Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1, Tên đề tài

Pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh

2. Tóm tắt

Lý do nghiên cứu : Luận văn muốn làm rõ quan điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại hiện nay tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, sự cần thiết cũng như các phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại; thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại; thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Làm rõ một số định hướng cơ bản về việc hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại; kiến nghị giải pháp pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng. Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng (HĐTD) của các Ngân hàng thương mại. Từ đó, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại trên thực tiễn.

Để làm sáng tỏ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp thống kê

Kết quả nghiên cứu của đề tài: Hệ thống các quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, đầy đủ và rõ ràng.

3. Từ khóa

Pháp luật về mua bán nợ xấu, định hướng, giải pháp.

THESIS SUMMARY

1, Title of the topic

The law on buying and selling bad debts arising from credit contracts of commercial banks through practice in Ho Chi Minh City. Ho Chi Minh

2, Summary

Reason for the study: The thesis wants to clarify the views of bad debts arising from credit contracts of commercial banks in Vietnam as well as in many countries around the world, the necessity as well as methods of buying and selling bad debts arising from credit contracts of commercial banks; current status of Vietnamese legal regulations on trading of bad debts arising from credit activities of commercial banks; apply the law on buying and selling bad debts arising from credit contracts of commercial banks in the city. Ho Chi Minh. Clarifying some basic orientations on completing the law on bad debts arising from credit activities of commercial banks; propose legal solutions on buying and selling bad debts arising from credit contracts. Proposing basic solutions to contribute to improving the efficiency of the law on buying and selling bad debts arising from credit activities of commercial banks. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Research objectives of the topic: The research objective of the topic is to clarify the theoretical issues of the law and practical application of the law on buying and selling bad debts arising from credit contracts of NHs. From there, propose recommendations to improve the law and improve the efficiency of applying the law on buying and selling bad debts arising from credit activities of commercial banks in practice.

  • To clarify the research purpose and tasks of the research, the thesis uses analytical and statistical methods
  • Research results of the topic: The system of legal regulations is still not synchronous, complete and clear.

3. Keywords

Law on bad debt trading, orientation, solutions

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Nếu như xem hệ thống ngân hàng là hệ thống tuần hoàn thì nợ xấu như những “cục máu đông” trong mạng lưới đó. Sự gia tăng của nợ xấu một mặt ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng, mặt khác có tác động tiêu cực đến nhiều chủ thể khác mở rộng hơn là nền kinh tế. Vì vậy, giải quyết nợ xấu luôn là một trong những ưu tiên của các nhà quản trị vĩ mô. Giải quyết nợ xấu là nhiệm vụ cấp bách và cần song hành với việc dự báo để ngăn chặn nợ xấu có hiệu quả trong thực tiễn. Tuy nhiên, điều rất quan trọng hơn đó chính là việc xử lý nợ xấu luôn phải được áp dụng đúng quy định của pháp luật chứ không thể thực hiện theo tính chất tùy nghi hoặc tự phát không tuân thủ theo quy tắc xử sự chung thống nhất từ trung ương đến đại phương gọi chung là pháp luật.

1.2. Tính cấp thiết đề tài

Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM), nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng đối với khách hàng có xu hướng gia tăng trong những năm trở lại đây mặc dù các Ngân hàng thương mại đã siết chặt các điều kiện cho vay và áp dụng các  biện pháp ngăn ngừa rủi ro. Xu hướng tiêu cực này buộc các Ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh các giải pháp xử lý nợ xấu, trong đó, bán nợ xấu cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu được coi là giải pháp có tính khả thi nhất, từ đó hình thành quan hệ mua bán nợ xấu giữa Ngân hàng thương mại (giữ vai trò là bên bán nợ) với các tổ chức, cá nhân (giữ vai trò là bên mua nợ). Đứng trước thực trạng đó, ngày 18/5/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP) thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (viết tắt là VAMC). Sự ra đời của VAMC đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nỗ lực xử lý nợ xấu của Chính phủ và ngân hàng nhà nước (NHNN). Những tín hiệu khả quan ban đầu cho thấy VAMC đã bắt đầu phát huy hiệu quả trong hoạt động xử lý nợ xấu đồng thời giúp cải thiện tính thanh khoản của các Ngân hàng thương mại. Báo cáo thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và Đề án 1058 “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020 cho thấy quá trình cơ cấu lại và xử lý nợ xấu của hệ thống các Ngân hàng thương mại đã có được những chuyển biến tích cực và thành công đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại. Tổng nợ xấu lũy kế từ năm 2012 – đến cuối quý I/2018 đã xử lý được khoảng 753 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó: Ngân hàng thương mại tự xử lý (sử dụng dự phòng rủi ro; bán, phát mại tài sản đảm bảo và do khách hàng tự trả) khoảng 455 nghìn tỷ đồng, chiếm trên 60%; nợ bán cho VAMC chỉ có 282 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 40%. Theo đó, đến cuối tháng 6/2018, tỷ lệ nợ xấu so với tổng nợ là 2,09%, giảm so với thời điểm cuối năm 2016 (2,46%); nếu tính cả nợ xấu ngoại bảng, các khoản nợ xấu đã cơ cấu và nợ xấu tiềm ẩn, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng ở mức 6,6 – 6,7%. Ngoài VAMC và các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng thương mại (AMC), công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Việt Nam (viết tắt là DATC) cũng là một chủ thể đặc biệt tham gia vào quan hệ mua bán nợ xấu. Tuy nhiên, điểm khác biệt của DATC so với VAMC và AMC là DATC chủ yếu tập trung vào việc mua các khoản nợ của các doanh nghiệp nhà nước theo chỉ thị của Chính phủ, tức là các khoản nợ của các ngân hàng thương mại nhà nước và có mở rộng sang mua nợ xấu của các Ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Chính phạm vi chủ thể và đối tượng mua bán gò bó nên khả năng và vai trò tham gia vào quan hệ mua bán nợ xấu của DATC không đáng kể. Như vậy, mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay đang có sự tham gia chủ yếu của VAMC, các AMC trực thuộc các Ngân hàng thương mại và DATC. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Hiện nay có rất nhiều quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ mua bán nợ xấu giữa Ngân hàng thương mại bán nợ với bên mua nợ là VAMC và các chủ thể khác đang gây ra nhiều tranh cãi, thậm chí có nhiều quy định khó áp dụng trong thực tiễn như Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP)về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam; Thông tư số 19/2013/TT-NHNN (sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 32/2019/TT-NHNN) quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Cùng với đó, mặc dù các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm đa dạng hóa các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu trên thị trường, ngoài các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp, pháp luật đã trao quyền cho chính các Ngân hàng thương mại tham gia mua bán nợ xấu của các Ngân hàng thương mại khác, hay các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đặc biệt là cơ chế pháp lý cho sự ra đời của mô hình chủ thể kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu, tuy nhiên, quy định về mức vốn pháp định và điều kiện với người quản lý, người điều hành khi thành lập Chủ thể kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu trong Nghị định số 69/2016/NĐCP về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu không phù hợp với thực tế. Những quy định này vô hình chung là rào cản đối với hoạt động mua bán nợ xấu, cũng như tác động tiêu cực tới tâm lý của Ngân hàng thương mại khi buộc phải lựa chọn phương án bán nợ xấu cho VAMC hay các chủ thể khác[2]. Vì vậy, để phát huy hơn nữa vai trò cũng như hiệu quả trong hoạt động của VAMC và các chủ thể mua nợ khác trong thực tiễn, cần phải xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua bán nợ xấu đồng bộ và hoàn chỉnh, qua đó để nâng cao hiệu quả thực thi của các quy định này. Chính vì lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế.

2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu tổng quát

Luận văn có mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng (HĐTD) của các Ngân hàng thương mại. Từ đó, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại trên thực tiễn.

2.2 Mục tiêu cụ thể

  • Nghiên cứu những cơ sở lý luận về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại;
  • Nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại;
  • Đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại.

3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ mua bán nợ xấu, giá mua bán nợ xấu trong mọi giao dịch cần được xác định theo giá trị thị trường hay tùy từng trường hợp, các bên có thể lựa chọn một cách linh hoạt phương pháp xác định giá theo giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường?

Xác lập quan hệ mua bán nợ xấu, việc lựa chọn phương thức thỏa thuận hay đấu giá do các bên toàn quyền quyết định hay theo chịu sự chỉ đạo của Nhà nước?

Đảm bảo quan hệ mua bán nợ xấu thực chất và giải quyết triệt để, tận gốc nợ xấu của Ngân hàng thương mại, công cụ thanh toán (tiền hoặc giấy tờ có giá) nên được sử dụng linh hoạt trong các giao dịch mua bán nợ xấu hay phải sử dụng công cụ thanh toán bằng tiền trong mọi trường hợp?

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Cụ thể là quy định của Bộ Luật dân sự 2015; Luật Ngân hàng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Luật các tổ chức tín dụng, Nghị quyết 42 năm 2017 của Quốc hội về xử lý nợ xấu và các văn bản hướng dẫn dưới luật.

Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật Việt Nam về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại theo số liệu báo cáo của các Ngân hàng thương mại tại TP. Hồ Chí Minh và Ngân hàng nhà nước Việt Nam;

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian nghiên cứu: Từ giai đoạn năm 2015 đến năm 2021

Về không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại và tổ chức, cá nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Nghĩa là Tác giả chỉ nghiên cứu việc mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại và tổ chức, cá nhân trên phạm vi thành phố Hồ Chí Minh không nghiên cứu trên diện rộng phạm vi cả nước.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp luận Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Để làm sáng tỏ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó trọng tâm dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Phương pháp phân tích được sử dụng Chương 1 và 2 để nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ xấu và những ưu điểm, hạn chế, tồn tại của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó, đánh giá sự phù hợp của thực trạng pháp luật vào quá trình áp dụng trên thực tiễn.

Phương pháp tổng hợp được sử dụng tại Chương 2 để thu thập và tổng hợp các thông tin về những hoạt động mua bán nợ xấu đã được VAMC và các Chủ thể kinh doanh mua bán nợ xấu thực hiện nhằm đánh giá những thành tựu đã đạt được và những vướng mắc còn tồn tại khi áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại.

Phương pháp so sánh được sử dụng tại Chương 3 nhằm học hỏi giữa lý luận và thực tiễn những kinh nghiệm nước ngoài, từ đó nghiên cứu tìm kiếm giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại.

6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có tính hệ thống hóa đã giải quyết những vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ xấu mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại; và thực tiễn áp dụng pháp luật trên thực tiễn trong thời gian qua tại thành phố Hồ Chí Minh.

Luận văn là nguồn tài liệu hữu ích đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại, làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.

Luận văn là nguồn tài liệu có giá trị đối với các cơ sở nghiên cứu khoa học, giảng dạy pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

7. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

Mặc dù quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại ở nước ta đã hình thành từ những năm 1999, 2000 khi các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp trực thuộc Vietcombank và Vietinbank chính thức được thành lập. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự nhận được sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế và pháp lý kể từ thời điểm VAMC được thành lập năm 2013 để giải quyết khối nợ xấu khổng lồ của hệ thống ngân hàng. Nhìn chung, pháp luật về nợ xấu và mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại là đề tài nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các góc độ tiếp cận khác nhau. Mức độ quan tâm này ngày càng trở nên rõ nét từ sau năm 2013 trở lại đây, khi Công ty Quản lý tài sản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam (VAMC) được thành lập. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu:

Phạm Quang Huy (2015), “Pháp luật về nợ xấu trong Hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận về nợ xấu trong Hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại. Phân tích thực trạng pháp luật về nợ xấu trong Hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.

Phạm Thị Hoài Nam (2017), “Hoạt động xử lý nợ xấu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề chung về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Phân tích thực tiễn hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tế.

Võ Trung Tín, Văn Thành Khánh Linh (2019), “Lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng từ thực tiễn áp dụng Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về việc thí điểm xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13. Bài viết đã khái quát về Nghị quyết số 42/2017/QH, thực tiễn áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 trong quá trình xử lý nợ xấu. Nêu một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện Nghị quyết này.

Hoàng Thu Uyên (2019), “Những vấn đề pháp lý đặt ra từ thực tiễn thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã trình bày những vấn đề chung về xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng và quy định về xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo Nghị quyết số 42/2017/QH14. Phân tích thực tiễn thi hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng ở Việt Nam; từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.

Nguyễn Hải Yến (2018), “Cơ sở cho việc hoán đổi nợ xấu của ngân hàng thương mại thành vốn góp doanh nghiệp để xử lý nợ xấu”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2018. Bài viết đã nghiên cứu khái quát về việc hoán đổi nợ xấu thành vốn góp doanh nghiệp để xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại, đồng thời phân tích các cơ sở cho việc hoán đổi nợ xấu của ngân hàng thương mại thành vốn góp trong quá trình xử lý nợ xấu, từ đó đưa ra một số nhận xét và kiến nghị pháp lý nhằm thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại, góp phần lành mạnh hóa hệ thống các tổ chức tín dụng và ổn định nền kinh tế. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ XẤU PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA  NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Khái luận chung về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm về nợ xấu

Về kỹ thuật lập pháp thì định nghĩa về nợ xấu, hay khoản nợ xấu của Ngân hàng thương mại được ghi nhận tại nhiều thông tư khác nhau của Ngân hàng nhà nước. Tại định nghĩa về khoản nợ của Ngân hàng thương mại tại Điều 3 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ban hành quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 11/2021/TT-NHNN), theo đó  Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 trong đó nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) trong bảng phân loại nợ theo phương pháp định lượng và phương pháp định tính.

Cụ thể, theo phương pháp định lượng nợ xấu được xác định dựa vào thời hạn trả nợ quá hạn như sau:

  • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu;…
  • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;…
  • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;…”. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Bên cạnh phương pháp định lượng, nợ xấu cũng được Ngân hàng thương mại nhận diện theo phương pháp định tính dựa vào đánh giá của Ngân hàng thương mại đối với khả năng trả nợ của khách hàng như sau:

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao. Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao,

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết”.

Tuy nhiên, về nguyên tắc, TCTD chỉ được phân loại nợ xấu theo phương pháp định tính sau khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: (1) Có Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ và có thời gian thử nghiệm tối thiểu 01 năm; (2) Có chính sách dự phòng rủi ro; (3) Có chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng, phương pháp xác định, đo lường rủi ro tín dụng (trong đó bao gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng theo hợp đồng tín dụng, tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ) và quản lý nợ; (4) Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) trong việc phê duyệt, thực hiện và kiểm tra thực hiện Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tính độc lập của các bộ phận quản lý rủi ro.

Như vậy, về mặt định lượng quan niệm nợ xấu của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế khá tương đồng, theo đó, các khoản nợ bị xếp vào nhóm nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi từ 90 ngày (91 ngày) trở lên đồng thời tính toán về khả năng trả nợ của khách hàng khi đến hạn, điều đó có nghĩa không chỉ xem xét khi đã có dấu hiệu rõ ràng về việc khách hàng không trả được nợ mà còn phải đánh giá tới các khả năng xảy ra thiệt hại trong tương lai. Sự chuẩn hóa quốc tế các tiêu chí nhận diện nợ xấu của Thông tư 11/2021/TT-NHNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để thu hút nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các nhà đầu tư nước ngoài vào hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của các TCTD, minh bạch và chuẩn hóa quốc tế tiêu chí phân loại nợ xấu của các TCTD là yêu cầu không thể thiếu. Thực tiễn cho thấy, sự thiếu minh bạch trong các thông tin về nợ xấu và không đảm bảo các tiêu chí phân loại nợ xấu theo chuẩn mực quốc tế là những rào cản lớn nhất ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các nhà đầu tư ngoại tham gia mua bán nợ xấu trên thị trường ở Việt Nam thời gian qua.

Tuy nhiên, quan niệm về nợ xấu của Thông tư 11/2021/TT-NHNN   đang tạo ra sự nhầm lẫn giữa khái niệm nợ xấu (Bad Debt) với khái niệm các khoản cho vay không hiệu quả (Non-performing loans) khi viết tắt “Nợ xấu là NPL”. Trong khi nợ xấu được xác định thông qua thời hạn trả nợ đã quá từ 91 ngày trở lên hoặc được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn thì các khoản cho vay không hiệu quả (Non-performing loans) được nhận biết thông qua quy trình luân chuyển vốn vay từ TCTD đến khách hàng và hoạt động thu hồi vốn của TCTD không được như kỳ vọng. Sự không hiệu quả trong các khoản vay này (NPLs) có thể xuất phát từ những rủi ro trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng như khách hàng đầu tư không hiệu quả, giải thể, phá sản…dẫn tới khả năng trả nợ gốc và lãi của khách hàng bị ảnh hưởng hoặc có thể xuất phát từ những rủi ro về chính sách, rủi ro về lãi suất, rủi ro về thị trường…từ đó làm giảm hiệu quả, lợi nhuận từ những khoản cho vay mặc dù khách hàng có thể trả nợ gốc và lãi đúng hạn.

1.1.2. Đặc điểm của nợ xấu Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Thứ nhất, nợ xấu làm gián đoạn vòng quay vốn của các ngân hàng, những khoản nợ được cung ra thị trường, sau một thời gian sẽ được thu hồi để ngân hàng tiếp tục vòng quay vốn mới. Tuy nhiên, khi khoản nợ trở thành nợ xấu, ngân hàng sẽ không thể thu hồi được khoản nợ đúng hạn hay thậm chí là không thể thu hồi được nữa, dẫn đến gián đoạn vòng quay vốn của ngân hàng.

Thứ hai, nợ xấu cao có thể đẩy ngân hàng rơi vào tình trạng mất vốn, mất thanh khoản và mất lòng tin của người dân, của những khách hàng khác. Khi nợ xấu gia tăng đồng nghĩa với nguồn vốn đầu tư sẽ bị đóng băng, không có khả năng thu hồi. Nguồn vốn cho vay không có khả năng thu hồi được thì khả năng thanh toán chắc chắn sẽ giảm. Khủng hoảng trong thanh toán chính là nguyên nhân dễ dẫn đến sự phá sản của các Ngân hàng.

Thứ ba, nợ xấu sẽ làm suy giảm năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại, vì thế ảnh hưởng đến sự ổn định của khu vực tài chính. Do tỷ lệ nợ xấu gia tăng, lợi nhuận của Ngân hàng thương mại vì thế sẽ bị suy giảm. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực tài chính và khả năng tồn tại lành mạnh của Ngân hàng thương mại, đặc biệt đối với các Ngân hàng thương mại nhỏ sẽ rất dễ bị phá sản. Ngân hàng không đạt được kế hoạch lợi nhuận với những khoản nợ khó đòi trong nhiều quý và chính Ngân hàng thương mại cũng trở thành những con nợ với những khoản nợ khổng lồ và buộc phải đi đến kết cục bị phá sản hay bị thôn tính sáp nhập.

Thứ tư, nợ xấu khiến uy tín của ngân hàng giảm sút. Khi nợ xấu phát sinh sẽ khiến uy tín của các Ngân hàng thương mại giảm sút đối với khách hàng như việc chậm trễ trong thanh toán, khả năng thanh toán giảm sút,  đối với cổ đông như chậm trễ trong thanh toán cổ tức, cổ tức giảm do thu nhập giảm, hoạt động kinh doanh và chất lượng tín dụng đi xuống  và đối với các đối tác khác như chậm trễ trong giải ngân các khoản cho vay hợp vốn, các khoản đầu tư, chứng khoán  Trong lĩnh vực ngân hàng, uy tín là vấn đề quan trọng quyết định đến sự sống còn, tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Chính vì vậy, nợ xấu đã ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Thứ năm, nợ xấu làm ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi và cho vay. Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn, không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay. Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn đối với các khoản tiền gửi. Sự mất cân đối trên ảnh hưởng rất lớn tới tính thanh khoản của ngân hàng và ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh cũng như lợi nhuận của Ngân hàng.

1.2. Khái niệm, đặc điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

1.2.1. Khái niệm nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại

 Thuật ngữ “nợ” có lịch sử sử dụng lâu đời và không còn là một thuật ngữ mới hay xa lạ đối với đời sống kinh tế xã hội, song khái niệm này lại có nhiều định nghĩa khác nhau, từ đó dẫn đến cách hiểu và cách ứng phó với nợ khác nhau. Nợ phát sinh như một hệ quả tất yếu từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại, qua quá trình Ngân hàng thương mại hoạt động tín dụng và kiểm soát rủi ro kém hiệu quả, nợ xấu xuất hiện và có thể tồn tại lâu dài. Như vậy, nợ và nợ xấu có mối quan hệ mật thiết với nhau, nợ bao gồm các khoản nợ xấu và các khoản nợ không phải là nợ xấu.

Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm nợ. Nợ có thể được hiểu là một nghĩa vụ tài sản của một bên đối với một bên khác, mối quan hệ này tồn tại giữa hai chủ thể bao gồm chủ thể có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, mà ở đây là yêu cầu trả nợ, chủ thể còn lại có nghĩa vụ thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có quyền, tức thực hiện việc thanh toán khoản nợ. Định nghĩa này đã đặt nợ dưới sự xem xét toàn diện ở góc độ của cả hai chủ thể, có quyền và có nghĩa vụ, theo đó thể hiện được quyền của bên này là nghĩa vụ với bên kia và ngược lại, bên có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi bên có quyền yêu cầu. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Ngoài ra, một khái niệm nợ khác thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất. Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác. Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó. Nợ được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay một lượng tài sản nhất định. Khái niệm trên đây cho thấy rõ hơn sự hình thành “nợ”, đồng thời trong khái niệm này, người vay có thể trả đúng tài sản mà họ đã vay mượn hoặc trả bằng một tài sản khác, bao gồm tiền, mang tính chất đền bù, tùy theo sự thỏa thuận của các bên. Khái niệm này cũng xét đủ hai chủ thể cho vay và chủ thể đi vay, tuy nhiên chưa đề cập đến việc yêu cầu trả nợ của người cho vay mà chỉ nêu lên việc xác lập khoản nợ cho người cho vay khi họ đồng ý cho vay. Vì vậy, khái niệm này tuy xét nhiều mặt, song vẫn chưa hoàn thiện.

Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa về “nợ”. Theo đó, nợ là cái vay phải trả mà chưa trả. Định nghĩa này chỉ ra mối quan hệ vay mượn, theo đó tình trạng một bên vay mượn của bên kia tài sản, vật chất mà chưa thực hiện hành vi hoàn trả được thể hiện dưới tên gọi là nợ. Định nghĩa ngắn gọn này phần nào thể hiện được bản chất và sự hình thành khoản nợ. Ngoài ra, nợ còn được hiểu là điều mang ơn phải đền đáp mà chưa đền đáp được hoặc đã hứa với ai đó mà chưa có dịp thực hiện. Theo cách hiểu này, nợ không chỉ gói gọn trong quan hệ tài sản, vật chất mà còn mở rộng ra các đối tượng về tinh thần, đạo đức, lời hứa. Song, hiểu một cách ngắn gọn, nợ là mối quan hệ mà một bên phải thực hiện việc trao một đối tượng cho một bên khác, hình thành dựa trên việc cho vay, hứa hẹn.

Các khái niệm nêu trên đều chỉ ra bản chất của nợ là tình trạng một bên có quyền yêu cầu, và một bên phải có nghĩa vụ trao cho bên kia đối tượng cụ thể mà chưa thực hiện việc trao này, nghĩa vụ đó có thể phát sinh từ việc bên có quyền đã cho bên có nghĩa vụ vay mượn, mua bán nhưng chưa thanh toán, hoặc phát sinh từ các thoả thuận, quy định của pháp luật trong từng trường hợp.

Nợ xấu của Ngân hàng thương mại có thể được hiểu một cách đơn giản là những khoản nợ khó có khả năng thu hồi, do đặc thù hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại nhiều rủi ro và việc đòi hỏi phải phân loại nợ để kiểm soát rủi ro tín dụng. Từ những lý do này mà Ngân hàng thương mại dành sự chú trọng và quan tâm đặc biệt cho nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của mình.

Trên thế giới cũng tồn tại nhiều khái niệm về nợ xấu. Một khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi nợ; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày, Theo đó, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và/hoặc có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Nhận định về nợ không có khả năng thanh toán hay nợ xấu này được dựa trên việc đánh giá yếu tố định tính khi xét khả năng trả nợ không đầy đủ của khách hàng, không những vậy, định nghĩa này còn dựa trên yếu tố định lượng, mang tính chất cố định và dễ xác định, về trường hợp quá hạn 90 ngày mà khách hàng vay chưa có thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cả hai yếu tố này đều nhìn từ góc độ người vay và đánh giá hành vi của họ mà không đánh giá hành vi triển khai thu hồi nợ của ngân hàng.

Một khái niệm khác cho rằng, một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Định nghĩa này, bằng một cách định lượng, lấy một khoảng thời gian quá hạn, 90 ngày, một khoảng thời gian đủ dài, để đánh giá khả năng khó thu hồi của một món nợ, bên cạnh đó cũng xét đến yếu tố định tính, dưới 90 ngày nhưng có các lý do hợp lý để nghi ngờ về khả năng trả nợ. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Tại Việt Nam cũng có nhiều khái niệm về nợ xấu, theo đó nợ xấu, hay còn gọi là nợ khó đòi hoặc các khoản vay có vấn đề, được sử dụng phổ biến nhằm ám chỉ các khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc mất khả năng thu hồi, về bản chất nợ xấu là khoản nợ mà người vay không trả nợ đến hạn bao gồm cả trường hợp không trả nợ và mất khả năng trả nợ. Nếu bên vay trả nợ không sòng phẳng, không đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thì nó trở thành nợ xấu.

Những định nghĩa trên đã có cách xác định và hiểu khá tương đồng về bản chất nợ xấu. Qua đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu hay nợ giảm giá trị khi nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: (i) Quá hạn thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định; (ii) Khách hàng vay bị coi là khó có khả năng trả nợ. Nợ xấu là một trong những tiêu chí hàng đầu để đánh giá tình trạng hoạt động của các Ngân hàng thương mại, thể hiện sức khỏe tài chính, khả năng kiểm soát rủi ro; của Ngân hàng thương mại đó và là một trong những vấn đề quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống tài chính.

Trên cơ sở những phân tích nêu trên, khái niệm “nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại” có thể được hiểu là một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi và các chi phí khác mà khách hàng vay phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại tại một hoặc nhiều thời điểm nhất định được gọi là hạn thanh toán do Ngân hàng thương mại và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng. Khái niệm “nợ xấu” được hiểu là những khoản nợ có rủi ro tín dụng cao, khả năng thu hồi vốn thấp, có khả năng gây thiệt hại cho Ngân hàng thương mại cho vay, dựa trên sự đánh giá về lượng thời gian quá hạn mà chưa thanh toán nợ và sự đánh giá thấp của Ngân hàng thương mại về khả năng trả nợ của khách hàng.  Ở trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu. Có thể nghiên cứu quan điểm của Ngân Hàng Thương Mại trung ương Châu Âu (ECB) là một ví dụ điển hình khi mà họ cho rằng “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc có thể không được thu hồi đầy đủ cho Ngân hàng thương mại, gồm:

  • Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ.
  • Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ, những khoản nợ mà Ngân hàng thương mại không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.

Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

  • Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, những phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ.
  • Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thỏa thuận.
  • Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng thương mại không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể trả nợ Ngân hàng thương mại đầy đủ.
  • Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ.

Bên cạnh, đó, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng có quan điểm riêng về nợ xấu bằng một định nghĩa về nợ xấu rất cơ bản mà chính Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đưa ra, như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”.“Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của KH. Khả năng trả nợ của KH ở đây có thể là toàn bộ số gốc và lãi hoặc một phần gốc và lãi.

Ở Việt Nam, dưới góc độ luật thực định Thông tư 11/2021/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định như sau: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trong đó: i) Nợ nhóm 3: thời gian quá hạn từ 90 – 180 ngày. ii)– Nợ nhóm 4: thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày. iii) Nợ nhóm 5: thời gian quá hạn trên 360 ngày. Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày hoặc khả năng trả nợ đáng lo ngại. Tuy nhiên, việc các Ngân hàng thương mại tiếp cận theo yếu tố nào là phụ thuộc vào khả năng và điều kiện tiến hành phân loại nợ. Với những quan điểm trên thì quan điểm về nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Có nghĩa là một khoản cho vay trong hạn nhưng có các dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu, cần phải xử lý.” Nợ và nợ xấu của Ngân hàng thương mại có mối quan hệ liên quan mật thiết đến nhau. Nợ bao gồm cả nợ xấu và nợ đủ tiêu chuẩn. Nợ xuất phát từ hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại, Ngân hàng thương mại kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận trên các khoản nợ. Tuy nhiên, khi một khoản nợ khó có khả năng thu hồi và bị đánh giá là nợ xấu trong một khoảng thời gian dài, nó phản ánh hoạt động kinh doanh kém hiệu quả và Ngân hàng thương mại luôn muốn tránh điều đó. Nợ luôn tồn tại trong Ngân hàng thương mại còn nợ xấu thì luôn bị đặt trong sự kiểm soát, mong muốn giải quyết của ngân hàng.

1.2.2. Đặc điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Thứ nhất, nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại là quan hệ về tài sản. Khi Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho khách hàng, tức là cho (hoặc cam kết cho) khách hàng sử dụng một khoản tiền. Do đó, đối tượng mà bên có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên có quyền là tiền, tức tài sản.

Thứ hai, nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại bao gồm số tiền nợ gốc, lãi vay và chi phí khác nếu có. Theo đó, số tiền nợ gốc tức là số tiền mà Ngân hàng thương mại đã giải ngân cho khách hàng vay dựa trên hợp đồng vay đã ký kết. Lãi vay là số tiền được xác định theo tỷ lệ so với số tiền vay gốc, thường thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm trên một khoảng thời gian nhất định được thoả thuận trong hợp đồng vay. Ngoài những khoản này ra, khách hàng vay có thể phải trả thêm một số chi phí khác cho Ngân hàng thương mại, chẳng hạn như phí phạt khi khách hàng vay trả nợ trước hạn, chi phí quản lý, lãi phạt chậm trả; và một số loại chi phí khác. Vậy nên, khoản phải trả của khách hàng vay thường lớn hơn khoản mà ngân hàng đã cho họ vay ban đầu, phần chênh lệch mà họ phải gánh chịu xem như cái giá, chi phí để họ có thể được sử dụng vốn của người khác.

Thứ ba, nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại luôn mang rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Rủi ro có thể được hiểu là khả năng mất đi những giá trị về mặt vật chất hoặc tinh thần do việc thực hiện một hành động (hoặc không hành động) nhất định, thấy trước hoặc không lường trước được (dự định hoặc không có kế hoạch), là sự ảnh hưởng của sự không chắc chắn đối với các mục tiêu. Trong định nghĩa này, sự không chắc chắn bao gồm các sự kiện (có thể xảy ra hoặc không xảy ra) và sự không chắc chắn gây ra bởi sự mơ hồ hoặc thiếu thông tin. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng của khoản nợ là việc khách hàng không thực hiện đúng cam kết trong Hợp đồng tín dụng dẫn đến Ngân hàng thương mại không thể thu hồi được nợ. Hiểu theo nghĩa rộng, rủi ro tín dụng là tất cả những khả năng mà theo đó, Ngân hàng thương mại sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp. Rủi ro tín dụng sẽ gây nên những thiệt hại đối với các ngân hàng, làm mất mát nguồn vốn, suy giảm khả năng chi trả và khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng. Một cách đơn giản, rủi ro tín dụng được định nghĩa là tiềm năng mà khách hàng vay của ngân hàng không đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán nợ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Trong quá trình hoạt động, nhiệm vụ kiểm soát rủi ro tín dụng luôn được đặt ra đối với các chủ nợ. Để khắc phục rủi ro tín dụng đòi hỏi cần phải có cả một hệ thống các biện pháp nhằm khắc phục tổn thất phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, trong đó có cả các yếu tố đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của cán bộ ngân hàng với mục tiêu bảo đảm được quyền lợi của ngân hàng cho vay cũng như khách hàng vay vốn.

1.3. Khái niệm, đặc điểm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

1.3.1. Khái niệm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại

Cùng với sự phát triển của hoạt động ngân hàng, nợ xấu hình thành như quy luật tất yếu và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự an toàn của hệ thống Ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm được hệ thống Ngân hàng thương mại hướng tới là giải quyết nợ xấu nhằm đưa tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn tối thiểu. Về nguyên tắc, khi các khoản cho vay không được khách hàng thanh toán đầy đủ và đúng hạn, Ngân hàng thương mại có thể sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ thu hồi nợ như bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ hoặc chứng khoán hóa nợ xấu, tức là chuyển nợ xấu thành phần vốn góp vào doanh nghiệp hoặc bán nợ xấu cho các công ty mua bán nợ xấu hoặc bán nợ xấu cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ.

So với các giải pháp khác mà bản thân Ngân hàng thương mại phải tự thu hồi nợ xấu, bán nợ xấu cho các công ty mua bán nợ xấu hoặc tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ có thể được xem là giải pháp xử lý nợ xấu nhanh chóng và hiệu quả. Sở dĩ giải pháp này được đánh giá là có khả năng giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn vì khi quan hệ mua bán nợ xấu được xác lập thông qua việc giao kết hợp đồng mua bán nợ xấu, nợ xấu sẽ được chuyển giao từ Ngân hàng thương mại bán nợ sang bên mua nợ, thay vì Ngân hàng thương mại phải tự mình xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Nhờ đó, Ngân hàng thương mại bán nợ nhanh chóng thu hồi được phần vốn và tiếp tục phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

Dưới góc độ pháp luật dân sự, mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại là một bộ phận của mua bán tài sản vì nợ xấu là tài sản hay cụ thể hơn là quyền tài sản. Điều đó có nghĩa, quan hệ này được hình thành trên cơ sở thống nhất ý chí giữa bên bán nợ và bên mua nợ, theo đó, bên bán nợ (là Ngân hàng thương mại sở hữu nợ xấu) bán nợ xấu cho bên mua nợ (là tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ). Quan hệ mua bán nợ xấu được xác định là quan hệ song vụ vì cả Ngân hàng thương mại bán nợ xấu và tổ chức, cá nhân mua nợ đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong quan hệ mua bán nợ xấu, Ngân hàng thương mại có nghĩa vụ chuyển giao khoản nợ xấu và có quyền yêu cầu bên mua nợ thanh toán tiền mua khoản nợ xấu đó, còn bên mua nợ có nghĩa vụ thanh toán giá trị khoản nợ xấu đã mua và có quyền nhận chuyển giao khoản nợ xấu từ bên bán nợ là các Ngân hàng thương mại.

Như vậy, với tư cách một quan hệ mua bán tài sản trong các giao dịch dân sự, khoản nợ xấu được chuyển giao từ Ngân hàng thương mại bán nợ sang tổ chức, cá nhân mua nợ. Sau khi mua nợ xấu, bên mua nợ trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ xấu và được quyền đòi nợ từ con nợ. Sau khi bán nợ xấu, Ngân hàng thương mại thu về được một khoản tiền nhất định và tiếp tục đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình.

Dưới góc độ pháp luật ngân hàng, mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại là một giải pháp được sử dụng nhằm giải quyết tình trạng nợ xấu của hệ thống Ngân hàng thương mại. Dưới góc độ luật thực định thì Khoản 1 Điều 3  Thông tư 09/2015/TT-NHNN Quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài định nghĩa “hoạt động mua bán nợ” như sau: Mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ.

Như vậy, việc mua bán nợ phải theo thỏa thuận bằng văn bản, thông qua việc xác lập quan hệ mua bán, nợ xấu được chuyển giao từ Ngân hàng thương mại sở hữu khoản nợ sang tổ chức, cá nhân mua nợ, qua đó giảm tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng thương mại. So với các phương thức thu hồi nợ khác như bán đấu giá tài sản bảo đảm của con nợ, chuyển nợ thành vốn góp tại con nợ, mua bán nợ xấu giúp Ngân hàng thương mại có khả năng thu hồi vốn nhanh và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, kết quả đó chỉ đạt được khi khoản nợ xấu có đủ sức cuốn hút với các nhà đầu tư hoặc thỏa mãn những điều kiện nhất định mà bên mua nợ đặt ra. Điều này xuất phát từ tính chất đặc thù của khoản nợ xấu được chuyển giao. Nợ xấu hình thành khi khách hàng không thể thanh toán đầy đủ gốc và lãi các khoản vay tại Ngân hàng thương mại. Vì vậy nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn đối với bên mua nợ. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Trong khi đó, khi chuyển giao khoản nợ xấu và nhận thanh toán từ bên mua nợ, Ngân hàng thương mại được xóa khoản nợ xấu trong bảng cân đối kế toán, đồng thời được giải phóng nguồn vốn bị đóng băng do nợ xấu và phần vốn trích lập dự phòng rủi ro. Như vậy, có thể thấy, mua bán nợ xấu có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của các Ngân hàng thương mại.

Tóm lại, thông qua việc phân tích quan hệ mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại từ những góc độ khác nhau, có thể thấy nội hàm của khái niệm này bao gồm những vấn đề sau đây:

  • Đối tượng chuyển giao: là các khoản nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng;
  • Chủ thể tham gia: là các Ngân hàng thương mại bán nợ xấu (bên bán nợ) và các cá nhân, tổ chức có nhu cầu mua nợ xấu (bên mua nợ).

Từ đây, có thể hiểu mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại như sau: Mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại là việc chuyển nhượng khoản nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại (bên bán nợ) đối với khách hàng sang cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu mua nợ (bên mua nợ) theo những phương thức do các bên thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.

1.3.2. Đặc điểm về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, đối tượng của mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại là loại hàng hoá đặc biệt.  Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Dưới góc độ pháp luật dân sự, có thể thấy rằng các khoản nợ xấu được chuyển giao chính là một loại tài sản mà theo nghĩa thông thường, tài sản bao gồm tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản, ở đó, nợ xấu được xem là một loại tài sản đặc biệt tồn tại dưới dạng quyền tài sản. Theo đó, nợ xấu là một nghĩa vụ nảy sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại với khách hàng, khi một bên có nghĩa vụ phải thanh toán cho phía bên kia một số tiền nhất định, nghĩa vụ đó được hình thành trên cơ sở hợp đồng vay tài sản giữa hai bên. Đồng thời cũng có thể hiểu nợ xấu là trách nhiệm pháp lý theo đó bên vay (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán với bên cho vay (NHTM) một khoản tiền nhất định theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết và thực hiện giữa hai bên. Như vậy, “nợ” ở đây là khoản phải trả xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong đời sống dân sự nói chung và ngân hàng nói riêng là có vay, có trả. Tuy nhiên, khi nghĩa vụ trả nợ này không được thực hiện theo đúng thỏa thuận làm cho khoản nợ này thành nợ “xấu”. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới sự hình thành các khoản nợ xấu này? Câu trả lời thỏa đáng nhất cho câu hỏi này chính là sự mất khả năng thanh khoản của bên vay hay bên có nghĩa vụ trả nợ. Sự mất khả năng thanh khoản này có thể đến từ rất nhiều những lý do khác nhau bao gồm những lý do chủ quan từ quá trình quản lý và sử dụng vốn vay của bên vay hoặc đến từ những lý do khách quan như sự thay đổi chính sách của Nhà nước, sự đi xuống của thị trường, sự đóng băng của thị trường bất động sản hay sự khủng hoảng của nền kinh tế. Tất cả những nguyên nhân này tác động trực tiếp tới khả năng trả nợ của bên vay đối với Ngân hàng thương mại và làm hình thành các khoản nợ xấu.

Tuy nhiên, không phải mọi khoản nợ xấu phát sinh từ việc ký kết và thực hiện Hợp đồng tín dụng đều trở thành đối tượng của hoạt động mua bán nợ xấu giữa Ngân hàng thương mại và tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Vì đối với các khoản nợ được đánh giá có khả năng thu hồi vốn cao, Ngân hàng thương mại sẽ áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu hồi nợ gốc và lãi từ khách hàng thay vì bán cho các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Khi sử dụng nghiệp vụ thu hồi nợ, quan hệ giữa Ngân hàng thương mại và khách hàng được giữ vững, bí mật thông tin tài chính của khách hàng được bảo đảm. Chính vì vậy, Ngân hàng thương mại chỉ chấp nhận bán các khoản nợ có tính thanh khoản thấp, khi thời hạn trả nợ gốc và lãi đã quá 91 ngày hay còn gọi là các khoản nợ xấu.

Như vậy, mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại tập trung vào những khoản nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại và khách hàng không có khả năng thu hồi.

Thứ hai, Ngân hàng thương mại luôn là một bên chủ thể tham gia giao dịch mua bán nợ xấu từ chính Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại (bên bán nợ) và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ xấu (bên mua nợ).

Trên thị trường sơ cấp, Ngân hàng thương mại sở hữu khoản nợ xấu phát sinh trong quá trình cho khách hàng vay để tìm kiếm lợi nhuận và cần giảm thiểu khối lượng nợ xấu bằng cách chuyển nhượng, vì vậy trở thành bên bán nợ, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và tiềm lực tài chính để mua nợ xấu trở thành bên mua nợ. Vì đối tượng của giao dịch mua bán này là các khoản nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại nên các Ngân hàng thương mại bao giờ cũng trở thành một bên chủ thể (bên bán nợ); tuy nhiên, bên mua nợ rất đa dạng, đó có thể là các Ngân hàng thương mại được pháp luật cho phép thực hiện nghiệp vụ mua bán nợ xấu (nếu được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép), các công ty mua bán nợ xấu tập trung, các công ty kinh doanh nghiệp vụ mua bán nợ xấu hoặc có thể là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu. Khả năng tham gia mua nợ của các chủ thể này chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi quy mô nợ xấu trên thị trường cũng như mức độ can thiệp của chính phủ mỗi nước. Trong thời kỳ hệ thống Ngân hàng thương mại phát triển ổn định, nợ xấu trên thị trường có quy mô nhỏ, các chính phủ sẽ để cho thị trường tự điều tiết thông qua vai trò của các công ty kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu, còn khi thị trường bộc lộ những dấu hiệu tiêu cực, nợ xấu tăng cao đến mức báo động, các công ty mua bán nợ xấu tập trung hoạt động với nguồn vốn được cấp từ Ngân sách nhà nước sẽ được thành lập và tham gia mua nợ xấu của các Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, tính chất đặc biệt của công ty mua bán nợ xấu này làm cho sự tồn tại của nó trên thị trường hầu như chỉ mang tính tạm thời. Thông thường các công ty này sau khi hoàn thành xong sứ mệnh lịch sử của mình sẽ tự động giải thể, nhường hoạt động của thị trường cho các Ngân hàng thương mại và các công ty mua bán nợ xấu chuyên nghiệp.

Thứ ba, mua bán nợ xấu là hoạt động mang tính rủi ro cao. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Tính rủi ro của hoạt động này xuất phát tính chất đặc biệt của khoản nợ xấu là đối tượng mua bán giữa các bên. Nợ xấu hình thành khi khách hàng vay không thể thanh toán đầy đủ gốc và lãi khi đến hạn, thậm chí còn bị quá hạn dài. Vì vậy, khả năng thu hồi vốn của loại tài sản này rất thấp, thậm chí trong nhiều trường hợp không có khả năng thu hồi. Khi nợ xấu hình thành, rủi ro thuộc về các Ngân hàng thương mại. Để ngăn chặn rủi ro, một mặt Ngân hàng thương mại phải sử dụng tài sản của mình để trích lập dự phòng, một mặt phải dùng các phương thức khác nhau để xử lý rủi ro đó, trong đó, bán nợ xấu là một trong những phương thức chuyển rủi ro hiệu quả. Khi quan hệ mua bán nợ xấu được xác lập, rủi ro sẽ được chuyển từ Ngân hàng thương mại bán nợ sang bên mua nợ hay có thể nói, khi quyết định mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại, bên bán nợ chấp nhận rủi ro về phía mình. Chính vì vậy, các nhà đầu tư tư nhân thường e ngại tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu của các Ngân hàng thương mại, trừ khi Nhà nước có chính sách ưu đãi đặc biệt để mời gọi họ tham gia đầu tư vào lĩnh vực này. Cho nên thông thường, ở nhiều quốc gia, Chính phủ phải bỏ ra nguồn vốn lớn từ Ngân sách nhà nước để thành lập công ty mua bán nợ xấu, từ đó trực tiếp giải quyết nợ xấu của hệ thống Ngân hàng thương mại và dẫn dắt thị trường mua bán nợ xấu.

Thứ tư, mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại được thực hiện theo nguyên tắc thị trường nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, cần có sự can thiệp Nhà nước.

Mọi quan hệ mua bán đều phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc cơ bản của thị trường, đó là quy luật cung – cầu; quy luật giá trị; quy luật cạnh tranh… Mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài những nguyên tắc đó. Theo đó, việc mua bán nợ xấu phải được xác lập và thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa bên bán nợ và bên mua nợ. Có nghĩa là khi tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán nợ xấu, các bên phải đảm bảo tôn trọng sự thỏa thuận, sự tự do ý chí, không bên nào được ép buộc hay lừa dối bên nào. Đồng thời, các bên có toàn quyền thỏa thuận về các khoản nợ xấu cụ thể được mua bán, giá mua bán, phương thức mua bán…

Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc biệt của loại tài sản là đối tượng mua bán trong giao dịch loại này, chủ thể tham gia và mục đích mua bán, quan hệ mua bán nợ xấu chịu sự can thiệp của Nhà nước với những quy định mang tính bắt buộc các Ngân hàng thương mại ở vào những điều kiện nhất định phải tuân theo. Theo nguyên tắc này, khi nền kinh tế có những dấu hiệu khủng hoảng làm cho tỷ lệ nợ xấu trên hệ thống ngân hàng tăng cao ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của nền kinh tế, tới niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng và tới sự an toàn vốn của các ngân hàng, Nhà nước sẽ thành lập một hoặc một số công ty mua bán nợ xấu đặc biệt để trực tiếp tham gia mua bán nợ xấu của các Ngân hàng thương mại nhằm kéo mức nợ xấu của cả hệ thống Ngân hàng thương mại về ngưỡng an toàn. Để hoạt động này phát huy hiệu quả tối đa thì các Ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ vượt mức an toàn tối thiểu sẽ buộc phải bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ xấu do Nhà nước thành lập. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Đây được coi là một trong những điểm đặc thù của quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại so với các quan hệ mua bán tài sản thông thường, không có sự can thiệp của nhà nước. Nói cách khác, trong một số giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại, các chủ thể tham gia giao dịch không hoàn toàn được tự do ý chí mà phải tuân theo chỉ đạo của nhà nước…

Thứ năm, các chủ thể tham gia vào quan hệ mua bán nợ xấu nhằm tìm kiếm lợi nhuận hoặc kiểm soát và giới hạn tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại ở ngưỡng an toàn.

Trong quan hệ mua bán tài sản thông thường, cả bên mua và bên bán đều tham gia nhằm thỏa mãn những lợi ích nhất định của mình về vật chất hoặc tinh thần. Với các chủ thể kinh doanh, mục đích tìm kiếm lợi nhuận là động lực quan trọng thúc đẩy họ tham gia giao kết và thực hiện các quan hệ mua bán. Đối với quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại, mục đích tìm kiếm lợi nhuận cũng không loại trừ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu. Thông qua việc mua các khoản nợ xấu của các Ngân hàng thương mại, bên mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu mới của khoản nợ xấu và có nhiều cơ hội để thu về khoản lợi nhuận lớn từ việc bán các khoản nợ xấu đó trên thị trường thứ cấp hoặc trực tiếp thu hồi nợ từ con nợ. Kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu được coi là một ngành nghề kinh doanh có mức độ tiềm ẩn rủi ro cao đối với bên mua nợ nhưng rủi ro càng cao thì lợi nhuận có khả năng mang lại càng lớn. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế dẫn tới sự hình thành các khoản nợ xấu và nhu cầu mua nợ xấu của các Ngân hàng thương mại để tìm kiếm lợi nhuận ngày càng phát triển. Đặc biệt với các quốc gia xây dựng được thị trường mua bán nợ xấu, việc giao dịch các khoản nợ xấu được các nhà đầu tư thực hiện không khác gì mua bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường vốn, ở đó, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận được đặt ra như động lực thúc đẩy các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu trên thị trường.

Tuy nhiên, tìm kiếm lợi nhuận không phải là mục đích duy nhất được bên mua và bên bán nợ xấu hướng tới khi xác lập quan hệ mua bán nợ xấu, đặc biệt, nếu quan hệ đó có sự tham gia của các công ty mua bán nợ xấu tập trung hoạt động với nguồn vốn được cấp từ Ngân sách nhà nước. Bản thân các Ngân hàng thương mại nắm giữ nguồn lực tài chính lớn của cả xã hội, vì vậy, nếu nợ xấu của các Ngân hàng thương mại không được kiểm soát sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế và tới toàn xã hội. Trong trường hợp này, mục đích cơ bản và quan trọng nhất mà các chủ thể tham gia giao dịch hướng tới là đưa tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại về ngưỡng an toàn nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của hệ thống Ngân hàng thương mại nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Thứ sáu, hình thức pháp lý của quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại là hợp đồng mua bán nợ xấu. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng mua bán nợ xấu là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên bán nợ và bên mua nợ, theo đó, bên bán nợ chuyển quyền sở hữu khoản nợ, mà thực chất là quyền đòi nợ và các lợi ích khác sang cho bên mua nợ theo những điều kiện và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Có thể coi hợp đồng mua bán nợ xấu là cơ sở quan trọng để ghi nhận sự thỏa thuận của các bên và đảm bảo tính thực thi của những thỏa thuận đó. Thông thường, để được gọi là một hợp đồng mua bán nợ xấu, hợp đồng đó phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:

  • Đó phải là một văn bản ghi nhận sự thỏa thuận của các bên;
  • Văn bản thỏa thuận đó được ký kết giữa hai bên chủ thể: bên mua nợ (tổ chức và cá nhân có nhu cầu) và bên bán nợ (NHTM sở hữu nợ xấu);
  • Nội dung của hợp đồng ghi nhận thỏa thuận của các bên về việc chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ xấu theo phương pháp xác định giá do các bên thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ có liên quan từ bên bán nợ sang cho bên mua nợ, đồng thời thực hiện nghĩa vụ thanh toán bằng tiền hoặc giấy tờ có giá của bên mua nợ với bên bán nợ.

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, sự thỏa thuận của các bên về việc chuyển quyền sở hữu khoản nợ xấu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản. Việc thể hiện dưới các hình thức khác như lời nói hoặc hành vi pháp lý cụ thể sẽ làm cho thỏa thuận không có giá trị pháp lý. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, hợp đồng mua bán nợ xấu phải phù hợp với điều lệ, quy định nội bộ về hoạt động mua bán nợ xấu do các Ngân hàng thương mại tự ban hành trên cơ sở quy định của pháp luật. Trong đó, quy định nội bộ về hoạt động mua bán nợ xấu xác định rõ về phân cấp thẩm quyền theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định mua bán nợ xấu; phương thức mua bán nợ xấu; quy trình mua bán nợ xấu; quy trình định giá khoản nợ xấu; quy trình bán đấu giá khoản nợ xấu trong trường hợp tự đấu giá khoản nợ xấu và quản trị rủi ro đối với hoạt động mua bán nợ xấu. Việc ban hành quy định nội bộ này là cơ sở cho việc giao kết hợp đồng mua bán nợ xấu trên thực tế của các Ngân hàng thương mại.

Đối với các quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh giữa Ngân hàng thương mại bán nợ với bên mua nợ là công ty quản lý tài sản do Nhà nước thành lập, mặc dù chịu sự can thiệp của Nhà nước khi buộc Ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu vượt mức an toàn tối thiểu phải bán nợ, tuy nhiên, quan hệ này vẫn được xác lập dưới hình thức hợp đồng mua bán nợ xấu. Mặc dù hợp đồng mua bán nợ xấu vẫn chứa đựng đầy đủ những điều khoản về đối tượng của hợp đồng, về giá trị hợp đồng, về công cụ thanh toán…tuy nhiên, thực chất, hợp đồng này chỉ là hình thức để hợp pháp hóa sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại.

1.4. Khái quát pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại

1.4.1. Khái niệm pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất định. Trong đời sống xã hội, các quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ không thể thiếu, điều chỉnh các quan hệ xã hội bên cạnh những quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán, chứa đựng những chỉ dẫn về khả năng và các phạm vi có thể xử sự, cũng như những nghĩa vụ (sự cần thiết phải xử sự) của các bên tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và vận hành của xã hội. Các quyền và nghĩa vụ được quy phạm pháp luật dự liệu cho các chủ thể tham gia quan hệ mà nó điều chỉnh luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau với hình thức, tính chất do nhà nước xác định phụ thuộc vào tính chất của chính quan hệ xã hội đó. Vì vậy, trong cơ chế điều chỉnh pháp luật có vai trò thực hiện chức năng thông báo của nhà nước đến các chủ thể tham gia quan hệ xã hội về nội dung ý chí, mong muốn của nhà nước để họ biết được điều gì có thể làm, điều gì không được làm, điều gì phải làm, điều gì phải tránh không làm trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định nào đó. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua bán nợ xấu là cần thiết bởi sự tồn tại của hoạt động mua bán nợ xấu là cần thiết, bắt nguồn cho sự hình thành các quy định pháp luật điều chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý hoạt động này. Pháp luật bảo đảm sự phát triển lành mạnh cho hoạt động mua bán nợ xấu là một hoạt động quan trọng nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do tính phức tạp và độ rủi ro cao, cũng như sự ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, xã hội, mà hoạt động mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cần được điều chỉnh bằng những quy định pháp luật đặc thù, bên cạnh những quy định chung của pháp luật dân sự. Những quy định này cũng chính là bộ quy chuẩn an toàn tối thiểu buộc các bên phải đáp ứng trước khi tham gia vào cuộc chơi, bảo đảm điều hướng các giao dịch mua bán nợ xấu đi theo đúng định hướng phát triển của nhà nước. Mặt khác, pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý hoạt động mua bán nợ xấu. Có pháp luật, nhà nước phát huy được vai trò quản lý của mình. Thông qua những quy định này, nhà nước định hướng cho hành vi của các bên tham gia, bảo đảm được ngành nghề này sẽ phát triển và mang lại những lợi ích cho xã hội. Một trong những lợi ích đó là việc nộp thuế thu nhập, khi hợp pháp hóa hoạt động này, nhà nước dễ có công cụ giám sát, đánh giá, quản lý việc kê khai, nộp thuế của các chủ thể có thu nhập chịu thuế. Đồng thời, những yêu cầu đưa ra về báo cáo định kỳ, cung cấp thông tin cũng giúp cho cơ quan quản lý kiểm soát, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của hoạt động mua bán nợ xấu. Hơn nữa môi trường pháp lý ổn định mở ra nhiều cơ hội phát triển các mối quan hệ kinh doanh, đầu tư. Pháp luật về hoạt động mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại là một kim chỉ nam điều tiết, hướng dẫn để thị trường mua bán nợ xấu hoạt động một cách bài bản, có nguyên tắc, đem lại độ an toàn nhất định cho thị trường. Bằng sự hướng dẫn của pháp luật và sự giám sát của cơ quan công quyền, hoạt động mua bán nợ xấu được thực hiện hiệu quả, phát huy đúng vai trò của mình, giải quyết bài toán nợ xấu cho Ngân hàng thương mại, khơi thông dòng chảy vốn, qua đó ổn định trật tự xã hội, phát triển kinh tế quốc gia.

Bởi vì những lợi ích và tầm quan trọng như đã phân tích, việc xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc để điều chỉnh các mối quan hệ, hoạt động phát sinh trong quá trình mua bán nợ xấu là vô cùng quan trọng và cần thiết xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn. Pháp luật về hoạt động mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại là một bộ phận của pháp luật về các Ngân hàng thương mại. Theo đó, những quy định này cần điều chỉnh mối quan hệ của: (i) Các bên tham gia giao dịch – bên mua nợ, bên bán nợ; (ii) Các bên tham gia giao dịch với bên thứ ba – khách hàng vay, bên môi giới, bên bảo lãnh; (iii) Cơ quan nhà nước với các bên có liên quan trong giao dịch mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại.

Chính vì vậy, pháp luật về mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại có thể được hiểu như sau: Pháp luật về mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh và liên quan đến quá trình thực hiện hoạt động mua bán nợ xấu từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại.

1.4.2. Đặc điểm của pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Thứ nhất, Về nguồn luật điều chỉnh hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại

Hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại được điều chỉnh bởi hệ thống các quy định luật chung (BLDS, Luật thương mại) và Luật chuyên ngành (Luật các TCTD, và các văn bản hướng dẫn thi hành.  Nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại đã được quy định tại Điều 4 Bộ Luật dân sự năm 2015; theo đó ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành; trường hợp luật chuyên ngành không quy định hoặc có quy định nhưng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng Bộ Luật dân sự. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Điều này xuất phát từ việc hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng nên trước hết sẽ chịu sự điều chỉnh của Bộ Luật dân sự bởi các quy định chung về hợp đồng như giao kết hợp đồng tín dụng; hiệu lực hợp đồng tín dụng; hợp đồng tín dụng vô hiệu và hậu quả pháp lý phát sinh; sửa đổi, chấm dứt hợp đồng tín dụng; vi phạm hợp đồng tín dụng và các biện pháp khắc phục; các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng (thế chấp, bảo lãnh, v.v.). Tuy nhiên, hợp đồng tín dụng còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành như Luật các TCTD năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Gọi tắt là Thông tư 39/2016/TT-NHNN); và một số văn bản pháp luật của Ngân hàng Nhà nước có liên quan ….

Thứ hai, Chủ thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại

Trong hoạt động này có sự hiện diện của nhiều chủ thể, với chủ thể chịu sự điều chỉnh chủ yếu chính là bên bán nợ và bên mua nợ. Bên bán nợ là các Ngân hàng thương mại có các khoản nợ được đưa ra bán. Khoản nợ đó phát sinh từ hợp đồng cho vay đối với khách hàng vay và có cho ngân hàng quyền yêu cầu thanh toán khoản nợ khi đến hạn. Bên mua nợ có phạm vi rộng, đa dạng hơn, bao gồm cả tổ chức và cá nhân là những chủ thể đáp ứng được những điều kiện thực hiện hoạt động mua nợ theo quy định pháp luật.

Thứ ba, Về đối tượng điều chỉnh của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại

Pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh và có liên quan trong quá trình thực hiện hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Những quan hệ này phát sinh giữa bên bán nợ và bên mua nợ, với các bên thứ ba, và cơ quan công quyền.

1.4.3. Vai trò pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại góp phần tạo dựng sân chơi bình đẳng cho các bên tham gia mua bán nợ xấu, qua đó bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên và đảm bảo nghĩa vụ của các bên phải được thực hiện. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Sự bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ mua bán nợ xấu là yêu cầu tiên quyết trong việc xây dựng quy chế pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này, đặc biệt khi quan hệ này có sự tham gia của các công ty mua bán nợ tập trung, hoạt động với những đặc quyền được Nhà nước trao cho. Thông thường, khi nợ xấu nằm trong tỷ lệ cho phép, các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu được pháp luật ghi nhận và đảm bảo đầy đủ quyền bình đẳng. Theo đó, cả bên bán nợ và bên mua nợ đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc xác lập và thực hiện quan hệ mua bán nợ xấu. Các Ngân hàng thương mại mặc dù chịu sức ép của việc thu hồi nợ và giảm tỷ lệ nợ xấu nhưng vẫn được chủ động trong việc lựa chọn khoản nợ xấu để bán cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu, cũng như thỏa thuận về giá, phương thức mua bán hay công cụ thanh toán.

Trong thời kỳ nợ xấu tăng cao có nguy cơ gây đổ vỡ hệ thống Ngân hàng thương mại, pháp luật trao cho các công ty mua bán nợ tập trung hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách nhiều đặc quyền. Tuy nhiên, trong sân chơi này, các Ngân hàng thương mại vẫn được pháp luật đảm bảo đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời không làm mất đi sự bình đẳng trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán nợ xấu với công ty mua bán nợ do Nhà nước thành lập. Theo đó, Ngân hàng thương mại được quyền thỏa thuận với công ty mua bán nợ tập trung về những khoản nợ xấu cụ thể để bán, thỏa thuận về giá bán nợ xấu, về phương thức mua bán nợ xấu

Thứ hai, pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại đảm bảo các công ty mua bán nợ tập trung sử dụng đúng, minh bạch nguồn vốn của Ngân sách nhà nước.

Thực tế cho thấy, việc thành lập các công ty mua bán nợ tập trung hoạt động với nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước là yêu cầu tất yếu đối với mỗi quốc gia khi tình hình nợ xấu ngân hàng tăng cao trong khi các công ty mua bán nợ tư nhân không phát huy được vai trò của mình. Nhưng cũng chính vì sử dụng vốn được cấp từ Ngân sách nhà nước dẫn tới những phản đối không nhỏ của một bộ phận doanh nghiệp và người dân, khi họ cho rằng, sử dụng tiền thuế của người dân và doanh nghiệp đóng góp để “gỡ khó” cho các Ngân hàng thương mại là không thực sự công bằng. Đặc biệt khi các khoản nợ xấu được hình thành phần nhiều do các Ngân hàng thương mại chạy đua lợi nhuận và thực hiện các khoản cho vay dưới chuẩn. Vì vậy, họ cho rằng bản thân Ngân hàng thương mại phải tự chịu trách nhiệm trong việc giải quyết những hậu quả do mình gây ra.

Trước những sức ép lớn từ người dân và doanh nghiệp như vậy, pháp luật phải được xây dựng ra sao nhằm đảm bảo hoạt động của các công ty mua bán nợ tập trung minh bạch, công khai và hiệu quả. Chỉ khi pháp luật đáp ứng được những yêu cầu này, Ngân sách nhà nước mới được sử dụng hiệu quả, không bị các đối tượng có quyền và nghĩa vụ liên quan lợi dụng để thực hiện hành vi trục lợi.

Như vậy, với vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại sẽ tạo ra môi trường pháp lý cần thiết định hướng hoạt động cho các chủ thể, tạo ra các chuẩn mực xử sự chung cho các chủ thể tham gia hoạt động này. Nhằm đưa các quan hệ mua, bán nợ vào đúng quỹ đạo mong muốn, Nhà nước đã định ra các quy chế pháp lý cần thiết về việc cấp giấy phép hoạt động cho chủ thể mua bán nợ, xác định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể này, cũng như các chế tài pháp lý đối các hành vi vi phạm pháp luật và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia giao dịch mua bán nợ, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế.

Thứ ba, pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại mang tính “dọn dẹp”, sắp xếp lại thị trường mua bán nợ. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

Bản thân các quy định của pháp luật được ban hành đều mang tính định hướng phát triển các quan hệ xã hội theo mục tiêu do Nhà nước đặt ra. Các quy định này có thể làm hình thành các quan hệ xã hội mới hoặc sắp xếp lại các quan hệ xã hội khi các quan hệ đã tồn tại trước đó không phát huy được giá trị mà Nhà nước mong muốn. Trong quan hệ mua bán nợ xấu, sự gặp gỡ giữa Ngân hàng thương mại bán nợ xấu và bên mua nợ là nhu cầu tất yếu khách quan. Tuy nhiên, các quan hệ này khi chưa được điều chỉnh bởi các quy định riêng biệt có thể phát triển theo mục tiêu khác nhau, với những chuẩn mực khác nhau. Khi các quy định của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại ra đời, thị trường mua bán nợ xấu được sắp xếp lại và định hình một cách rõ nét với sự đa dạng của các chủ thể tham gia mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại, trong đó trọng tâm được đặt vào công ty mua bán nợ tập trung do Nhà nước thành lập. Khi đó, thị trường mua bán nợ hình thành và trở thành chìa khóa để giải quyết tình trạng nợ xấu của các Ngân hàng thương mại.

Kết luận Chương 1

Trong phạm vi Chương 1 của luận văn, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm đặc điểm nợ, nợ xấu và mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại; vai trò pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại. Trong đó làm rõ quan điểm về nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại hiện nay tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, sự cần thiết cũng như các phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Cho dù có nhiều quan điểm và cách phân loại khác nhau, nợ xấu đều được nhìn nhận là nguy cơ hàng đầu đem đến bất ổn cho nền kinh tế. Tại Việt Nam, các quy định về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại đã được ban hành và liên tục hoàn thiện.   Các nội dung nghiên cứu tại Chương 1 là cơ sở lý thuyết nền tảng để tác giả tiến hành phân tích và làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại tại Chương 2 của luận văn. Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng

One thought on “Luận văn: Pháp luật mua bán nợ xấu phát sinh hợp đồng tín dụng

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *