những rủi ro lớn.
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE).
Tương tự như ROA, ROE cũng được nhiều nghiên cứu sử dụng để đại diện cho hiệu quả kinh doanh của NHTM, chẳng hạn như Ongore and Kusa (2013); San and Heng (2013), Isshaq et al. (2019), Baselga-Pascual and Vähämaa (2021). Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn ở một công ty. Lợi nhuận để tính tỷ số này là lợi nhuận sau thuế – phần thu nhập dành cho cổ đông, công thức là tỷ lệ lợi nhuận thuần sau khi trừ thuế được chia cho tổng vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ.
Tỷ suất ROE cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty này tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2007). Nói cách khác, ROE phản ánh hiệu quả vốn chủ sở hữu được sử dụng và lợi nhuận nhận được của cổ đông đầu tư vào ngân hàng. Do đó, ROE là một trong các chỉ tiêu được nhà đầu tư lưu ý và thường được làm cơ sở đánh giá khả năng hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi của ngân hàng, giúp các cổ đông tiềm năng đồng ý góp vốn vào ngân hàng. Khi mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao ngụ ý rằng ngân hàng đã sử dụng hiệu quả đồng vốn của các nhà đầu tư và cũng chứng tỏ là ngân hàng đã cân bằng hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay.
2.4. NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Xoay quanh chủ đề nghiên cứu tác động thu nguồn thu ngoài lãi đến hiệu quả quá trình kinh doanh NHTM đã có được sự quan tâm của rất nhiều học giả, cả trong nước và nước ngoài. Dẫu vậy, các nghiên cứu trên vẫn chưa nêu rõ mối quan hệ đồng nhất, có nghiên cứu nhận định rằng thu nhập ngoài lãi là nguyên nhân giúp cho NHTM gia tăng lợi nhuận ròng, tuy nhiên có những tác giả lại chỉ ra sự ngược chiều giữa hiệu quả trong kinh doanh của NHTM và thu ngoài lãi. Nội dung tiếp theo của luận văn sẽ thực hiện khái quát các nghiên cứu trước, trong đó có các nghiên cứu trong nước và nghiên cứu nước ngoài.
2.4.1. Các nghiên cứu trong nước
Chủ đề nghiên cứu về tầm quan trọng của thu nhập ngoài lãi đối với hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các NHTM đã có một vài nghiên cứu trong nước quan tâm. Được kể đến là nghiên cứu của Lê Đình Luân, Nguyễn Thị Như Quỳnh, Tạ Thu Hồng Nhung (2021), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015),…Nội dung các nghiên cứu này như sau:
Lê Đình Luân & ctg (2021) nói về mối quan hệ giữa ổn định và đa dạng hóa tài chính của các NHTM Việt Nam. Sử dụng nguồn thông tin của 27 NHTM trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2019 bằng phương pháp ước lượng GMM. Kết quả của bài cho thấy khi NHTM có mức độ đa dạng hóa càng cao thì rủi ro của ngân hàng càng lớn, hay một cách trình bày khác, đa dạng hóa thu nhập không phải là yếu tố giúp NHTM gia tăng ổn định.
Tuy nhiên, trái ngược với quan điểm cho rằng nguồn thu ngoài lãi không tác động tốt đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, nghiên cứu của Nguyễn Thị Đoan Trang (2019) phân tích về ảnh hưởng của đa dạng hóa và hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Với mẫu nghiên cứu của 28 NHTM từ năm 2008-2017 thông qua GMM – phương pháp ước lượng, kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra đa dạng hóa các khoản thu nhập sẽ nâng cao hiệu quả trong kinh doanh cũng như hiệu quả có điều chỉnh rủi ro. Ngoài ra, các nhân tố khác như quy mô, tốc độ tăng trưởng, lạm phát, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và độ mở tài chính có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng, trong khi các yếu tố về quản trị chi phí, tỷ lệ rủi ro dự phòng có ảnh hưởng ngược chiều đến yếu tố này.
Nguyễn Quốc Anh và Tăng Mỹ Sang (2022) xem xét về sự tương quan giữa nguồn thu ngoài lãi và lợi nhuận ngân hàng thương mại. Các tác giả đã vận dụng mẫu dữ liệu của 22 NHTM trong suốt giai đoạn từ 2012-2021. Bằng ước lượng FEM, REM và GMM kết quả chỉ ra, các yếu tố đại diện cho đa dạng hóa có tác động cùng chiều tới lợi nhuận của NHTM. Bên cạnh, các yếu tố như về quy mô tài sản, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, lạm phát có tác động cùng chiều đến các chỉ tiêu lợi nhuận. Trong khi các yếu tố khả năng quản trị chi phí, tỷ lệ tiền gửi chia cho tổng nợ phải trả có ảnh hưởng ngược chiều đến chỉ tiêu này. Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Võ Xuân Vinh and Mai (2015) phân tích tác động của đa dạng hóa đối với thu nhập và rủi ro của NHTM Việt Nam. Các tác giả sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng với mẫu dữ liệu của 37 NHTM Việt Nam từ năm 2006-2013. Kết luận đã chứng minh các NHTM có nguồn thu ngoài lãi càng cao thì lợi nhuận càng lớn. Tuy nhiên, phân tích yếu tố rủi ro cho thấy các ngân hàng có thu nhập ngoài lãi càng nhiều thì lợi nhuận điều chỉnh rủi ro càng bé. Từ đó, các tác giả nhận định đa dạng các khoản thu nhập thì không giúp ích cho NHTM tại Việt Nam.
Khi xem xét về vấn đề đa dạng hóa đến việc sinh lời của các NHTM Việt Nam, bài nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) sử dụng dữ liệu tài chính với mẫu của 22 NHTM trong giai đoạn từ 2007-2013, kết quả cho rằng tỷ số đa dạng hóa về các khoản thu nhập và một số tiêu chí khác như tỷ lệ lạm phát, tiền gửi khách hàng hay dư nơ cho vay trên tổng tài sản, có ảnh hưởng cùng chiều đến việc sinh lời của NHTM. Trong khi tỷ lệ về nợ xấu, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản thì ảnh hưởng ngược chiều đến chỉ tiêu này.
Ngoài các bài nghiên cứu trong nước, có nhiều nghiên cứu ở nước ngoài phân tích về sự ảnh hưởng của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Bảng 2.1. trình bày tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Bảng 2.1. Tóm tắt các nghiên cứu trong nước về chủ đề nghiên cứu
2.4.2. Các nghiên cứu nước ngoài
Isshaq et al. (2019) xem xét các yếu tố tác động đến thu nhập ngoài lãi và sự ảnh hưởng của thu nhập ngoài lãi đối với sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro trong ngân hàng. Áp dụng tài liệu của các ngân hàng Ghana trong giai đoạn 1999-2015, kết quả nghiên cứu chỉ ra hiệu quả quản trị chi phí là thành phần then chốt để tạo ra và thu lợi nhuận từ nguồn thu ngoài lãi cũng như lượng cho vay được tạo ra và tài sản lưu động do ngân hàng nắm giữ. Ngân hàng lớn có thể tìm các khoản lợi từ nguồn thu ngoài lãi nhưng không dựa vào đó để kiếm lợi nhuận. Nghiên cứu không tìm thấy nguồn thu ngoài lãi tác động không tốt cho việc thanh toán của ngân hàng trong mẫu, có lẽ vì bản chất của thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng trong mẫu có thể không khiến vốn ngân hàng gặp rủi ro mất mát đáng kể.
DeYoung and Rice (2004b) đã đưa ra số liệu về thu nhập ngoài lãi chiếm hơn 40% thu nhập hoạt động trong ngành NHTM Mỹ. Các tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi, các chiến lược trong thị trường kinh doanh, thay đổi của công nghệ và hiệu quả về tài chính của ngân hàng Mỹ từ những năm 1989 đến năm 2001. Những kết quả này chỉ ra rằng thu nhập ngoài lãi từ các hoạt động trung gian vẫn là chức năng dịch vụ tài chính thiết yếu của ngân hàng..
Tương tự với các chủ đề trên, Park, Park, and Chae (2019) phân tích tác động thu nhập ngoài lãi tác động như thế nào đến lợi nhuận, rủi ro mà các công ty nắm giữ ngân hàng Hoa Kỳ trong giai đoạn khủng hoảng ngành tài chính 2007–2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập ngoài lãi có tác động tích cực đến rủi ro ngân hàng và lợi nhuận trong thời kỳ khủng hoảng. Hơn nữa, thu nhập ngoài lãi liên quan đến các hoạt động phi truyền thống như hoạt động ngân hàng thương mại và đầu tư có ảnh hưởng không đáng kể tới rủi ro và lợi nhuận. Nghiên cứu này gợi ý rằng thu nhập ngoài lãi không phải là nguồn gốc của sự bất ổn định ngân hàng và lợi nhuận thấp trong cuộc khủng hoảng tài chính.
Brahmana, Kontesa, and Gilbert (2018) sử dụng thông tin tài chính từ các ngân hàng Malaysia trong thời gian từ năm 2005-2015, tác giả nghiên cứu những tác động trong việc đa dạng hóa đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Cụ thể, nghiên cứu kiểm tra mối liên hệ giữa nguồn thu ngoài lãi và hiệu suất được điều chỉnh theo rủi ro. Kết quả hồi quy theo ước lượng FEM cho thấy đa dạng hóa trong thu nhập làm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng xác nhận giả thuyết giảm thiểu rủi ro và lý thuyết dựa trên nguồn lực. Theo quan điểm của bài viết, thị trường tài chính ít hội nhập hơn ở Malaysia mang lại lợi thế cho các ngân hàng Malaysia để đạt được lợi ích đa dạng hóa tốt hơn. Hơn nữa, sự gia tăng của ngân hàng Hồi giáo cho thấy một sự quan trọng đối với việc đa dạng hóa thu nhập. Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Hamdi, Hakimi, and Zaghdoudi(2017) phân tích tác động của nguồn thu ngoài lãi đến yếu tố sinh lời của các ngân hàng Tunisia. Kết quả chỉ ra các yếu tố quyết định thu nhập ngoài lãi là: hiệu suất tương đối (RROA và RROE), quy mô ngân hàng, chuyên môn hóa khoản vay và các kênh thanh toán điện tử mới, thẻ tín dụng và máy ATM rút tiền tự động. Chúng tôi cũng thấy rằng đa dạng hóa làm tăng hiệu quả kinh doanh đối với cả hai chỉ số ROA và ROE. Cuối cùng, nguồn thu ngoài lãi dường như có mối liên hệ đáng kể với tác động lên mức độ rủi ro.
Cùng với các nghiên cứu trên, Chiorazzo et al. (2008) cũng phân tích về tác động của nguồn thu ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Ý từ năm 1992-2003. Kết quả đã nhận định đa dạng hóa các khoản thu sẽ giúp gia tăng lợi nhuận được điều chỉnh theo rủi ro, đặc biệt mối tương quan này điển hình hơn ở các ngân hàng lớn. Hơn nữa, tác giả cũng chỉ ra ngân hàng nhỏ có thể tìm nguồn lợi nhuận thông qua việc gia tăng các khoản thu ngoài lãi, nhưng chỉ khi ngay từ đầu họ có rất ít phần thu nhập ngoài lãi.
Bảng 2.2. trình bày tóm tắt các nghiên cứu nước ngoài về chủ đề nghiên cứu
Bảng 2.2. Tóm tắt các nghiên cứu nước ngoài về chủ đề nghiên cứu
2.5. KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Tóm lại, dựa trên các bài nghiên cứu có thể nhận thấy rằng mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của NHTM vẫn còn nhiều tranh cãi. Có nghiên cứu cho rằng mối quan hệ cùng chiều giữa hai yếu tố này, song có nghiên cứu lại chỉ ra mối quan hệ là ngược chiều. Do vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm tra tác động của thu nhập ngoài lãi đối với hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam.
Ngoài ra, hầu hết các bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của NHTM trong điều kiện nền kinh tế suy thoái hoặc bình thường mà chưa xem xét đến bối cảnh về dịch COVID-19 đã trải qua trong thời gian vừa qua. Do vậy, nghiên cứu này bổ sung xem xét thêm tác động của thu nhập ngoài lãi đối với hiệu quả kinh doanh của NHTM Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thế giới diễn ra đại dịch COVID-19.
Ngoài ra, để thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Các ngân hàng đang rất tích cực và chú trọng hơn trong quá trình kinh doanh, từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh tăng thu từ các hoạt động dịch vụ phi tín dụng để tạo ra thu nhập ngoài lãi, giảm bớt các hoạt động mang tính rủi ro cao và chưa ổn định điển hình là hoạt động về tín dụng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.
Trong chương 2, đề tài đã trình bày về tổng quan cơ sở lý thuyết về thu nhập ngoài lãi, hiệu quả kinh doanh của NHTM cũng như cách thức đo lường các chỉ tiêu này. Bằng các khảo lược từ các nghiên cứu trước đây, Tác giả nhận thấy việc đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được các nghiên cứu trước sửa dụng và phân tích thông qua các biến như: lợi nhuận trên tổng tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, dư nợ cho vay trên thổng tài sản, chi phí hoạt động, GDP, CPI…
Meslier và các tác giả (2010) đã sử dụng biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời/tổng tài sản, biến độc lập là tỷ lệ VCSH/Tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tài sản, GDP… cho nghiên cứu.
Trujillo – Ponce (2013) đã sử dụng ROE – tỷ suất sinh lời/tổng tài sản và ROE tỷ suất sinh lời/vốn chủ sở hữu làm biến phụ thuộc, ngoài ra tác giả còn sử dụng biến tỷ lệ vốn chú sở hữu/tổng tài sản, tỷ lệ chi phí/thu nhập, quy mô ngân hàng, GDP…. làm các các biến độc lập cho nghiên cứu. Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
Munyam bonera (2013) đã sử dụng ROAA và Nim – Thu nhập lãi cận biên làm biến độc lập và sử dụng tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tài sản, GDP, CPI làm biến độc lập để đánh giá.
Hay như nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016), nghiên cứu này sử dụng một số biến quy mô ngân hàng, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản…để đánh giá.
Từ đó tác giả nhận thấy, để phân tích và đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM các nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước đã và đang sử dụng các biến như: lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản, thu nhập phí lãi trên thu nhập hoạt động, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, chi phí hoạt động, tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay, GDP, CPI….từ đó tác giả đã khảo lược và xây dựng mô hình nghiên tại chương 3.
Ngoài ra, luận văn còn trình bày các lý thuyết nền tảng làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu. Đồng thời để có căn cứ đề xuất mô hình tại chương 3, chương 2 còn thực hiện khảo lược các nghiên cứu trước, và chỉ ra khe hở nghiên cứu. Luận văn: Tác động thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC của thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh Doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

