Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Định hướng và kiến nghị Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại phù hợp với định hướng phát triển thị trường mua bán nợ
Trong những năm gần đây, các chủ thể tham gia thị trường tài chính quốc tế đang sử dụng rộng rãi nghiệp vụ mua bán nợ. Nghiệp vụ này có công dụng chính là làm tăng tính thanh khoản và tính hiệu quả trong việc đầu tư vốn trên thị trường của các nhà đầu tư. Ngoài ra, nghiệp vụ mua bán nợ còn được xem là công cụ để Nhà nước tiến hành điều tiết, kiểm soát các hoạt động tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế nhằm hướng tới một nền kinh tế cường thịnh và phát triển ổn định. Lý do chính cho sự tồn tại của nghiệp vụ mua bán nợ trong điều kiện hiện nay chính là nhu cầu đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, xử lý những thua lỗ, yếu kém một cách tích cực bằng cách dịch chuyển nhanh chóng vốn đầu tư vào lĩnh vực vừa an toàn, vừa mang lại lợi nhuận cao. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của các hoạt động kinh tế, việc mua bán nợ nói chung và nghiệp vụ mua bán nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại nói riêng cũng ngày càng gia tăng ở nhiều nước trên thế giới, với sự tham gia của các định chế trung gian tài chính mà điển hình là các ngân hàng. Nghiệp vụ này không chỉ có sự tham gia tích cực của các định chế tài chính trung gian mà trên thực tế, các cơ quan nhà nước cũng tỏ ra rất quan tâm đến hoạt động này, đặc biệt là các cơ quan có chức năng quản lý tài chính và tiền tệ như Ngân hàng nhà nước, Bộ Tài chính.
Những năm trở lại đây, nền kinh tế rơi vào cuộc khủng hoảng, kéo theo đó là tình trạng nợ xấu tăng cao trong hệ thống các Ngân hàng thương mại. Giải pháp quan trọng nhất là phải kiểm soát để không dẫn đến làm tăng nợ xấu, còn việc mua bán nợ chỉ là giải pháp để xử lý hậu quả của thị trường tín dụng phát triển thiếu lành mạnh trong thời gian qua. Tuy nhiên, nợ xấu là một hệ quả tất yếu khó tránh khỏi trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay mà Nhà nước và nền kinh tế phải giải quyết. Cho nên việc hình thành thị trường mua bán nợ là yếu tố quan trọng để thúc đẩy việc xử lý nợ xấu một cách nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả theo đúng cơ chế thị trường. Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Điều kiện căn bản để thị trường mua bán nợ có thể đi vào hoạt động đó là minh bạch hóa các thông tin về nợ xấu, vì chỉ khi các thông tin về nợ xấu đảm bảo tính minh bạch, công khai, khả năng tìm kiếm lợi nhuận và ngăn ngừa rủi ro mới được các chủ thể đạt được khi tiếp cận các khoản nợ xấu phát sinh từ hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, để thị trường mua bán nợ hình thành và phát triển, yêu cầu về sự đa dạng hóa các chủ thể có khả năng tham gia vào quan hệ mua bán nợ trở nên vô cùng cần thiết. Khi nợ xấu được chuyển giao từ Ngân hàng thương mại bán nợ sang cho các bên mua nợ và trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ xấu, sự đa dạng của các chủ thể trên thị trường sẽ đảm bảo khả năng thanh khoản của khoản nợ xấu, với tính chất là một loại hàng hóa có khả năng mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư. Với sự ra đời và hoạt động của VAMC, các AMC trực thuộc các Ngân hàng thương mại, Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, có thể nhận thấy các chủ thể trên thị trường tương đối đa dạng, tuy nhiên khả năng mua bán nợ thực tế của những chủ thể này mới có ý nghĩa trong việc thúc đẩy hoạt động của thị trường mua bán nợ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại đảm bảo sự đa dạng hóa nguồn vốn và chủ thể tham gia vào mua bán nợ
Trước tiên cần phải thấy rằng, nợ xấu của hệ thống ngân hàng gây tác động tiêu cực đối với các Ngân hàng thương mại nói riêng và đời sống xã hội nói chung, vì vậy, giải quyết nợ xấu thông qua hoạt động mua bán nợ không chỉ là nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại hay Ngân hàng nhà nước. Cần thiết phải coi đây là nhiệm vụ của toàn xã hội, từ đó có kế hoạch và phương án huy động các chủ thể và các nguồn vốn khác nhau tham gia mua bán nợ của các Ngân hàng thương mại. Việc này một mặt giảm áp lực lên Ngân sách nhà nước, mặt khác thúc đẩy hoạt động huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội.
Đối với Việt Nam, việc sử dụng Ngân sách nhà nước chỉ được xem là giải pháp tạm thời và nhằm giải quyết những yêu cầu cấp bách của việc xử lý nợ xấu hệ thống các Ngân hàng thương mại. Việc sử dụng Ngân sách nhà nước để mua nợ xấu sẽ gây áp lực rất lớn lên hoạt động của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước, đồng thời tác động tiêu cực tới tâm lý xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp và người dân. Vì vậy, về lâu dài, yêu cầu chung đặt ra là xã hội hóa nguồn vốn được sử dụng để mua bán nợ của các Ngân hàng thương mại.
Việc xã hội hóa nguồn được sử dụng để mua bán nợ của các Ngân hàng thương mại cần hướng tới hai yêu cầu: (1) xã hội hóa nguồn vốn hoạt động của VAMC và (2) xã hội hóa nguồn vốn thông qua việc thúc đẩy các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia mua bán nợ của các Ngân hàng thương mại. Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại đảm bảo sự độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước
Bên cạnh việc thúc đẩy nguồn vốn hoạt động của VAMC để mua nợ xấu của các Ngân hàng thương mại theo giá trị thị trường và thanh toán bằng tiền mặt cho các Ngân hàng thương mại, việc sử dụng trái phiếu và trái phiếu đặc biệt để thanh toán cho các khoản nợ xấu mua của các Ngân hàng thương mại vẫn giữ vai trò quan trọng. Để thúc đẩy các Ngân hàng thương mại tích cực, chủ động bán nợ xấu cho VAMC, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước đang nghiên cứu nhiều giải pháp nhằm gia tăng tính thanh khoản cho trái phiếu và trái phiếu đặc biệt. Tuy nhiên, hiện nay, sử dụng trái phiếu, trái phiếu đặc biệt để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng nhà nước vẫn được xem là lựa chọn có tính khả thi nhất đối với các Ngân hàng thương mại. Việc sử dụng trái phiếu, trái phiếu đặc biệt để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng nhà nước sẽ giúp tăng nguồn vốn khả dụng cho các Ngân hàng thương mại, từ đó thúc đẩy hoạt động cấp tín dụng đối với khách hàng. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đấy, hoạt động này có thể phá vỡ việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng nhà nước.
Về mặt lý thuyết, hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng nhà nước liên quan trực tiếp tới quan điểm điều hành chính sách tiền tệ quốc gia trong mỗi thời kỳ. Đặc biệt, khi chính sách tiền tệ thắt chặt được áp dụng nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm phát tăng cao, chính sách tái cấp vốn của Ngân hàng nhà nước cũng được điều chỉnh tương ứng. Chính vì vậy, khi lượng lớn trái phiếu, trái phiếu đặc biệt được phát hành cho các Ngân hàng thương mại có nguy cơ gây phá vỡ việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước.
3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế và cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu và là đòi hỏi khách quan của quá trình hợp tác quốc tế. Xu thế này đang dần bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Cũng như các hiện tượng khác, xu thế toàn cầu hoá cũng có tính hai mặt. Một mặt, nó có tác dụng thúc đẩy quá trình hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực của các nền kinh tế. Mặt khác, nó cũng làm gia tăng cạnh tranh và đặt ra những thách thức đối với năng lực và trình độ của mỗi quốc gia. Chính điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những chủ trương, chính sách phù hợp để tham gia vào quá trình này.
Như đã phân tích ở trên đây, so với hoạt động mua bán nợ trên thế giới, ở Việt Nam, mua bán nợ nói chung và mua bán nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại nói riêng chỉ thực sự nhận được sự quan tâm của Nhà nước và xã hội trong khoảng chục năm trở lại đây. Nhìn chung, trong quá trình xây dựng các quy phạm pháp luật về hoạt động này tại Việt Nam, các nhà làm luật của chúng ta đã tiếp thu được nhiều kinh nghiệm của các nước phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội để từ đó có những quan điểm riêng cho hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam nhưng vẫn bảo đảm tính phù hợp với thông lệ quốc tế. Mà cụ thể là về kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Quốc hội thống nhất kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14 từ ngày 15/8/2022 đến hết ngày 31/12/2023.
Đồng thời, giao Chính phủ nghiên cứu, đề xuất luật hóa các quy định về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu cùng với việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng; trình Quốc hội xem xét chậm nhất tại Kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2023). Trong thời gian kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14, đề nghị Chính phủ có giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc, chỉ đạo tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị gắn với trách nhiệm trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của Nghị quyết. Tuy nhiên để hoàn thiện pháp luật về quản lý nợ xấu có hiệu quả trong thực tiễn, cũng như bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật về mua bán nợ với chuẩn mực quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quan hệ mua bán nợ. Tác giả kiến nghị sớm nâng nghị quyết 42 của Quốc hội thành Luật quản lý nợ xấu bằng việc Quốc hội giao cho Chính phủ theo thẩm quyền, chủ trì xây dựng Luật này sớm trình Quốc hội thông qua để làm quy tắc xử sự chung điều chỉnh tốt hơn việc quản lý nợ xấu gia tăng tính đồng bộ trong thực hiện pháp luật. Mặt khác, giúp các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện tốt hơn việc tham gia đầu tư vào thị trường Việt Nam. Tức là khi đó họ không còn cảm thấy e ngại trước các bản báo cáo về tình trạng nợ xấu được ngân hàng trung ương hay chính các Ngân hàng thương mại tự công bố, đồng thời sẽ cảm thấy tin tưởng hơn các hồ sơ, giấy tờ về các khoản nợ xấu được đưa ra mua bán. Những điều này quyết định trực tiếp tới thành công của quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại với các nhà đầu tư nước ngoài.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về đối tượng mua bán nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại
- Thứ nhất, thống nhất khái niệm nợ trong các quy định pháp luật
Hiện nay, khái niệm nợ được quy định tại nhiều văn bản pháp luật và có những phương pháp định nghĩa khác nhau, chưa thống nhất và chưa xác định rõ bản chất của nợ. Do đó, việc hoàn thiện để có một khái niệm thống nhất & làm rõ bản chất của nợ trong các quy định pháp luật, sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển thị trường mua bán nợ dựa trên những quy định mang tính thống nhất cao, điều này vừa mang đến sự công bằng giữa các chủ thể tham gia thị trường, vừa tạo điều kiện áp dụng pháp luật một cách thuận tiện trên thực tế. Nợ của Ngân hàng thương mại được hiểu là một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi và các chi phí khác mà khách hàng vay phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại tại một hoặc nhiều thời điểm nhất định do Ngân hàng thương mại và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng.
- Thứ hai, giải thích rõ khái niệm nợ xấu
Khoản 8 Điều 3 Thông tư 02/2014/TT-NHNN giải thích: “Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Việc xác định nợ xấu theo phương pháp định tính và phương pháp định lượng, theo đó nợ xấu là các khoản nợ đã quá hạn thanh toán nợ gốc và lãi từ 91 ngày trở lên hoặc Ngân hàng thương mại đánh giá không có khả năng thu hồi vốn phù hợp với chuẩn hóa quốc tế và nợ xấu được ban hành bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Tuy nhiên việc viết tắt nợ xấu là NPL viết tắt của từ “Non-performing loan” có nghĩa là “khoản cho vay không hiệu quả”, điều này có thể tạo ra sự nhầm lẫn giữa khái niệm nợ xấu và các khoản cho vay không hiệu quả vì nợ xấu tiếng Anh là “Bad debt”. Vì vậy, để việc phân loại nợ xấu chính xác, phản ảnh đúng hiệu quả hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng trước tiên cần hiểu đúng và giải thích rõ về nợ xấu. Theo đó, cần sửa đổi việc giải thích nợ xấu được quy định tại Thông tư 11/2021/TT-NHNN, sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 09/2014/TT-NHNN.
- Thứ ba, làm rõ định nghĩa của giao dịch mua bán nợ
Theo định nghĩa tại Khoản 1, Điều 3, Thông tư số 09/2015/TT-NHNN, mua bán, nợ là sự chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ, theo đó bên bán chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ. Tuy rằng, trong quy định về quyền và nghĩa vụ của bên mua nợ, pháp luật đã yêu cầu bên mua nợ có nghĩa vụ kế thừa đầy đủ các nghĩa vụ của bên bán nợ đối với khoản nợ theo thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật như quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 16, Thông tư 09/2015/TT-NHNN, nhưng định nghĩa trên chưa thể hiện được đầy đủ bản chất của giao dịch mua, bán nợ. Do đó định nghĩa này cần làm rõ, mua, bán nợ là sự chuyển giao “toàn bộ quyền và nghĩa vụ đối với khoản nợ”, bởi trong giao dịch này, bên bán không chỉ chuyển giao quyền, mà còn chuyển giao nghĩa vụ của mình cho bên mua, quyền mà bên bán chuyển giao không chỉ có quyền đòi nợ.
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về chủ thể mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Thứ nhất, Sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP) về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam nhằm tăng khả năng huy động vốn của VAMC.
Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP), VAMC hoạt động với hình thức pháp lý là công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước là chủ sở hữu, vì vậy, để tăng vốn cho VAMC, con đường chủ yếu vẫn là tăng nguồn cấp vốn từ Ngân sách nhà nước. Theo Đề án tái cơ cấu các Ngân hàng thương mại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, theo đó đến năm 2020, vốn điều lệ của VAMC sẽ tăng lên 10.000 tỷ đồng. Trước tiên có thể thấy lộ trình tăng vốn cho VAMC phản ánh đúng nhu cầu thực tế nhằm nâng cao hiệu quả mua nợ xấu của VAMC trong thời kỳ hiện nay. Tuy nhiên, tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng bằng phương án nào không hề đơn giản. Nhìn vào thực trạng Ngân sách nhà nước ở nước ta hiện nay, đây rõ ràng là giải pháp đặt ra nhiều khó khăn cho việc thực hiện trên thực tế. Ngay cả đối với những nước có nền kinh tế phát triển và Ngân sách nhà nước dồi dào hơn chúng ta, thực tiễn cho thấy vốn từ Ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong nguồn vốn hoạt động của mô hình công ty mua bán nợ tập trung[4]. Những phân tích này cho thấy, tăng vốn cho VAMC không phải là bài toán dễ có lời giải, mặc dù đây là yêu cầu cấp bách hiện nay.
Theo khoản 5 Điều 1 Quyết định số 618/QĐ-NHNN ngày 12/4/2016 của Ngân hàng nhà nước, bên cạnh vốn điều lệ được cấp, VAMC có thể sử dụng các nguồn sau đây: Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Được xem xét, hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế theo nguyên tắc chia sẻ lợi ích và rủi ro (chi phí và lợi nhuận từ mua, xử lý nợ sẽ được chia theo tỷ lệ của các bên) để thu hút nguồn vốn và kinh nghiệm định giá, xử lý các khoản nợ xấu mua theo giá trị thị trường;
Được tiếp nhận các nguồn vốn ủy thác của các nhà đầu tư để mua nợ theo giá trị thị trường;
Được sử dụng nguồn vốn từ các quỹ được trích lập theo quy định của pháp luật hoặc các công cụ tài chính theo quy định của pháp luật để huy động nguồn vốn cho việc mua bán nợ theo giá trị thị trường.
Tuy nhiên, để tiếp cận được các nguồn vốn hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế không hề đơn giản vì việc đánh giá nợ xấu ở Việt Nam chưa thực chất, trong khi quy chế pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ. Bên cạnh đó, với mục đích phi lợi nhuận sẽ rất khó để VAMC lôi kéo được nguồn vốn ủy thác của các nhà đầu tư. Trong khi các kênh huy động vốn này không mấy khả thi thì việc sử dụng nguồn vốn từ các quỹ được trích lập theo quy định của pháp luật hoặc các công cụ tài chính theo quy định của pháp luật để huy động nguồn vốn cũng không thể mang tới cho VAMC nguồn vốn thực đủ lớn để mua nợ xấu của các Ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, vốn điều lệ được cấp từ Ngân sách nhà nước vẫn là nguồn vốn chính để VAMC mua nợ từ các Ngân hàng thương mại.
Trong trường hợp này, thu hút nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua việc cổ phần hóa VAMC có thể là một giải pháp mang tính cách mạng. Những giá trị tích cực mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy thông qua con đường này chính là huy động được nguồn vốn lớn của các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các nhà đầu tư, qua đó nâng cao năng lực mua nợ xấu theo giá trị thị trường của VAMC trong khi giảm tải được những áp lực lên Ngân sách nhà nước. Ngoài ra, khi các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các nhà đầu tư tham gia đầu tư vốn vào VAMC, chúng ta còn có cơ hội để tận dụng kinh nghiệm mua bán nợ cũng như năng lực chuyên môn của các chủ thể này. Tuy nhiên, để đảm bảo vai trò điều tiết của Nhà nước, việc cổ phần hóa VAMC nên thực hiện theo các giai đoạn với mức chào bán cổ phần khác nhau nhưng vẫn giữ tỷ lệ cổ phần chi phối của Nhà nước trong VAMC.
Thứ hai, Bãi bỏ quy định về vốn pháp định và tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.
Nghị định số 69/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, tuy nhiên, theo số liệu của Ngân hàng nhà nước và Tổng cục thống kê, đến hết năm 2017, chưa có Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ nào được thành lập. Thực tế này làm ảnh hưởng tiêu cực tới mục tiêu đa dạng hóa các chủ thể mua bán nợ trên thị trường tiến tới hình thành thị trường mua bán nợ ở Việt Nam trong thời gian tới. Nguyên nhân của hiện trạng này xuất phát trực tiếp từ những quy định có phần khắt khe của Nghị định 69/2016/NĐ-CP về mức vốn điều lệ, vốn đầu tư tối thiểu là 100 tỷ đồng và các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.
Từ đây, để tạo điều kiện cho việc thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ cần bãi bỏ quy định về mức vốn điều lệ, vốn đầu tư tối thiểu là 100 tỷ đồng tại khoản 2 Điều 5 và khoản 2 Điều 7 Nghị định 69/2016/NĐ-CP. Đồng thời đưa ngành nghề kinh doanh dịch vụ mua bán nợ ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư năm 2020. Vì như đã phân tích, những quy định này không phù hợp và đi ngược lại với nguyên tắc xác định ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại LĐT năm 2020, điều kiện đầu tư kinh doanh phải được quy định phù hợp với mục tiêu “vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Bên cạnh đó, cần xem xét bỏ quy định tại Điểm b, c khoản 3 Điều 5 Nghị định 69/2016/NĐ-CP về tiêu chuẩn, điều kiện của người quản lý doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ. Những điều kiện về “có trình độ học vấn từ đại học trở lên thuộc một trong các ngành: Kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc lĩnh vực chuyên môn mà mình sẽ đảm nhận và là người quản lý hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, pháp luật, định giá tài sản hoặc mua bán nợ” không cần thiết, có thể gây khó cho quá trình thành lập mô hình doanh nghiệp này. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ không phải là Ngân hàng thương mại, hoạt động không ảnh hưởng lợi ích của cộng đồng nên không cần đặt ra những điều kiện đối với người quản lý như đối với Ngân hàng thương mại.
3.2.3. Hoàn thiện các quy định về phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Thực tiễn hoạt động xử lý nợ xấu của các công ty quản lý tài sản tập trung ở các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc, cũng như thực tiễn của hoạt động này ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy, việc mua bán nợ theo giá trị sổ sách của nợ xấu chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn đầu của quá trình xử lý nợ xấu. Ở đó, với mục tiêu trọng tâm được hướng tới là nhanh chóng đưa tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng về mức an toàn tối thiểu, giá mua bán nợ được xác định theo giá trị sổ sách của nợ xấu giúp các công ty mua bán nợ tập trung ở các nước và VAMC ở Việt Nam nhanh chóng thâu tóm nợ xấu của hệ thống ngân hàng về một mối.
Tuy nhiên, sau khi giai đoạn đầu kết thúc, để quan hệ mua bán nợ đi vào thực chất, phản ánh đúng bản chất của thị trường, giá mua bán nợ phải được xác định theo giá trị thị trường của nợ xấu. Vì vậy, giải pháp trọng tâm cần được Chính phủ và Ngân hàng nhà nước triển khai nhanh chóng trong giai đoạn hiện nay là bỏ phương pháp xác định giá mua bán nợ theo giá trị sổ sách tại Nghị định 53/2013/NĐ-CP, từ đó buộc VAMC phải mua nợ xấu theo giá trị thị trường.
Để triển khai giải pháp này hiệu quả, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cần tập trung vào việc xây dựng phương pháp xác định giá trị thị trường hay giá trị phù hợp của nợ xấu, trong đó có tính tới giá trị thực tế, cũng như những rủi ro của khoản nợ xấu tại thời điểm mua bán. Tất nhiên, sẽ không thể xây dựng một công thức chung cho tất cả các quan hệ mua bán nợ giữa Ngân hàng thương mại và bên mua nợ vì mỗi khoản nợ có tính chất rủi ro khác nhau. Vì vậy, việc triển khai xây dựng phương pháp xác định giá mua bán nợ có ý nghĩa chủ yếu trong việc định hướng các bên mua bán nợ xác định giá mua bán nợ phù hợp.
Qua quá trình nghiên cứu hoạt động mua bán nợ của các nước trong khu vực đã áp dụng trong thời kỳ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng cao, có một số hình mẫu mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xem xét và áp dụng vào Việt Nam như ở Hàn Quốc, Thái Lan. Ở Hàn Quốc, KAMCO mua các khoản nợ xấu của các ngân hàng dựa trên các tiêu chí nhất định, bằng nhiều phương pháp khác nhau. Vào thời gian đầu, việc định giá nợ xấu của KAMCO được thực hiện dựa trên khả năng mất vốn của các khoản nợ, theo các quy định về an toàn vốn. Vào giai đoạn sau, KAMCO tiến hành định giá nợ xấu dựa trên đặc điểm của từng khoản nợ. Tính trung bình, KAMCO trả 36% giá trị sổ sách các khoản nợ xấu công ty này mua (tức được chiết khấu 64%). Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Các khoản nợ xấu có thế chấp có giá trung bình bằng 67% giá trị sổ sách, còn các khoản nợ xấu không có thế chấp có giá trị trung bình khoảng 11% giá trị sổ sách. Xét tổng thể thì KAMCO đã định giá cao hơn mức giá trung bình trong giai đoạn đầu. Sau đó, việc định giá sát với thị trường hơn, kích thích các công ty mua bán nợ tư nhân tham gia mạnh hơn vào quá trình này. Những hành động quyết đoán của KAMCO trong giai đoạn đầu đã giúp các công ty mua bán nợ tư nhân của Hàn Quốc mạnh dạn hơn tham gia vào thị trường. Nếu như năm 1997, toàn bộ giá trị các thương vụ mua bán nợ tại Hàn Quốc đều do KAMCO tiến hành thì con số này giảm xuống còn 58,15% vào năm 1998 và 2,81% vào năm 2000. Chính nhờ sự tham gia của các công ty mua bán nợ tư nhân mà nợ xấu của Hàn Quốc đã giảm mạnh từ 17% tổng dư nợ vào tháng 3 năm 1998 xuống còn 2,3% vào cuối năm 2002.
Đối với Thái Lan, quan điểm xử lý nợ xấu của nước này rất khác biệt. Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã gây nhiều tác động nặng nề lên hệ thống tài chính ở Thái Lan, đặc biệt là khu vực ngân hàng. Nợ xấu của khu vực ngân hàng liên tục gia tăng, cuối năm 1997 đạt mức cao kỷ lục 46% trên tổng dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, Chính phủ Thái Lan quyết tâm không sử dụng hoàn toàn ngân sách để giải quyết tình trạng này, đồng thời không coi đây là nhiệm vụ của riêng Nhà nước, ở đó các ngân hàng có thể đứng ngoài cuộc quan sát. Chính vì vậy, phải mãi tới năm 2001, TAMC mới được thành lập sau khi cơ chế mua bán nợ phân tán thông qua vai trò các AMC tư nhân không hiệu quả. TAMC ra đời và tập trung mua các khoản nợ xấu của các ngân hàng thông qua việc đánh giá giá trị thực tế của khoản nợ xấu và giá trị tài sản bảo đảm với giá bán mua trung bình là 33,2% giá trị sổ sách của khoản nợ xấu. Cùng với những giải pháp xử lý nợ xấu sau khi mua hiệu quả, TAMC góp phần quan trọng đưa tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Thái Lan giảm rõ rệt xuống 12,9% năm 2003, 10% năm 2004 và tiếp tục giảm dần ở mức ổn định qua các quý từ năm 2005 đến nay.
Những bài học kinh nghiệm từ việc xây dựng phương pháp xác định giá mua bán nợ của những nước như Hàn Quốc hay Thái Lan cho thấy, phương pháp xác định giá mua bán nợ theo giá trị thị trường cần được coi là phương pháp trọng tâm hiện nay. Phương pháp xác định giá nợ xấu theo giá trị sổ sách đã phát huy được vai trò trong thời kỳ đầu khi VAMC mua nợ xấu của các Ngân hàng thương mại nhằm nhanh chóng đưa tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống Ngân hàng thương mại xuống mức an toàn. Tuy nhiên, khi nợ xấu đã được khống chế ở mức an toàn, cần thiết trả quan hệ mua bán nợ giữa VAMC và các Ngân hàng thương mại về quan hệ mua bán của kinh tế thị trường, ở đó, giá mua bán được xác định theo giá trị thị trường của khoản nợ xấu, tức là có tính tới giá trị thực tế của khoản nợ xấu dựa trên thẩm định giá trị tài sản bảo đảm và khả năng thu hồi tài sản của khoản nợ xấu.
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
3.3.1. Nâng cao năng lực hoạt động của các chủ thể mua nợ
Thứ nhất, về các AMC của ngân hàng thương mại: Hiện nay, các chủ thể này chủ yếu đóng vai trò xử lý nợ xấu của ngân hàng mẹ, chưa có sự khác biệt với bộ phận xử lý nợ nội bộ của ngân hàng thương mại, chỉ như vậy thôi thì thị trường mua, bán nợ khó phát triển. Do đó, việc mở rộng phạm vi hoạt động của các chủ thể này là điều cần thiết. Đặc biệt, nhằm tránh việc các AMC trở thành nơi tồn đọng nợ xấu của ngân hàng mẹ, vai trò của AMC cần phải được quy định cụ thể, đồng thời cần xác định rõ thời hạn AMC xử lý các khoản nợ. Bên cạnh đó, để các AMC có thể đóng góp tích cực trong hoạt động xử lý nợ xấu, cần tháo gỡ những nút thắt về chính sách và cơ chế. Cụ thể, hoàn thiện các văn bản pháp lý về hoạt động của các công ty AMC, nâng cao nguồn lực của AMC bằng cách các AMC cùng phối hợp với nhau hoặc hợp danh để xử lý các món nợ có giá trị mà tổ chức riêng lẻ không có đủ khả năng tài chính và các nguồn lực khác để thực hiện.
Thứ hai, về DATC: Với tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, gánh nặng nợ xấu cần DATC giải quyết là rất lớn, nhưng quy mô và tiềm lực tài chính của DATC chưa cho phép công ty này thực hiện các hoạt động mua bán nợ gắn với tái cơ cấu dài hạn. Do đó, vấn đề cần cải thiện đối với DATC là nâng cao quy mô, tiềm lực tài chính nhằm phát huy tốt hơn vài trò của mình trong sứ mệnh xử lý nợ xấu.
Thứ ba, về VAMC: Điểm cần khắc phục lớn nhất của VAMC đó là nâng cao năng lực xử lý khoản nợ được mua, hạn chế tình trạng trả nợ về ngân hàng thương mại sau 05 năm không xử lý được. Để nâng cao năng lực xử lý nợ của mình, VAMC cần rà soát và đánh giá các khoản nợ đã mua nhầm đề ra biện pháp xử lý, thu hồi phù hợp, đồng thời phát triển các giải pháp mua, bán nợ theo cơ chế thị trường, tích cực phối hợp với các chủ thể khác trong việc thu hồi nợ, cơ cấu lại nợ, mua, bán nợ và xử lý tài sản bảo đảm… Ngoài ra, việc mở rộng quy mô về số lượng chi nhánh, vốn, chuyên viên cũng cần được chú trọng.
Nhìn chung, để nâng cao năng lực của các tổ chức kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ đang hoạt động, các chủ thể này cần nhanh chóng giải quyết các khoản nợ mà mình đã mua thông qua việc kiểm tra, đánh giá, hỗ trợ các khách nợ trong việc nâng cao năng lực tài chính, xử lý các tài sản bảo đảm nhằm thu hồi nợ. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần có những quy định về trình độ chuyên môn của các cán bộ, chuyên viên tham gia xử lý nợ trong các tổ chức này. Đồng thời, các công ty này cũng cần được nâng cao tiềm lực tài chính bằng các phương pháp huy động vốn từ cộng đồng hoặc chủ sở hữu cấp thêm vốn.
Có thể thấy, việc tăng cường các biện pháp xử lý nợ xấu đi kèm với nâng cao năng lực của các công ty mua, bán nợ đang hoạt động, đặc biệt là VAMC, DATC và các AMC là vô cùng cần thiết bên cạnh việc ngân hàng thương mại cần kiểm soát rủi ro tín dụng tốt hơn, cải thiện chất lượng các khoản nợ. Điều này giúp lành mạnh, trong sạch thị trường tài chính và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, nhanh chóng giải quyết tình hình nợ xấu đáng báo động tại Việt Nam.
3.3.2. Khắc phục tình trạng cung nhiều hơn cầu trong mua, bán nợ của ngân hàng thương mại Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Thực tế hiện nay, thị trường mua, bán nợ tại Việt Nam chưa phát triển và thiếu sự cạnh tranh giữa nhiều chủ thể mua nợ. Mặc dù, nguồn cung nợ lớn nhưng số lượng nhà đầu tư mua nợ lại không nhiều, chủ yếu là sự hoạt động của VAMC, DATC và một số AMC của các ngân hàng thương mại, chưa có sự tham gia mạnh mẽ từ các nguồn nhà đầu tư khác.
Tình trạng nguồn cầu quá hạn hẹp so với nguồn cung dẫn đến việc các khoản nợ xấu còn tồn đọng nhiều, thiếu sự cạnh tranh trong thị trường do bên bán nợ không có nhiều sự lựa chọn dẫn đến việc bên bán ít đi lợi thế trong việc đàm phán, quyết định giá mua, bán, khiến các khoản nợ này hoặc là không bán được với mức giá tương đối có lợi, hoặc là bán được nhưng phải chấp nhận mức giá giao dịch thấp. Sự thiếu hụt về nguồn cầu nợ của ngân hàng thương mại này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như hành lang pháp lý chưa đầy đủ khiến cho nhà đầu tư e ngại khi tham gia vào thị trường, quá nhiều điều kiện đặt ra đối với nhà đầu tư; hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại ở Việt Nam chưa đủ hấp dẫn… Đây chính là những vấn đề cần giải quyết để hoạt động này thu hút nhiều nhà đầu tư hơn, tạo điều kiện phát triển và giải quyết được nhiều khoản nợ hơn nữa, giúp lành mạnh hệ thống tài chính ngân hàng.
Một số biện pháp cụ thể để tạo điều kiện và thu hút các nhà đầu nước ngoài như: (i) Xây dựng chính sách ưu đãi thuế và thủ tục hành chính nhằm thu hút nhà đầu tư. (ii) Ổn định thị trường chứng khoán: Điều này là vô cùng cần thiết vì nó tác động đến sự thành công của thị trường mua, bán nợ. Những chủ nợ mới nhiều khả năng sẽ xử lý nợ thông qua phương án đầu tư vốn để khôi phục tình trạng hoạt động kinh doanh của con nợ và sẽ phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng khi có đủ điều kiện để đưa công ty nợ lên sàn chứng khoán nhằm thu hồi vốn. (iii) Tạo điều kiện để các tổ chức có tài chính và chuyên môn, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại.
3.3.3. Thành lập hiệp hội các công ty mua, bán nợ
Tại Việt Nam, có nhiều ngành nghề đầu tư kinh doanh đã thành lập hiệp hội. Nếu hiệp hội nghề nghiệp hoạt động tốt, hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả thì sẽ tạo sức hút khiến doanh nghiệp tham gia hiệp hội nhiều hơn. Không những vậy, một khi hiệp hội kết nối được nhiều chương trình tương tác về các hoạt động xúc tiến thương mại cũng như giúp doanh nghiệp trình bày những khó khăn với các cấp chính quyền, kiến nghị chính quyền kịp thời tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp thì đây chính là kênh hỗ trợ hữu ích mà doanh nghiệp rất muốn tham gia, điều này cũng tạo nên một thị trường hoạt động kinh doanh vững chắc hơn. Do đó, với một ngành nghề mang tính phức tạp như mua, bán nợ, việc thành lập hiệp hội nghề nghiệp như vậy sẽ giúp các chủ thể mua, bán nợ có tiếng nói chung.
Hiệp hội về mua, bán nợ cần đáp ứng được các tiêu chí và phát huy được vai trò trong việc đại diện các hội viên trong mối quan hệ có liên quan đến hoạt động mua, bán nợ nói chung; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, đồng thời nâng cao năng lực kết nối; làm đầu mối thông tin trên thị trường, tạo điều kiện hỗ trợ giải quyết các khó khăn của hội viên trong giao dịch mua, bán nợ; phản ánh nguyện vọng, đề xuất của các hội viên, chủ thể mua, bán nợ nói chung đến cơ quan ban hành chính sách, tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến ngành nghề mua, bán nợ.
Kết luận Chương 3 Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Thông qua những phân tích về thực trạng của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng pháp luật tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh ở chương 2 cho thấy, mặc dù bước đầu đã đạt được những thành công nhất định nhưng những quy định này vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, từ đó làm giảm hiệu quả trong quá trình mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các chủ thể. Chính vì vậy, yêu cầu về việc hoàn thiện các quy định của pháp luật là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cần tính tới những yêu cầu như (1) đảm bảo sự phù hợp các quy định của pháp luật về mua, bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại với chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước; (2) bám sát và có tính định hướng phát triển thị trường mua bán nợ; (3) không gây áp lực lên Ngân sách nhà nước; (4) đảm bảo sự độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc tế của Ngân hàng nhà nước; (5) áp dụng các yêu cầu hội nhập quốc tế và cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng. Chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này, việc chỉnh sửa, bổ sung các quy định của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới thực sự phát huy hiệu lực trên thực tế.
Trên cơ sở đó, việc hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần tập trung vào những quy định sau đây:
Một là, minh bạch các thông tin về nợ xấu và chuẩn hóa quốc tế tiêu chí phân loại nợ xấu của các Ngân hàng thương mại.
Hai là, nâng cao hiệu quả mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các chủ thể trên thị trường, thông qua việc đa dạng hóa các loại hình được tham gia mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng.
Ba là, từng bước chuyển đổi phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng theo giá trị sổ sách sang giá trị thị trường của nợ xấu để đảm bảo quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng giữa các chủ thể phù hợp với các quy luật của kinh tế thị trường. Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Bốn là, nâng cao tính thanh khoản của các loại công cụ thanh toán trong quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng, trong đó cần tính tới việc tháo gỡ những hạn chế liên quan tới quy định về công cụ trái phiếu đặc biệt, đồng thời Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cần xem xét đến việc bảo lãnh cho công cụ trái phiếu, trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành nhằm tạo sự tin tưởng đối với Ngân hàng thương mại khi bán nợ xấu cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đưa ra quyết định mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng.
KẾT LUẬN
Hoạt động mua, bán nợ xấu phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại là giao dịch dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận giữa bên bán nợ (ngân hàng thương mại) và bên mua nợ, với đối tượng giao dịch là quyền yêu cầu khách hàng vay nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn thanh toán, hay còn gọi là nợ của ngân hàng thương mại. Một trong những chủ thể quan trọng tham gia vào hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng thương mại là chủ thể mua nợ. Khi tham gia vào giao dịch mua, bán nợ, chủ thể mua nợ sẽ trở thành chủ nợ mới của khoản nợ được mua, bán. Bằng việc chấp nhận những rủi ro tồn tại xoay quanh khoản nợ đó, chủ thể mua nợ tìm kiếm được lợi nhuận dựa trên sự chênh lệch giữa giá bán trong hợp đồng mua, bán nợ và giá trị khoản nợ trong hợp đồng vay nợ ban đầu. Sự tồn tại của các chủ thể mua nợ là thiết yếu bởi sự có mặt mang tính chủ chốt của chúng để diễn ra hoạt động mua, bán nợ, từ đó, hoạt động này mới có thể phát huy được vai trò của mình đối với nền tài chính, kinh tế. Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Nhìn chung, khung pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại ngày càng hoàn thiện, không chỉ hình thành được khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh mà các nội dung quy định cũng dần trở nên đầy đủ, cụ thể hơn, từ đó góp phần không nhỏ vào việc phát triển hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại quản trị nguồn vốn tín dụng an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, thực tế triển khai các quy định pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại vẫn còn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Hệ thống các quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng. Ví dụ như về vấn đề chủ thể tham gia mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại thì một số quy định về điều kiện năng lực tài chính và phạm vi hoạt động kinh doanh ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tham gia vào hoạt động mua bán nợ của các chủ thể như Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý tài sản các Tổ chức tín dụng Việt Nam, doanh nghiệp kinh doanh mua bán nợ, doanh nghiệp môi giới nợ, sàn giao dịch nợ. Việc không thu hút được các chủ thể trong xã hội tham gia vào thị trường mua bán nợ đồng thời khiến cho thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại chưa thực sự phát triển. Bên cạnh đó, có nhiều văn bản quy phạm điều chỉnh hoạt động của các chủ thể khác nhau. Điều đó thể hiện tình trạng tản mát, không tập trung và mang tính hệ thống cao của các quy định của pháp luật về hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại, thậm chí còn có những nội dung chồng chéo, không thống nhất và sẽ gây ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và quản lý giám sát. Ngoài ra, công tác xây dựng pháp luật còn chưa thực sự gắn kết với tổ chức áp dụng pháp luật, làm cho hiệu quả thi hành pháp luật bị giảm sút. Do đó, hoàn thiện các quy định pháp luật về mua, bán nợ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại không những giúp hoạt động này diễn ra dễ dàng, thuận lợi hơn, hạn chế rủi ro pháp lý cho các bên tham gia vào giao dịch, mà sự hoàn thiện này còn mang lại lợi ích lâu dài, đó là giải quyết tình trạng nợ xấu, nợ khó có khả năng thu hồi, thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ, giúp lành mạnh hệ thống ngân hàng . Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng
