Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nội dung pháp luật Việt Nam hiện hành về hủy việc kết hôn trái pháp luật dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. NGUYÊN TẮC XỬ LÝ ĐỐI VỚI HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT.
Mọi trường hợp kết hôn không tuân thủ một trong các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định đều bị coi là kết hôn trái pháp luật. Về nguyên tắc, mối quan hệ đó không được Nhà nước công nhận và bảo vệ. Ngoài ra, mối quan hệ này còn bị điều chỉnh bởi các biện pháp chế tài do Nhà nước quy định. Biện pháp chế tài đối với việc kết hôn trái pháp luật là hủy việc việc kết hôn trái pháp luật đó. Thẩm quyền huỷ chỉ thuộc về một cơ quan Nhà nước duy nhất có chức năng xét xử là Tòa án nhân dân.
Có thể nói, hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình thể hiện thái độ phủ định của Nhà nước đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật. Theo Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của Luật này, tòa án xem xét và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật …” [19]. Về nguyên tắc, việc kết hôn vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình là trái pháp luật, khi có yêu cầu, Tòa án có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật đó.
Tuy nhiên, hủy việc kết hôn trái pháp luật không những ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của chủ thể đã thực hiện hành vi kết hôn trái pháp luật mà còn ảnh hưởng tới gia đình, xã hội và đặc biệt là con cái họ. Bởi vậy, nhiệm vụ của cơ quan Tòa án rất nặng nề, đằng sau mỗi quyết định của Tòa án là bước ngoặt cuộc đời của bao nhiêu con người, mỗi quyết định là một minh chứng cho tính hiệu quả của cả hệ thống pháp luật. Vì vậy, khi xử lý các trường hợp này, Tòa án phải có trách nhiệm làm rõ từng hành vi, chỉ ra từng hoàn cảnh vi phạm, phân tích mọi chi tiết, tính chất, mức độ vi phạm, tìm hiểu sâu sắc tâm lý chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, đặc biệt, cần phải xem xét, đánh giá thực tế cuộc sống chung đó. Trên cơ sở đó áp dụng một cách linh hoạt các chế tài tương ứng để có sự định đoạt thấu tình đạt lý nhằm đạt được mục tiêu chung.
Xuất phát từ tính chất đặc thù của đối tượng điều chỉnh trong quan hệ hôn nhân và gia đình, khi giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật Tòa án cần phải áp dụng nguyên tắc sau: Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Chỉ hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với những trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn đang tiếp diễn và có tính nghiêm trọng. Tức là, tại thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì các chủ thể vẫn đang tiếp tục vi phạm các điều kiện kết hôn. Tính nghiêm trọng được thể hiện ở việc kết hôn trái pháp luật đã và sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của người kết hôn, ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục của dân tộc, tới trật tự xã hội, hậu quả của hành vi vi phạm là không thể ngăn chặn và khắc phục được. Vì vậy, đối với trường hợp này Tòa án cần hủy để bảo vệ cá nhân, gia đình và xã hội.
Đối với các trường hợp trước đây vi phạm điều kiện kết hôn nhưng nay đã chấm dứt hoặc vi phạm không có tính nghiêm trọng và có thể khắc phục được các hậu quả phát sinh thì không nhất thiết phải hủy. Tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn, việc miễn hủy kết hôn trái pháp luật được áp dụng trong trường hợp tại thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà đương sự đã đạt độ tuổi kết hôn, với điều kiện là “trong thời gian đã qua, họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung” [29] thì không bị hủy việc kết hôn trái pháp luật đó.
Như vậy, nguyên tắc để Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật rất mềm dẻo, khi giải quyết cơ quan xét xử cần phải có sự áp dụng linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm đúng nguyên tắc để việc giải quyết được hiệu quả, đạt được mục tiêu là bảo vệ lợi ích của cá nhân, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam văn hóa, tiến bộ và gìn giữ sự ổn định xã hội.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.2. NGƯỜI CÓ QUYỀN YÊU CẦU TÕA ÁN HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Để hạn chế được tình trạng kết hôn trái pháp luật đang diễn ra ngày càng nhiều thì việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm điều kiện kết hôn có ý nghĩa rất quan trọng. Nhà nước đã quy định cụ thể những chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trong tố tụng dân sự, về nguyên tắc, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi có đơn khởi kiện hoặc yêu cầu của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức. Trong hủy việc kết hôn trái pháp luật, Luật Hôn nhân và gia đình quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật. Tại Điều 15 Luật này quy định những chủ thể sau có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật:
- Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này.
- Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này:
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn; b. Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em;
- Hội Liên hiệp Phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị Viện kiểm sát xem xét, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật [19]. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Như vậy, theo điều luật trên chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật rất rộng, gồm có bốn nhóm: bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn; Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn; Viện kiểm sát; và Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ. Việc kết hôn trái pháp luật không những vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính những người kết hôn mà còn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác như vợ, chồng, con … của họ và ảnh hưởng tới lợi ích xã hội. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của các cá nhân, bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội, pháp luật cần quy định rộng rãi những người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Ngoài ra, pháp luật quy định rõ quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của chủ thể trong từng trường hợp cụ thể nhằm bảo đảm quyền định đoạt của các chủ thể, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả trong việc xử lý những hành vi vi phạm điều kiện kết hôn ở mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức. Có ý kiến cho rằng để bảo đảm tính khả thi của quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật nên hạn chế phạm vi các chủ thể. Vì thực tế, chủ yếu người khởi kiện yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là các cá nhân. Các cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu chưa thực sự chủ động trong việc thực hiện vai trò yêu cầu của mình. Tuy nhiên, cần có cái nhìn thực tế và toàn diện, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong nhiều trường hợp người kết hôn không muốn thay đổi cuộc sống nên không chủ động thực hiện quyền yêu cầu của mình. Do đó, pháp luật quy định ngoài cá nhân thì các cơ quan, tổ chức với chức năng, nhiệm vụ bảo vệ phụ nữ, trẻ em và gia đình có quyền yêu cầu. Đó là một trong những phương pháp để Nhà nước thể hiện sự kiên quyết trong việc đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật về kết hôn, góp phần bảo đảm pháp luật của Nhà nước và sự ổn định của xã hội.
Để làm rõ hơn vai trò, ý nghĩa của quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, chúng ta sẽ nghiên cứu từng loại chủ thể cụ thể.
2.2.1. Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn là nạn nhân trực tiếp của việc kết hôn trái pháp luật. Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định cho họ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi quyền kết hôn bị xâm phạm thì họ tự bảo vệ mình bằng cách trực tiếp yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật đó. Quyền chủ động này còn thể hiện tính thực tế và mềm dẻo của pháp luật. Bởi, chỉ có người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn mới ý thức được yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đó là cần thiết cho cuộc sống gia đình họ hay không. Nhất là đối với trường hợp cuộc sống chung đã ổn định, hai bên đã thực sự thông cảm, yêu thương nhau, giữa họ đã có con cái chung, tài sản chung thì việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật nên để cho họ tự quyết định.
Tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn các hành vi vi phạm khoản 2 điều 9 gồm các hành vi sau: hành vi ép buộc, hành vi lừa dối, hành vi cưỡng ép và hành vi cản trở. Trong khi đó khoản 1 Điều 15 quy định chủ thể có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là bên bị cưỡng ép, bị lừa dối. Đối với người bị ép buộc kết hôn luật không quy định họ có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Như vậy, là đã thiếu cơ sở pháp lý để chủ thể này tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Ngoài ra, người bị cưỡng ép, lừa dối có quyền yêu cầu nhưng bản thân người cưỡng ép, lừa dối, ép buộc thì có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật của mình hay không. Khi họ thực hiện hành vi cưỡng ép, ép buộc, lừa dối người khác kết hôn với mình là để mong muốn đạt được mục đích kết hôn với người đó nhưng trong qúa trình chung sống gia đình không hạnh phúc không được theo ý muốn hoặc với một lý do nào đó, họ muốn huỷ việc kết hôn trái pháp luật của chính mình. Theo quy định của điều luật này thì bản thân người đó không có quyền yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó. Có thể xem đây là một điểm khuyết của quy định này, chưa bao quát được hết mọi tình huống có thể xảy ra trên thực tế nên pháp luật đã không đưa ra được biện pháp dự liệu. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2014 và đến ngày 01/01/2015 có hiệu lực thi hành nhưng điều này cũng không được xem xét bổ sung.
2.2.2. Viện kiểm sát Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Khoản 2 Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 của Luật này”[19]. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 162 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2005 chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thì cơ quan về Dân số, gia đình và trẻ em có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình. Như vậy, chủ thể có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình không có Viện kiểm sát.
Ngoài ra, trong quy định tại điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật … Như vậy, theo pháp luật về thủ tục tố tụng hiện hành, Viện kiểm sát không có quyền yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Sự mâu thuẫn này là do quá trình lập pháp, cần nhanh chóng sửa đổi, khắc phục. Hiện tại, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã loại bỏ quyền yêu cầu của Viện kiểm sát để phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
2.2.3. Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ
Theo quy định tại khoản 2 Điều 162 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2005 quy định: Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật Hôn nhân và gia đình quy định [20]. Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, trước tháng 8/2007 là Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và từ tháng 8/2007 đến nay các bộ phận của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã tách ra và nhập vào các cơ quan khác. Bộ phận dân số thuộc Bộ Y tế quản lý được đặt là Vụ Dân số; Bộ phận gia đình thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý. Bộ phận trẻ em thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý và được đặt là Cục chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Cho đến nay vẫn chưa có tổ chức nào thừa kế tư cách khởi kiện của Ủy ban chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Vì vậy, việc thực hiện quy định về thẩm quyền yêu cầu của các cơ quan, tổ chức còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc thực thi quyền yêu cầu không có hiệu quả. Trên thực tế loại hủy việc việc kết hôn trái pháp luật mà Tòa án thụ lý chủ yếu là do đương sự yêu cầu hoặc trong quá trình các đương sự làm thủ tục xin ly hôn Tòa án mới phát hiện ra. Các cơ quan, tổ chức trên còn thiếu chủ động trong việc thực hiện quyền yêu cầu của mình. Để phù hợp với cơ cấu tổ chức và phù hợp với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định cụ thể quyền yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình và cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em. Bên cạnh đó, song song với việc quy định về quyền cần có quy định về trách nhiệm của các cơ quan này để làm tăng tính hiệu quả trong việc thực hiện vai trò của các cơ quan, tổ chức đó.
Hội Liên hiệp Phụ nữ, với chức năng và thẩm quyền theo quy định của pháp luật đã đóng góp tích cực vào việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ, trẻ em nói riêng và của các thành viên trong gia đình nói chung. Xuất phát từ đặc thù của tổ chức, khi tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc kết hôn trái pháp luật Hội Liên hiệp phụ nữ đều có biện pháp tìm hiểu, nắm tình hình vụ việc, kiến nghị và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để thúc đẩy việc xem xét, giải quyết vụ việc. Đồng thời, dựa trên đơn thư khiếu nại, tố cáo của phụ nữ, Hội có văn bản kiến nghị các cơ quan chức năng nghiên cứu, xem xét giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ theo thẩm quyền.
Khoản 3 Điều 15 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định cho các cơ quan, tổ chức có chức năng bảo vệ phụ nữ và trẻ em có quyền yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp vi phạm tại khoản 1 Điều 9 và Điều 10 Luật này. Tuy nhiên, đối với những vi phạm tại khoản 2 Điều 9 nếu các cơ quan, tổ chức trên phát hiện thì có quyền yêu cầu không? Thiết nghĩ Luật Hôn nhân và gia đình nên có sự bổ sung mở rộng phạm vi yêu cầu của các chủ thể để bảo đảm trong mọi trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội được bảo vệ. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
2.2.4. Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn.
Trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 (vi phạm về độ tuổi kết hôn) và Điều 10 (các trường hợp cấm kết hôn) Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ, chồng, cha, mẹ, con của người kết hôn trái pháp luật có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đó.
Đối với chủ thể là vợ, chồng của các bên kết hôn, trong phạm vi khoản 1 Điều 9 và Điều 10 thì “vợ, chồng của các bên kết hôn” có thể được hiểu là áp dụng đối với trường hợp người đang có vợ, có chồng mà kết hôn trái pháp luật với người khác. Điều này đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể và rõ ràng hơn tại điểm a khoản 2 Điều 10: “Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác” [23]. “Cha mẹ, con cái của các bên kết hôn” được áp dụng đối với các trường hợp vi phạm khoản 1 Điều 9 và Điều 10. Việc quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý, bởi đó là những người có quan hệ huyết thống và có liên quan mật thiết với các chủ thể kết hôn trái pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của họ trực tiếp bị xâm phạm do việc kết hôn trái pháp luật. Do đó, pháp luật quy định họ có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng đã kế thừa quy định này, tuy nhiên, đã có sự sử dụng thuật ngữ chính xác hơn trong cụm từ “cha mẹ con”, chứ không cần thiết phải là “cha mẹ, con cái”.
Có một vấn đề đặt ra, người kết hôn trái pháp luật do vi phạm về độ tuổi nhưng khi họ chưa đạt tuổi để có đủ điều kiện về năng lực hành vi tố tụng dân sự thì họ có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của mình không? Người mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm kết hôn nhưng sau đó họ khỏi bệnh thì có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật không? Những chủ thể khác của trường hợp vi phạm điều 10 Luật này có được quyền yêu cầu hay không thì pháp luật lại không có quy định… Như vậy, bản thân người trực tiếp tham gia quan hệ kết hôn trái pháp luật thì pháp luật lại không quy định cho họ có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Bên cạnh đó, đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi mà cha mẹ của người đó đều chết hay người mất năng lực hành vi dân sự thì luật không quy định cho người giám hộ của họ có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đó. Chủ thể là “người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật” [23] đã được bổ sung tại điểm a khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra, trường hợp người đang có vợ, có chồng mà kết hôn trái pháp luật với người khác, sau đó một bên chết, quan hệ thừa kế của người đó phát sinh. Để bảo vệ quyền thừa kế của mình thì những người thừa kế của họ có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật không? Một số vấn đề đặt ra như sau:
Giả thiết những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều không còn chỉ còn những người thuộc hàng thừa kế thứ hai; hoặc những người hàng thứ nhất, thứ hai đều không còn, chỉ có người thuộc hàng thừa kế thứ ba; thì những người thuộc hàng thừa kế thứ hai, thứ ba có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật không? Pháp luật không quy định cho họ có quyền yêu cầu như vậy đã thực sự bảo đảm quyền lợi của những người liên quan này không?
Vì vậy, pháp luật cần có quy định theo hướng mở rộng phạm vi người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho những chủ thể trực tiếp tham gia quan hệ kết hôn trái pháp luật và những người liên quan khác.
2.3. THẨM QUYỀN CỦA TÕA ÁN VÀ THỦ TỤC HUỶ VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT.
Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của Luật này, Toà án xem xét và quyết định việc huỷ kết hôn trái pháp luật” [19]. Như vậy, thẩm quyền huỷ việc kết hôn trái pháp luật thuộc về Toà án. Trước đây thủ tục hủy việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989. Nhưng hiện nay, thủ tục này được thực hiện theo trình tự giải quyết việc dân sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005. Tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định huỷ việc kết hôn trái pháp luật là loại việc dân sự. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 33; Điều 34; điểm g khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 36 thì Toà án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong bên hoặc Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết có ý nghĩa rất quan trọng, tránh sự chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ, góp phần làm cho Tòa án giải quyết đúng đắn, có hiệu quả, tạo điều kiện cho các bên yêu cầu tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tiết kiệm thời gian, công sức. Tuy nhiên, việc xác định thẩm quyền vẫn còn nhiều tranh cãi. Theo điểm g khoản 2 Điều 35 thì “Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” [20]. Nhưng tại điểm b khoản 2 Điều 36 quy định: “… người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết” [20]. Trong quá trình áp dụng, nên có sự vận dụng linh hoạt để đạt được mục đích của các nhà làm luật. Tại điểm b khoản 2 Điều 36 là quy định mang tính tùy nghi, đương sự có quyền lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết. Ví dụ, A và B đăng ký kết hôn trái pháp luật tại một xã N, huyện Y ở Hà Giang. Sau khi kết hôn A và B chuyển vào huyện M thuộc Cần Thơ sinh sống. Sau đó, A có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Nếu theo điểm g khoản 2 Điều 35 thì A phải nộp đơn yêu cầu tại huyện Y – tỉnh Hà Giang. Nếu áp dụng điểm b khoản 2 Điều 36 thì A có quyền nộp đơn yêu cầu tại TAND huyện M tỉnh Cần Thơ. Việc pháp luật quy định như trên là nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đương sự, tiết kiệm được công sức, vật chất cho nhân dân và cho Nhà nước, phù hợp với các trường hợp có thể xảy ra trong thực tiễn. Do vậy, với những trường hợp pháp luật quy định không cần bất cứ điều kiện gì mà mang tính tùy nghi thì đương sự có quyền lựa chọn. Vì vậy, khi thụ lý Tòa án phải yêu cầu các bên cam kết trong đơn yêu cầu là không yêu cầu giải quyết việc dân sự này tại các Tòa án có thẩm quyền khác, để tránh tình trạng cả hai Tòa án cùng tiến hành thụ lý. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Về thủ tục tố tụng, huỷ việc kết hôn trái pháp luật là một loại việc dân sự. Theo trình tự giải quyết việc dân sự, Toà án thụ lý khi có đơn yêu cầu và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó. Toà án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát. Toà án thu thập chứng cứ khi có đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu. Về thủ tục, tố tụng không quy định quá trình giải quyết việc dân sự phải có trình tự hoà giải. Toà án xem xét chứng cứ và quyết định tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Vấn đề hoà giải không được đặt ra đối với thủ tục giải quyết việc dân sự. Ngoài ra, đây là quan hệ trái pháp luật nên không được hòa giải. Tuy nhiên, nên quy định thủ tục hoà giải trong việc giải quyết việc dân sự về hôn nhân gia đình nói chung. Bởi lĩnh vực hôn nhân gia đình có những nét đặc thù riêng, khi giải quyết Toà án quyết định không chỉ về vấn đề nhân thân của người kết hôn trái pháp luật mà còn phải quyết định cả vấn đề con chung và tài sản chung của họ. Vì vậy, cần quy định thủ tục hoà giải đối với việc giải quyết hậu quả về con chung và tài sản chung, tránh những mâu thuẫn phát sinh, tiết kiệm thời gian, công sức của họ và của người tiến hành tố tụng.
Theo Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ… hôn nhân và gia đình… của mình hoặc của cá nhân … khác [20]. Vấn đề đặt ra, khi giải quyết về con chung, tài sản chung, nếu hai bên đương sự thoả thuận được với nhau thì Toà án công nhận sự thoả thuận đó. Nhưng nếu hai bên không thống nhất được, tức là có tranh chấp, thì Toà án giải quyết như thế nào? Hiện nay có những quan điểm khác nhau về việc giải quyết vấn đề này. Có quan điểm cho rằng, không thể giải quyết đồng thời mà phải tách ra để giải quyết theo thủ tục việc hôn nhân và gia đình đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thủ tục giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình đối với tranh chấp về nuôi con hoặc về tài sản. Có quan điểm cho rằng, mặc dù đây là hai vụ việc khác nhau nhưng khi Tòa án đã thụ lý việc dân sự, nếu có tranh chấp về con hoặc về tài sản thì Tòa án giải quyết luôn mà không cần phải tách ra thành một vụ án độc lập. Đó là vấn đề mà pháp luật chưa có hướng dẫn. Tuy nhiên vụ và việc là hai thủ tục hoàn toàn khác nhau được quy định độc lập trong Bộ luật Tố tụng Dân sự. Mặc dù là các yêu cầu đều phát sinh trong một sự việc nhưng đều là các vấn đề quan trọng, cần phải giải quyết triệt để và tuân thủ trình tự thủ tục chặt chẽ. Vì vậy, quan điểm của tác giả là nên tách ra thành hai, đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì giải quyết theo trình tự việc dân sự; còn tranh chấp về con hoặc về tài sản thì giải quyết theo trình tự vụ án, để tránh việc chồng chéo trong quá trình thực hiện thủ tục tố tụng, ảnh hưởng tới quyền tố tụng của các bên. Và trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về thủ tục giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật nên có điều luật dẫn chiếu tới pháp luật tố tụng dân sự để bảo đảm cho việc áp dụng và thi hành pháp luật được thống nhất, dễ hiểu. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
2.4. CĂN CỨ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ ĐƯỜNG LỐI GIẢI QUYẾT ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Nhà nước nhằm điều chỉnh những hành vi vi phạm điều kiện kết hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình. Hủy việc kết hôn trái pháp luật phải dựa vào những căn cứ do pháp luật quy định. Căn cứ chung để hủy kết hôn trái pháp luật là dựa trên những dấu hiệu vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định. Cụ thể là vi phạm điều kiện tuổi kết hôn, sự tự nguyện kết hôn và vi phạm các trường hợp cấm kết hôn. Dựa trên những căn cứ đó pháp luật quy định tùy từng trường hợp vi phạm có những đường lối giải quyết khác nhau.
2.4.1. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn
Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về độ tuổi kết hôn đối với nam là từ hai mươi tuổi trở lên; đối với nữ là từ mười tám tuổi trở lên. Ở đây luật chỉ quy định độ tuổi tối thiếu mà không giới hạn độ tuổi tối đa đối với nam và nữ khi kết hôn. Độ tuổi kết hôn này được Nhà nước ta duy trì ổn định từ khi có đạo luật đầu tiên về hôn nhân – gia đình là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, đến năm 1989 và cho đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Việc quy định độ tuổi kết hôn đã được các nhà lập pháp nghiên cứu trên cơ sở khoa học về tâm sinh lý con người Việt Nam. Phải đạt đến độ tuổi này con người mới có sự phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ. Về thể chất, con người đạt đến độ tuổi này mới phát triển toàn diện, đủ sức khỏe đảm đương vai trò làm cha mẹ, vợ chồng; đồng thời còn bảo đảm việc sinh con khỏe mạnh, duy trì nòi giống. Sinh con là một quyết định quan trọng đối với cả người vợ và người chồng, nó liên quan đến nhiều yếu tố cần được cân nhắc như điều kiện sức khỏe, kinh tế gia đình, những kiến thức chăm sóc con cái và gia đình… Trong đó độ tuổi thích hợp để sinh con là một vấn đề vô cùng quan trọng. Nếu sinh con quá sớm hoặc sinh con quá muộn đều gây nhiều tai biến cho cả mẹ và thai nhi. Ngoài ra, ở độ tuổi này các bên đã được trang bị điều kiện về nghề nghiệp để tự tham gia lao động sản xuất, tạo thu nhập, phát triển kinh tế gia đình bảo đảm cuộc sống cho bản thân và gia đình. Về trí tuệ, độ tuổi này con người mới có sự phát triển đầy đủ để nhận thức được cuộc sống, bày tỏ được ý chí của mình trong cuộc sống, trong các giao dịch dân sự và có kinh nghiệm sống, kiến thức trong việc nuôi dạy con cái. Quy định độ tuổi tối thiếu như vậy là tạo tiền đề cho việc xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no, vững bền. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Về cách tính tuổi, tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình hướng dẫn: không bắt buộc nam phải đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn tức là nam đang ở tuổi 20, nữ đang ở tuổi 18 thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn. Chỉ cần nam bước sang tuổi 19 cộng thêm một ngày, nữ bước sang tuổi 17 cộng thêm một ngày thì có thể kết hôn. Việc xác định độ tuổi, cơ quan đăng ký có thể căn cứ vào ngày khai sinh trong Sổ hộ khẩu của hai bên nam nữ để xác định. Để cách tính tuổi được thống nhất, dễ hiểu khi áp dụng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tuổi kết hôn của “nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” [23].
Quy định về tuổi kết hôn hiện hành về cơ bản đã đóng góp tích cực trong việc xây dựng chế độ hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc và bền vững; bảo đảm cho cá nhân có được sự phát triển cần thiết về thể chất, trí tuệ, kinh nghiệm xã hội, từ đó tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ trong hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, quy định này cũng đã phát sinh một số vấn đề. Về năng lực chủ thể, quy định về tuổi kết hôn hiện nay chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy định về người đã thành niên trong các ngành luật khác như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình…. Theo Điều 19 Bộ luật Dân sự, người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được tham gia tất cả các quan hệ dân sự. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và kể cả Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng vẫn quy định nam từ 20 tuổi hay từ đủ 20 tuổi trở lên mới có quyền kết hôn như vậy vô tình đã hạn chế nhiều quyền dân sự đối với họ. Nhiều trường hợp nam công dân kết hôn ở độ tuổi 18, 19 bị coi là trái luật, trong khi về mặt pháp lý họ là người đã thành niên. Đối với nữ, việc kết hôn của nữ bước sang tuổi 17 cộng một ngày được coi là hợp pháp, nhưng họ không đủ tuổi thành niên để tham gia các giao dịch dân sự với tư cách là chủ thể của quan hệ và không đủ tư cách để tham gia tố tụng với vị trí là người yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra, quy định về tuổi kết hôn cũng chưa đồng bộ với các điều ước quốc tế về giới và bình đẳng giới, ví dụ công ước CEDAW về tuổi trẻ em và bình đẳng nam, nữ trong kết hôn. Việc quy định sự khác nhau trong tuổi kết hôn đối với nam và nữ vô tình thể hiện sự bất bình đẳng giới mà đây là vấn đề đang được xã hội quan tâm.
Hơn nữa, thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán. Ở các khu vực miền núi, vùng cao, người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại. Theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tảo hôn là việc nam, nữ lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn. Về mặt pháp lý, tảo hôn phải thỏa mãn hai điều kiện, đó là hai bên nam nữ có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn. Tục tảo hôn là thủ tục còn sót lại của thời kỳ phong kiến mang màu sắc của sự lạc hậu, mang sức nặng kìm hãm văn hóa phát triển. Hệ lụy của tình trạng này gây ra nhiều hậu quả lâu dài và rất nghiêm trọng cho cả gia đình, nòi giống, dòng họ và cả xã hội, là trở lực xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ. Tình trạng diễn ra trên phạm vi cả nước, theo số liệu điều tra của Vụ Gia đình – Ủy ban Dân số – Gia đình và Trẻ em cho thấy 15 tỉnh, thành phố cả nước có trên 1% trẻ em ở độ tuổi 14 – 16 đã có vợ có chồng. Các tỉnh có tỷ lệ trẻ em tảo hôn cao như Hà Giang 5,72%; Cao Bằng 5,1%; Lào Cai 2,7%; Sơn La 2,6%; Quảng Trị 2,4%; Bạc Liêu 2,1% [33]. Theo Đề án “Ngăn chặn, đẩy lùi nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giai đoạn 2013 – 2017 và định hướng đến năm 2020” của huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên thì từ năm 2008 – 2012 trong toàn huyện có 2130 cặp kết hôn thì có 211 cặp tảo hôn, chiếm tỷ lệ 9,9% [31]. Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 của tỉnh Bắc Kạn cho thấy: Tỷ lệ kết hôn ở nhóm tuổi 15 – 19 trên toàn tỉnh đối với nam chiếm 12,31% và đối với nữ là 30,55%[24]. Theo số liệu thống kê của Chi cục Dân số – KHHGĐ tỉnh: Từ năm 2008 – 2010, toàn tỉnh có tổng số là 5.988 người kết hôn; trong đó tảo hôn 122 người, chiếm 2,04%. Năm 2009, tỷ lệ tảo hôn so với tổng số kết hôn ở huyện Ba Bể là 1,43%, Pác Nặm là 3,84% [24].
Số liệu năm 2006, Tiến sỹ Ngô Thị Ngọc Anh, Phó Vụ trưởng Vụ gia đình cho biết: chỉ có 21,6% đối tượng kết hôn sớm có đăng ký kết hôn; 75,4% không đăng ký kết hôn. Theo kết quả điều tra có 30,7% đối tượng được hỏi cho biết vợ/chồng của họ kết hôn lần đầu ở độ tuổi dưới 19; có 0,2% đối tượng kết hôn lần đầu khi mới 9 tuổi; 0,3% đối tượng kết hôn khi 14 tuổi; 1,0% kết hôn khi 15 tuổi; 3,3% kết hôn khi 16 tuổi; 5,8% kết hôn khi 17 tuổi và 15,6% kết hôn khi 18 tuổi [33].
Điều đáng nói là ngay trong nội thành các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh … vẫn còn có hiện tượng tảo hôn. Đối tượng là các em học sinh do chơi bời không được sự quan tâm giáo dục của gia đình, do ảnh hưởng của lối sống đô thị mà phải bỏ học để lấy chồng. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nạn tảo hôn, song chủ yếu vẫn là do thức của người dân chưa cao, phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào dân tộc chưa được xóa bỏ, do công tác tuyên truyền, vận động còn chưa sâu rộng, các quy định, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa thực sự đi vào cuộc sống của người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người. Một phần rất quan trọng là do tình trạng lơi lỏng pháp luật, thực thi pháp luật còn chưa kiên quyết trong quản lý đăng ký kết hôn, chế tài của pháp luật Hôn nhân và gia đình còn chưa nghiêm khắc, mới chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành chính và buộc phải hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Như vậy, quy định về độ tuổi kết hôn là xuất phát từ cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta. Việc quy định độ tuổi kết hôn đã góp phần xây dựng gia đình Việt Nam hạnh phúc, vững bền. Việc kết hôn vi phạm độ tuổi theo quy định này là vi phạm quy định của pháp luật và là căn cứ để huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, từ thực trạng và những bất cập của quy định độ tuổi kết hôn, pháp luật cần có những điều chỉnh cho phù hợp với xã hội hiện nay, bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được hiệu quả và phòng ngừa tình trạng vi phạm pháp luật.
Trên thực tế các vi phạm về điều kiện độ tuổi vẫn xảy ra. Việc xử lý các vi phạm này yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng. Xuất phát từ bản chất của hôn nhân, việc xử lý các trường hợp vi phạm cũng hết sức mềm dẻo. Dựa vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, pháp luật quy định cụ thể các biện pháp xử lý phù hợp. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn:
Đối với những trường hợp kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đến tuổi kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm 1 điều 9. Tuy nhiên, tùy từng trường hợp mà quyết định như sau:
Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà một bên hoặc cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả ha Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.i bên tuy đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian đã qua không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Nếu đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định việc huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung [29].
Như vậy, xử lý trường hợp vi phạm độ tuổi kết hôn Toà án căn cứ từng trường hợp cụ thể để quyết định huỷ hay không. Toà án xem xét và chỉ xử huỷ đối với những trường hợp sau:
Thứ nhất: Tại thời điểm có yêu cầu mà một bên hoặc cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn, tức là việc vi phạm vẫn đang tiếp diễn thì Toà án quyết định huỷ.
Thứ hai: Tại thời điểm có yêu cầu cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, tức là việc vi phạm của họ đã chấm dứt, họ đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định nhưng cuộc sống của họ trong thời gian qua không hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, cuộc sống chung của họ không đạt được mục đích của hôn nhân thì Toà án quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó.
Trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm độ tuổi nhưng Toà án không quyết định huỷ. Đó là trường hợp đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định việc huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Tức là tại thời điểm có yêu cầu việc vi phạm đã chấm dứt, cuộc sống chung của họ đạt được các tiêu chí gia đình hạnh phúc, tình cảm vợ chồng, có con chung, tài sản chung thì Toà án không quyết định huỷ. Trong trường hợp đặc biệt “nếu phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu” [29] của chính các bên đương sự thì Toà án có thể giải quyết ly hôn. Như vậy, vô hình chung pháp luật đã thừa nhận mối quan hệ này là hôn nhân hợp pháp. Nhưng Toà án có được ra quyết định công nhận hôn nhân hợp pháp không thì pháp luật không có hướng dẫn khiến cho việc áp dụng của Toà án bế tắc. Ngoài ra, việc giải thích mang tính liệt kê của Nghị quyết dẫn đến việc gây khó khăn trong quá trình giải quyết của Toà, vì đối với trường hợp cuộc sống của họ bình thường nhưng không có con chung, không có tài sản chung thì Toà án có phải ra quyết định huỷ hay không? Đối với trường hợp này Toà án nên có sự vận dụng linh hoạt để phán quyết bảo đảm được tinh thần của pháp luật và sự ổn định cuộc sống của người dân. Điều này đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung bằng quy định tại khoản 2 Điều 11 như sau: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này” [23]. Như vậy, quy định mới này đã giải đáp được sự bất cập và bế tắc của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Quá trình giải quyết việc xem xét tại thời điểm yêu cầu hành vi vi phạm còn tồn tại hay không có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, đối với trường hợp yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của người đã chết thì Tòa án giải quyết như thế nào. Để giải quyết vấn đề này cần có cái nhìn khái quát từ nhiều góc độ. Kết hôn trái pháp luật là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ bất hợp pháp và được thừa nhận bằng một đăng ký hợp pháp. Do đó, sự kiện pháp lý này cần phải chấm dứt bằng một quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Tòa án nhân dân. Quyết định hủy kết hôn trái pháp luật không những không công nhận những quan hệ phát sinh mà còn nhằm chấm dứt các quan hệ phát sinh đó, trừ quan hệ huyết thống. Những quan hệ phát sinh đó là quan hệ về nhân thân, về tài sản, chỉ có quan hệ cha, mẹ – con là không ảnh hưởng. Khi một bên chết thì những quan hệ phát sinh từ sự kiện kết hôn trái pháp luật vẫn chưa được giải quyết. Tại Sổ đăng ký kết hôn vẫn tồn tại là hôn nhân hợp pháp. Mặc dù “quan hệ sống chung như vợ chồng” đã chấm dứt nhưng quan hệ về tài sản chưa chấm dứt và chưa được giải quyết. Thiết nghĩ, Tòa án cần phải quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật này để bảo đảm quyền lợi của những người liên quan.
Việc quy định đường lối xử lý việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều kiện về độ tuổi thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước, mục đích cao nhất cuả Nhà nước ta là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của toàn dân, hạnh phúc của mỗi gia đình và sự ổn định của xã hội.
Như vậy, khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật Toà án phải căn cứ vào từng trường hợp, căn cứ vào việc vi phạm đó có còn tồn tại hay không, căn cứ vào cuộc sống từ khi chung sống có bình thường không, con chung, tài sản chung không để có các quyết định cho phù hợp.
2.4.2. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc kết hôn do nam, nữ tự quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở” [19]. Đây cũng là một trong những nguyên tắc của chế độ hôn nhân gia đình Việt Nam được duy trì từ Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về Sửa đổi một số quy lệ, chế định trong Dân luật, đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986 và năm 2000. Đây là nguyên tắc đầu tiên, cơ bản thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Sự tự nguyện là nguyên tắc bất định trong các ngành luật tư nói chung và ngành luật hôn nhân – gia đình nói riêng, là nguyên tắc bất định trong các quy định pháp luật về nội dung và các quy định pháp luật về hình thức. Sự tự nguyện là việc thể hiện ý chí của hai bên mong muốn được gắn bó với nhau, được chung sống với nhau suốt đời để thoả mãn nhu cầu tình cảm. Nam – nữ tự mình quyết định việc kết hôn mà không bị tác động bởi ý chí của bất cứ ai. Việc hai bên nam nữ đến với nhau phải xuất phát từ tình cảm, từ mong muốn trở thành vợ chồng của nhau và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Sự tự nguyện của hai bên là yếu tố quan trọng bảo đảm cho hôn nhân tồn tại lâu dài và vững bền. Ý chí của hai bên phải thống nhất với sự thể hiện ý chí. Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định sự thể hiện ý chí là việc họ cùng có mặt tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc nộp tờ khai đăng ký kết hôn. Trường hợp đặc biệt có thể vắng mặt trong thủ tục nộp đơn nhưng ngày tiến hành đăng ký kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì phải có mặt cả hai bên nam nữ. Sự tự nguyện của cả hai bên nam nữ là nhằm bảo đảm cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn. Để bảo đảm cho việc kết hôn được hoàn toàn tự nguyện, pháp luật quy định việc kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên kết hôn bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép thì hôn nhân đó là bất hợp pháp.
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn về vi phạm sự tự nguyện như sau:
Một bên ép buộc (ví dụ: đe doạ dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất …) nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn; Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị HIV nhưng cố tình giấu…) nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn.
Một bên hoặc cả hai bên nam nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau …) buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ[29].
Những quy định trên đã củng cố và bảo vệ cho nguyên tắc tự nguyện kết hôn, hạn chế được những hành vi vi phạm hôn nhân tự do, tiến bộ, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống và quyền lợi của các chủ thể kết hôn, của gia đình và xã hội. Nghị quyết đã liệt kê các hành vi vi phạm sự tự nguyện kết hôn gồm hành vi ép buộc, hành vi lừa dối, hành vi cưỡng ép, tuy nhiên theo quy định của khoản 2 Điều 9, vi phạm sự tự nguyện còn có hành vi cản trở. Như vậy, Nghị quyết đã liệt kê thiếu hành vi vi phạm sự tự nguyện kết hôn. Mặt khác, văn bản này không đưa ra khái niệm ép buộc kết hôn, lừa dối kết hôn, cưỡng ép kết hôn; không chỉ ra được sự khác nhau giữa hành vi ép buộc kết hôn với hành vi cưỡng ép kết hôn. Sự thiếu nhất quán và không cụ thể của văn bản pháp luật đã gây khó khăn cho việc áp dụng và thực hiện pháp luật. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình có đưa ra khái niệm “kết hôn giả tạo”. Có ý kiến cho rằng, nên quy định kết hôn giả tạo là trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện kết hôn. Tuy nhiên, có thể hiểu việc kết hôn giả tạo có thể vẫn xuất phát từ sự tự nguyện, sự thống nhất của hai bên, cả hai bên đều mong muốn kết hôn nhưng việc kết hôn không xuất phát từ tình cảm, từ mong muốn chung sống, sinh con đẻ cái và mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, mà để che giấu mục đích khác, có thể là mục đích hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Hiện nay, tình trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc, Trung Quốc, Đại Loan diễn ra ngày càng nhiều với động cơ và mục đích khác. Phụ nữ Việt Nam kết hôn là vì tiền, vì muốn xuất cảnh, nhập quốc tịch nước ngoài. Còn đàn ông nước ngoài kết hôn với phụ nữ Việt Nam vì muốn tìm người để sinh con đẻ cái, muốn tìm người lao động cho gia đình. Hậu quả là bao nhiêu bi kịch đã xảy ra đối với các cô dâu lấy chồng ngoại quốc. Vì vậy, kết hôn giả tạo là một trong các trường hợp cấm kết hôn và là căn cứ để huỷ việc kết hôn trái pháp luật nhưng không thể thuộc trường hợp kết hôn vi phạm sự tự nguyện.
Như vậy, yếu tố tự nguyện là yếu tố quan trọng khởi đầu cho cuộc hôn nhân hợp pháp, là cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của hai bên và đặc biệt là bảo đảm quyền bình đẳng, quyền tự do lựa chọn trong hôn nhân. Quy định trên còn là cơ sở để xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới xã hội chủ nghĩa, nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân cưỡng ép, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” của chế độ phong kiến, thực dân. Trường hợp kết hôn thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên, hoặc kết hôn do bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tiến bộ sẽ không được thừa nhận và bị coi là trái pháp luật, đó là căn cứ để Toà án xem xét và quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó.
Về đường lối giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn:
Đối với những trường hợp kết hôn khi một bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm 2 Điều 9. Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp mà quyết định như sau:
Nếu sau khi bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà cuộc sống không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Nếu sau khi bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép đã biết nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hoà thuận thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung[29].
Trường hợp kết hôn do vi phạm sự tự nguyện pháp luật cũng có quy định hết sức linh hoạt, mềm dẻo. Khi giải quyết Toà án phải xem xét ý chí của “nạn nhân” xem họ có biết việc bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép chưa. Nếu đã biết mà họ thông cảm, đồng ý tiếp tục chung sống và chung sống hoà thuận thì không cần thiết phải huỷ vì kết quả của việc kết hôn đã phù hợp với mục đích của hôn nhân và có thể công nhận hôn nhân hợp pháp. Nếu sau khi kết hôn mà cuộc sống không hạnh phúc, không có tình cảm thì việc huỷ kết hôn trái pháp luật là đúng đắn.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng điều luật này còn bộc lộ nhiều bất cập. Bởi, theo pháp luật tố tụng dân sự khi đương sự yêu cầu thì họ còn phải có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Việc chứng minh yếu tố bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn đôi khi là khó khăn đối với đương sự. Vì vậy, khi làm đơn xin ly hôn, trong hai phương án giải quyết ly hôn theo thủ tục chung và phương án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì thông thường họ sẽ mong muốn lựa chọn phương án giải quyết ly hôn theo thủ tục chung, vừa đơn giản thuận lợi vừa đạt được mục đích của họ là chấm dứt cuộc sống vợ chồng. Như vậy, huỷ việc kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp này là không có tính khả thi.
2.4.3. Kết hôn trái pháp luật do vi phạm các trường hợp cấm kết hôn. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Cũng như các quy định về điều kiện kết hôn, các trường hợp cấm kết hôn được quy định dựa trên cơ sở khoa học và cơ sở xã hội. Tuân thủ các điều cấm kết hôn nhằm bảo đảm cho quan hệ hôn nhân được xác lập phù hợp với mục đích, ý nghĩa xã hội, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam. Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: Người đang có vợ, có chồng; Người mất năng lực hành vi dân sự; Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; Giữa những người cùng giới tính [19].
- Vi phạm điều kiện cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng.
Hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình Việt Nam, là cơ sở của sự bền vững và hạnh phúc trong gia đình “vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ”[15] (Ph.Ăng Ghen). Điều 64 Hiến pháp năm 1992 khẳng định “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng” [18] và Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định tinh thần này tại Điều 36: “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” [22]. Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất xã hội chủ nghĩa và được xây dựng từ khi ra đời đạo luật hôn nhân và gia đình đầu tiên của nước ta là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Đạo luật này đã xoá bỏ chế độ hôn nhân đa thê, trọng nam khinh nữ của chế độ phong kiến, thực dân ở nước ta trước đây và được tiếp tục duy trì tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 1980 và năm 2000. Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khẳng định “Hôn nhân phải được xây dựng trên nguyên tắc một vợ một chồng” [19]. Và Điều 4 và khoản 1 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Cấm người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng [19]. Điều này tiếp tục được khẳng định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, người đang có vợ, có chồng là người đã kết hôn thoả mãn các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân này chưa chấm dứt do ly hôn hoặc do một trong hai bên chết hoặc do Tòa án tuyên bố là đã chết. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn:
Người đang có vợ hoặc có chồng là: Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn;
Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;
Người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này áp dụng từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003) [29].
Như vậy, pháp luật quy định rõ chỉ những người chưa kết hôn, người đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết hoặc đã ly hôn thì mới có quyền kết hôn với người khác. Quan hệ hôn nhân được coi là chấm dứt khi ly hôn là thời điểm bản án hoặc quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đối với trường hợp quan hệ hôn nhân chấm dứt do người vợ hoặc người chồng chết thì thời điểm quan hệ hôn nhân chấm dứt là thời điểm sự kiện chết xảy ra. Đối với trường hợp người vợ hoặc người chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết, theo Điều 82 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết” [21]. Như vậy, sau khi quyết định tuyên bố một người là đã chết của Tòa án có hiệu lực thì quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên chấm dứt. Người vợ hoặc người chồng của họ có quyền kết hôn với người khác. Trường hợp, nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về thì có quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết đối với họ; các quyền về nhân thân và tài sản khác được khôi phục nhưng trường hợp vợ hoặc chồng của họ kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân sau là hợp pháp. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Chung sống như vợ chồng là hành vi của hai bên nam nữ tuy không phải là vợ chồng nhưng đã ăn ở với nhau và coi nhau như vợ chồng. Trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực Nhà nước ta vẫn thừa nhận hai trường hợp “hôn nhân thực tế”, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Thứ nhất là trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 03/1/1987; Thứ hai là trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/1/1987 đến trước ngày 01/01/2003. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra những người này vì không đăng ký kết hôn thì họ có thể đi đăng ký kết hôn với người khác hoặc một người chung sống như vợ chồng với hai người trước ngày 03/1/1987 thì hôn nhân nào được công nhận là hợp pháp. Như vậy, pháp luật cần đưa ra những dự liệu đối với các trường hợp này để có biện pháp giải quyết.
Trong xã hội hiện nay, tình trạng vi phạm điều cấm này không phải là ít. Nhiều trường hợp giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký kết hôn với nhiều người. Bên cạnh đó, tình trạng người đang có vợ, có chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người khác đang có chiều hướng gia tăng. Đây là vấn đề nhức nhối của xã hội hiện nay và là một bài toán chưa có lời giải. Tình trạng này diễn ra ngày càng phổ biến nhưng bị xử lý thì lại không nhiều. Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến vấn nạn trên. Trước hết, là do ý thức tuân thủ pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế. Mặt khác, sự phát triển không ngừng trong thời kỳ mở cửa với lối sống “thoáng”, “hiện đại” đã ảnh hưởng tới tư tưởng con người đang dần phá vỡ các giá trị truyền thống. Ngoài ra, công tác quản lý hộ tịch còn yếu kém, việc thẩm tra các điều kiện kết hôn chưa được coi trọng. Và một phần quan trọng là các quy định pháp luật còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ.
Vì vậy, cần phải có biện pháp chế tài đủ mạnh để phòng ngừa và răn đe đối với các trường hợp vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng, góp phần làm lành mạnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong phạm vi Luật Hôn nhân và gia đình, những người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó là trái pháp luật và là căn cứ để Tòa án xem xét hủy việc kết hôn trái pháp luật. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Đối với trường hợp này khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì Toà án quyết định huỷ. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP việc xử lý cũng cần lưu ý đối với các trường hợp đặc biệt. Trường hợp thứ nhất, đối với cán bộ và bộ đội miền Nam ra Bắc tập kết, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc thì xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội đã có vợ trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác. Theo Thông tư số 60/TATC quy định:
Về nguyên tắc, sau khi Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành, người đang có vợ, có chồng không được kết hôn với người khác. Nếu vi phạm họ phải chịu chế tài về mặt dân sự và quan hệ hôn nhân bất hợp pháp phải bị tiêu huỷ. Khi cần xử việc xin chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa người tập kết và người vợ mới lấy sau ở ngoài Bắc thì Toà án cần phân biệt như thế nào để xử cho ly hôn hay tiêu hôn.
Nếu có yêu cầu xử huỷ việc kết hôn trái pháp luật đối với quan hệ hôn nhân sau thì Toà án không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật này.
Khi vận dụng pháp luật phải linh hoạt cho phù hợp với nội dung đường lối giải quyết các tranh chấp thuộc loại này. Vì vậy để xử chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa người tập kết và người vợ mới lấy sau thì biện pháp cần áp dụng nói chung là xử ly hôn, biện pháp này phù hợp với yêu cầu hiện nay nhằm giải quyết tốt tư tưởng của các đương sự, nhất là đối với người vợ đang gặp những khó khăn về mặt tình cảm đồng thời đảm bảo quyền lợi của người vợ và con cái họ.
Tuy nhiên đối với trường hợp cá biệt nếu sau khi điều tra, có bằng chứng rõ ràng là người chồng tập kết đã có vợ ở trong Nam lại nói dối là chưa có vợ hoặc chỉ mới hứa hôn, nay chính người vợ lấy sau này là người bị lừa dối yêu cầu xin tiêu hôn thì mới áp dụng biện pháp tiêu hôn.[28]
Quy định ban hành xuất phát từ hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thời kỳ sau chiến tranh, vì vậy Nhà nước ta đã ban hành quy định trên để kịp thời điều chỉnh các quan hệ hôn nhân đặc trưng đang diễn ra trên thực tiễn, vừa thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và bảo vệ quyền lợi của họ. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Trường hợp thứ hai, khi một người đang có vợ hoặc có chồng, nhưng tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mà đã kết hôn với người khác, thì lần kết hôn sau là kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật họ đã ly hôn với vợ hoặc chồng của lần kết hôn trước, thì Tòa án không quyết định huỷ đối với lần kết hôn sau. Như vậy, khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì việc vi phạm của họ đã chấm dứt. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp người vợ hoặc chồng ngoại tình nên không quan tâm, yêu thương vợ con dẫn đến tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và đã kết hôn trái pháp luật với người tình, sau đó, gây áp lực với người vợ hoặc chồng hợp pháp để giải quyết ly hôn thì khi có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, Toà án sẽ giải quyết thế nào? Đời sống hôn nhân gia đình là muôn màu muôn vẻ, vì vậy việc quy định các trường hợp ngoại lệ cần phải có các điều kiện rất chặt chẽ để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.
- Vi phạm điều kiện cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự
Người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Pháp luật quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Dưới góc độ pháp lý, khi nam nữ kết hôn trước tiên họ phải thể hiện ý chí tự nguyện. Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì không thể thể hiện ý chí của họ một cách đúng đắn được, vì vậy không có căn cứ xác định sự tự nguyện khi kết hôn của họ. Hơn nữa, việc nam nữ kết hôn sẽ phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình với nhau, với xã hội. Những người đang mắc bệnh không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình thì không thể thực hiện được nghĩa vụ làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ. Vì vậy, nếu kết hôn sẽ làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình. Ngoài ra, dựa trên cơ sở khoa học, bệnh tâm thần có tính di truyền cao, vì vậy việc cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là để bảo đảm cho các thế hệ sau được khoẻ mạnh, bảo đảm việc duy trì nòi giống cho gia đình và xã hội. Mặt khác, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập và thực hiện” [21]. Trong khi đó, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam không quy định chế định đại diện trong quan hệ hôn nhân và gia đình, bởi quyền kết hôn và ly hôn là quyền nhân thân gắn với bản thân mỗi người mà không thể chuyển giao, không thể ủy quyền, nên không thể có trường hợp người đại diện đứng ra kết hôn thay cho người mất năng lực hành vi dân sự.
Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn: Người mất năng lực hành dân sự là người mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự [29]. Hướng dẫn này thiếu sự cụ thể nên gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký kết hôn sẽ không có căn cứ xác định thế nào là một người bị mất khả năng bằng hành vi xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về mất năng lực hành vi dân sự: Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định [21].
Như vậy, một người chỉ bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật. Pháp luật chưa quy định rõ ràng, cụ thể trường hợp cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, đối với trường hợp chưa bị Tòa án tuyên bố theo quy định trên thì còn có những cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật. Có ý kiến cho rằng, vẫn được kết hôn vì không vi phạm điều cấm. Nhưng có ý kiến ngược lại cho rằng, không được kết hôn do vi phạm điều kiện về tự nguyện trong kết hôn được quy định tại khoản 2 Điều 9… Nhiều vụ việc Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu cơ quan có thẩm quyền về hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm khoản 2 Điều 10, nhưng bản thân đương sự, gia đình đương sự đã phản đối và Uỷ ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cũng đã không đồng tình với quyết định của Tòa án vì cho rằng, việc đăng ký kết hôn trong trường hợp này là đúng luật. Vì vậy, khi một người bị bệnh tâm thần nhưng chưa có quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của Toà án có yêu cầu đăng ký kết hôn thì Uỷ ban nhân dân giải quyết như thế nào? Bởi thực tế người mất năng lực thì nhiều nhưng những trường hợp yêu cầu Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi lại không nhiều.
Tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định về đăng ký hộ tịch thì thủ tục đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải xuất trình các giấy tờ sau: Đơn xin đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân của cơ quan, đơn vị nơi công tác hoặc chính quyền địa phương nơi cư trú; Giấy khai sinh của hai bên; Sổ hộ khẩu thường trú của hai bên; Chứng minh nhân dân của hai bên, nếu kết hôn lần 2,3… thì nộp quyết định ly hôn (nếu ly hôn) hoặc giấy chứng tử (nếu chết) [7]. Vì vậy, trong thủ tục xin đăng ký kết hôn không có quy định phải nộp giấy tờ chứng minh tình trạng sức khỏe để làm cơ sở xác định người xin đăng ký kết hôn có bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi. Vì vậy, nên quy định trong thủ tục xin đăng ký kết hôn, ngoài các giấy tờ trên cần phải có giấy tờ chứng minh tình trạng sức khoẻ của người xin đăng ký kết hôn. Đó là căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết việc đăng ký kết hôn.
Ngoài ra, đối với trường hợp một người dù biết người kia bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn tự nguyện kết hôn, sự tự nguyện của họ xuất phát từ tình yêu thương, sự cảm thông, mong muốn được gắn bó để chia sẻ, giúp đỡ người đó. Đây là vấn đề hết sức nhân văn mà thực tế cuộc sống có thể xảy ra, vì vậy pháp luật cần phải có dự liệu bảo đảm sự hợp tình, hợp lý.
Như vậy, xuất phát từ cơ sở khoa học và xã hội, pháp luật quy định cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự. Việc kết hôn của những người mất năng lực hành vi dân sự được coi là trái pháp luật và là căn cứ để Toà án xem xét và quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Đối với trường hợp này, nếu có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì Toà án quyết định huỷ. Tuy nhiên, có trường hợp tại thời điểm kết hôn họ mất năng lực hành vi dân sự, nhưng đến thời điểm có yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật họ đã phục hồi, cuộc sống của họ bình thường, bản thân hai bên vẫn có nguyện vọng được tiếp tục chung sống thì có cần thiết phải quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó không. Mặc dù pháp luật chưa có dự liệu nhưng thiết nghĩ không nên huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó vì hành vi phạm đã chấm dứt, hai bên tự nguyện tiếp tục chung sống, mục đích của hôn nhân đạt được. Ngoài ra, nếu người vợ hoặc người chống của người mất năng lực hành vi dân sự tự nguyện tiếp tục duy trì cuộc sống chung đó xuất phát từ tình yêu thương và sự thông cảm sâu sắc, thì Toà án có nên huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó không. Bởi, quy định cấm kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự trước hết là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bên kia. Và người bị mất năng lực hành vi dân sự cũng là đối tượng cần được quan tâm, yêu thương và chăm sóc từ mọi người và xã hội.
- Vi phạm điều kiện cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.
Để hiểu thế nào là những người cùng dòng máu về trực hệ; những người có họ trong phạm vi ba đời, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP đã hướng dẫn:
Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ là giữa cha, mẹ với con; giữa ông, bà với cháu nội, cháu ngoại. Giữa những người có họ trong phạm vi ba đời là giữa những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba [29].
Việc các nhà lập pháp quy định cấm kết hôn giữa những người trên là dựa trên cơ sở khoa học và cơ sở đạo đức. Dựa trên cơ sở khoa học, hầu hết những đứa trẻ sinh ra từ các cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết thống rất dễ mắc các bệnh di truyền do sự ảnh hưởng của sự kết hợp gen lặn mang bệnh khiến những đứa con sinh ra mắc phải nhiều bệnh lý như tan máu bẩm sinh, mù màu, bạch tạng hoặc sinh con dị dạng như câm, điếc, mù, thiểu năng, thiếu các bộ phận cơ thể …; và nguy cơ tử vong cao, tuổi thọ của đứa trẻ sinh ra cũng rất thấp. Mặt khác, dựa trên cơ sở đạo đức, người Việt Nam với truyền thống tôn trọng tôn ti trật tự trong gia đình, việc kết hôn giữa những người có cùng dòng màu, trực hệ là sự vi phạm các quy tắc đạo đức, “loạn luân”, trái thuần phong mỹ tục của dân tộc, suy giảm giá trị gia đình truyền thống. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Việc cấm kết hôn trong phạm vi bao nhiêu đời đang là vấn đề gây tranh cãi. Qua thực tiễn thi hành, việc vi phạm các quy định này diễn ra khá phổ biến ở những vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Như đồng bào dân tộc người Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê đê, Chu Ru, Mông, Rơ Mân, Pu Péo. Đặc biệt là dân tộc Si La (Điện Biên, Lai Châu); Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang); Mông Xanh (Lào Cai) và Rơ Mân, B Râu (Kon Tum) thì cứ 100 trường hợp kết hôn thì có tới 10 trường hợp là hôn nhân cận huyết thống [9]. Tỉnh Bình Phước, hai địa điểm là xã An , huyện Hớn Quản và xã Đăk Nhau huyện Bù Đăng từ tháng 9/2012 đến nay, khảo sát thử nghiệm trên 560 bộ câu có câu trả lời cho biết: chiếm 12,6 % hôn nhân cận huyết thống – tức là kết hôn với anh, chị, em chưa quá ba đời [14]. Ngoài ra, ở các vùng nông thôn, còn diễn ra tình trạng ngăn cản hôn nhân giữa những người ngoài phạm vi ba đời. Việc kết hôn giữa những người cùng một “họ” là anh, em trong phạm vi bao nhiêu đời cũng không lấy nhau được, còn những người khác “họ” mặc dù vẫn trong phạm vi ba đời thì vẫn được lấy nhau.
Dẫn đến thực trạng trên có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, do ảnh hưởng của tập tục địa phương, phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại; ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế; đặc biệt nam, nữ thanh niên thuộc đồng bào dân tộc ít người ít có điều kiện học tập nâng cao sự hiểu biết về quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân, gia đình nói riêng và quyền, nghĩa vụ pháp lý nói chung; do công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, các vụ việc xử lý hành chính, hình sự về vi phạm chế độ hôn nhân, gia đình nói chung về các hành vi vi phạm điều kiện cận huyết nói riêng ít được giải quyết trên thực tế; cán bộ hộ tịch ở một số địa phương vì nhiều lý do cũng không nắm bắt đầy đủ các thông tin về thực trạng kết hôn cận huyết dẫn tới có nhiều khó khăn trong việc đưa ra những giải pháp khắc phục tình trạng trên. Vì vậy, pháp luật cần có quy định sát thực tế và phù hợp với tập quán để bảo đảm việc thực thi có hiệu quả.
Ngoài ra, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc sinh con theo phương pháp hỗ trợ sinh sản ngày càng tăng. Về mặt pháp lý, người cho tinh trùng, trứng, phôi không được xác định là cha mẹ của đứa trẻ. Nhưng về mặt thực tế, thì giữa họ có quan hệ huyết thống với nhau. Vì vậy, pháp luật cần có cơ chế điều chỉnh để bảo đảm giữa những người này không phát sinh quan hệ hôn nhân, ảnh hưởng tới chất lượng dân số. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Như vậy, với mục tiêu bảo đảm cho sự phát triển của nòi giống và duy trì các giá trị tốt đẹp của truyền thống gia đình Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời là trái pháp luật và là căn cứ để Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó.
- Vi phạm điều kiện cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn:
Đối với trường hợp quy định tại điểm 4 Điều 10 cần hiểu là ngoài việc cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi thì điều luật còn cấm kết hôn:
- Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;
- Giữa người đã từng là bố chồng với con dâu;
- Giữa người đã từng là mẹ vợ với con rể;
- Giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ;
- Giữa người đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng [29].
Những người trên là những người có quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ thích thuộc. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi mặc dù giữa họ không có quan hệ huyết thống nhưng trong mối quan hệ pháp lý cha, mẹ – con, họ có vị trí, quyền và nghĩa vụ như cha, mẹ đẻ với con đẻ. Mối quan hệ này thường được xác lập đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt. Vì vậy, quy định này thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước ta, bảo đảm quyền lợi cho cha, mẹ nuôi, con nuôi. Ngoài ra, còn là biện pháp nhằm ngăn chặn những hiện tượng lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc để cưỡng ép kết hôn. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Đối với những người đã từng có mối quan hệ thích thuộc như bố chồng con dâu; mẹ vợ – con rể; bố dượng – con riêng của vợ; mẹ kế – con riêng của chồng, mặc dù về thực tế giữa họ không còn có quan hệ thích thuộc với nhau nữa nhưng dưới góc độ đạo đức việc họ kết hôn với nhau là sự vi phạm quy tắc đạo đức tốt đẹp của Việt Nam. Có quan điểm cho rằng không nên quy định cấm kết hôn giữa những người có quan hệ thích thuộc về trực hệ trong Luật Hôn nhân và gia đình, mà nên giành cho tập quán điều chỉnh. Vì giữa họ không có quan hệ huyết thống nên không ảnh hưởng đến sự phát triển của thế hệ con cháu. Hơn nữa, nếu quy định như vậy là vi phạm quyền tự do kết hôn của công dân. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, mặc dù những người trên không có quan hệ huyết thống nhưng giữa họ đã từng tồn tại mối quan hệ cha, mẹ – con. Việc kết hôn giữa họ làm ảnh hưởng xấu tới đạo lý của người Việt Nam, ảnh hưởng xấu tới quan hệ vợ – chồng, cha, mẹ – con. Việc quy định cấm kết hôn giữa họ còn nhằm ổn định các mối quan hệ trong gia đình và xã hội. Với ý nghĩa sâu sa đó nếu chỉ được điều chỉnh bởi tập quán thì việc áp dụng sẽ không thống nhất và không có một biện pháp chế tài đủ mạnh để phòng ngừa và răn đe.
Mặt khác, trong phạm vi quy định cấm này không điều chỉnh quan hệ giữa con đẻ và con nuôi của cha mẹ nuôi. Thiết nghĩ, tại Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình. Trong các quy định của pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình địa vị pháp lý của con nuôi và con đẻ là như nhau. Vì vậy, để bảo vệ nền tảng gia đình nên quy định cấm con đẻ và con nuôi của cha mẹ nuôi kết hôn với nhau.
Như vậy, để bảo đảm trật tự gia đình, xã hội và thuần phong mỹ tục của dân tộc; bảo vệ các giá trị tốt đẹp của đạo lý người Việt Nam, pháp luật quy định việc kết hôn những người là cha, mẹ nuôi và con nuôi; những người đã từng là cha, mẹ nuôi và con nuôi; những người đã từng là bố chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; bố dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng là trái pháp luật và là căn cứ để Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó.
Trong mọi trường hợp khi có sự vi phạm về điều cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy mà không có ngoại lệ. Tuy nhiên, thực tế rất khó xác định mối quan hệ huyết thống, có họ trong phạm vi ba đời, quan hệ thích thuộc. Trường hợp con trong giá thú và con ngoài giá thú kết hôn với nhau thì giải quyết như thế nào? Anh chị em ruột thất lạc nhau từ nhở, kết hôn với nhau thì giải quyết như thế nào? Như trường hợp vợ chồng ông Đinh Văn Miên (50 tuổi) và bà Đinh Thị Miêu (52 tuổi), ở thôn 5, xã An Trung (huyện An Lão – Bình Định). Chung sống với nhau 30 năm, có hai con chung, cuộc sống ổn định, mới phát hiện ra họ là chị em ruột bị thất lạc trong chiến tranh.
Và họ vẫn tiếp tục duy trì cuộc sống chung vợ chồng mà không thể có cơ quan Nhà nước nào can thiệp được [11]. Đó là những trường hợp mà pháp luật vẫn chưa dự liệu hết. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
- Vi phạm điều kiện cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.
Điều này được quy định tại Khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình. Đây là quy định hoàn toàn mới so với các văn bản pháp luật trước đây, là sự đáp ứng kịp thời với những biến động của xã hội. Trước đây, vấn đề kết hôn cùng giới tính không được quan tâm, nhưng hiện nay hiện tượng chung sống giữa những người cùng giới tính diễn ra càng nhiều và công khai. Pháp luật Việt Nam không thừa nhận quan hệ này xuất phát từ cơ sở khoa học, cơ sở xã hội và là quy luật tự nhiên. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng nhằm mục đích xây dựng gia đình, duy trì nòi giống. Hai người cùng giới kết hôn với nhau là đi ngược với bản chất của hôn nhân và không thể thực hiện được chức năng đối với gia đình và xã hội là duy trì nòi giống. Dưới góc nhìn xã hội, việc kết hôn giữa người cùng giới tính là sự suy đồi về đạo đức, là không phù hợp với lối sống của người Việt Nam.
Đối với trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn giữa những người cùng giới tính thì căn cứ chính là việc xác định giới tính. Trên thế giới và Việt Nam, ước tính cứ 2000 trẻ em sinh ra, thì ít nhất có một trẻ có bộ phận sinh dục không phù hợp với bộ nhiễm sắc thể, dẫn đến khuyết tật bẩm sinh về giới tính. Và, đa phần những người không may bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính đều có nhu cầu xác định lại giới tính, để có thể được sống thực giới tính của mình. Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã cụ thể hoá quyền xác định lại giới tính là quyền nhân thân của con người. Theo quy định của điều này, giới tính chỉ được xác định lại trong những trường hợp luật định. Đó là, một người chỉ được quyền yêu cầu xác định lại giới tính của mình khi họ bị khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác thì mới có quyền yêu cầu y học xác định lại giới tính chính xác. Như vậy, pháp luật không công nhận trường hợp “chuyển đổi giới tính” vì “chuyển đổi giới tính” được thực hiện theo ý thích của con người, trái với quy luật của tạo hoá. Tuy nhiên, về mặt y học có những trường hợp mang giới tính xác định rõ ràng nhưng về mặt tâm, sinh lý thì lại mang giới tính trái ngược hẳn. Trong hệ thống pháp luật nước ta, việc chuyển đổi giới tính là không được. Trên thực tế có một số trường hợp thực hiện việc chuyển đổi giới tính, nhưng phải ra nước ngoài thực hiện. Vậy nhu cầu là có thật, nhưng luật pháp có nên thừa nhận hay không? Có nên bên cạnh quy định về quyền xác định lại giới tính, pháp luật cũng cần phải quy định cả vấn đề quyền thay đổi giới tính đối với một số trường hợp như vậy. Tất nhiên, đối với trường hợp này cần phải có sự xác định của chuyên gia y tế để tiến hành thay đổi giới tính, tránh tình trạng thay đổi giới tính tràn lan, chạy theo lối sống bệnh hoạn hoặc những hành vi chuyển đổi giới tính phục vụ cho các quan niệm tâm sinh lý lệch lạc, băng hoại đạo đức hoặc vì các mục đích khác (trốn tránh trách nhiệm pháp lý, gian lận trong thể thao…). Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Hệ quả pháp lý của việc xác định giới tính là việc cải chính hộ tịch. Người đã xác định lại giới tính sẽ được thay đổi và công nhận giới tính, được thay đổi họ tên phù hợp giới tính trên các giấy tờ hộ tịch. UBND cấp quận, huyện có thẩm quyền tiến hành các thủ tục cải chính này. Đây là cơ sở xác định cho họ quyền được kết hôn đúng pháp luật.
Trong những năm gần đây ở Việt Nam hiện tượng đồng tính luyến ái ngày càng nhiều và có xu hướng công khai hóa gây ra nhiều làn sóng tranh luận trong xã hội. Ngày 7/4/1997, đám cưới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh giữa hai người nam. Ngày 7/3/1998, hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận.Mặc dù, tháng 6/2000 Quốc hội thông qua đạo luật cấm hôn nhân đồng tính nhưng ngày càng nhiều thành viên trong cộng đồng người đồng tính đã tự tin công khai chuyện đời trên báo chí. Ngày 17/5/2013, mười cặp đồng tính Hà thành rủ nhau cưới thử nhân ngày Quốc tế chống kỳ thị người đồng tính gây xôn xao báo chí. Ngày 27/10/2013, hơn 1000 người tập trung tại cổng công viên Thống Nhất, Hà Nội với cờ 6 sắc thu hút sự chú ý. Tại đây hai cặp đôi đồng tính đã tổ chức đám cưới trước sự ngưỡng mộ, chúc phúc của mọi người. Từ Hà Nội đến Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh sự kiện “I do” kêu gọi ủng hộ hôn nhân đồng tính diễn ra khá sôi động. Sự thành công trên báo Mỹ của bộ ảnh người đồng tính được nữ nhiếp ảnh Việt Maika (tên thật là Nguyễn Thanh Hải) thực hiện. Bài viết và bộ ảnh với những góc nhìn chân thực về người đồng tính tại Việt Nam của Maika trên The New York Times khiến nhiều độc giả nước ngoài xúc động. Tháng 2/2013, dự án ảnh mà Maika Elan thực hiện được trao giải Phóng sự ảnh xuất sắc nhất tại hạng mục Vấn đề đương đại, cuộc thi Ảnh báo chí thế giới. Theo thông tin trên trang web vi.wikipedia, hiện nay chưa có cuộc điều tra chính thức về số người đồng tính tại Việt Nam, các ước tính khác nhau có sự chênh lệch rất lớn. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Theo ước tính của bác sĩ Trần Bồng Sơn (nhà nghiên cứu về giới tính học nổi tiếng nhất tại Việt Nam), số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người (chiếm 0,09% dân số). Một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Năm 2013, tại hội thảo do Viện Nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) và Chương trình Phối hợp của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS tổ chức, ông Lê Quang Bình (viện trưởng iSEE) đưa ra ước tính số người đồng tính tại Việt Nam là khoảng 1,65 triệu người, tương đương với khoảng 2% dân số, con số này được ước tính dựa trên tỉ lệ đồng tính được điều tra tại một số nước khác như Mỹ, Pháp[1].
Trong môi trường pháp luật Việt Nam nói chung và Luâṭ Hôn nhân và gia đình nói riêng chưa có quy định bảo vệ quyền của người đồng tính. Khoản 5 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là “Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú”. Quy định có tính liệt kê ở nguyên tắc này, vô tình đã thể hiện việc kỳ thị, phân biệt đối xử với con là người đồng tính, song tính hoặc chuyển giới, dị tính. Mặt khác, khoản 5 Điều 10 Luật này quy định cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. Việc sử dụng quy phạm “cấm” việc kết hôn giữa những người cùng giới tính dễ tạo ra hiệu ứng định kiến xã hội đối với người đồng tính.
Trước thực tế và cùng với sự phát triển về kinh tế, nhận thức của xã hội, đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể không quan tâm đến việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và bài bản về quyền của người đồng tính trong hôn nhân và gia đình nói chung, quyền kết hôn của người đồng tính nói riêng, đảm bảo tính nhân bản, công bằng và bình đẳng trong công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền con người về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, vấn đề pháp luật cần điều chỉnh như thế nào là điều gây nhiều tranh cãi và trở thành vấn đề thời sự. Để có những quy định kịp thời và hiệu quả thì đòi hỏi cần phải nghiên cứu vấn đề giới tính thứ ba dưới nhiều góc độ. Xét về khía cạnh khoa học, giới tính thứ ba, gọi tắt là LGBT. Ban đầu, thuật ngữ LGBT chỉ hướng đến ba đối tượng là đồng tính, song tính, hoán tính, nhưng ngày nay người ta dùng LGBT để nói về cả những xu hướng tình dục ngoài dị tính. Theo chứng minh của các nhà khoa học thì những người thuộc nhóm LGBT không phải là những người có biểu hiện rối loạn tâm thần. Tổ chức Y tế Thế giới đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh, không phải chữa trị và không thể chữa trị. Vì vậy, đồng tính là một xu hướng tính dục tự nhiên, việc thừa nhận cũng là tự nhiên, không nên ngăn cấm. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình cũng cần được sửa đổi, bổ sung để góp phần vừa ngăn ngừa thái độ kỳ thị đối với những người cùng giới tính vừa tạo cơ sở pháp lý để giải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng giữa người cùng giới tính đã và đang có trên thực tế. Bởi, vấn đề đồng tính và hôn nhân giữa những người cùng giới tính đang là vấn đề thực tế ở Việt Nam và tạo ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Do đó, pháp luật hiện hành đã lựa chọn giải pháp cấm việc kết hôn giữa người cùng giới tính. Tuy nhiên, thực tiễn vừa qua cho thấy: mặc dù pháp luật cấm việc kết hôn nhưng việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính vẫn diễn ra và Nhà nước vẫn phải áp dụng biện pháp hành chính và pháp lý để giải quyết vấn đề này; việc pháp luật hiện hành cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính có thể dẫn tới sự phân biệt kỳ thị của một bộ phận xã hội đối với người đồng tính; quyền được yêu thương và quyền được chung sống giữa những người đồng tính là nguyện vọng chính đáng và nó thuộc nội dung của quyền con người. Trước thực tiễn này, pháp luật cần có phương thức điều chỉnh hợp lý để vừa tạo điều kiện cho những người đồng tính được thực hiện những quyền cơ bản của mình vừa để giảm thiểu sự phân biệt, kỳ thị với người đồng tính cũng như những tác động tiêu cực của hiện tượng đồng tính đối với gia đình và xã hội; Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh đó, hôn nhân giữa những người cùng giới tính là vấn đề có tính nhạy cảm xã hội cao. Vì vậy, phương án phù hợp nhất của pháp luật Việt Nam là không nên can thiệp hành chính vào quyền được sống theo bản dạng giới và khuynh hướng tính dục; cần tôn trọng việc sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, cũng như các thỏa thuận của họ trong việc xác lập và giải quyết các vấn đề phát sinh từ cuộc sống chung. Đồng thời, pháp luật cần có những quy định thích hợp để giúp họ giải quyết một cách ổn thỏa các hậu quả pháp lý của việc sống chung này nhằm góp phần bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của các bên và sự ổn định của xã hội. Do đó, để thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính cũng cần phải được xem xét, cân nhắc, nhìn nhận trên nhiều khía cạnh khác nhau với những bước đi phù hợp. Pháp luật các nước trên thế giới cũng có những sự điều chỉnh khác nhau về quan hệ đồng tính. Có những nước không cấm kết hôn giữa những người cùng giới nhưng cũng không thừa nhận như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc …. Có những nước công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canađa, Nam Phi, Na Uy, Anh, Pháp …Có những nước không thừa nhận hôn nhân nhưng thừa nhận việc chung sống có đăng ký giữa những người cùng giới tính như Áo, Đức, Colombia, Thuỵ Sỹ ….. Hiện nay, có 23 nước công nhận quyền của người đồng tính, 19 quốc gia và vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, có 44 nước khác đã cho phép hai người cùng giới đăng ký sống cùng nhau hợp pháp dưới những hình thức có tên gọi như: Hôn nhân dân sự, quan hệ có đăng ký, quan hệ gia đình… với những quyền lợi tương tự như hôn nhân giữa hai người khác giới [24]. Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình theo hướng tôn trọng, bảo đảm quyền kết hôn của người đồng tính.
Trong các cuộc hội thảo về việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có rất nhiều luồng ý kiến khác nhau đóng góp vào việc nên hay không công nhận kết hôn của người đồng tính. Tuy nhiên, đây là một vấn đề xã hội nhạy cảm, vì vậy việc sửa đổi, bổ sung cần phải tham khảo pháp luật của các nước trên thế giới và vận dụng linh hoạt vào điều kiện của nước ta để bảo đảm hiệu quả trong việc thực thi và hạn chế những tiêu cực có thể phát sinh. Vì vậy việc tiếp cận phải thực hiện theo lộ trình nhất định. Bước đi đầu tiên là việc từ cởi bỏ quy định “cấm” bằng quy định “không thừa nhận”. Tại Khoản 3 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khẳng định: “các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không phân biệt đối xử giữa các con” [23] và Khoản 3 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới” [23]. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể kết hôn , tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra . Đây làsư ̣nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay. Những quy định mới này thể hiện sự nhìn nhận cởi mở hơn phù hợp với thực tiễn xã hội, tuy nhiên trong thời gian các quy định này chưa có hiệu lực thì các trường hợp kết hôn giữa những người cùng giới là trái pháp luật và khi có yêu cầu Toà án phải quyết định huỷ mà không có ngoại lệ.
2.5. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Việc kết hôn dù hợp pháp hay trái pháp luật đều phát sinh quan hệ nhân thân, quan hệ cha, mẹ – con và quan hệ tài sản. Vì vậy, quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật của Toà án cũng phải giải quyết triệt để cả ba vấn đề này.
2.5.1. Quan hệ nhân thân.
Tại khoản 1 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Khi việc kết hôn trái pháp luật bị huỷ thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng” [19]. Quy định này tiếp tục được duy trì tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mối quan hệ của họ kể từ khi được xác lập cho đến khi Toà án huỷ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ về nhân thân như vợ chồng. Họ không được hưởng các quyền như quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng; quyền đại diện cho nhau trong các quan hệ dân sự; quyền cấp dưỡng; quyền hưởng thừa kế khi một bên chết … Đấy là hệ quả pháp lý bất lợi tất yếu đối với hành vi vi phạm pháp luật. Ngoài ra họ còn phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng này kể từ khi quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Để bảo đảm cho việc quản lý thống nhất và chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước, Toà án phải có trách nhiệm gửi ngay bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để xoá đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, việc thi hành quyết định “hai bên nam nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng” còn nhiều khó khăn. Trên thực tế, họ có thực hiện quyết định này hay không còn chưa có cơ chế giám sát việc thi hành.
2.5.2. Quan hệ cha, mẹ và con. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Trong hậu quả pháp lý của huỷ việc kết hôn trái pháp luật, quan hệ nhân thân không phát sinh nhưng quan hệ cha, mẹ – con lại được pháp luật bảo vệ. Bởi việc cha mẹ kết hôn hợp pháp hay không không làm thay đổi mối quan hệ pháp lý giữa cha, mẹ, con. Đứa trẻ ra đời là sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con. Khoản 2 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “trường hợp của con được giải quyết như trường hợp của cha – mẹ khi ly hôn” [19]. Tức là đối với con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì phải giải quyết việc người trực tiếp nuôi con. Nếu các bên không thoả thuận được người trực tiếp nuôi con thì Toà án sẽ quyết định. Quyết định giao con cho ai phải bảo đảm quyền lợi về mọi mặt và bảo đảm điều kiện tốt nhất cho con. Trường hợp, con dưới ba tuổi, nếu các bên không có thoả thuận khác thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm nom gây ảnh hưởng xấu tới việc chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Nếu người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con còn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, trừ trường hợp bên trực tiếp nuôi con không yêu cầu hoặc các bên có thoả thuận khác. Nếu bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện việc đóng góp nuôi con, thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể khấu trừ vào thu nhập hàng tháng của người đó. Tuy nhiên, việc thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con còn có nhiều khó khăn bởi vì đối với người lao động tự do, không có tài khoản, lương cố định, thu nhập bấp bênh thì việc khấu trừ thu nhập của họ để thi hành án là rất khó.
Về mức cấp dưỡng, do hai bên tự thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định. Việc quyết định của Toà án dựa vào thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của đứa trẻ. Tuy nhiên mức cấp dưỡng không được vượt quá 1/3 thu nhập bình quân của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Về phương thức thực hiện việc cấp dưỡng, có thể định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm, nửa năm hoặc một lần. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định giải quyết về quyền lợi của con mà vô tình bỏ quên quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Và điều này đã được bổ sung tại Khoản 2 Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn” [23].
Như vậy, mặc dù quan hệ của cha mẹ là trái pháp luật nhưng quyền và lợi ích của con cái vẫn được pháp luật bảo vệ, bởi mục đích chế tài huỷ kết hôn trái pháp luật không những là sự răn đe, phòng ngừa chung mà còn là việc bảo đảm sự ổn định cuộc sống cho các thành viên trong gia đình và trong xã hội.
2.5.3. Quan hệ tài sản.
Đối với trường hợp kết hôn hợp pháp thì tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất. Khi ly hôn, về nguyên tắc là chia đôi. Nhưng đối với kết hôn trái pháp luật quan hệ tài sản phát sinh trong quá trình chung sống của hai bên nam – nữ được xác định là tài sản chung theo phần. Về nguyên tắc, tài sản riêng của ai thì thuộc quyền sở hữu của người đó, còn tài sản chung thì chia theo sự thoả thuận của hai bên, nếu không thoả thuận được thì Toà án giải quyết.
Đối với tài sản riêng, cũng được giải quyết như đối với trường hợp hôn nhân hợp pháp. Tài sản riêng là tài sản có trước thời điểm chung sống với nhau, hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng… Người có tài sản riêng phải chứng minh nếu bên kia không thừa nhận, nếu không chứng minh được thì xác định là tài sản chung và được đem chia. Quy định về tài sản riêng được giải quyết như đối với trường hợp ly hôn. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Tài sản chung gồm tài sản riêng nhưng không chứng minh được là tài sản riêng; tài sản phát sinh trong quá trình chung sống do hai người cùng tạo lập nên. Đối với trường hợp vợ chồng ly hôn thì tài sản chung được xác định thuộc sở hữu chung hợp nhất, tức là phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung là không được xác định. Người chồng dù làm những công việc nặng nhọc có thu nhập cao cũng như người vợ làm công việc nội trợ hàng ngày ở nhà, không có thu nhập, đều có quyền lợi như nhau trong khối tài sản đó. Lao động trong gia đình cũng được coi là lao động có thu nhập. Còn đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật, tài sản chung được xác định thuộc sở hữu chung theo phần, tức là phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung. Khi chia Toà án căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên tức là căn cứ vào thu nhập thực tế của hai bên, người nào thu nhập cao, đóng góp nhiều thì hưởng nhiều, người nào thu nhập ít, đóng góp ít thì hưởng ít. Trường hợp người phụ nữ từ khi chung sống với nhau chỉ ở nhà nội trợ và chăm sóc gia đình, con cái, không có thu nhập là người phải chịu nhiều thiệt thòi. Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình quy định nguyên tắc chia tài sản chung, phải xem xét công sức đóng góp của mỗi bên. “Công sức đóng góp” ở đây là chỉ những lao động có thu nhập để tạo nên tài sản đó. “Công sức đóng góp” đối với trường hợp khi vợ chồng ly hôn là gồm cả lao động có thu nhập và lao động không có thu nhập. Đó là sự khác nhau về nguyên tắc xem xét để chia tài sản chia chung giữa việc kết hôn hợp pháp và trái pháp luật.
Do đặc trưng về giới tính nên người phụ nữ trong trường hợp này thường là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi. Vì vậy, vẫn như trường hợp ly hôn “ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con” là nguyên tắc được áp dụng trong trường hợp này thể hiện bản chất nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đối với quan hệ này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những quy định khá mới mẻ và cụ thể. Quan hệ tài sản được bổ sung thêm bao gồm cả quan hệ “nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên” và đường lối xử lý như đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Điều 16 Luật này quy định:
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Luận văn: Thực trạng hủy việc kết hôn trái pháp luật Việt Nam.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.” [23]
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam
