Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng Lam Thạch – Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Định hướng phát triển của Nhà máy xi măng Lam Thạch trong những năm tới:
Để có thể ngày càng lớn mạnh, Nhà máy phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu quan trọng trong thời gian tới:
- Mở rộng đầu tư, quản lý và sử dụng vốn của Công ty, cổ đông có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn.
- Tiếp tục giảm bộ máy quản lý, tăng số cán bộ nghiên cứu thị trường, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.
- Tập trung khai thác tối đa năng lực sản xuất của Nhà máy
- Sản xuất và tiêu thụ xi măng đến năm 2027 từ 1.400.000 – 1.500.000 tấn/năm
- Tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm xi măng đến năm 2027 trên thị trường chính của Nhà máy lên 25%.
- Doanh thu đến năm 2027 đạt: 700 tỷ đồng.
- Lợi nhuận đến năm 2027 đạt: 55 tỷ đồng.
Đây chính là quyết tâm của tập thể ban Giám đốc và cán bộ công nhân viên trong toàn Nhà máy để đưa Nhà máy phát triển đi lên.
3.2. Giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng Lam Thạch – Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
3.2.1. Giải pháp 1: Hoàn thiện chính sách phân phối
3.2.1.1. Cơ sở lý luận:
Mạng lưới phân phối khắc phục được những khác biệt về địa điểm, thời gian và quyền sở hữu giữa người sản xuất và người tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ.
Mạng lưới kênh phân phối giúp cho hàng hóa của Nhà máy có thể tiêu thụ được trên thị trường, được lưu thông trên thị trường, thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hóa.
Một mạng lưới kênh phân phối hợp lý có thể giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa nhanh hơn, hiệu quả hơn, với chi phí thấp hơn.
3.2.1.2. Cơ sở thực tiễn:
Hiện nay Nhà máy đang sử dụng kênh trực tiếp và kênh gián tiếp để tiêu thụ sản phẩm xi măng của Nhà máy. Mạng lưới phân phối của Nhà máy được tổ chức khá rộng, nhưng với mật độ phân bổ không đồng đều giữa các khu vực thành thị và nông thôn. Mạng lưới tiêu thụ của Nhà máy còn nhiều bất cập như: Hệ thống cửa hàng chịu trách nhiệm bán lẻ chưa phân bổ rộng khắp các khu vực mà chỉ tập trung xung quan trụ sở trính của Nhà máy ở TP Uông Bí – Quảng Ninh, các đại lý chủ yếu nằm ở các trung tâm huyện, thị xã; chưa xuống được các vùng nông thôn, vùng lân cận để giới thiệu sản phẩm, nơi tập trung một lượng lớn khách hàng của Nhà máy, Nhà máy sẽ bị giảm một lượng tiêu thụ nếu đối thủ cạnh tranh của Nhà máy có những biện pháp hữu hiệu để xâm chiếm thị trường này.
Cụ thể số lượng đại lý của Nhà máy được nêu tại bảng sau:
Bảng 3.1: Số lượng đại lý hiện tại của Nhà máy
3.2.1.3. Nội dung của giải pháp:
Nhà máy cần tăng cường mở thêm các cửa hàng đại lý tại các khu vực khác, nhất là khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
Tỉnh Quảng Ninh là một tỉnh có địa lý kéo dài, bên cạnh đó một số huyện, thành phố chưa có đại lý của Nhà máy. Khách hàng muốn mua sản phẩm của Nhà máy phải sang các huyện khác mua, điều này gây khó khăn cho khách hàng. Vì vậy Nhà máy cần phải mở thêm đại lý tại các khu vực này. Cụ thể mở thêm 04 đại lý tại các địa điểm như sau:
Bảng 3.2: Số lượng đại lý cần mở thêm
Ngoài ra Nhà máy có một hệ thống phân phối rộng khắp nên Nhà máy khó có điều kiện quản lý chặt chẽ. Vì vậy Nhà máy nên tăng cường hơn nữa quyền tự chủ của các đại lý nhưng vẫn đặt trong khả năng kiểm soát của Nhà máy.
Đối với các đại lý ở xa không có điều kiện quản lý trực tiếp, Nhà máy cần tạo tính tự chủ ở một vài lĩnh vực đối với những đối tượng này như: cho phép mở thêm các cửa hàng nhỏ hơn đến từng vùng, từng khu vực. Ví dụ: Các đại lý của Nhà máy được quyền mở thêm các cửa hàng, cung cấp sản phẩm cho những người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng, người bán buôn có thể lại bán cho những người bán buôn khác, hình thành hệ thống bán hàng kiểu mạng rộng khắp, đến từng ngõ ngách, sao cho sản phẩm luôn ở gần khách hàng, khách hàng mua được sản phẩm của Nhà máy nhanh nhất. Hay tạo tính tự chủ về ký hợp đồng với số lượng lớn, …
Nhà máy cần kết hợp với nó là các hình thức thưởng như: nếu đại lý có mở thêm nhánh tiêu thụ nữa cho Nhà máy thì họ sẽ được thưởng bằng tiền mặt với giá trị bằng 3% doanh thu mà nhánh thêm vào này thu về; hoặc hỗ trợ cho việc vận chuyển với chi phí thấp hơn, ưu tiên giảm 10% hay hỗ trợ xây dựng nhà kho cho cửa hàng này. Đồng thời Nhà máy cần tăng cường kiểm tra tình hình hoạt động của các đơn vị này về: tài chính, uy tín, giá cả, … tránh tình trạng bán phá giá, lợi dụng uy tín của Nhà máy làm ăn phi pháp hoặc không thực hiện cam kết đã ký trong hợp đồng đại lý.
Nhà máy cần chủ động liên hệ và tìm khách hàng, lập danh mục các Công ty, đơn vị có nhu cầu, Nhà máy có thể liên hệ cung ứng trực tiếp. Đây có thể coi là lượng khách hàng tiềm năng của Nhà máy.
3.2.1.4. Chi phí thực hiện cho giải pháp:
Các chi phí cần thiết là:
- Chi phí mở thêm đại lý ở huyện Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, TP Móng Cái (mỗi đại lý có diện tích từ 300-500 m2), ước tính: 4 x 50.000.000 đồng/đại lý = 200.000.000 đồng
- Chi phí liên hệ và tìm khách hàng để Nhà máy có thể cung ứng trực tiếp, chủ yếu nằm trong lương cho các nhận viên thuộc bộ phận tiêu thụ của Nhà máy, cộng thêm trợ cấp cho công tác đi lại tìm kiếm khách hàng, ước tính =
Nếu thực hiện theo giải pháp này, Nhà máy sẽ tăng được lượng sản phẩm tiêu thụ lên là:
- Sản phẩm PCB 30: 58.800 tấn. Tăng 40% với sản lượng tiêu thụ năm 2024 (147.000 tấn).
- Sản phẩm PCB 40: 108.090 tấn. Tăng 30% với sản lượng tiêu thụ năm 2024 (360.300 tấn).
Đi đôi với nó là doanh thu của Nhà máy sẽ tăng lên 18% (103.323.240.000 đồng), thị phần của Nhà máy tăng lên 5% và Nhà máy sẽ đánh bại được các đối thủ trên thị trường chính tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy.
3.2.1.6. Điều kiện thực hiện giải pháp:
- Nhà máy cần phải có lượng nhân viên lớn, chuyên nghiệp đủ sức thiết lập được hệ thống tiêu thụ kiểu mạng và kiểm soát được các nhánh tiêu thụ.
- Nhà máy cần có hệ thống môi giới tới tận các vùng xa xôi để thu hút thêm những cá nhân làm đại diện phân phối cho Nhà máy.
- Nhà máy cần nới rộng các yêu cầu về làm đại lý cho Nhà máy tại các vùng xa, nông thôn.
- Nhà máy cần bố trí nguồn vốn hợp lý để thực hiện giải pháp trên.
3.2.2. Giải pháp 2: Tăng cường các hình thức quảng cáo Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
3.2.2.1. Cơ sở lý luận:
Quảng cáo là công cụ để doanh nghiệp truyền bá thông tin đến với người tiêu dùng, là hoạt động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu truyền bá thông tin về sản phẩm, dịch vụ và doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Quảng cáo hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác tiêu thụ sản phẩm, qua đó thu lợi nhuận.
Quảng cáo còn là công cụ để doanh nghiệp tác động vào thị trường mục tiêu. Quảng cáo cung cấp thông tin về sản phẩm, về doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua, đồng thời đóng góp vào thành công của công tác duy trì và mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Quảng cáo tạo điều kiện thu hút khách hàng và kéo khách hàng đến với doanh nghiệp.
3.2.2.2. Cơ sở thực tiễn:
Bảng 3.3: Chi phí cho xúc tiến bán hàng hiện tại của Nhà máy
Qua số liệu tại bảng trên cho thấy hoạt động quảng cáo của Nhà máy chưa thật sự quan tâm. Nhà máy mới chỉ tập trung quảng cáo thông qua báo chí, biển quảng cáo, ấn phẩm, tờ gấp, … với số tiền 80 triệu đồng mỗi năm từ năm 2023-2024 để giới thiệu sản phẩm, còn các phương tiện truyền thanh, truyền hình thì rất ít thậm chí những năm gần đây còn không có, không tác động được tới khách hàng. Hoạt động quảng cáo chỉ tập trung tại các khu vực lớn, chưa thật sự đến được với người dân tại các vùng xa, nông thôn.
Hoạt động quảng cáo của Nhà máy chưa thực hiện hết chức năng của nó là cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cần thiết như: chất lượng, giá, công năng sử dụng, … do đó nó chưa lôi kéo, thu hút được khách hàng đến với sản phẩm của Nhà máy.
3.2.2.3. Nội dung của giải pháp:
Hoạt động quảng cáo nên để bộ phận tiêu thụ thực hiện, bao gồm cả việc thiết kế nội dung, chương trình quảng cáo, thiết kế tờ rơi, ấn phẩm, … theo mục tiêu của ban lãnh đạo Nhà máy đặt ra.
Hoạt động quảng cáo của Nhà máy nên được tiến hành thông qua các phương tiện như: truyền hình, truyền thanh, báo Quảng Ninh, báo xây dựng, báo kiến trúc, quảng cáo tại nơi bán hàng và qua các catalo …
Đối với truyền hình, do hình thức quảng cáo này rất đắt tiền nên Nhà máy thiết kế chương trình quảng cáo với thời lượng ngắn, khoảng 30 giây. Nội dung quảng cáo nên tập trung vào giới thiệu sản phẩm và nên quảng cáo tại đài truyền hình Quảng Ninh (do thị trường chính của Nhà máy là tỉnh Quảng Ninh và truyền hình Quảng Ninh cũng phủ sóng cả nước nên cũng có thể qua đó giới thiệu sản phẩm qua các tỉnh khác). Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
Quảng cáo trên đài truyền thanh: Đây là hình thức quảng cáo khá phù hợp với Nhà máy về khả năng tài chính cũng như tính phổ biến rộng khắp của nó tới mọi đối tượng, nhất là vùng nông thôn, ngoại thành. Nhà máy nên áp dụng hình thức quảng cáo này.
Quảng cáo trên các báo, tạp chí chuyên ngành xây dựng cũng như kinh tế như các báo, tạp chí Xây dựng, Kiến trúc, Thời báo Kinh tế, Thương mại, Công nghiệp,… Hiện nay có một số báo như Thời báo kinh tế hay báo Mua và Bán tiến hành đăng quảng cáo miễn phí cho khách hàng, Nhà máy cần tranh thủ để quảng cáo về mình. Việc tiến hành quảng cáo thường xuyên hay định kỳ tuỳ thuộc vào mục tiêu cũng như thời điểm sản xuất kinh doanh của Nhà máy.
Quảng cáo bằng panô, áp phích: đây là phương pháp khá hữu ích và rẻ tiền để quảng cáo về doanh nghiệp mình nhưng Nhà máy ít thực hiện. Nhà máy có thể kẻ các biển hiệu đẹp, ấn tượng tại các đại lý của mình, với địa thế thuận lợi của mình là nằm gần theo quốc lộ 18A Nhà máy có thể treo các áp phích, panô dọc theo tuyến đường tại Nhà máy của mình. Hình thức quảng cáo này thường được áp dụng một cách khá phổ biến và thông dụng, nó có ưu điểm là gây được ấn tượng mạnh đối với khách hàng và các thông tin được giữ lâu bền.
Nhà máy cũng có thể in các tờ rơi có mẫu mã, hình ảnh đẹp, hấp dẫn trong đó có đầy đủ các thông tin về Nhà máy và về sản phẩm của Nhà máy. Các tờ rơi này được phát miễn phí cho khách hàng và các đối tác kinh doanh.
Tăng cường hơn nữa việc quảng cáo các sản phẩm xi măng của Nhà máy trên trang website của Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh.
3.2.2.4. Tính toán chi phí thực hiện giải pháp:
Các chi phí để thực hiện giải pháp này của Nhà máy:
Quảng cáo trên truyền hình Quảng Ninh (QTV1): 30 giây một ngày, quảng cáo 30 ngày: 30 ngày x 10 triệu đồng/30 giây = 30.000.000 đồng
Quảng cáo trên đài truyền thanh: 1 phút một ngày, quảng cáo 60 ngày: 60 x 700.000 đồng/phút = 42.000.000 đồng
- Quảng cáo trên báo Quảng Ninh là: 60 số x 500.000/số = 000.000 đồng
- Quảng cáo bằng panô, áp phích, biển quảng cáo, ấn phẩm, tờ gấp, catalo: 60.000.000 đồng
Tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo của Nhà máy là: 162.000.000 đồng
3.2.2.5. Kết quả thực hiện giải pháp: Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
Với việc thực hiện giải pháp trên, hình ảnh của Nhà máy sẽ đến được với người tiêu dùng, người tiêu dùng sẽ biết đến sản phẩm của Nhà máy, tạo điều kiện cho Nhà máy tác động tới khách hàng, đặc biệt khách hàng vùng xa và nông thôn. Đồng thời duy trì được khách hàng truyền thống của Nhà máy ở các thị trường khác, tạo điều kiện tăng thị phần tiêu thụ của Nhà máy lên 5%, tương ứng với nó là doanh thu của Nhà máy tăng lên 18% so với năm 2024 (tức tăng 103.323.240.000 đồng).
3.2.2.6. Điều kiện thực hiện giải pháp:
Nhà máy cần có những nhân viên am hiểu thị trường, có khả năng thiết kế các chương trình quảng cáo hấp dẫn, thu hút khách hàng.
Nhà máy cần có nguồn vốn để thực hiện giải pháp trên. Có thể sử dụng từ 1-2% trên tổng doanh thu để lập quỹ hoạt động chính sách xúc tiến bán hàng.
3.2.3. Giải pháp 3: Một số giải pháp khác
3.2.3.1. Giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm
Thị trường tiêu thụ xi măng của Nhà máy có rất nhiều đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó là nhu cầu của khách hàng về sản phẩm của Nhà máy ngày càng cao. Đây là một vấn đề mà Nhà máy đang phải đối mặt trong những năm qua. Để hoàn thiện được chính sách sản phẩm, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cho chính sách này như sau:
- Đẩy mạnh chương trình cải tiến, đổi mới trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ.
- Đào tạo nâng cao tay nghề công nhân cũng như cán bộ kỹ thuật.
- Nâng cao chất lượng nguyên vật liệu (đá vôi, đá sét, than) bằng việc tuyển chọn kỹ càng nguồn cung cấp.
- Áp dụng các chế độ thưởng phạt đích đáng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của công nhân lao động. Sử dụng các biện pháp khuyến khích bằng tiền đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc hay kỷ luật những cá nhân, tập thể phạm kỷ luật, không hoàn thành trách nhiệm.
- Tiến hành công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm ở mỗi khâu trong công đoạn sản xuất sản phẩm, việc thực hiện các quy trình công nghệ, …
- Nâng cao chất lượng hạ tầng khu vực kho bãi, tránh tình trạng sản phẩm xi măng lưu kho không đảm bảo an toàn.
- Điều hành sản xuất theo hệ thống ISO 9000, ISO 14000 sẵn có của Nhà máy.
- Nghiên cứu, đề xuất lập dự án xây dựng sản phẩm mới trình Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh để đa dạng hóa sản phẩm của Nhà máy.
3.2.3.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách giá bán Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
Giá cả là một công cụ Marketing quan trọng, nó được xác định dựa theo các quy luật cung cầu trên thị trường. Chính sách giá cho sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác, nó thể hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp theo đuổi như mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu thị phần … và ở mỗi doanh nghiệp khác nhau lại có các biện pháp khác nhau để thực hiện các mục tiêu đó.
Nhà máy thực hiện chính sách định giá sản phẩm theo sự thay đổi của cung cầu trên thị trường và Nhà máy cũng luôn cố gắng tìm mọi cách để giảm giá thành sản phẩm như việc giảm định mức tiêu hao nguyên vật liệu, giảm định mức phế phẩm, nâng cao năng suất lao động … Qua hoạt động nghiên cứu thị trường, Nhà máy nhận thấy giá cả sản phẩm của mình thấp hơn so với một số Công ty xi măng Cẩm Phả, Thăng Long, Hạ Long đóng trên địa bàn Quảng Ninh. Tuy nhiên, với chiến lược chiếm lĩnh thị trường nông thôn theo các chương trình nông thôn mới của nhà nước thì Nhà máy cần phải hoàn thiện chính sách giá hơn nữa bằng cách giảm giá thành sản phẩm tới mức có thể. Như vậy mới có thể chiếm lĩnh được thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng này. Để hoàn thiện chính sách giá, Nhà máy cần thực hiện một số biện pháp sau:
- Tổ chức sắp xếp bộ máy quản lý gọn nhẹ, hợp lý, giảm tối thiểu các khoản chi không cần thiết như chiêu đãi, tiếp khách,…
- Tiết kiệm tối đa nguyên, nhiên vật liệu (đá vôi, đá sét, than, dầu…) dùng cho sản xuất.
- Giáo dục ý thức trách nhiệm của cán bộ công nhân viên, làm họ hiểu được vai trò quan trọng của tiết kiệm nguyên vật liệu trong sản xuất.
- Tổ chức đào tạo và đào tạo lại các cán bộ công nhân viên nhằm nâng cao trình độ của người lao động.
- Đề ra các chính sách khen thưởng, kỷ luật thích đáng nhằm tuyên dương khen thưởng các cá nhân tập thể có thành tích tốt trong sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất cũng như kỷ luật những trường hợp vi phạm để nêu gương.
3.2.3.3. Giải phái hoàn thiện trong công tác hậu cần tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động trong công tác hậu cần tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng rất lớn tới việc tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy. Vì nó khẳng định được uy tín, vị thế của Nhà máy trên thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Hiện nay công tác hậu cần trong tiêu thụ của Nhà máy chưa được quan tâm, hoạt động này được tiến hành bởi hệ thống đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc, phương tiện vận chuyển giai đoạn đầu của Nhà máy.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, Nhà máy cần phải tổ chức lại hoạt động hậu cần như sau:
- Đối với hệ thống kho chứa sản phẩm: Nhà máy cần nâng cấp lại nền cho cao lên để tránh ẩm cho sản phẩm xi măng.
- Đối với phương tiện vận chuyển: Nhà máy cần phải tổ chức lại đội cơ giới. + Quản lý chặt chẽ hơn nhiên liệu để giảm cước vận chuyển.
- Sửa chữa, bảo dưỡng lại đội xe, sà lan để phục vụ vận chuyển an toàn, đúng lịch trình.
- Bố trí, sắp xếp lịch trình xe, sà lan vận chuyển hợp lý để giao hàng kịp thời gian yêu cầu của khách hàng.
3.2.3.4. Giải pháp hoàn thiện trong công tác điều tra, nghiên cứu thị trường
Hoạt động trong nền kinh tế mở như hiện nay các doanh phải chấp nhận cạnh tranh vì cạnh tranh đã trở thành một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Do vậy, việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường đã trở thành một công việc hết sức cấp bách và cần thiết đối với tất cả các doanh nghiệp.
Hiện nay công tác nghiên cứu điều tra thị trường của Nhà máy chưa được tiến hành bởi đội ngũ chuyên gia Marketing mà hoạt động này được tiến hành bởi phòng Kinh tế kế hoạch kết hợp với bộ phận tiêu thụ. Do hoạt động nghiên cứu thị trường chỉ là một trong nhiều chức năng nhiệm vụ của các bộ phận này nên hoạt động còn có nhiều hạn chế và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được những yêu cầu của Nhà máy đề ra. Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, Nhà máy cần phải tổ chức một đội ngũ nhân viên chuyên trách các hoạt động Marketing bằng việc thành lập riêng một phòng Marketing. Để thành lập được phòng Marketing, Nhà máy cần đào tạo một số chuyên gia Marketing, những người có trình độ, kinh nghiệm, hiểu biết về Marketing hiện đại và hiểu biết về thị trường hàng vật liệu xây dựng. Nhà máy cũng có thể cử các nhân viên của bộ phận tiêu thụ đi học các khoá học về Marketing. Các nhân viên này đã có kinh nghiệm thực tế làm việc nên kết hợp với việc đào tạo chính quy sẽ làm việc rất có hiệu quả sau này.
Nhà máy cần đầu tư cơ sở vật chất ban đầu để lắp đặt các trang thiết bị cho công tác nghiên cứu thị trường như: máy vi tính, máy photocopy, điện thoại, fax,…
Có thể tổ chức phòng Marketing gồm 05 người, trong đó có một trưởng phòng, một phó phòng, còn lại là các nhân viên chuyên trách.
Trưởng phòng: Vị trí này cần giao cho người có nhiều kinh nghiệm, có nhiều hiểu biết về thị trường vật liệu xây dựng, có khả năng nghiên cứu, tổ chức thực hiện cũng như việc kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện. Trưởng phòng là người phụ trách chung các vấn đề của phòng và là người quyết định các kết quả nghiên cứu thị trường trước khi trình ban giám đốc Nhà máy.
Phó phòng: Giúp trưởng phòng thực hiện các công tác chuyên môn của phòng như điều tra nghiên cứu quy mô thị trường, khách hàng, thực hiện công việc xúc tiến bán hàng như quảng cáo, tuyên truyền.
Bộ phận thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường gồm 3 nhân viên chuyên trách việc tìm hiểu các thông tin về thị trường mà Nhà máy cần, sau đó sẽ tổng hợp các dữ liệu thu thập được thành các báo cáo, từ đó đề ra các biện pháp cũng như chính sách để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Sau đó sẽ nộp lên cho trưởng phòng duyệt kế hoạch.
Khi phòng Marketing được thành lập chắc chắn các hoạt động nghiên cứu thị trường của Nhà máy sẽ đem lại nhiều kết quả hơn so với trước đây vì đây là bộ phận có tính chuyên môn hoá cao, chỉ tập trung thực hiện những công việc thuộc về Marketing, do vậy Nhà máy sẽ trả lời tốt các câu hỏi mà mình đặt ra như quy mô của thị trường, những khu vực thị trường có cơ hội tiêu thụ hấp dẫn, các dòi hỏi của khách hàng, …
3.2.4. Một số vấn đề khác Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
Ngoài một số giải pháp đã nêu ở trên để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm xi măng của Nhà máy, Nhà máy cũng cần tiến hành một số biện pháp sau:
- Đề xuất với Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh có nhiều biện pháp hơn nữa giúp Nhà máy tăng cường hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
- Đảm bảo vận hành đúng hệ thống quản lý môi trường theo TCVN ISO 14001 để xây dựng hình ảnh của Nhà máy với khách hàng.
- Tham gia một số các công trình công ích tại địa phương nhằm nâng cao vai trò, vị thế của Nhà máy.
- Nắm bắt kịp thời các chính sách của Tỉnh, của Nhà nước để quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
KẾT LUẬN
Qua quá trình phân tích thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy măng Lam Thạch – Công ty cổ phần xi măng và xây dựng Quảng Ninh trong những năm qua, tìm ra những vấn đề còn tồn tại, kết hợp với những kiến thức đã được đào tạo, em đã cố gắng trình bày những vấn đề cơ bản về công tác tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy và đưa ra giải pháp khắc phục cơ bản những tồn tại đó.
Em hy vọng rằng luận văn tốt nghiệp này sẽ góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh cũng như giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy xi măng Lam Thạch trong thời gian tới.
Mặc dù còn có nhiều hạn chế do thời gian cũng như do khả năng luận văn không thể tránh được những hạn chế và thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, bạn bè đồng nghiệp để luận văn được bổ sung đầy đủ về mặt lý luận cũng như có ý nghĩa thực tiễn hơn. Luận văn: Giải pháp tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng.
Qua đây cho em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ công nhân viên Nhà máy xi măng Lam Thạch cùng với thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Điện, đã giúp đỡ em rất nhiệt tình trong quá trình thực hiện đề tài này.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho Nhà máy xi măng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

