Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực tiễn giải quyết, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT TRONG 05 NĂM GẦN ĐÂY (2009 – 2013).

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 qua 13 năm thi hành đã đạt được những kết quả tích cực, những quy định của luật đã thực sự đi sâu vào cuộc sống và nhận thức của người dân. Luật Hôn nhân và gia đình đã từng bước xây dựng, duy trì và củng cố gia đình Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa, phát huy những truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, xóa bỏ dần những thủ tục, tư tưởng lạc hậu của chế độ cũ.

Các quy định về điều kiện kết hôn cũng đã đi vào ý thức và được người dân tuân thủ. Các hành vi vi phạm cũng có chiều hướng giảm dần, việc kết hôn trái pháp luật cũng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Tuy nhiên việc kết hôn trái pháp luật vẫn diễn ra trên phạm vi cả nước. Tùy thuộc vào điều kiện kinh – xã hội mà các dạng vi phạm ở mỗi nơi cũng khác nhau. Ở các vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số, kinh tế – xã hội nghèo nàn, ý thức người dân lạc hậu thì chủ yếu vi phạm về độ tuổi, sự tự nguyện và hôn nhân cận huyết. Ở thành phố, nền kinh tế phát triển thì chủ yếu vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng, kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự, kết hôn cùng giới. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Qua báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân Tối cao trong 05 năm gần đây (2009 – 2013) cho thấy có rất ít các việc về hủy kết hôn trái pháp luật được thụ lý tại Tòa án các cấp. Trong năm 2009 không thụ lý việc nào, năm 2010 thụ lý 03 việc, năm 2011 thụ lý 01 việc, năm 2012, năm 2013 không thụ lý việc nào, trong đó Tòa án thủ đô không thụ lý việc nào [27]. Mặc dù không có số liệu cụ thể nhưng qua các phương tiện thông tin cho thấy hiện tượng kết hôn trái pháp luật vẫn tồn tại trên thực tế. Các trường hợp vi phạm độ tuổi có chiều hướng giảm bởi ngày nay ý thức và việc tuân thủ pháp luật của cán bộ tư pháp cấp xã cũng được nâng cao nên việc khai sai tuổi khi làm giấy sinh khai không còn tùy tiện và nhiều như trước đây nhưng vẫn không tránh khỏi những vi phạm. Điển hình như chuyện ông Lê Công Quẩn Chủ tịch xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, Cà Mau bị báo chí phanh phui việc tổ chức đám cưới cho con gái 16 tuổi đăng trên báo tinmoi. ngày 05/9/2014. Qua trao đổi với báo chí, ông chủ tịch xã cho biết vì con gái “lỡ” có thai với người yêu nên ông phải tổ chức đám cưới, ông đã chỉ đạo Phó Chủ tịch xã và cán bộ ký, cấp khống giấy khai sinh cho con gái ông để làm thủ tục đăng ký kết hôn. Nhưng chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn thì sự việc bị phát hiện và ông chủ tịch xã phải chịu hình thức kỷ luật cảnh cáo của Ủy ban kiểm tra huyện Phú Tân và bị Ủy ban nhân dân huyện Phú tân xử phạt hình chính về hành vi “Tổ chức tảo hôn”, những người liên quan cũng bị xem xét hình thức kỷ luật. Hay như việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng cũng vẫn diễn ra hàng ngày trong cuộc sống. Như trường hợp chị Vũ Thị Hồng Mai (Phú Thọ) gửi đơn đến Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trình bày vợ chồng chị chưa ly hôn nhưng chồng chị là anh Nguyễn Văn Tư hiện đang sống ở Thanh Hóa đã đăng ký kết hôn với người phụ nữ khác tại xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Chị làm đơn khiếu nại đến Uỷ ban nhân dân xã Phú Lộc về việc đăng ký kết hôn này. Uỷ ban nhân dân xã trả lời: việc Uỷ ban nhân dân xã thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn cho anh Tư là dựa trên Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 134/2012/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2013 giữa chị và anh Tư của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng.

Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng cho biết Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 134/2012/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2013 giữa chị và anh Tư có đúng không. Qua kiểm tra sổ sách Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng cho biết không có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 134/2012/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2013 giữa chị và anh Tư, chị có quyền đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc hủy kết hôn trái pháp luật này. Tuy nhiên chị Mai có trình bày vợ chồng ly thân đã lâu, anh chị không còn tình cảm với nhau, việc yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật là khó khăn với chị vì đường xá xa xôi, công việc và hoàn cảnh kinh tế, gia đình không thuận lợi nên chị cũng không nghĩ đến việc có yêu cầu Tòa án giải quyết hay không. Hay như trường hợp kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự. Ngay như Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng nơi học viên công tác, quá trình giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình cho thấy có rất nhiểu trường hợp người chồng có biểu hiện mất năng lực hành vi, chỉ biết gật và lắc đầu khi Tòa án hỏi, chị vợ khai biểu hiện này có từ trước khi kết hôn nhưng chị không có gì chứng minh, sau nhiều năm chung sống người vợ không chịu được nên đã làm đơn xin ly hôn. Tòa án mời đại diện gia đình của người chồng đến trao đổi thì đại diện gia đình cũng thống nhất đề nghị Tòa giải quyết cho vợ chồng họ được ly hôn. Vì không có quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với người chồng của Tòa án tại thời điểm kết hôn nên không thực hiện được thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Còn nếu qua thủ tục đề nghị Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự sau đó mới giải quyết ly hôn thì tốn kém về kinh tế, thời gian, công sức cho người vợ. Vì vậy Tòa án thường giải thích pháp luật để người vợ cũng như đại diện gia đình người chồng lựa chọn phương án giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn và ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Phương án này chỉ áp dụng đối với trường hợp người vợ và bên gia đình người mất năng lực hành vi cùng thống nhất việc giải quyết ly hôn, con và không có tài sản. Còn như trường hợp bà Nguyễn Thị Hoa đưa con là Nguyễn Văn Hải lên trình bày muốn làm đơn xin ly hôn cho anh Hải vì khi nhỏ anh Hải bị ngã, chấn thương ở đầu nên chậm chạp, sau đó anh Hải kết hôn với chị Lê Thị Tâm. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Hải ở cùng bà Hoa được 20 năm nhưng càng ngày chị Tâm càng đối xử tệ bạc với anh Hải và gia đình nhà chồng nên bà Hoa không chịu được. Vì vậy mà bà đưa anh Hải lên để xin ly hôn chị Tâm, nhưng bà Hoa không có giấy tờ gì chứng minh anh Hải mất năng lực hành vi dân sự từ khi kết hôn, nếu bây giờ yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hải mất năng lực hành vi dân sự thì người mất năng lực hành vi dân sự cũng không được làm đơn xin ly hôn. Tòa án đã mất nhiều thời gian giải thích cho bà Hoa nhưng bà không hiểu và nghĩ Tòa án gây khó dễ cho mình. Việc hủy kết hôn trong trường hợp này cũng không có tính khả thi. Đây cũng là một trong những bất cập của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên điều này đã được bổ sung ở Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với quy định tại khoản 2 Điều 51: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ” [23]. Hay như trường hợp ông Nguyễn Văn Bằng và bà Trịnh Thị Thu ở xã Trung Giã, Sóc Sơn, Hà Nội. Ông Bằng đã kết hôn với mẹ bà Thu, được một thời gian mẹ bà Thu chết và sau đó ông Bằng chung sống và kết hôn với bà Thu. Câu chuyện một ông lấy hai mẹ con gây xôn xao cả vùng nhưng không có cơ quan, tổ chức nào can thiệp.

Thực trạng này xuất phát là từ các nguyên nhân sau: Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Thứ nhất: Yêu cầu về hủy kết hôn trái pháp luật chỉ được Tòa án thụ lý giải quyết khi có yêu cầu. Trong khi đó, quy định pháp luật về người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật còn hẹp. Đối với cá nhân, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm về sự tự nguyện, chủ thể còn có động lực để chủ động thực hiện quyền yêu cầu, còn ngoài ra, các trường hợp vi phạm khác rất khó có thể tự mình yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật. Có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như trình độ học vấn, hiểu biết về pháp luật hạn chế, tâm lý lo sợ, sức ép từ gia đình, cộng đồng. Còn đối với những chủ thể cố tình vi phạm thì không những không muốn quan hệ của mình bị hủy mà còn có tâm lý cố tình che dấu quan hệ bất hợp pháp đó. Vì vậy, trên thực tế các đương sự chủ động yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của mình là rất ít, chủ yếu là do trong quá trình giải quyết ly hôn Tòa án phát hiện ra.

Đối với các cơ quan, tổ chức, các quy định của pháp luật không cụ thể, thiếu sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật và không phù hợp với sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đó nên việc thực hiện quyền yêu cầu của các cơ quan, tổ chức còn thụ động.

Thứ hai: Việc phát hiện các trường hợp kết hôn trái pháp luật còn chậm. Vì vậy, nhiều trường hợp khi có yêu cầu thì hành vi vi phạm đã chấm dứt, cuộc sống của các bên ổn định, hành vi vi phạm trước kia không còn ảnh hưởng xấu tới đời sống của các bên, tới lợi ích của gia đình và tới xã hội. Vì vậy, Tòa án không cần thiết phải quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật đó.

Thứ ba: Hiện nay, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án đã áp dụng điểm d, mục 2, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP quy định từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định hủy kết hôn trái pháp luật hay công nhận hôn nhân của các đương sự. Đây là quy định phù hợp với thực tiễn, bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, điều này lại chỉ được quy định tại văn bản dưới luật, vì vậy mà tính pháp lý không cao và không có tính phổ biến đến mọi đối tượng trong xã hội.

Thứ tư: Quyết định của Tòa án thường khó được thi hành do chưa có cơ chế bảo đảm thi hành án. Thực tế, Tòa án quyết định hai bên chấm dứt quan hệ chung sống nhưng họ vẫn tiếp tục chung sống thì cũng không có biện pháp buộc họ phải thi hành quyết định này. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Thứ năm: Hệ thống cơ quan xét xử còn rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, trụ sở làm việc và nguồn nhân lực. Đặc biệt vẫn chưa có Tòa chuyên trách về hôn nhân và gia đình, việc giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình nói chung và hủy kết hôn trái pháp luật nói riêng, phải tuân theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, hiệu quả các giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình chưa cao, chưa đáp ứng Được yêu cầu của thực tiễn.

Thứ sáu: Đội ngũ cán bộ thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn còn nhiều hạn chế về trình độ và năng lực. Đây là nguyên nhân rất quan trọng của việc kết hôn trái pháp luật. Bởi điều kiện xác định kết hôn trái pháp luật người kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhưng vẫn được đăng ký kết hôn. Vì vậy việc đăng ký kết hôn được hay không là do khâu xác minh, kiểm tra của cán bộ thực hiện việc thủ tục đăng ký kết hôn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT.

3.2.1. Nhu cầu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Với vai trò là một ngành luật quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những tác động tích cực đến việc tạo môi trường lành mạnh để hình thành nhân cách con người, đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ. Luật cũng đã tạo hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình và xã hội, hạn chế dần các hành vi vi phạm pháp luật. Một trong những hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình phổ biến là vi phạm các điều kiện kết hôn. Vì vậy, các quy định pháp luật về hủy kết hôn trái pháp luật đã có những đóng góp quan trọng trong việc hạn chế, phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm về điều kiện kết hôn.

Tuy nhiên, do sự phát triển của kinh tế, các quan hệ trong xã hội cũng có sự thay đổi phong phú. Quá trình thi hành và áp dụng pháp luật cũng bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập. Trong bản thân nội tại các quy định về hủy kết hôn trái pháp luật cũng có sự không phù hợp với các quan hệ mà nó điều chỉnh. Những quy định của pháp luật vẫn chưa bao quát được hết các quan hệ về hôn nhân và gia đình đã và đang diễn ra trong thực tiễn, làm mất ổn định các mối quan hệ này, chưa thể hiện được một cách đầy đủ chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Đặc biệt trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, do ảnh hưởng từ mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động đến các chuẩn mực xã hội, giá trị đạo đức, nề nếp, gia phong, truyền thống của gia đình đang dần bị phá vỡ và mai một, những hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình như vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, việc kết hôn giữa những người cùng giới tính có chiều hướng gia tăng đã để lại những hậu quả nặng nề về nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Những hậu quả này có một phần nguyên nhân do việc thiếu hụt những quy định của pháp luật.

Hơn nữa, nằm trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, Luật Hôn nhân và gia đình cũng thể hiện sự thiếu đồng bộ với các ngành luật liên quan. Nhiều văn bản luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung hoặc được ban hành mới, như: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004; Bộ luật dân sự năm 2005; Luật bình đẳng giới năm 2006; Luật Nuôi con nuôi năm 2010 … Vì vậy, nhiều quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật hiện hành không đảm bảo tính hệ thống, sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản luật pháp luật có liên quan. Ví dụ: quy định về tuổi kết hôn, về quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Luật Hôn nhân và gia đình là chưa đồng bộ với các quy định của Bộ luật dân sự và một số luật khác có liên quan.

Để đáp ứng được các yêu cầu khách quan về xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội hiện nay và các giai đoạn phát triển tiếp theo thì việc điều chỉnh các quy định pháp luật về hủy kết hôn trái pháp luật là rất cần thiết. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

3.2.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Trong xu hướng phát triển của xã hội hiện nay, có thể hoàn thiện pháp luật về hủy kết hôn trái pháp luật theo hướng chủ yếu sau:

Thứ nhất: Thể chế hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách con người Việt Nam. Các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng; cụ thể hoá Hiến pháp, trong các Chiến lược của Chính phủ về việc xây dựng gia đình Việt Nam. Bởi một trong những bản chất của pháp luật là tính giai cấp, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân. Mục tiêu này được thể hiện ở các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng pháp luật nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng. Xuyên suốt mọi quy định của pháp luật đều là sự thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng không nằm ngoài phương hướng này.

Thứ hai: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trên cơ sở tôn trọng và có cơ chế pháp lý đầy đủ để bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người trong lĩnh vực kết hôn; bình đẳng giới; bảo vệ phụ nữ, trẻ em; quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức khác có liên quan; lợi ích của gia đình, Nhà nước và xã hội. Quyền con người là mục tiêu mà bất kỳ một quy định pháp luật nào cũng cần hướng tới. Trong các quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng phải bảo đảm mục tiêu là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con người, mang lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân trong gia đình và xã hội.

Thứ ba: Hoàn thiện các quy định của pháp luật trên cơ sở kế thừa, phát triển các quy định còn hợp lý; phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình dân tộc Việt Nam; căn cứ trên thực tiễn để giải quyết một cách kịp thời các vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Việc ban hành các quy định pháp luật mới là xuất phát từ những quan hệ xã hội mới phát sinh mà không có các quy định pháp luật tương ứng điều chỉnh. Vì vậy, các quy định mới ban hành phải bảo đảm giải quyết được các quan hệ mới đó và các quy định mới muốn có sức sống và đi sâu vào cuộc sống xã hội thì phải tuân thủ theo các quy luật của xã hội. Sự ra đời những quy định pháp luật hôn nhân – gia đình mới là sự phủ định những cái cũ, nhưng không phải là sự phủ định sạch trơn mà trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định còn hợp lý và bảo đảm duy trì được giá trị truyền thống của dân tộc. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Thứ tư: Hoàn thiện pháp luật phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật liên quan. Bảo đảm tính khả thi của các quy định pháp luật trên thực tế và bảo đảm các quyết định của Tòa án được thi hành. Pháp luật hôn nhân gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Vì vậy, các quy định của Luật hôn nhân và gia đình cũng phải bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với các ngành luật khác. Có như vậy, việc điều chỉnh của pháp luật mới đạt hiệu quả và việc áp dụng pháp luật mới thuận lợi và có tính khả thi.

Thứ năm: Bảo đảm sự phù hợp với xu thế hội nhập thế giới, cần có sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở đó, đảm bảo giá trị truyền thống và những nét đặc thù của pháp luật Việt Nam, đồng thời đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật về hôn nhân và gia đình nước ta với thông lệ quốc tế. Dân tộc Việt Nam với bề dày văn hóa, lịch sử, Luật Hôn nhân và gia đình hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người mà còn quan tâm tới việc duy trì và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam. Nhất là trong xu hướng hội nhập quốc tế, chúng ta phải tiếp nhận nhiều luồng văn hóa, thông tin ảnh hưởng trực tiếp tới tư tưởng, lối sống của con người Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên. Tiếp thu những tiến bộ của văn hóa nhân loại, bảo đảm giá trị truyền thống của pháp luật Việt Nam và sự phù hợp với thông lệ quốc tế là một nhiệm vụ đặt ra cho các nhà lập pháp trong giai đoạn hiện nay.

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Qua nghiên cứu về hủy kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho thấy các quy định của pháp luật đã cơ bản bảo đảm được việc giải quyết các trường hợp vi phạm về điều kiện kết hôn. Tuy nhiên, do sự thay đổi của xã hội, các quy định có xu hướng không phù hợp. Vì vậy, tác giả xin đưa ra một số kiến nghị về giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật và việc áp dụng pháp luật về hủy kết hôn trái pháp luật.

Thứ nhất: Về phạm vi người yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, nên điều chỉnh theo hướng mở rộng hơn. Cần quy định ngoài chủ thể là người bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn thì bản thân người cưỡng ép, lừa dối, ép buộc cũng có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật của mình. Ngoài ra những người có liên quan đến vấn đề nhân thân, vấn đề con và vấn đề tài sản của họ đều có thể trực tiếp thực hiện quyền này mà không phải chỉ dừng lại ở quyền “đề nghị” cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Mặt khác, cần quy định cho những cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về gia đình, phụ nữ và trẻ em đều có quyền yêu cầu. Cần bổ sung thêm trường hợp nếu các cơ quan, tổ chức này phát hiện ra trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn tại khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì cũng có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đó. Song song với việc quy định quyền thì cũng phải quy định trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức đó bảo đảm việc thực hiện quyền được hiệu quả.

Hơn nữa, cần quy định bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào phát hiện ra việc kết hôn trái pháp luật đều có quyền đề nghị các cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đó. Việc quy định theo hướng mở rộng phạm vi người yêu cầu là để bảo đảm cho việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm điều kiện kết hôn xảy ra trong mọi góc cạnh của cuộc sống. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Thứ hai: Đối với quy định về độ tuổi kết hôn, cần có sự điều chỉnh về quy định độ tuổi kết hôn để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các quy định của Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự và các luật khác có liên quan. Việc quy định độ tuổi kết hôn cũng cần được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng giới được quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết; bảo đảm sự thống nhất về quy định độ tuổi của người chưa thành niên của các điều ước và thông lệ quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên. Ngoài ra, trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống, góp phần nâng cao thể chất và trí tuệ của người Việt Nam, vì vậy, việc quy định tuổi kết hôn đối với nam và nữ cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với giai đoạn hiện nay nên quy định tuổi kết hôn đối với nam và nữ là đủ 18 tuổi.

Thứ ba: Đối với quy định về sự tự nguyện của nam, nữ khi kết hôn, nên bỏ phần liệt kê các hành vi vi phạm sự tự nguyện và các văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể và thống nhất để bảo đảm tính hiệu quả trong quá trình thực hiện và áp dụng. Bởi, các quy định mang tính liệt kê rất dễ dẫn đến tình trạng thiếu sót, không bao quát đủ các dạng hành vi vi phạm trong thực tế muôn màu của cuộc sống.

Thứ tư: Đối với trường hợp cấm kết hôn giữa người mất năng lực hành vi dân sự, không nên sử dụng thuật ngữ “người mất năng lực hành vi dân sự” mà nên quy định rõ là người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình thì cấm kết hôn. Quy định như vậy để người dân dễ hiểu và thực hiện. Ngoài ra, để hạn chế trường hợp kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều này nên quy định trong thủ tục đăng ký kết hôn các bên nam nữ phải xuất trình Giấy khám sức khoẻ để tránh trường hợp người dân không biết quy định của pháp luật và cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký kết hôn không biết được tình trạng sức khoẻ của người đến yêu cầu đăng ký kết hôn mà vẫn đồng ý cho đăng ký.

Thứ năm: Đối với quy định cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, pháp luật cần có dự liệu đối với người sinh ra bằng phương pháp khoa học. Nếu không có sự kiểm soát thì rất dễ dẫn đến tình trạng người cùng dòng máu trực hệ kết hôn với nhau. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Thứ sáu: Hiện nay, số vụ việc mà Tòa án thụ lý giải quyết về hôn nhân gia đình chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số lượng các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án. Vì vậy, cần có văn bản quy định về tố tụng dành riêng cho hôn nhân và gia đình để bảo đảm việc giải quyết án hôn nhân và gia đình được hiệu quả.

Thứ bảy: Cần nâng cao trình độ năng lực, chuyên môn của cán bộ có chức năng thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn để thủ tục này được chặt chẽ, có như vậy mới hạn chế được mức thấp nhất việc vi phạm điều kiện kết hôn.

Trên đây là một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật bảo đảm cho việc thi hành pháp luật được hiệu quả. Ngoài ra còn có ý nghĩa trong việc hạn chế dần những hành vi vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn và vi phạm các điều cấm kết hôn của pháp luật nhằm đạt mục đích xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và vững bền.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

Hủy kết hôn trái pháp luật là một chế tài được áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại các Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thể hiện thái độ phủ định của Nhà nước đối với các hành vi đó, buộc các bên phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng. Hủy việc kết hôn trái pháp luật khiến cho các chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đối với bản thân và con cái họ như các quyền lợi về nhân thân, về tài sản. Bằng biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình mà tỷ lệ các việc dân sự về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong những năm gần đây giảm đáng kể so với các vụ việc về hôn nhân và gia đình mà Tòa án nhân dân đã thụ lý. Tuy nhiên, hiện tượng kết hôn trái pháp luật vẫn xảy ra ngày một phổ biến trong xã hội với những dạng hành vi vi phạm ngày càng phong phú và mới mẻ hơn.

Với những nghiên cứu của luận văn, chúng ta có thể tiếp cận được dưới nhiều góc độ khác nhau về cả lý luận và thực tiễn của vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về hủy việc kết hôn trái pháp luật như nguyên tắc giải quyết, người có quyền yêu cầu, căn cứ giải quyết của Tòa án, đường lối xử lý và hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật. Từ những vấn đề lý luận dẫn chiếu vào quy định pháp luật và thực tiễn thi hành để thấy được những điểm hợp lý cũng như những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó luận văn đã chỉ ra nhu cầu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật và những phương hướng hoàn thiện pháp luật, từ đó nêu ra một số giải pháp, kiến nghị cơ bản góp phần hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ. Luận văn: Giải pháp về hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *