Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000-Vấn đề lý luận và thực tiễn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” [22, Khoản 2 Điều 36]. Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội. “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”[19]. Từ ý nghĩa sâu sắc đó Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng các chuẩn mực để tạo nên gia đình văn hoá, tiến bộ mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc. Mục tiêu này đã được luật hoá trong các văn bản pháp luật nói chung, đặc biệt là trong pháp luật Hôn nhân và gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình đã tạo hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình phát triển theo đúng hướng mà Nhà nước đã đề ra. Kết hôn là bước khởi đầu để hình thành nên gia đình, vì vậy việc quy định các điều kiện kết hôn là yêu cầu tất yếu của xã hội. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, việc không tuân thủ các điều kiện kết hôn vẫn đang diễn ra hàng ngày trong đời sống gây nên hiện tượng kết hôn trái pháp luật. Các trường hợp kết hôn trái pháp luật đã có những tác động tiêu cực đến các mặt của xã hội, ảnh hưởng tới đạo đức, nhân cách, lối sống của con người, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ảnh hưởng tới sức khoẻ và việc duy trì nòi giống của dân tộc. Vì vậy, Nhà nước ta đã điều chỉnh hiện tượng này bằng chế tài Huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Là chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình nên hậu quả của huỷ việc kết hôn trái pháp luật là rất nặng nề, ảnh hưởng tới cuộc sống của chủ thể kết hôn, tới quyền lợi cuả con cái họ, quyền lợi của mọi người và ảnh hưởng tới trật tự xã hội. Do đó, nghiên cứu về vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình là vô cùng cần thiết. Không chỉ nhằm giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật được hiệu quả, mà quan trọng hơn đó là hoàn thiện hơn nữa chế tài này. Có như vậy ý nghĩa của chế tài mới được phát huy, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, dù là chế tài đã được quy định rất có hệ thống, nhưng thực tiễn xét xử cho thấy có rất ít trường hợp hủy việc kết hôn trái pháp luật. Thực trạng này phản ánh tính đặc thù của thi hành và áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung, áp dụng các quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật nói riêng. Nhằm làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn của hủy việc việc kết hôn trái pháp luật, qua đó đề xuất những luận cứ cho việc hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình mà cụ thể là chế định hủy việc kết hôn trái pháp luật, tác giả lựa chọn đề tài “Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000-Vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Huỷ việc kết hôn trái pháp luật là một vấn đề cần được quan tâm trong thực tiễn cuộc sống và trong hệ thống pháp luật. Bởi ngoài việc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm thì đây còn là biện pháp răn đe, giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mọi công dân, bảo đảm tính hiệu quả của pháp luật. Do vậy, trong thời gian qua cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này. Đã có một số bài viết mang tính chất nghiên cứu một số nội dung của vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật được đăng tải trên tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật… kể cả một số luận văn thạc sĩ và luận văn tiến sĩ luật học nghiên cứu liên quan. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu chủ yếu như: Hủy kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Thu, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002. Khóa luận này chỉ trình bày vấn đề mang tính chất khái quát về hủy việc kết hôn trái pháp luật mà không đi sâu phân tích vấn đề lý luận và thực tiễn. Hay như: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật trong tình hình xã hội hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012 của Nguyễn Huyền Trang. Ở luận văn này, tác giả đánh giá thực trạng của việc kết hôn trái pháp luật nhưng chỉ đề cập mang tính sơ lược về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật. Một số các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật được đăng tải trên các Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học… cũng đã có đề cập tới vấn đề này, tuy nhiên chỉ dừng lại một khía cạnh nào đó. Ví dụ như “Bàn về huỷ kết hôn trái pháp luật” của tác giả Thái Công Khanh trên Tạp chí Toà án nhân dân số 4, tháng 2/2007; “Có thể tuyên bố huỷ việc kết hôn trái pháp luật khi một bên kết hôn chết” của tác giả Trần Thiện Hoàng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 14, tháng 7/2011; “Nên cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi mấy đời?” của tác giả Ngô Cường trên Tạp chí Toà án nhân dân số 7, tháng 4/2013; “Thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thuộc Toà án nào?” của tác giả Nguyễn Thị Hương trên Tạp chí Toà án nhân dân số 20 tháng 10/2009; “Giải quyết việc kết hôn trái pháp luật như thế nào trong vụ án thừa kế” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh trên Tạp chí Toà án nhân dân số 23 tháng 12/2011; “Kết hôn – hậu quả pháp lý theo Luật Hôn nhân và gia đình” của tác giả Nguyễn Quang Hiền trên Tạp chí Toà án nhân dân số 10, tháng 5/2013; “Hoàn thiện quy định về các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” cuả tác giả TS. Nguyễn Văn Cừ trên Tạp chí Toà án nhân dân số 24, tháng 12/2013…

Như vậy, có thể nhận thấy mỗi công trình nghiên cứu là sự khai thác khác nhau, nhìn nhận vấn đề dưới các góc độ khác nhau. Với công trình của mình, tác giả tiếp cận vấn đề một cách tổng quan và đi sâu phân tích về lý luận cũng như thực tiễn của huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Do đó, công trình sẽ không phải là sự lặp lại của bất kỳ công trình nào trước đó.

3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ khái niệm huỷ việc kết hôn trái pháp luật, căn cứ và đường lối giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cũng như các quy định pháp lý về vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Đồng thời, phân tích, đánh giá, nhìn nhận thực trạng và xu hướng phát triển các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật của Nhà nước về vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải giải quyết được những nhiệm vụ cụ thể sau:

  • Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về huỷ việc kết hôn trái pháp luật như: Quan niệm kết hôn, điều kiện kết hôn, kết hôn trái pháp luật; huỷ việc kết hôn trái pháp luật;
  • Nghiên cứu vấn đề điều chỉnh pháp luật trong việc huỷ việc kết hôn trái pháp luật như: nguyên tắc huỷ việc kết hôn trái pháp luật; các quy định về người có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật; các căn cứ huỷ việc kết hôn trái pháp luật; đường lối giải quyết; hậu quả pháp lý của huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
  • Đánh giá chung thực tiễn giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở làm rõ nhu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình về huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Qua đó kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000; văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam qua các thời kỳ; thực tiễn áp dụng pháp luật trong huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Trong pháp luật hôn nhân và gia đình, vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, với tên đề tài: Huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 – Vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn sẽ chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận xung quanh khái niệm huỷ việc kết hôn trái pháp luật; những quy định về huỷ việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng như thực tiễn giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, từ đó tìm ra những bất cập và đưa ra các phương hướng giải quyết. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cũng như mọi công trình khoa học khác phương pháp luận sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời, tác giả còn sử dụng các phương pháp bổ trợ như phương pháp so sánh, tổng hợp, đối chiếu, lịch sử để nhằm đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện nhất. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh vấn đề huỷ việc kết hôn trái pháp luật, đặc biệt đánh giá, phân tích về thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này, để rút ra những ưu điểm, tồn tại trong việc thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật.

6. Những điểm mới của luận văn

So với những công trình nghiên cứu về hủy việc kết hôn trái pháp luật trước đây, luận văn có những điểm mới như sau:

  • Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật của quy định hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
  • Luận văn nêu ra những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện áp dụng pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
  • Luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật.

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Với tư cách là một công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mang lại những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn.

Ý nghĩa khoa học

  • Luận văn phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
  • Luận văn là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật
  • Luận văn chỉ ra những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hướng hoàn thiện về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Những ý kiến này có thể được sử dụng tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình trong thời gian sắp tới.

Ý nghĩa thực tiễn

Qua nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn, luận văn đã chỉ ra những vướng mắc, bất cập của vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đồng thời luận văn còn chỉ rõ sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Những ý kiến về phương hướng hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình trong luận văn có thể góp phần quan trọng trong thực tiễn thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình.

8. Kết cấu của luận văn Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo pháp luật Việt Nam.
  • Chương 2: Nội dung pháp luật Việt Nam hiện hành về huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
  • Chương 3: Thực tiễn giải quyết, phương hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả điều chỉnh pháp luật về huỷ việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN, KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT.

1.1.1 Khái niệm kết hôn, điều kiện kết hôn.

Sự kết hợp giữa người đàn ông và đàn bà là quy luật của tự nhiên. Trong lịch sử phát triển của loài người, từ thời kỳ sơ khai, khái niệm kết hôn chưa hình thành, quan hệ giữa đàn ông và đàn bà là quan hệ tính giao bừa bãi, nhằm thỏa mãn nhu cầu bản năng và duy trì nòi giống. Khi con người thoát khỏi thời kỳ đồ đá, con người đã biết tổ chức cuộc sống dưới hình thức thị tộc, bộ lạc. Mỗi thị tộc, bộ lạc tự đặt ra các quy tắc nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong tổ chức của mình và phù hợp với tổ chức chung của cộng đồng. Khi đó, quan hệ giữa người đàn ông và đàn bà không chỉ mang tính bản năng mà còn mang tính xã hội. Quan hệ đó chịu sự điều chỉnh bởi các tục lệ của thị tộc, bộ lạc và hình thành trên cơ sở huyết thống. Khái niệm kết hôn đơn giản chỉ là sự kết hợp rất tự nhiên của hai chủ thể nam – nữ, được xác lập trên cơ sở chung sống thực tế. Việc kết hôn được coi là hợp pháp khi nó tuân thủ các quy tắc đã đặt ra và được cả cộng đồng thừa nhận, cho phép.

Cùng với sự phát triển của kinh tế và sự xuất hiện chế độ tư hữu dẫn đến sự ra đời của Nhà nước, pháp luật được ban hành và trở thành công cụ của giai cấp thống trị để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mỗi một giai đoạn lịch sử, giai cấp thống trị điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật kết hợp với phong tục tập quán, các quy định tôn giáo cho phù hợp với ý chí của giai cấp mình nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp và nhằm ổn định trật tự xã hội nói chung. Các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh phát triển thành các quan hệ pháp luật. Các quy tắc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình do nhà nước ban hành hoặc thể chế hóa trở thành pháp luật hôn nhân và gia đình. Thông qua Nhà nước và pháp luật giai cấp thống trị tác động vào các quan hệ hôn nhân gia đình làm cho những quan hệ này phát sinh, thay đổi và chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Khi đó sự kết hợp giữa người nam và người nữ được điều chỉnh bởi pháp luật và khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý được hình thành. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Dưới góc độ pháp luật, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng và theo nghi thức được pháp luật quy định. Việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng phải được Nhà nước thừa nhận mới được coi là kết hôn hợp pháp. Kết hôn là điểm khởi đầu, là cánh cửa mở ra cuộc sống hôn nhân. Kết hôn làm xác lập quan hệ hôn nhân, là cơ sở để hình thành gia đình. Từ sự kiện kết hôn sẽ làm phát sinh quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ – chồng. Cũng từ sự kiện kết hôn giữa hai người khác giới sẽ hình thành một gia đình với nhiệm vụ thực hiện đầy đủ các chức năng đối với xã hội, đó là chức năng sinh sản; chức năng giáo dục và chức năng kinh tế.

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của sự kiện kết hôn, pháp luật nước ta đã có những quy định chặt chẽ về điều kiện để việc kết hôn được coi là hợp pháp và được Nhà nước công nhận, bảo hộ. Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”[19]. Như vậy, pháp luật nước ta quy định kết hôn hợp pháp phải thỏa mãn hai điều kiện.

Thứ nhất, chủ thể kết hôn phải thể hiện ý chí là mong muốn được kết hôn với nhau. Việc kết hôn, trước tiên phải là sự thể hiện ý chí tự nguyện của hai bên nam nữ mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng. Sự mong muốn ấy xuất phát từ tình cảm, từ tình yêu thương của hai bên mà không phải bởi sự tác động của bất cứ ai, bất cứ động lực nào. Hai bên mong muốn kết hôn với nhau với mục đích cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc và cùng nhau sinh con đẻ cái. Và ý chí của hai bên phải thống nhất với sự thể hiện ý chí. Sự thể hiện đó phải thông qua hành vi thực hiện các thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Đó là việc cả hai bên cùng nhau thực hiện nghi thức đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai: Việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận. Việc kết hôn hay không là phụ thuộc vào ý muốn của mỗi người, không pháp luật hay Nhà nước nào bắt buộc họ phải kết hôn. Nhưng chủ thể khi kết hôn họ phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình. Ngoài việc phải tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn họ còn phải thực hiện theo hình thức do pháp luật quy định, đó là việc đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn chính là hình thức thể hiện sự thừa nhận và bảo hộ của Nhà nước.

Có hai nghi thức kết hôn thường được các nước quy định là nghi thức dân sự và nghi thức tôn giáo. Có những nước chỉ thừa nhận nghi thức dân sự như Pháp, Bỉ, Hà Lan…. Có những nước chỉ thừa nhận nghi thức tôn giáo như các quốc gia Hồi giáo. Có những nước chấp nhận cả hai nghi thức và người kết hôn có quyền lựa chọn một trong hai nghi thức khi kết hôn như Mỹ, Ý, Thuỵ Điển…. Có những nước buộc phải thực hiện lần lượt cả hai nghi thức tôn giáo và dân sự như Vương quốc Anh.

Việt Nam thời hiện đại, pháp luật chỉ thừa nhận nghi thức dân sự, đó là việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chỉ khi nào nam nữ đăng ký kết hôn và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn công nhận bằng hình thức cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì họ mới được coi là vợ chồng và khi đó quan hệ của họ mới được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ. Việc đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là biện pháp để Nhà nước kiểm soát việc tuân theo pháp luật của công dân trong việc kết hôn, đồng thời ngăn chặn những hiện tượng kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Đăng ký kết hôn còn là biện pháp bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho hai bên nam nữ. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn có giá trị pháp lý quan trọng, là chứng cứ viết xác nhận giữa hai bên nam nữ đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng, là cơ sở xác định thời điểm phát sinh quan hệ vợ chồng, là cơ sở giải quyết khi phát sinh tranh chấp, là căn cứ để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Mọi nghi thức khác như tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc kết hôn theo nghi thức tôn giáo được tiến hành tại nhà thờ mà không có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thì không được công nhận là hợp pháp.

Như vậy, kết hôn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác nhận chủ thể của quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con và xác định rõ thời điểm làm phát sinh các quan hệ đó. Kết hôn phù hợp với các điều kiện luật định là căn cứ để Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình đó. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Từ khái niệm kết hôn, có thể thấy kết hôn và điều kiện kết hôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kết hôn chỉ được coi là hợp pháp khi nó thỏa mãn điều kiện của kết hôn. Điều kiện là những yêu cầu buộc phải thực hiện trước khi tiến hành một việc nào đó. Điều kiện kết hôn là tất cả những gì người kết hôn phải tuân thủ.

Cùng với sự ra đời và phát triển của khái niệm kết hôn, các điều kiện kết hôn cũng được hình thành. Từ trước khi có Nhà nước, các điều kiện kết hôn chính là những quy tắc, tục lệ được đặt trong khuôn khổ của các tổ chức xã hội như thị tộc, bộ lạc. Khi chế độ tư hữu xuất hiện, Nhà nước ra đời và pháp luật được đặt ra nhằm thiết lập một trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị. Mỗi một kiểu nhà nước khác nhau quy định về điều kiện kết hôn khác nhau, pháp luật đã hướng việc kết hôn vào khuôn phép và các điều kiện hà khắc nhằm duy trì chế độ hôn nhân cưỡng ép phụ thuộc vào cha mẹ hoặc các bậc thân trưởng trong gia đình; thừa nhận chế độ đa thê; duy trì sự bất bình đẳng giữa người đàn ông và người phụ nữ.

Trong xã hội đương đại, pháp luật thể hiện tính giai cấp nhưng đồng thời cũng theo xu hướng chung, tính xã hội, tính nhân loại ngày càng thể hiện rõ nét hơn, pháp luật là sự kết tinh của các giá trị truyền thống, văn hóa, đạo đức dân tộc và tinh hoa nhân loại. Vì vậy, các điều kiện kết hôn cũng được quy định phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán và tự nhiên của mỗi quốc gia. Nội dung các điều kiện kết hôn cũng bị chi phối bởi bản chất Nhà nước và truyền thống dân tộc.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã có những điều chỉnh và bổ sung đáng kể về điều kiện kết hôn tại Điều 9 và Điều 10 như sau: Về tuổi kết hôn, nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên; Việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở; cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn; cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

So với các đạo luật trước, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thể hiện những điểm mới tiến bộ. Như, đã bỏ trường hợp cấm kết hôn đối với người đang mắc bệnh hoa liễu. Bởi sự phát triển của y học đã có phương pháp chữa trị căn bệnh này, việc bỏ điều kiện cấm kết hôn của người mắc bệnh hoa liễu nhằm bảo vệ quyền kết hôn của công dân.

Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thay cụm từ “đang mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận thức hành vi của mình cuả Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 bằng cụm từ “mất năng lực hành vi dân sự”. Sự thay đổi này để bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với các quan hệ pháp luật khác như quan hệ dân sự, đất đai, hành chính, hình sự….

Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình bổ sung thêm việc cấm kết hôn giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; cấm kết hôn giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Đây là sự bổ sung nhằm giữ ổn định các mối quan hệ trong gia đình và củng cố hơn nền tảng đạo đức của dân tộc Việt Nam. Luật còn quy định: cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Đây là quy định mới, bởi trường hợp nam, nữ cùng giới tính chung sống với nhau như vợ chồng đang diễn ra ngày càng nhiều và phổ biến. Việc quy định này thể hiện sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật đối với những quan hệ xã hội mới phát sinh này.

Về nghi thức kết hôn, ở các văn bản pháp luật trên đều quy định thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân cấp cơ sở nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ. Trong trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài thì cơ quan đại diện, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn. Khi yêu cầu đăng ký kết hôn hai bên nam nữ phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn nộp tờ khai đăng ký kết hôn và những giấy tờ cần thiết khác. Trong trường hợp có lý do chính đáng, một trong hai bên không thể đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi đơn xin nộp hồ sơ tạm vắng mặt và phải có xác nhận của UBND cấp cơ sở nơi người vắng mặt cư trú. Khi các bên toàn tất thủ tục xin đăng ký kết hôn, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn cấp cho Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và ghi vào Sổ đăng ký kết hôn thì việc kết hôn mới có giá trị pháp lý. Đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của người kết hôn.

Như vậy, trải qua những bước thăng trầm của đất nước pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng có những biến đổi đa dạng. Xuyên suốt chiều dài lịch sử lập pháp Việt Nam có thể thấy vấn đề kết hôn và điều kiện kết hôn luôn được đặt ra và có sự điều chỉnh cho phù hợp với mỗi kiểu Nhà nước nhất định. Điều kiện kết hôn là những quy định của pháp luật do Nhà nước ban hành buộc các chủ thể kết hôn phải tuân theo, đó là cơ sở xác định việc kết hôn là hợp pháp hay trái pháp luật.

1.1.2. Khái niệm kết hôn trái pháp luật. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Từ khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn có thể thấy khi việc kết hôn của hai bên nam nữ tuân thủ các điều kiện theo pháp luật quy định thì việc kết hôn đó được coi là hợp pháp. Các trường hợp kết hôn không thỏa mãn điều kiện kết hôn thì được coi là kết hôn trái pháp luật. Theo khoản 3 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định”[19]. Như vậy, chỉ coi là kết hôn trái pháp luật khi mang hai dấu hiệu cần và đủ, đó là, vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và có đăng ký kết hôn. Dấu hiệu có đăng ký kết hôn là để phân biệt với trường hợp hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng dù có tuân thủ các điều kiện kết hôn hay không nhưng không đăng ký kết hôn thì cũng không coi là kết hôn trái pháp luật. Bởi, về mặt pháp lý trong quan hệ này các chủ thể chưa thực hiện hành vi kết hôn thì không thể coi sự vi phạm đó là kết hôn trái pháp luật được.

Tại Bản dự luật về ly hôn, Các Mác khẳng định: “Không ai bị buộc phải kết hôn nhưng ai cũng buộc phải tuân theo Luật Hôn nhân một khi người đó kết hôn. Người kết hôn không sáng tạo ra hôn nhân, cũng như người bơi lội không sáng tạo, không phát minh ra tự nhiên và những quy luật về nước và trọng lực. Vì thế, hôn nhân không thể phục tùng sự tuỳ tiện của người kết hôn mà trái lại sự tuỳ tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn nhân.” [6]. Quyền kết hôn là quyền của mỗi con người, nhưng khi kết hôn thì họ phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật, phải tuân thủ các điều kiện mà Nhà nước quy định. Nếu vi phạm thì việc kết hôn của họ là trái pháp luật. Việc kết hôn trái pháp luật gây ảnh hưởng tiêu cực tới sự ổn định của xã hội, tới sự quản lý của Nhà nước. Về góc độ pháp lý, kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi chính đáng của công dân, ảnh hưởng tới nhân quyền, tới sự nghiêm minh của pháp luật. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Về mặt xã hội, một gia đình được xây dựng từ những “viên gạch” của sự tự nguyện, của tình yêu thương của hai bên nam nữ, của sự bảo đảm về thể lực và trí lực, của các giá trị đạo đức xã hội, phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Khi gia đình được xây dựng trên nền tảng đó mới bảo đảm được sự bền vững, ổn định, hạnh phúc và có thể thực hiện tốt được các chức năng đối với xã hội. Nếu thiếu một trong các điều kiện đó gia đình sẽ không thể là một tế bào tốt cho xã hội, không bảo đảm được sự bền vững, hạnh phúc và không thể thực hiện được các chức năng đối với xã hội. Mặt khác, hành vi kết hôn trái pháp luật còn tác động tiêu cực tới các trật tự xã hội, là nguyên nhân của tình trạng ly hôn, tệ nạn xã hội, tội phạm gia tăng.

Ngoài ra, điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật là kết tinh của truyền thống văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Vì vậy, việc vi phạm điều kiện kết hôn sẽ làm ảnh hưởng tới những giá trị văn hoá tốt đẹp của con người Việt Nam, ảnh hưởng tới đạo đức, tư tưởng, lối sống của mỗi cá nhân.

Kết hôn trái pháp luật là một hiện tượng xã hội và diễn ra ngày càng nhiều trong cuộc sống, nguyên nhân dẫn của hiện tượng đó xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố kinh tế – xã hội, văn hoá, pháp luật và con người.

Có thể thấy, kết hôn trái pháp luật là hành vi vi phạm quy định về điều kiện kết hôn, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội, tới sự ổn định và bền vững của gia đình, xâm phạm trật tự kỷ cương của Nhà nước và pháp luật, đến truyền thống đạo đức, phong tục, văn hoá của dân tộc.

1.1.3. Khái niệm hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Xuất phát từ hệ quả của việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu ngăn chặn, xử lý và hạn chế kết hôn trái pháp luật là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn. Pháp luật quy định các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật gồm: huỷ việc kết hôn trái pháp luật hoặc xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, chủ thể thực hiện mà áp dụng các biện pháp khác nhau. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Huỷ việc kết hôn trái pháp luật hay còn gọi là biện pháp tiêu hôn được đề cập khá sớm trong lịch sử phát luật Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tuy nhiên chưa có văn bản pháp luật nào giải nghĩa “huỷ việc kết hôn trái pháp luật”.

Theo Từ điển Tiếng Việt, huỷ có nghĩa là làm cho không còn tồn tại hoặc không có giá trị nữa [30]. Có thể hiểu huỷ việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp làm cho việc kết hôn trái pháp luật không còn tồn tại hoặc làm cho việc kết hôn trái pháp luật không có giá trị nữa. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội đã có sự giải thích khá đầy đủ: “Huỷ việc kết hôn trái pháp luật được hiểu là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình đối với trường hợp nam nữ kết hôn nhưng không tuân thủ đầy đủ các điều kiện được Luật Hôn nhân và gia đình quy định” [26]. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 không có quy định nào giải thích cụm từ “hủy việc kết hôn trái pháp luật” nhưng tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của Luật này, Toà án xem xét và quyết định việc huỷ kết hôn trái pháp luật và gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. Căn cứ vào quyết định của Toà án, cơ quan đăng ký kết hôn xoá đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn”[19]. Có thể thấy, hủy việc kết hôn trái pháp luật là việc Tòa án theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tác động tới việc kết hôn trái pháp luật làm cho quan hệ đó không còn tồn tại hoặc không có giá trị pháp lý nữa. Đây là sự thể hiện thái độ không thừa nhận của Nhà nước đối với việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn. Là biện pháp chế tài nên các bên phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi vi phạm đó, giữa các bên không phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng.

Như vậy, hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình, áp dụng cho các chủ thể có đăng ký kết hôn nhưng không tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình, thể hiện thái độ phủ nhận của Nhà nước đối với quan hệ đó, các bên trong quan hệ không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Từ định nghĩa trên, cho thấy, hủy việc kết hôn trái pháp luật mang những đặc điểm cơ bản. Đó là, hủy việc kết hôn trái pháp luật thể hiện thái độ của Nhà nước đối với quan hệ kết hôn trái pháp luật. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả các chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được xây dựng và thực hiện xuất phát từ lợi ích của con người, cho con người, vì con người. Ngoài mục đích bảo vệ quyền con người, pháp luật còn bảo đảm trật tự xã hội, lợi ích chung của cả xã hội. Để đạt được mục đích đó thì mỗi công dân phải có ý thức tuân thủ pháp luật. Việc tuân thủ của mỗi cá thể trong xã hội sẽ được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ. Còn các hành vi vi phạm quy định pháp luật đều phải xử lý. Hành vi không tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng sẽ bị xử lý. “Hủy” chính là sự thể hiện thái độ không đồng tình của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình. Đây là loại chế tài phủ định pháp luật. Chế tài phủ định pháp luật là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với việc thực hiện không đúng các quy định pháp luật. Chế tài này thể hiện sự không thừa nhận tính chất pháp lý của quan hệ mới phát sinh. Như vậy, các chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đối với hành vi vi phạm của mình. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật mang tính chất linh hoạt và mềm dẻo. Sự linh hoạt, mềm dẻo thể hiện trong nguyên tắc xử lý của Tòa án. Không phải tất cả các trường hợp kết hôn trái pháp luật Tòa án đều hủy, mà khi giải quyết Tòa án phải căn cứ vào hoàn cảnh, mức độ vi phạm, hậu quả để quyết định hủy hay không quan hệ đó.

Hủy việc kết hôn trái pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng. Với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội đặc biệt quan trọng, do Nhà nước ban hành, xuất phát từ thực tiễn xã hội, pháp luật nước ta tất yếu phải được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp chế tài. Biện pháp chế tài được áp dụng đối với những người vi phạm pháp luật trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục, thu hút sự tham gia của xã hội vào cuộc đấu tranh phòng, chống các vi phạm. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài với mục đích xử lý những người có hành vi vi phạm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào việc xây dựng chế độ hôn nhân gia đình tự nguyện, tiến bộ, xây dựng gia đình mới xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thuần phong mỹ tục Việt Nam, đem lại hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trong đời sống xã hội. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp để loại bỏ những mặt trái của pháp luật hôn nhân gia đình đồng thời có tác dụng ngăn chặn hành vi vi phạm các quy định điều kiện kết hôn.

1.2. ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

1.2.1. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong cổ luật Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam thời kỳ phong kiến với chế độ quân chủ, mọi quyền lực tập trung vào tay Vua, pháp luật ban hành là để bảo vệ vị trí đặc quyền của vua và các tầng lớp quan lại, gia trưởng. Các đạo luật đều do vua ban hành. Di sản pháp luật thời kỳ này không còn được lưu giữ nhiều, tiêu biểu cho pháp luật thời kỳ nà là hai bộ luật Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) được ban hành dưới triều Lê (1428 – 1788) và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) được ban hành năm 1815 dưới thời Nguyễn. Đây là hai bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều Lê và triều Nguyễn, ban hành nhằm điều chỉnh những mối quan hệ hình sự và dân sự phát sinh trong đời sống xã hội phong kiến. Hai bộ luật này có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam, thể hiện sự tiến bộ và tinh hoa trong kỹ thuật lập pháp của ông cha ta.

Bộ luật Hồng Đức gồm 13 chương, ghi chép trong 6 quyển, 722 điều, quy định các vấn đề như Danh lệ, cấm vệ, quân lính, điều sản, hôn nhân và gia đình …. Bộ luật Gia Long gồm 398 điều, chia thành 22 quyển; 01 quyển phụ lục với những nội dung chính như Biểu kê các luật lệ, Danh lệ, Lại luật, Hộ luật, Hình luật…Trong cả hai bộ luật đều có quy định về các trường hợp tiêu hôn. Tiêu hôn là biện pháp xử lý trường hợp vi phạm các điều kiện về cấm kết hôn. Tuy nhiên hôn nhân là một quan hệ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt đối với vợ chồng, các con và gia đình. Do vậy, mà cả hai bộ luật trên đều có những điều kiện nhằm giới hạn những trường hợp có thể tiêu hủy hôn nhân. Pháp luật có sự phân biệt trường hợp vi phạm điều kiện thường và trường hợp vi phạm các điều kiện chủ yếu để có những biện pháp xử lý tương ứng. Đối với trường hợp điều kiện thiết yếu thì pháp luật không công nhận tính hợp pháp và bị tiêu hủy. Còn đối với trường hợp vi phạm điều kiện thường thì có thể chỉ bị phạt mà hôn nhân vẫn tồn tại, không bị tiêu hủy. Ví dụ, Điều 316 Bộ luật Hồng Đức quy định: Đối với những trường hợp khi các bên kết hôn đã vi phạm nghiêm trọng các điều kiện cấm kết hôn, tức là đã vi phạm vào các điều kiện thiết yếu thì pháp luật không công nhận tính hợp pháp của việc kết hôn đó và cần phải tiêu hủy [32]. Điều 317 và Điều 323 quy định: các bên sẽ phải chia lìa hoặc phải ly dị khi vi phạm vào các điều kiện quan trọng của việc xác lập hôn nhân [32]. Theo quy định của hai bộ luật này, việc tiêu hủy chỉ có hiệu lực trong tương lai mà không có giá trị trở về trước, tức là kể từ thời điểm kết hôn đến khi bị tiêu hủy thì hôn nhân vẫn được coi là có giá trị pháp lý. Đây là điểm khác với pháp luật hiện hành, pháp luật hiện hành không công nhận quan hệ vợ chồng kể từ thời điểm kết hôn. Hậu quả pháp lý của việc tiêu hôn là các bên phải chia lìa hoặc ly dị, tức là hậu quả pháp lý của việc tiêu hôn được giải quyết như trường hợp ly hôn trong pháp luật hiện hành.

Như vậy, có thể thấy trong cổ luật kết hôn bị coi là vô hiệu khi vi phạm một trong các điều kiện cấm kết hôn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp kết hôn vô hiệu đều bị tiêu hủy, chỉ những trường hợp vi phạm nghiêm trọng các điều kiện kết hôn mới bị tiêu hủy, còn những trường hợp vi phạm những điều kiện thường thì không bị tiêu hủy mà đương sự có thể phải chịu những hình phạt nhất định. Hậu quả của việc tiêu hủy hôn nhân là buộc các bên phải chấm dứt quan hệ chung sống. Hai bộ luật này thể hiện sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của gia đình và sự ổn định của xã hội, thể hiện những nét đặc thù mang đậm phong tục, tập quán của người Việt Nam. Pháp luật hiện hành cũng là sự kế thừa có chặt lọc những tinh hoa đó.

1.2.2. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật thời kỳ Pháp thuộc. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Thời kỳ Pháp thuộc là thời kỳ Việt Nam chịu sự cai trị của thực dân Pháp, thực hiện chính sách “chia để trị” nên thực dân Pháp bắt tay với triều đình nhà Nguyễn ký kết bản “Hiệp ước hoà bình” ngày 25/8/1883, theo đó nước ta được chia làm ba miền: Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp. Dựa theo Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp (1804), thực dân Pháp đã ban hành ba Bộ luật dân sự. Trong đó, tại Bắc Kỳ là Bộ Dân luật năm 1931; tại Trung Kỳ là Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936; tại Nam Kỳ là Bộ Dân luật Giản yếu năm 1883. Ba bộ luật đều có những quy định khác nhau về điều kiện kết hôn song cùng chung đặc điểm là tập trung vào các vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích của người kết hôn, con cái, gia đình và xã hội. Nếu vi phạm các điều kiện kết hôn thì việc kết hôn là vô hiệu và có thể bị tiêu hủy. Ba bộ luật trên phân biệt hôn nhân vô hiệu thành hai loại là vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối. Vô hiệu tương đối chỉ do một số người nhất định mà pháp luật quy định mới có quyền yêu cầu tiêu hủy hôn nhân đó và sự vô hiệu ấy có thể bị mất đi do một sự kiện nào đó xuất hiện. Vô hiệu tuyệt đối thì có thể bất cứ người nào cũng có quyền yêu cầu tiêu hủy và sự vô hiệu ấy không bị mất đi do một thời hiệu hoặc một sự kiện nào. Thẩm quyền tuyên bố tiêu hủy hôn nhân vô hiệu thuộc về Tòa án. Hậu quả của việc tiêu hủy có sự quy định khác nhau trong ba Bộ Dân luật này. Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ đều dựa trên nguyên tắc giảm bớt hậu quả đối với các chủ thể kết hôn cũng như đối với con cái họ. Vì vậy, quy định về hậu quả cũng không quá nghiêm ngặt, như khi việc kết hôn bị tiêu hủy thì việc tiêu hủy đó chỉ có hiệu lực trong tương lai, có nghĩa là trước khi bị tiêu hủy quan hệ hôn nhân giữa họ vẫn phát sinh hiệu lực pháp lý, quan hệ vợ chồng, cha, mẹ – con cũng được công nhận, con sinh ra vẫn là con trong giá thú (con chính thức). Điều 89 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định: Phàm có giá thú mà sinh con dẫu sau có sự tiêu hôn, không cớ vì duyên cớ gì, những đứa con ấy vẫn là con chính thức, thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ của cha mẹ, những đứa con ấy thì cũng theo một lệ định như khi ly hôn. Các bên chỉ chấm dứt quan hệ vợ chồng kể từ khi kết hôn bị tiêu hủy. Tức là, hậu quả pháp lý của tiêu hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng giống như giải quyết trường hợp ly hôn. Trái lại, trong Bộ Dân luật giản yếu lại quy định rất khắt khe, nghiêm khắc hơn rất nhiều so với hai bộ luật trên: Khi việc kết hôn bị tiêu hủy thì nó không có hiệu lực gì, không những trong tương lai mà cả trong quá khứ nữa. Đối với hai vợ chồng thì kể từ ngày họ kết hôn cho đến khi việc kết hôn đó bị tiêu hủy họ không phải là vợ chồng của nhau, có nghĩa là hai bên chưa hề xác lập quan hệ hôn nhân với nhau. Như vậy, về quan hệ nhân thân, giữa họ không tồn tại quan hệ vợ chồng, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Về quan hệ cha, mẹ – con, cũng không phát sinh quan hệ cha, mẹ – con trong giá thú mà chỉ coi là con ngoài giá thú. Đối với tài sản, nếu họ có tài sản chung là tài sản đó được thanh toán như trong trường hợp hai người góp sức, góp công làm ra. Như vậy, ở Bộ Dân luật Nam Kỳ là sự phủ nhận hoàn toàn các quan hệ phát sinh từ việc kết hôn trái pháp luật.

Có thể thấy, pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng trong thời kỳ Pháp thuộc phản ánh những đặc điểm riêng biệt của lịch sử. Pháp luật khi đó chịu tác động bởi hai luồng tư tưởng là tư tưởng phong kiến và tư tưởng thực dân. Ở khu vực Trung Kỳ và Bắc Kỳ, ngoài những quy định bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị thì còn có những quy định mang đậm màu sắc phong kiến, phong tục tập quán của Việt Nam; Riêng khu vực Nam Kỳ, do chịu tác động của quy chế thuộc địa Pháp, chế độ cai trị thể hiện sự áp đặt hoàn toàn pháp luật thực dân. Những quy định của pháp luật thời kỳ này đã làm phong phú thêm kho tàng pháp lý của nước ta. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

1.2.3. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ độc lập đầu tiên của nước ta. Nhà nước mới non trẻ và đầy những thách thức, đòi hỏi một hệ thống pháp luật mới. Vào thời kỳ này, quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn tồn tại, việc xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu không phải dễ dàng, nhanh chóng và không thể thực hiện bằng các văn bản pháp luật mang tính mệnh lệnh. Việc thay đổi đòi hỏi phải kiên trì, bởi những tư tưởng, phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại từ lâu đã ăn sâu vào trong tiềm thức của nhân dân ta. Vì vậy, sau cách mạng tháng 8/1945 Nhà nước ta chưa ban hành ngay một đạo luật cụ thể nào để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình mà tiến hành phong trào “vận động đời sống mới”, nhằm vận động quần chúng nhân dân tự nguyện xóa bỏ những hủ tục phong kiến lạc hậu trong đời sống hôn nhân và gia đình.

Vì vậy, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 90/SL cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọn lọc quy lệ và chế định trong các bộ dân luật cũ, theo nguyên tắc không trái với lợi ích của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lợi ích của nhân dân lao động. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Năm 1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam ban hành, đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử lập pháp của nước ta. Với tính chất là đạo luật nguồn, Hiến pháp năm 1946 là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật khác, trong đó có Luật Hôn nhân và gia đình. Đó cũng là cơ sở pháp lý để đấu tranh xóa bỏ những hủ tục của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới dân chủ và tiến bộ. Tình hình phát triển của xã hội về mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự trong quá trình đấu tranh cách mạng chống đế quốc và phong kiến, cùng với sự phát triển của phong trào giải phóng phụ nữ, đòi hỏi phải xóa bỏ một số chế định trong các bộ dân luật cũ về các quan hệ hôn nhân và gia đình đang cản trở bước tiến của xã hội, đồng thời Nhà nước ta cần phải quy định những nguyên tắc mới về hôn nhân và gia đình cho phù hợp với thực tế. Năm 1950 Nhà nước ta đã ban hành hai Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, đó là Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn. Hai Sắc lệnh này đã góp phần vào việc xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của nền pháp chế mới. Tuy nhiên, cả hai Sắc lệnh này đều không có quy định về hủy việc việc kết hôn trái pháp luật.

Từ năm 1954, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nước tạm chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt. Miền Bắc được giải phóng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất đất nước.

Ở miền Bắc, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua vào này 29/12/1959. Đây là đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta về hôn nhân và gia đình, khẳng định bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ của Nhà nước ta, phục vụ lợi ích của nhân dân lao động, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân lao động, nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chính là xóa bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu; xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định cụ thể những điều kiện kết hôn và trường hợp cấm kết hôn để bảo đảm hôn nhân thực sự an toàn, lành mạnh và tiến bộ. Như vậy, những trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn chính là vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa cần phải xử lý. Tuy nhiên, trong văn bản pháp luật này không có quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật. Biện pháp xử lý đối với việc kết hôn trái pháp luật được ghi nhận tại văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Tại công văn số 1264 ngày 01/11/1966, Tòa án nhân dân Tối cao đã gửi các Tòa án địa phương dự thảo thông tư hướng dẫn việc xử lý về dân sự những hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn do luật định. Dự thảo này có tác dụng bước đầu hướng dẫn về đường lối và thủ tục xét xử. Qua kinh nghiệm thực tiễn xét xử và đóng góp ý kiến của Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân Tối cao đã có hướng dẫn đầy đủ hơn việc xử lý về dân sự những hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn tại Thông tư số 112-NCPL ngày 19/8/1972. Theo hướng dẫn này thì đường lối chung là khi xử lý về dân sự đối với những vi phạm điều kiện kết hôn xảy ra sau khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 ban hành cần căn cứ vào tình hình thực tế mà có sự phân biệt khác nhau như:

Cần xử tiêu hôn những vi phạm điều kiện kết hôn đang tiếp diễn và tính chất nghiêm trọng như tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, đang có vợ, có chồng mà lấy vợ hoặc chồng khác, lấy người trong họ hàng mà Luật tuyệt đối cấm kết hôn; người đang mắc một trong những bệnh tật mà Luật cấm kết hôn. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Với những hôn nhân trước đây vi phạm điều kiện kết hôn nhưng nay đã chấm dứt hoặc vi phạm không có tính chất nghiêm trọng và có thể sửa chữa dễ dàng như: kết hôn không đăng ký thì xử lý theo đường lối ly hôn nhằm chiếu cố đến quyền lợi của đương sự nhất là phụ nữ và con cái của họ, cũng như chiếu cố đến phong tục tập quán của địa phương.

Những trường hợp kết hôn do vi phạm điều kiện kết hôn theo luật định thì hôn nhân đó cần phải xử tiêu hôn. “Xử tiêu hôn là quyết định chấm dứt những hôn nhân bất hợp pháp” [16]. Điều đó có nghĩa là hôn nhân vi phạm điều kiện kết hôn là hôn nhân bất hợp pháp cần phải xử tiêu hôn. Đó là biện pháp nhằm đấu tranh chống việc vi phạm pháp luật, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước không thừa nhận quan hệ vợ chống đối với nam nữ kết hôn không tuân thủ quy định về điều kiện kết hôn. Việc tiêu hôn sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với chủ thể kết hôn về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Về nguyên tắc, khi hôn nhân bị Tòa án tiêu hủy thì có hiệu lực cả trong quá khứ và tương lai, tức là giữa họ không phát sinh quan hệ vợ chồng kể từ khi chung sống với nhau. Khi Tòa án hủy hôn nhân, họ phải chấm dứt quan hệ chung sống bất hợp pháp, mọi quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng không phát sinh. Quan hệ cấp dưỡng giữa hai bên không được đặt ra. Về quan hệ tài sản, tài sản riêng của ai thuộc về người đấy, tài sản chung được chia theo công sức đóng góp, những khoản chi tiêu riêng của ai thì người đó phải trả. Bởi tính khắt khe đó nên Tòa án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn cụ thể đối với một số trường hợp, mặc dù có vi phạm điều kiện kết hôn nhưng không nghiêm trọng thì không tiêu hôn mà chỉ xử theo thủ tục ly hôn nếu các đương sự yêu cầu nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự, nhất là quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

Ở miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, chế độ Ngụy quyền Sài Gòn ban hành một hệ thống pháp luật riêng. Pháp luật về hôn nhân và gia đình tập trung trong ba văn bản pháp luật là Luật Gia đình ngày 02/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm, Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng và Bộ dân luật ngày 20/12/1972 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Trong thời kỳ này việc kết hôn của hai bên nam nữ phải tuân theo các quy định về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn nếu một trong hai bên vi phạm thì hôn thú sẽ vô hiệu và sẽ bị tiêu hủy. Hôn thú vô hiệu khi vi phạm độ tuổi; sự tự nguyện của các bên kết hôn, không có sự ưng thuận của cha mẹ, ông bà, người giám hộ; vi phạm điều cấm kết hôn; vi phạm hình thức kết hôn: Hôn lễ cử hành không công khai hay do một hộ lại vô thẩm quyền, với điều kiện cử hành hôn lễ trái phép có tính cách gian lận. Khi hôn thú vô hiệu thì vợ chồng, cha, mẹ, ông bà, người giám hộ, công tố viên có quyền yêu cầu tiêu hôn. Hôn thú sẽ không bị tiêu hủy đối với trường hợp người kết lập hôn thú đã đến tuổi trưởng thành, hơặc nếu người đàn bà đã thụ thai hoặc có con hoặc trường hợp hôn thú đã được thừa nhận một cách công nhiên, hoặc mặc nhiên, hoặc biết việc lập hôn thú mà để yên một năm không khiếu nại. Hậu quả của việc tiêu hủy hôn thú, tại Bộ dân luật năm 1972 quy định: Mặc dù hôn thú bị tiêu hủy, các con, nếu có, vẫn được coi là con chính thức. Về quan hệ vợ chồng, phát luật vẫn thừa nhận quan hệ vợ chồng từ khi kết hôn đến khi bị tuyên hủy, sự tiêu hủy không có hiệu lực hồi tố đối với vợ chồng. Về quan hệ tài sản, giải quyết như đối với trường hợp ly hôn, sự thanh toán tài sản sau khi tiêu hôn sẽ làm như trong trường hợp ly hôn. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Luật Gia đình năm 1959 quy định hôn thú có thể bị vô hiệu trong những trường hợp sau: khi không có sự ưng thuận của một hoặc hai bên, nếu một bên đã ưng thuận vì bị nhầm lẫn về người hoặc về căn cước thì bên bị nhầm lẫn có thể kiện xin tiêu hôn. Tương tự, trường hợp bị cưỡng bức kết hôn cũng có thể xin tiêu hôn. Nếu người bị nhầm lẫn hoặc bị cưỡng bức còn vị thành niên thì cha mẹ của người đó có quyền khởi tố xin tiêu hôn. Quyền kiện xin tiêu hôn chỉ có giá trị trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày phát hiện sự nhầm lẫn, hoặc hết sự cưỡng bức. Hôn thú có thể bị kiện xin xử tiêu hôn vì sự bất lực vĩnh viễn đã có trước khi lập hôn thú của một trong hai bên. Quyền kiện tiêu hôn trong trường hợp này chỉ có giá trị trong thời hạn một năm, kể từ khi khám phá ra sự bất lực. Nếu nam chưa đủ 18 tuổi, nữ chưa đủ 15 tuổi đã kết hôn mà không được đặc cách cho miễn tuổi thì cũng bị xử tiêu hôn. Tuy nhiên, đến thời điểm bị phát giác mà hai bên đã đủ tuổi kết hôn, hoặc người vợ đã thụ thai thì sẽ không bị tiêu hôn. Những người bị cấm kết hôn mà kết hôn thì hôn thú đó bị vô hiệu. Hôn thú cũng có thể bị tiêu hôn nếu sau khi ly hôn lần trước mà người vợ đã tái hôn trước mười tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực; hoặc khi quả phụ tái giá trước mười tháng, kể từ ngày chồng chết. Con sinh trong các cuộc hôn thú bị tuyên là vô hiệu bị coi như con ngoại hôn. Nếu hôn thú bị vô hiệu do lỗi của một bên có gian ý thì người có gian ý có thể bị phạt giam từ ba tháng đến một năm và có thể bị phạt tiền từ một ngàn đến 100 ngàn đồng. Bên ngay tình có thể được tòa án tuyên bên có gian ý bồi thường thiệt hại một khoản tiền.

Như vậy, hủy việc kết hôn trái pháp luật hay còn gọi là tiêu hôn thời kỳ này có nhiều nét tương đồng với các bộ dân luật thời Pháp thuộc nhưng có pha trộn những nét phong tục tập quán của người Việt Nam. Mặc dù pháp luật của chế độ Ngụy quyền Sài Gòn là pháp luật của chính quyền bù nhìn tay sai do Mỹ dựng lên nhưng không chịu ảnh hưởng của pháp luật Mỹ, đây là đặc điểm khác biệt so với thời kỳ Pháp thuộc.

1.2.4. Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Năm 1980 Hiến pháp mới được ban hành thay thế cho Hiến pháp năm 1959. Tình hình kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 bắt đầu thể hiện những bất cập cần phải sửa đổi cho phù hợp với các quan hệ hôn nhân và gia đình trong tình hình mới. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 bao gồm 10 chương 57 điều, được xây dựng và thực hiện trên các nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ; hôn nhân một vợ một chồng; vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con; bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Trong đó có các quy định cụ thể về các điều kiện kết hôn, kết hôn trái pháp luật, hình thức xử lý đối với kết hôn trái pháp luật. Các quy định về điều kiện kết hôn về cơ bản vẫn giống như Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 như độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện .. nhưng có những sửa đổi phù hợp hơn. Diện cấm kết hôn được quy định theo hướng thu hẹp hơn nhưng vẫn trên nguyên tắc gìn giữ thuần phong mỹ tục của dân tộc. Có thể khẳng định Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 là văn bản đầu tiên đề cập đến khái niệm “hủy việc kết hôn trái pháp luật”. Tại Điều 9 quy định:

“Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.

Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc: tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ. Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn” [17].

Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã có những quy định chi tiết hơn rất nhiều so với các văn bản trước đây về hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp kết hôn vi phạm một trong các điều 5, điều 6, điều 7 của Luật này là trái pháp luật. Đó là một số những trường hợp như: kết hôn giữa những người đang có vợ hoặc có chồng; đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình; đang mắc bệnh hoa liễu; giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi … Pháp luật quy định người có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm có hai nhóm, cá nhân và cơ quan, tổ chức. Cá nhân gồm: Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác. Cơ quan, tổ chức gồm Viện kiểm sát nhân dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam [17]. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã có quy định khá cụ thể đối với các chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, bảo đảm thuận lợi và cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền yêu cầu. Tuy nhiên phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu còn hẹp, không bảo đảm được hết quyền lợi của những người có liên quan đến việc kết hôn trái pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 còn quy định về hậu quả cuả hủy việc kết hôn trái pháp luật. Về tài sản, theo nguyên tắc: tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên. Như vậy, quan hệ tài sản phát sinh được xác định là tài sản chung theo phần, không phải là tài sản chung hợp nhất như đối với vợ chồng. Về con cái, giải quyết như đối với trường hợp ly hôn. Tức là việc kết hôn trái pháp luật không ảnh hưởng tới quan hệ cha, mẹ – con. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Như vậy, những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã tạo nền tảng cho những quy định chi tiết của Luật Hôn nhân và gia đình giai đoạn kế tiếp. Tuy nhiên, những quy định này còn nhiều hạn chế, mang tính khái quát, định khung, chưa cụ thể gây khó khăn trong việc áp dụng.

Qua 10 năm thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự vận động của các quan hệ hôn nhân và gia đình trong cơ chế thị trường. Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 thông qua vào ngày 09/6/2000, có hiệu lực ngày 01/01/2001. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được cấu thành bởi 13 chương, 110 điều là bước tiến đáng kể đạt tầm vóc của một bộ luật. Bên cạnh sự hoàn chỉnh về quy mô, hình thức, những nội dung của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng được quy định hoàn chỉnh và chặt chẽ hơn, trong đó phải kể đến quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định gói gọn tại một điều (Điều 9) của Luật thì tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được quy định chi tiết tại ba điều (Điều 15, Điều 16, Điều 17). Nội dung các quy định cũng có sự chi tiết, cụ thể hơn. Phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng mở rộng hơn, bảo đảm quyền lợi cho người liên quan, bảo đảm cho việc phát hiện hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn kịp thời, hiệu quả. Việc quy định đường lối giải quyết và hậu quả pháp lý thể hiện sự chi tiết và dễ áp dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, qua hơn mười năm thi hành, áp dụng cho đến thời điểm hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã thể hiện những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật. Vì lẽ đó, cần phải có những nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

Như vậy, nhìn lại quá trình lập pháp Việt Nam từ cổ luật cho đến hiện đại, trải qua những biến động của lịch sử vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng có những nét thăng trầm riêng. Vấn đề điều kiện kết hôn luôn được quan tâm trong tất cả các quy định pháp luật từ cổ đến kim nhưng không phải bất cứ văn bản pháp luật nào hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng được đặt ra. Trong thời kỳ phong kiến, thực dân, để củng cố địa vị của giai cấp thống trị nên việc xử lý các hành vi vi phạm về điều kiện kết hôn bằng biện pháp tiêu hôn cũng rất được quan tâm. Đến thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, đất nước vừa bắt đầu chuyển sang một chế độ mới vừa là nhà nước non trẻ vừa phải tập trung thực hiện nhiệm vụ quan trọng chống giặc và xây dựng đất nước nên vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn không được mấy chú trọng. Khi đất nước thống nhất, mọi quan hệ kinh tế xã hội, chính trị dần ổn định, vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật được quan tâm hơn. Và đến giai đoạn hiện nay, đất nước đang vươn lên, kinh tế phát triển với nhiều quan hệ xã hội cũ và mới đan xen, các vi phạm về điều kiện kết hôn diễn ra phổ biến và có những biến thể đa dạng. Vì vậy, việc ngăn ngừa và xử lý các vi phạm đó là điều được cả Nhà nước và xã hội quan tâm. Cùng với sự phát triển chung của hệ thống pháp luật, những văn bản quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản dưới luật đã thể hiện sự phù hợp, linh hoạt và tiến bộ khẳng định được bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam

One thought on “Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *