Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
2.1.1. Quy định pháp luật về điều kiện đối với khoản nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
Căn cứ vào các đặc điểm tác động đến rủi ro tín dụng của khoản nợ và tình hình thanh khoản của Ngân hàng thương mại đã cho vay, Ngân hàng thương mại này lựa chọn việc bán nợ cho các chủ thể mua nợ. Tuy nhiên, không phải mọi khoản nợ của Ngân hàng thương mại đều có thể đưa vào giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, mà khoản nợ được mua, bán phải đáp ứng các quy định của pháp luật tại Khoản 2, Điều 3, Thông tư 09/2015/TT-NHNN, đó là khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay và khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh theo hợp đồng cấp tín dụng đã ký của Ngân hàng thương mại, đang được theo dõi hạch toán nội bảng, ngoại bảng tại bảng cân đối kế toán hoặc đã xuất toán ra khỏi bảng cân đối kế toán của bên bán nợ có đủ điều kiện theo quy định và bên nợ có nghĩa vụ thanh toán tiền cho Ngân hàng thương mại.
Nhìn chung, các điều kiện cơ bản mà một khoản nợ phải đáp ứng được để đưa vào mua, bán được quy định tại Điều 4, Thông tư 09/2015/TT-NHNN bao gồm:
Thứ nhất, về hồ sơ, chứng từ và các tài liệu có liên quan của khoản nợ được mua, bán, hợp đồng bảo đảm (nếu có) do bên bán nợ cung cấp phải phản ánh đầy đủ, chính xác thực trạng khoản nợ theo đúng quy định của pháp luật: pháp luật đưa ra yêu cầu này nhằm bảo đảm sự minh bạch, rõ ràng của khoản nợ được đưa vào mua, bán, hạn chế rủi ro lựa chọn nghịch trong giao dịch, ảnh hưởng đến khả năng đánh giá khoản nợ của bên mua nợ, ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ về sau của chủ nợ. Một thị trường bền vững cần bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia, mà cụ thể là không chỉ bên bán nợ mà cả bên mua nợ trong thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại được đề cập đến ở đây. Thông qua những chứng từ, tài liệu này, bên mua mới có đủ cơ sở để định giá được khoản nợ, cũng đánh giá được khả năng và phương án thu hồi nợ.
Thứ hai, không có thỏa thuận bằng văn bản về việc không được mua, bán khoản nợ: đây là điều kiện hiển nhiên, nếu trong hợp đồng cho vay hoặc một thỏa thuận bổ sung nào khác mà Ngân hàng thương mại thoả thuận với khách hàng vay về việc không được mua, bán khoản nợ đó, Ngân hàng thương mại cần thực hiện theo cam kết của mình. Đối với các khoản nợ này, Ngân hàng thương mại buộc phải tự mình thu hồi nợ. Trường hợp Ngân hàng thương mại và bên vay nợ có thỏa thuận không được mua, bán khoản nợ đã cho vay, nhưng sau đó huỷ bỏ, chấm dứt thỏa thuận này, khoản nợ đó được xem là không có thoả thuận về việc không được mua, bán khoản nợ. Điều kiện thoả thuận bằng văn bản được đặt ra bởi trong các quan hệ hợp đồng cho vay tín dụng hay hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, điều kiện về hình thức thỏa thuận bằng văn bản luôn được pháp luật yêu cầu như quy định tại Khoản 1, Điều 23, Thông tư 39/2016/TT-NHNN và Khoản 1, Điều 3, Thông tư 09/2015/TT-NHNN, do đó thoả thuận về việc không được mua, bán khoản nợ, là một phần của hợp đồng cho vay, ảnh hưởng đến hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, cũng cần được thể hiện bằng văn bản. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Thứ ba, khoản nợ không được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại thời điểm mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại trừ trường hợp bên nhận bảo đảm đồng ý bằng văn bản về việc bán nợ. Điều kiện này thoả mãn nguyên tắc chung trong giao dịch các tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Khoản 2, Điều 313 và Khoản 8, Điều 320 của Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp một khoản nợ được Ngân hàng thương mại dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, khoản nợ đó được xem là tài sản bảo đảm. Theo quy định, ngân hàng muốn bán tài sản bảo đảm thì phải có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm. Do đặc điểm của tài sản bảo đảm ít nhiều có sự thay đổi, ở đây là thay đổi về chủ sở hữu, sự thay đổi này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nhận bảo đảm, vì vậy muốn bán tài sản bảo đảm này thì phải được bên nhận bảo đảm đồng ý. Bên cạnh đó, yêu cầu này còn giúp bảo vệ bên mua nợ trong trường hợp khoản nợ đã dùng để bảo đảm nghĩa vụ nhưng bên bán không thông báo cho bên mua biết.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Quy định về chủ thể mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
2.1.2.1. Về bên bán nợ
Bên bán nợ trong hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại ở thị trường sơ cấp là các Ngân hàng thương mại, đồng thời Ngân hàng thương mại đó phải có khoản nợ được phép bán theo quy định của pháp luật. Trong quá trình kinh doanh của mình, đặc biệt là hoạt động cho vay, ngân hàng sở hữu các khoản nợ cần được giải quyết. Khi đó, Ngân hàng thương mại tham gia vào giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại vì mục đích thu hồi vốn, giảm tỷ lệ nợ xấu, tăng tính thanh khoản, giúp lành mạnh hoá hoạt động của mình, qua đó củng cố sự an toàn đối với hệ thống Ngân hàng thương mại. Trên thực tế, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thường chỉ có ý định bán các khoản nợ thuộc nhóm nợ khó đòi, nợ xấu và thường với giá trị lớn thay vì các khoản nợ nhỏ lẻ, ít rủi ro.
Pháp luật hiện hành đã có khuôn khổ pháp lý tương đối để bảo vệ các chủ thể tham gia vào giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Trong đó, pháp luật đặt ra những yêu cầu nhất định đối với chủ thể tham gia với tư cách bên bán nợ. Về mặt tư cách chủ thể, Ngân hàng thương mại phải được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật với giấy phép hoạt động được cấp bởi Ngân hàng nhà nước theo Điều 22, Luật các tổ chức tín dụng 2010. Về mối liên hệ với khoản nợ, Ngân hàng thương mại bán khoản nợ phải có quyền sở hữu hợp pháp đối với khoản nợ, để từ đó có quyền định đoạt khoản nợ, đưa ra quyết định chuyển giao quyền sở hữu tài sản như được quy định tại Điều 192, Bộ luật Dân sự 2015. Quyền định đoạt khoản nợ này của Ngân hàng thương mại có thể bị giới hạn trong một số trường hợp mà việc chuyển nhượng có ảnh hưởng đến các chủ thể khác, theo Điều 4, Thông tư 09/2015/TT-NHNN, đó là khi có sự thoả thuận với khách hàng vay hay khi khoản nợ được dùng làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ dân sự khác.
Các chủ thể sau mua nợ từ Ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật sẽ trở thành chủ sở hữu hợp pháp đối với các khoản nợ này. Khi đó, các chủ thể này có thể bán lại nợ trong phạm vi pháp luật cho phép, ví dụ như VAMC có thể bán nợ cho các tổ chức, cá nhân theo Khoản 6, Điều 16, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP) (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP) về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam,. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Về nguyên tắc, bên bán nợ tham gia vào hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại bằng sự tự do ý chí của mình. Cụ thể bên bán nợ tự mình đưa ra quyết định về việc:
Thứ nhất, liệu họ có tham gia vào giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại hay không. Dựa trên rủi ro tín dụng mà Ngân hàng thương mại phải gánh chịu, nhu cầu sử dụng vốn, năng lực thu hồi vốn vay của mình, Ngân hàng thương mại đưa ra quyết định tham gia vào giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại với tư cách bên bán nợ.
Thứ hai, họ còn quyết định về việc bán khoản nợ nào trong các khoản nợ đủ điều kiện bán. Khi các khoản nợ của Ngân hàng thương mại đáp ứng đủ các điều kiện để trở thành đối tượng được mua, bán của Ngân hàng thương mại, ngân hàng có quyền chọn ra khoản nợ trong các khoản nợ như vậy để bán cho bên mua nợ. Trong trường hợp đó, pháp luật không can thiệp buộc Ngân hàng thương mại phải bán khoản nợ này hay khoản nợ khác.
Thứ ba, nếu bán thì họ sẽ bán khoản nợ cho bên mua nợ nào. Ngân hàng thương mại được quyền chọn bán khoản nợ đủ điều kiện bán của mình cho người mua nợ này hay người mua nợ khác. Dù vậy, sự tự do này có một số giới hạn, cụ thể như sau:
Sự tự do đó phải tuân thủ các quy định tại Khoản 7, Điều 5, Thông tư 09/2015/TT-NHNN, Ngân hàng thương mại không được bán nợ cho công ty con của chính Ngân hàng thương mại đó, trừ trường hợp bán nợ cho AMC của Ngân hàng thương mại mẹ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng Ngân hàng thương mại dồn, đẩy nợ xấu cho công ty con nhằm lành mạnh hóa tình hình tài chính của mình, nhưng thực chất bài toán nợ xấu không được giải quyết.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, pháp luật yêu cầu Ngân hàng thương mại phải bán nợ cho bên mua nợ do pháp luật chỉ định. Điển hình là trường hợp, ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu từ 3% so với tổng dư nợ tín dụng trở lên phải bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) theo quy định tại Khoản 1, Điều 21, Thông tư 19/2013/TTNHNN (sửa đổi bổ sung bởi Thông tư số 32/2019/TT-NHNN) uy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Mặc dù những quy định này hạn chế một phần sự tự do của Ngân hàng thương mại trong việc lựa chọn chủ thể giao kết hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, song những hạn chế như vậy là cần thiết bởi lẽ nó đem lại sự an toàn cho hoạt động của Ngân hàng thương mại nói riêng và nền kinh tế tài chính nói chung.
2.1.2.2. Về bên mua nợ Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Bên mua nợ là một chủ thể đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, bên mua nợ bằng hành vi mua lại khoản nợ của mình giúp bên bán nợ đạt được mục đích thu hồi vốn của mình, giải quyết các bài toán về kinh doanh, đảm bảo sự an toàn trong hoạt động ngân hàng, xử lý được nợ xấu. Bên mua nợ là tổ chức, cá nhân theo quy định tại Khoản 4, Điều 3, Thông tư 09/2015/TT- Ngân hàng nhà nước, bao gồm: (i) Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được Ngân hàng nhà nước chấp thuận hoạt động mua nợ; (ii) tổ chức kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại (không phải Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật; (iii) tổ chức khác, cá nhân không kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại; và (iv) tổ chức, cá nhân là người không cư trú.
Về luật thực định, nhìn chung pháp luật hiện hành quy định các chủ thể mua nợ cần phải có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với các Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được Ngân hàng nhà nước chấp thuận hoạt động mua nợ:
Nhóm chủ thể này muốn tham gia vào hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cần thoả mãn các điều kiện tại Khoản 3, Điều 5, Thông tư 09/2015/TT-NHNN, cụ thể như sau: Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua nợ khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận hoạt động mua nợ tại Giấy phép thành lập và hoạt động của Ngân hàng thương mại đó và có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Sở dĩ có quy định về điều kiện tỷ lệ nợ xấu dưới 03% như vậy bởi một Ngân hàng thương mại giải quyết tốt bài toán nợ xấu của mình mới có khả năng giải quyết các khoản nợ được mua lại.
Thứ hai, tổ chức kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại (không phải Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật:
Tổ chức kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại (không bao gồm Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) chủ yếu gồm có: (i) các công ty mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại thành lập và hoạt động theo Nghị định số 69/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại (Nghị định 69/2016/NĐ-CP); (ii) các Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của Ngân hàng thương mại mẹ (AMC); (iii) Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam (DATC); và (iv) VAMC. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Về các công ty mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại thành lập và hoạt động theo Nghị định 69/2016/NĐ-CP, để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, các công ty này phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt theo quy định tại Nghị định 69/2016/NĐ-CP. Cụ thể, các điều kiện này được quy định tại Điều 5 và Điều 7 của Nghị định 69/2016/NĐ-CP, bao gồm: (i) doanh nghiệp phải có quy chế quản lý nội bộ về tổ chức, quy định nội bộ về hoạt động kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại phù hợp với quy định pháp luật; (ii) người quản lý của doanh nghiệp phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp, có trình độ học vấn từ đại học trở lên thuộc một trong các ngành: Kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc lĩnh vực chuyên môn mà mình sẽ đảm nhận, là người quản lý hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, pháp luật, định giá tài sản hoặc mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, không là người quản lý của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong 03 năm trước liền kề; (iii) có mức vốn điều lệ, vốn đầu tư tối thiểu là 100 tỷ đồng. Mặc dù có quy định đó, song trên thực tế, do điều kiện thành lập quá cao, loại tổ chức mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại này chưa thực sự chiếm số đông hay có chỗ đứng trên thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Về nhóm AMC: các AMC tại Việt Nam có lịch sử hình thành từ lâu đời hơn so với các tổ chức kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại khác (không bao gồm Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Từ năm 2001 – 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 150/2001/QĐTTg về thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng thương mại (Quyết định 150/2001/QĐ-TTg), Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 27/2002/TT-BTC quy định chế độ tài chính cho các công ty AMC (Thông tư số 27/2002/TT-BTC), Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 1390/2001/QĐ-NHNN ngày 07/11/2001 của Ngân hàng nhà nước ban hành điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại (Quyết định 1390/2001/QĐ-NHNN), theo đó ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành. Quyết định này quy định các AMC là Công ty có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng vốn tự có, được thành lập theo quyết định của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại, hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm nợ vay theo Điều 1, Điều lệ mẫu ban hành kèm Quyết định 1390/2001/QĐ-NHNN. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Việc sớm có những quy định pháp luật điều chỉnh, hướng dẫn hoạt động cho các AMC tạo điều kiện cho hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại phát triển, xử lý nợ xấu, làm lành mạnh tình hình tài chính cho các Ngân hàng thương mại mẹ. Nội dung hoạt động của các AMC được quy định tại Điều 10, Điều lệ mẫu ban hành kèm Quyết định 1390/2001/QĐ-NHNN, chủ yếu bao gồm việc: (i) tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng (bao gồm: nợ có tài sản bảo đảm và nợ không có tài sản bảo đảm) và tài sản bảo đảm nợ vay (tài sản thế chấp, cầm cố; tài sản gán nợ; tài sản Toà án giao ngân hàng) liên quan đến các khoản nợ để xử lý, thu hồi vốn nhanh nhất; (ii) hoàn thiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trình Ban chỉ đạo cơ cấu lại tài chính Ngân hàng thương mại của Chính phủ xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ cho phép Ngân hàng thương mại xoá nợ cho khách hàng (đối với nhóm nợ không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng để thu hồi); (iii) chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng thương mại theo giá thị trường (giá bán tài sản có thể cao hoặc thấp hơn giá trị nợ tồn đọng) theo hình thức mà pháp luật quy định; (iv) cơ cấu lại nợ tồn đọng bằng các biện pháp: giãn nợ, miễn giảm lãi suất, đầu tư thêm, chuyển đổi nợ thành vốn góp; (v) xử lý tài sản bảo đảm nợ vay bằng các biện pháp thích hợp: cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho thuê, khai thác kinh doanh, góp vốn, liên doanh bằng tài sản để thu hồi nợ; (vi) thực hiện các hoạt động khác theo uỷ quyền của Ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật; (vii) mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại tồn đọng của Ngân hàng thương mại khác, của các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của Ngân hàng thương mại khác theo quy định của pháp luật.
Về DATC: DATC có nguồn gốc từ Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, được thành lập bởi Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg ngày 05/06/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (Quyết định 109/2003/QĐ-TTg). Sau đó, Công ty Mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp được tổ chức lại theo Quyết định số 1494/QĐ-BTC ngày 30/06/2010 của Bộ Tài chính, tạo tiền đề chuyển đổi thành DATC, là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Mục tiêu hoạt động của DATC được quy định tại Khoản 1, Điều 5, Thông tư 135/2015/TTBTC ngày 31/08/2015 của Bộ Tài chính ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam, cụ thể là: (i) hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước; (ii) bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại DATC và vốn của DATC đầu tư tại các doanh nghiệp khác; (iii) hoàn thành các nhiệm vụ khác do chủ sở hữu nhà nước giao theo quy định tại Khoản 1, Điều 5, Thông tư số 135/2015/TT-BTC.
Vào ngày 27/10/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 129/2020/NĐCP về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của DATC, có hiệu lực vào ngày 10/12/2020, thay thế Quyết định 109/2003/QĐ-TTg. Theo đó, DATC đã được xác định rõ chức năng mua, xử lý các khoản nợ không trùng lắp với mục tiêu, nhiệm vụ của VAMC. Cụ thể, DATC tiếp tục phối hợp các Bộ, ngành, địa phương kịp thời tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ khỏi giá trị doanh nghiệp khi sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước, phấn đấu hoàn thành xong việc xử lý nợ và tài sản đã tiếp nhận để thu hồi vốn cho Nhà nước với hiệu quả cao nhất; Nghiên cứu đổi mới cách làm, cách thức phối hợp với các Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp, đối tác từ đó đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, tái cơ cấu doanh nghiệp tương xứng với quy mô và năng lực của Công ty . Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Về VAMC: VAMC được hình thành muộn hơn so với việc hình thành DATC và AMC. Năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 53/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP)). Sau DATC, VAMC là tổ chức kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại (không phải Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. VAMC được thành lập và chịu sự quản lý nhà nước, thanh tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước nhằm xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế.
VAMC mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại theo một trong hai phương thức sau:
Thứ nhất, VAMC mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành thông qua việc phát hành trái phiếu đặc biệt theo Khoản 1, Điều 7, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP);
Thứ hai, VAMC mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại theo giá trị thị trường bằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt theo Điều 7, Nghị định 53/2013/NĐ-CP. Để VAMC được phép thực hiện phương án này, khoản nợ xấu của Ngân hàng thương mại được mua phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 8, Nghị định 53/2013/NĐ-CP, đó là khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm, hợp pháp và có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ, khách hàng vay còn tồn tại, số dư của khoản nợ xấu hoặc dư nợ xấu của khách hàng vay không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng nhà nước. Bên cạnh đó VAMC còn phải được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ xấu, và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại hoặc khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ, đồng thời Hội đồng thành viên của VAMC phải xây dựng phương án mua các khoản nợ xấu theo phương thức này trình Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp thuận trước khi thực hiện.
2.1.3. Quy định pháp luật về phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại là số tiền bên mua nợ phải thanh toán cho bên bán nợ theo hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại như được quy định tại Khoản 8, Điều 3, Thông tư 09/2015/TT-NHNN. Giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại thông thường được dựa trên nguyên tắc giá trị thị trường, trừ trường hợp VAMC mua nợ dựa vào giá trị sổ sách. Nếu các bên tham gia vào hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại qua phương thức thỏa thuận, giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cũng sẽ được xác định bằng cách thỏa thuận. Nếu các bên tham gia vào hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại qua phương thức đấu giá lên, giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại là giá được trả cao nhất trong phiên đấu giá.
Hiện nay pháp luật về hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, cụ thể là Khoản 1, Điều 12, Thông tư 09/2015/TT-NHNN, chỉ quy định một cách khái quát, chung chung về cách thức xác định giá mua, bán nợ khi mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo phương thức thỏa thuận và cách thức xác định giá khởi điểm khi mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo phương thức đấu giá, cụ thể được xác định trên cơ sở giá trị ghi sổ khoản nợ, khoản lãi mà bên nợ sẽ phải trả trong tương lai, phân loại nhóm khả năng thu hồi của khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm (nếu có). Tuy nhiên, pháp luật vẫn chưa xây dựng một hệ thống quy tắc cụ thể chi tiết để định hướng cho các bên trong việc xác định giá mua, bán khoản nợ. Mặc dù theo kinh nghiệm từ thị trường thế giới thì mức giá giao dịch luôn thấp hơn nhiều so với giá trị sổ sách khoản nợ, song điều này cũng tác động ít nhiều, khiến cho bên bán nợ lo ngại, e dè trong việc bán nợ do không có cơ sở đánh giá liệu giá mua, bán khoản nợ là hợp lý hay chưa, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại có vốn ngân sách nhà nước thì càng cần phải thận trọng, tránh thất thoát ngân sách nhà nước.
Việc thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đã được ban hành tại Nghị định 61/2017/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2017 đã giúp các bên sử dụng phương thức đấu giá để mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại có thể có cơ sở xác định giá khởi điểm nhằm làm căn cứ để các bên đưa ra giá mua, bán chính thức khi đấu giá. Tuy nhiên quy định này chỉ có hiệu lực áp dụng đối với hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại của VAMC, với các trường hợp được quy định tại Điều 4 của Nghị định 61/2017/NĐ-CP:
Một là, khoản nợ xấu được VAMC mua theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt mà khi xác định giá khởi điểm để đấu giá, VAMC không thỏa thuận được với Ngân hàng thương mại bán nợ về giá khởi điểm.
Hai là, khoản nợ xấu được VAMC mua theo giá trị thị trường.
Ba là, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu mà khi xác định giá khởi điểm để đấu giá, VAMC không thỏa thuận được với bên bảo đảm về giá khởi điểm.
Khi xảy ra một trong các trường hợp trên, VAMC cần phải lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá thực hiện thẩm định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu và sử dụng kết quả thẩm định giá để xác định giá khởi điểm của khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Xác định giá mua, bán khoản nợ là một trong những bước khó khăn nhất đối với các bên tham gia vào hoạt động này, việc không thống nhất được giá giữa bên mua và bên bán là chuyện thường xuyên xảy ra. Ở nhiều nước, việc định giá khoản nợ xấu chỉ bằng 20% – 30% giá trị sổ sách, trong khi đó tại Việt Nam, nhiều bên bán lại mong muốn bán nợ xấu phải bằng cả nợ gốc thậm chí cả lãi vay. Điều này là không thể thực hiện được do bên mua nợ không chấp nhận. Việc không thỏa thuận được giá mua, bán là một trong những lý do lớn nhất khiến việc đàm phán hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại không đi đến giai đoạn ký kết.
Trong những năm đầu thập niên 2000, Trung Quốc đã thành lập các công ty mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại nhằm xử lý nợ xấu trong hệ thống tín dụng của nước này. Tuy nhiên, với cơ chế xử lý nợ bằng các biện pháp thanh lý tài sản thế chấp, cầm cố thì kết quả đạt được lại chưa thực sự tốt. Từ năm 2012, Trung Quốc đã áp dụng những biện pháp mới để xây dựng thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại với những chính sách khuyến khích chứng khoán hóa và khuyến khích chuyển giao các khoản nợ chưa được chứng khoán hóa thông qua “hệ thống chuyển giao nợ” được phát triển bởi Ủy ban kiểm soát ngành ngân hàng. Thông qua hệ thống này, các nhà đầu tư có thể tham khảo được khung giá cả cho các giao dịch mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại và đạt được sự minh bạch trong giao dịch thay vì chỉ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại thông qua các giao dịch riêng tư như trước đây hoặc ngân hàng tự nắm giữ và xử lý khoản nợ do không thể đưa vào mua, bán.
2.1.4. Quy định pháp luật về phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại
2.1.4.1. Quy định về phương thức thỏa thuận
Phương thức thỏa thuận được tiến hành thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới. Để tiến hành việc mua bán theo phương thức này, bên bán nợ và bên mua nợ sẽ trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc và đàm phán về các nội dung cơ bản của hợp đồng như: khoản nợ cụ thể được mua bán, giá mua bán, phương thức thanh toán… hoặc thông qua vai trò của bên môi giới làm cầu nối cho bên bán nợ và bên mua nợ gặp gỡ nhau.
Trong quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại giữa Ngân hàng thương mại bán nợ và bên mua nợ là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, tổ chức, cá nhân không có chức năng kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, việc lựa chọn phương thức thỏa thuận hay đấu giá để xác lập quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên. Pháp luật dân sự nói chung và các quy định của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại nói riêng dành sự tôn trọng tối đa quyền thỏa thuận, tự lựa chọn của các bên mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Trong quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại giữa Ngân hàng thương mại bán nợ với bên mua nợ là VAMC, phương thức thỏa thuận gắn liền với phương pháp mua nợ xấu theo giá trị sổ sách của khoản nợ xấu quy định tại Điều 7 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP).
Phương thức này được tiến hành theo trình tự sau: Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Bước 1: Ngân hàng thương mại rà soát các khoản nợ xấu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 16 Thông tư 19/2013/TT-NHNN và lập hồ sơ đề nghị mua nợ gửi VAMC.
Bước 2: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị mua nợ của Ngân hàng thương mại, VAMC phải tiến hành kiểm tra hồ sơ và yêu cầu Ngân hàng thương mại bán nợ bổ sung hồ sơ khi cần thiết.
Bước 3: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, VAMC xem xét, thẩm định tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và có văn bản trả lời Ngân hàng thương mại về việc mua hoặc không mua các khoản nợ xấu. Trường hợp không mua nợ, văn bản trả lời phải nêu rõ lý do.
Bước 4: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo đồng ý mua nợ của VAMC, Ngân hàng thương mại và VAMC tiến hành ký kết hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Bước 5: Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua, bán, Ngân hàng thương mại bán nợ phải thông báo cho khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm về nội dung bán nợ để biết và thực hiện nghĩa vụ với VAMC.
Sau khi ký kết hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, VAMC tiếp tục kiểm tra, thu thập thông tin và đánh giá khách hàng vay, khoản nợ xấu, tính chính xác, trung thực của hồ sơ, tài liệu liên quan đến khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm.
Bên cạnh đó, phương thức thỏa thuận cũng được sử dụng đề xác lập quan hệ hợp đồng khi VAMC mua nợ xấu của các Ngân hàng thương mại theo phương pháp xác định giá nợ xấu theo giá trị thị trường của khoản nợ xấu. Khoản 2 Điều l Nghị định 18/2016/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 53/2013/NĐ-CP quy định: “Công ty Quản lý tài sản mua nợ xấu của tổ chức tín dụng theo giá trị thị trường trên cơ sở thỏa thuận và giá trị Khoản nợ xấu được đánh giá lại”.
Việc mua nợ xấu theo phương thức này được VAMC tiến hành sau khi đã được Ngân hàng nhà nước chấp thuận Phương án mua nợ xấu theo giá trị thị trường, trong đó VAMC đã thực hiện các công việc như:
- Đánh giá khoản nợ xấu đáp ứng các điều kiện được quy định của pháp luật;
- Xác định giá trị thị trường của khoản nợ xấu, kể cả tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đó. Công ty Quản lý tài sản phải định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá trị khoản nợ xấu;
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, rủi ro và khả năng thu hồi vốn mua khoản nợ xấu;
- Phân tích, đánh giá thực trạng và triển vọng khoản nợ xấu, khách hàng vay, bên bảo đảm, bên có nghĩa vụ trả nợ và các điều kiện thỏa thuận mua nợ với Ngân hàng thương mại bán nợ; Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Dự kiến các biện pháp khả thi xử lý nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Sau khi thống nhất với Ngân hàng thương mại bán nợ, VAMC và Ngân hàng thương mại ký kết hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị thị trường phải được lập thành văn bản đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại của Ngân hàng thương mại và pháp luật về hợp đồng nói chung.
Như vậy, đề xác lập quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, các bên có toàn quyền lựa chọn phương thức thỏa thuận mà không chịu bất kỳ sự can thiệp hay chỉ đạo nào của các cơ quan công quyền. So với phương thức đấu giá, thỏa thuận có khả năng bảo vệ các thông tin của Ngân hàng thương mại tốt hơn vì các thông tin về khoản nợ sẽ không phải thông báo công khai nhằm mời gọi các bên mua nợ. Ngoài ra, phương thức thỏa thuận có thủ tục đơn giản nên có khả năng chuyển giao nợ từ Ngân hàng thương mại bán nợ sang bên mua nợ nhanh hơn, đồng thời chi phí ít tốn kém hơn nên được các bên ưu tiên lựa chọn khi xác lập quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Đối với VAMC, phương thức này giúp đẩy nhanh quá trình “gom” nợ xấu, đưa tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng thương mại về mức an toàn, phù hợp với mục tiêu của VAMC nên được áp dụng triệt để khi mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại.
2.1.4.2. Quy định về phương thức đấu giá
Phương thức đấu giá được tiến hành bằng cách bên bán nợ thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản hoặc tự tổ chức bán đấu giá khoản nợ. Mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại thông qua việc đấu giá các khoản nợ là một phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại điển hình. Sở dĩ như vậy vì các khoản tín dụng mà Ngân hàng thương mại cấp cho khách hàng thông thường được đảm bảo bằng bất động sản. Vì vậy, thông qua hoạt động đấu giá của tổ chức đấu giá chuyên nghiệp, giá trị của tài sản đảm bảo sẽ được đánh giá một cách khách quan và sát giá thực tế nhất. Theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016, phương thức này được tiến hành theo trình tự, thủ tục đấu giá tài sản nói chung như sau:
Bước 1: Ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản. Theo Điều 33 Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Ngân hàng thương mại có nợ xấu đấu giá ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá tài sản. Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản phải được lập thành văn bản, được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định của Luật Đấu giá tài sản. Đồng thời khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng thương mại gửi cho tổ chức đấu giá các tài liệu liên quan đến khoản nợ xấu và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các tài liệu này.
Bước 2: Ban hành quy chế cuộc đấu giá. Theo đó, tổ chức đấu giá tài sản ban hành và thông báo công khai Quy chế cuộc đấu giá áp dụng cho từng cuộc đấu giá trước ngày niêm yết việc đấu giá tài sản. Quy chế này bao gồm những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 34.
Bước 3: Niêm yết việc đấu giá tài sản. Tổ chức đấu giá tài sản phải niêm yết việc đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình và nơi tổ chức cuộc đấu giá ít nhất là 07 ngày làm việc trước ngày mở cuộc đấu giá. Tổ chức đấu giá tài sản lưu tài liệu, hình ảnh về việc niêm yết đấu giá tài sản trong hồ sơ đấu giá. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Bước 4: Đăng ký tham gia đấu giá. Cá nhân, tổ chức đăng ký tham gia đấu giá thông qua việc nộp hồ sơ tham gia đấu giá hợp lệ và tiền đặt trước cho tổ chức đấu giá tài sản. Người tham gia đấu giá phải nộp tiền đặt trước. Khoản tiền đặt trước do tổ chức đấu giá tài sản và Ngân hàng thương mại bán nợ xấu thỏa thuận, nhưng tối thiểu là năm phần trăm và tối đa là hai mươi phần trăm giá khởi điểm của khoản nợ xấu được đấu giá.
Bước 5: Tổ chức đấu giá. Sau khi thực hiện các thủ tục luật định, tổ chức cuộc đấu giá theo hình thức và phương thức đã lựa chọn theo quy chế ban hành và lập biên bản đấu giá được quy định Điều 40 đến Điều 44 Luật Đấu giá tài sản.
Bước 6: Ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá, tổ chức đấu giá chuyển kết quả đấu giá tài sản, biên bản đấu giá, danh sách người trúng đấu giá cho Ngân hàng thương mại bán nợ xấu để ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Hợp đồng mua bán này được ký kết giữa Ngân hàng thương mại bán nợ xấu với người trúng đấu giá hoặc giữa người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá và tổ chức đấu giá nếu có thỏa thuận.
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
2.2.1. Áp dụng quy định pháp luật về đối tượng mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Mặc dù pháp luật cho phép mua, bán các khoản nợ là nợ xấu và nợ đủ tiêu chuẩn, nhưng trên thực tế, tại thị trường Việt Nam hầu như chủ yếu diễn ra hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại như một công cụ xử lý nợ xấu của các ngân hàng. Tuy nhiên, các khoản nợ đủ tiêu chuẩn là một loại hàng hoá tốt xét trên phương diện người mua hàng, do đó nó là một mặt hàng hấp dẫn đối với thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Thực tiễn mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay cho thấy việc mua, bán khoản nợ đủ tiêu chuẩn (nợ thuộc nhóm 1 và nhóm 2) xẩy ra trong các trường hợp sau: (i) Trường hợp bán khoản nợ đồng tài trợ; (ii) Bán nợ để cơ cấu danh mục đầu tư; (iii) Mua nợ lại từ các ngân hàng thành viên tham gia cho vay đồng tài trợ; (iv) Mua nợ để tái cấu trúc tài chính cho Bên Nợ; (v) Mua nợ nhằm mở rộng danh mục đầu tư.
Hiện nay, không có số liệu thống kê đối với việc mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại đủ tiêu chuẩn của các Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, có thể khẳng định số lượng giao dịch này không có nhiều. Tình hình ngược lại đối với việc mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, tính từ năm 2012 đến cuối tháng 08 năm 2019, toàn hệ thống các Ngân hàng thương mại đã xử lý được 968,89 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó nợ xấu do các Ngân hàng thương mại tự xử lý là 629,2 nghìn tỷ đồng (chiếm 64,94% tổng nợ xấu xử lý), còn lại là bán nợ (bao gồm bán nợ cho VAMC và tổ chức, cá nhân khác) chiếm 35,06%.
Đối với các khoản nợ của Ngân hàng thương mại được bán cho VAMC, ngoài những điều kiện đối với khoản nợ của Ngân hàng thương mại được mua, bán thì pháp luật còn quy định thêm các điều kiện khác tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP) và Thông tư 19/2013/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung. Theo đó, VAMC chỉ mua nợ xấu. Đặc biệt đối với phương thức mua nợ xấu theo giá trị thị trường, khoản nợ xấu đó phải đáp ứng được rất nhiều điều kiện chứng minh việc có khả năng thu hồi được số tiền mua nợ, bao gồm khoản nợ xấu đó phải có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm phải hợp pháp và có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ; khách hàng vay còn tồn tại; số dư của khoản nợ xấu hoặc dư nợ xấu của khách hàng vay không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng nhà nước, ví dụ như trường hợp mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt, giá trị ghi sổ số dư nợ gốc của khoản nợ xấu hoặc các khoản nợ xấu đối với nhóm khách hàng vay và khách hàng vay là tổ chức không thấp hơn ba (03) tỷ đồng; đối với khách hàng vay là cá nhân không thấp hơn một (01) tỷ đồng hoặc mức khác do Thống đốc Ngân hàng nhà nước quyết định; được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ xấu; tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại hoặc khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ.
Tuy nhiên, các yêu cầu pháp luật đặt ra đối với khoản nợ được VAMC mua theo giá trị thị trường như trên là rất khắt khe và khó đáp ứng. Đặc biệt, với yêu cầu là phải được VAMC “đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ” theo Điểm b, Khoản 13, Điều 1, Thông tư 14/2015/TT-NHNN sửa đổi bổ sung Thông tư 19/2013/TT-NHNN, với điều kiện này thì khi giao dịch VAMC khó có thể đưa ra mức giá mua hấp dẫn nên không đạt được sự chấp thuận bán nợ của Ngân hàng thương mại, VAMC lại không thể đưa ra mức giá mua nợ hấp dẫn người bán bởi việc bảo đảm khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ là một nhiệm vụ khó khăn. Trách nhiệm đặt ra đối với trường hợp kết quả đánh giá xác định có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ nhưng trên thực tế lại không bảo đảm được cũng là một trong những vấn đề khiến VAMC e ngại. Do đó, mặc dù cơ chế pháp lý đã có nhưng trên thực tế, VAMC bị hạn chế và khó thực hiện được việc mua nợ theo giá trị thị trường.
2.2.2. Áp dụng quy định pháp luật về chủ thể mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Thứ nhất, Tình hình thực tiễn của nhóm AMC:
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 30 AMC đăng ký hoạt động, trong đó chỉ có khoảng 04 AMC thực sự đang vận hành (AMC thuộc Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng, Ngân hàng TMCP Quân đội). Phần lớn hoạt động của các AMC chỉ là các nghiệp vụ như thanh lý tài sản gán nợ, quản lý tài sản cầm cố, thu hồi nợ cho ngân hàng mẹ… Ngoài ra, các AMC cũng có thực hiện hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại với các Ngân hàng thương mại khác nhưng không nhiều, việc mua nợ từ các tổ chức, cá nhân khác hầu như chưa được thực hiện.
Tuy có những đóng góp tích cực đối với hoạt động xử lý nợ xấu, nhưng kết quả vẫn chưa đạt được như kỳ vọng cũng như tiềm năng của các công ty này do gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Từ khi được cho phép thành lập (năm 2001) đến nay, ngoài ba văn bản pháp luật là Quyết định 150/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 1390/2001/QĐ-NHNN và Thông tư số 27/2002/TT-BTC, còn lại có rất ít các văn bản khác hướng dẫn chi tiết hoạt động của các AMC. Điều đó khiến các AMC phải tự xoay xở mày mò để làm sao vừa hoàn thành được nhiệm vụ của ngân hàng giao vừa phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Thứ hai, Tình hình thực tiễn của DATC: Trong giai đoạn 2015 – 2020, DATC đã mua và xử lý với tổng giá trị các khoản nợ trên 25 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ tái cơ cấu, lành mạnh hóa tài chính cho 83 doanh nghiệp như Tổng Công ty Dâu Tằm tơ Việt Nam, Công ty Thực phẩm Miền Bắc thuộc Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, … DATC đã giúp các doanh nghiệp có điều kiện phục hồi và phát triển vượt qua giai đoạn khó khăn, hỗ trợ tái cơ cấu Tổng công ty tàu thủy Việt Nam (SBIC) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), qua đó tái cơ cấu lại nợ, giảm áp lực trả nợ, từng bước cân đối dần tình hình tài chính, tiết giảm chi phí, từ đó góp phần giảm thiệt hại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.
DATC đã giúp các doanh nghiệp có điều kiện phục hồi và phát triển vượt qua giai đoạn khó khăn, hỗ trợ tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước như Tổng công ty tàu thủy Việt Nam (SBIC) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), qua đó tái cơ cấu lại nợ, giảm áp lực trả nợ, từng bước cân đối dần tình hình tài chính, tiết giảm chi phí, từ đó góp phần giảm thiệt hại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Trong tương lai, hoạt động của DATC được chú trọng, định hình phát triển có tổ chức, hệ thống hơn nữa thông qua việc Chính phủ ban hành Nghị định số 129/2020/NĐ-CP về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của DATC.
Thứ ba, Tình hình thực tiễn của VAMC: Theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước, kết quả mua, bán, xử lý nợ xấu của VAMC đạt được trong thời gian qua như sau:
- Mua nợ bằng Trái phiếu đặc biệt: VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt có thời hạn tối đa 05 năm, lãi suất 0% để mua các khoản nợ xấu của Ngân hàng thương mại theo đúng giá trị còn lại của khoản nợ (nợ gốc trừ khoản tiền đã được Ngân hàng thương mại trích lập dự phòng rủi ro cho khoản nợ đó). Lũy kế từ năm 2013 đến ngày 31/12/2019, VAMC mua nợ xấu đạt 359.393 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng tương ứng với giá mua nợ là 327.413 tỷ đồng.
- Mua nợ theo giá trị thị trường: VAMC thực hiện mua nợ trên cơ sở thỏa thuận và giá trị khoản nợ xấu được định giá lại. Lũy kế từ 2013 đến ngày 31/12/2019, VAMC đã mua nợ xấu theo giá trị thị trường với dư nợ gốc đạt 8.013 tỷ đồng (chiếm 2,18% tổng nợ xấu VAMC đã mua) với giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại đạt 8.207 tỷ đồng.
- Về kết quả xử lý nợ: Lũy kế từ năm 2013 đến cuối năm 2019, VAMC đã phối hợp cùng các Ngân hàng thương mại xử lý nợ với giá trị thu hồi nợ đạt 152.120 tỷ đồng (trong đó chủ yếu là bán lại nợ xấu đã mua bằng Trái phiếu đặc biệt cho các Ngân hàng thương mại khi Trái phiếu đặc biệt đến hạn hoặc các Ngân hàng thương mại mua lại khoản nợ đã bán cho VAMC trước thời hạn của Trái phiếu đặc biệt); trong đó giai đoạn 20162019 đạt 129.957 tỷ đồng. Đặc biệt, từ khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực, kết quả thu hồi nợ của VAMC đạt 90.816 tỷ đồng, bằng 60% tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế.
- Về hoạt động đấu giá, định giá khoản nợ, tài sản bảo đảm của khoản nợ: Đến ngày 31/12/2019, VAMC đã tổ chức thực hiện đấu giá 22 tài sản (19 khoản nợ và 03 tài sản bảo đảm của khoản nợ). Trong đó đã bán đấu giá thành công 13 tài sản với giá 1.217 tỷ đồng và 03 tài sản thuê tổ chức đấu giá thực hiện được VAMC giám sát đấu giá theo đúng quy định.
Năm 2020, VAMC đã hoàn thành về cơ bản 2/3 chỉ tiêu về mua nợ, xử lý nợ theo kế hoạch được giao: Lũy kế từ khi thành lập đến 31/12/2020, kết quả xử lý thu hồi nợ của VAMC đạt 297.317 tỷ đồng dư nợ gốc, VAMC đã hoàn thành về cơ bản xử lý số nợ xấu đã mua theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg. Từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (15/8/2017), kết quả thu hồi nợ của VAMC chiếm 63% tổng số thu hồi nợ lũy kế từ khi thành lập (năm 2013) đến 31/12/2020.
Thực tế, thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển và thiếu sự cạnh tranh giữa các bên mua nợ. Mặc dù nguồn cung nợ xấu lớn nhưng số lượng chủ thể có nhu cầu mua nợ tham gia vào thị trường lại không nhiều, chủ yếu là các AMC của các Ngân hàng thương mại, ngoài ra chỉ có DATC và VAMC, chưa có sự tham gia tích cực của các nguồn đầu tư khác, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, quy mô, phạm vi và nguồn lực tài chính hay thậm chí là kinh nghiệm xử lý nợ của các AMC, DATC và VAMC cũng chưa cao, chưa đáp ứng được kỳ vọng của thị trường với lượng nợ xấu cần xử lý rất lớn. Tình trạng gần như độc quyền trong việc mua nợ xấu đã khiến cho giá chào mua của các tổ chức này rất thấp, điều này phần nào khiến cho nhu cầu muốn bán nợ của các Ngân hàng thương mại có nợ xấu bị giảm xuống, kìm hãm sự phát triển của thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Thứ tư, Tình hình thực tiễn của các công ty mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại khác theo quy định tại Nghị định số 69/2016/NĐ-CP:
Qua rà soát trên cổng đăng ký kinh doanh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay có khoảng 20 doanh nghiệp có đăng ký ngành nghề kinh doanh mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, đến nay không có số liệu về hoạt động của các doanh nghiệp này.
- Đánh giá tình hình thực tiễn:
Đối với các AMC: Hầu hết các AMC của Ngân hàng thương mại được thành lập với mục đích để xử lý nợ xấu của các ngân hàng mẹ, ít tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại hoặc có tham gia thì mục đích cũng chỉ giúp các ngân hàng mẹ hoán đổi nợ xấu cho nhau. Từ đó dẫn đến các khoản nợ xấu vẫn tồn tại trong nội bộ ngân hàng mà chưa được loại bỏ hoàn toàn ra khỏi báo cáo tài chính hợp nhất, và như vậy, nợ xấu thực chất vẫn chưa được xử lý. Đồng thời, nếu các chủ thể này chủ yếu đóng vai trò xử lý nợ xấu của ngân hàng mẹ, chỉ như vậy thôi thì thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại khó phát triển. Ngoài ra do nguồn nhân lực còn thiếu và chưa có nhiều kinh nghiệm, cũng như hạn chế về nguồn vốn nên hoạt động của các AMC này vẫn chưa thực sự hiệu quả đối với các mục đích nêu trên. Hơn nữa, các AMC được thành lập theo Quyết định số 150/2001/QĐ-TTg, được ban hành trước Luật các Ngân hàng thương mại. Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật các Ngân hàng thương mại quy định Ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản; việc thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng nhà nước. Vì vậy, các AMC của Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại; điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức của các AMC thực hiện theo quy định tại Luật các Ngân hàng thương mại, Luật doanh nghiệp và Thông tư số 51/2018/TT-NHNN. Do đó, việc các AMC tiếp tục thành lập và hoạt động theo quy định tại Quyết định số 150/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 1390/2001/QĐ-NHNN cần được xem xét cho phù hợp với thực tiễn. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Đối với VAMC: Trong thời gian qua, VAMC thu hồi nợ chủ yếu qua hình thức ủy quyền cho Ngân hàng thương mại thực hiện, VAMC trực tiếp tổ chức thực hiện thu hồi còn rất ít. Việc mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC chỉ là chuyển nợ tạm thời từ Ngân hàng thương mại sang VAMC nhằm giảm tạm thời nợ xấu nội bảng của các Ngân hàng thương mại, đồng thời kéo dài thời gian trích lập dự phòng rủi ro của các Ngân hàng thương mại để giảm gánh nặng tài chính. Do vậy, việc mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt của VAMC chưa phải là giải pháp căn bản và ổn định lâu dài. Mặc dù kể từ khi mới thành lập từ năm 2013 đến nay, Chính phủ đã hai lần ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP) ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC (Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 và Nghị định số 18/2016/NĐ-CP ngày 18/3/2016) để thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu được hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trên thực tế, VAMC chưa thể xử lý nhanh nợ xấu theo cơ chế thị trường do hiện nay còn thiếu những điều kiện tiên quyết cho việc xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường (như pháp lý, tổ chức xếp hạng tín nhiệm, nhà đầu tư chuyên nghiệp….) và nguồn lực tài chính của VAMC còn hạn chế.
Đối với DATC: Mục tiêu hoạt động của DATC là vừa phải hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước nhưng lại vừa phải hoạt động có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn giống một doanh nghiệp kinh doanh thông thường trong khi các doanh nghiệp tái cơ cấu là các doanh nghiệp hoạt động có khó khăn. Với nguồn lực hiện nay, nhiệm vụ trước mắt của DATC là tập trung hỗ trợ quá trình chuyển đổi, sắp xếp doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và nhiệm vụ khác theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chưa thực hiện mở rộng hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường. Theo kế hoạch, dự kiến đến năm 2025, DATC sẽ hoàn thành quá trình này và định hướng phát triển của DATC là tập trung hoạt động theo cơ chế thị trường. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm nâng cao năng lực của DATC trong hoạt động mua bán, xử lý nợ theo cơ chế thị trường.
Mặc dù trong thời gian qua, DATC đã hỗ trợ gần 3.000 doanh nghiệp xử lý được công nợ và tài sản tồn đọng trước, trong và sau cổ phần hóa cũng như để cơ cấu lại, phục hồi kinh doanh. Tuy nhiên, với tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, gánh nặng nợ xấu cần DATC giải quyết là rất lớn, nhưng quy mô và tiềm lực tài chính của DATC còn hạn chế công ty này thực hiện các hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại gắn với tái cơ cấu dài hạn.
Để thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại phát triển, ngoài sự tham gia của bên mua nợ, bên bán nợ, còn cần có sự góp mặt của nhiều chủ thể khác như bên môi giới để tạo điều kiện cho việc kết nối người bán và người mua nợ trở nên dễ dàng hơn. Việc thiếu hụt các nhà môi giới, xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp, những chủ thể có sự hiểu biết về thông tin thị trường và đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết nguồn cầu với nguồn cung, cũng khiến cho các nhà đầu tư e dè hơn trong việc đầu tư vào hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Cụ thể, tại Việt Nam chưa có công cụ hay tổ chức nào xếp hạng các khoản nợ trong khi một trong những đặc điểm thành công của thị trường Hàn Quốc là có sự tham gia đa dạng của các công ty xếp hạng tín dụng (4 công ty là Korea Ratings, KIS Pricing, NICE Pricing Services và SCI Pricing)
2.2.3. Áp dụng quy định pháp luật về giá mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, tùy vào tính chất rủi ro của khoản nợ phát sinh khi khách hàng không có khả năng thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho Ngân hàng thương mại khi đến hạn, giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại được xác định theo phương pháp xác định theo giá trị sổ sách và phương pháp xác định theo giá trị thị trường của khoản nợ. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Giá trị sổ sách hay giá trị ghi sổ của khoản nợ xấu là số dư nợ gốc của khoản nợ xấu đang hạch toán nội bảng trên bảng cân đối kế toán của Ngân hàng thương mại, bao gồm giá trị ghi sổ số dư nợ gốc, dư nợ lãi của khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến khoản nợ (nếu có) đến thời điểm mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với các khoản nợ đang được hạch toán nội bảng, ngoại bảng; hoặc giá trị theo dõi trên sổ sách tại thời điểm xuất toán ngoại bảng hoặc tại thời điểm mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với khoản nợ đã xuất toán ra khỏi bảng cân đối kế toán.
Đối với hoạt động mua nợ của VAMC ở Việt Nam, khoản 2 Điều 1 Nghị định 18/2016/NĐ-CP sửa đổi Điều 14 Nghị định 53/2013/NĐ-CP quy định: “Công ty Quản lý tài sản mua nợ xấu của tổ chức tín dụng theo giá trị ghi sổ số dư nợ gốc khách hàng vay chưa trả đã được khấu trừ số tiền dự phòng cụ thể đã trích lập chưa sử dụng cho khoản nợ xấu đó”. Theo phương pháp định giá này, giá mua nợ xấu của VAMC được xác định theo công thức: “Giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại = giá trị ghi sổ số dư nợ gốc – giá trị trích lập dự phòng”. Với phương pháp này đưa đến những nguy cơ, rủi ro rất lớn đối với VAMC vì nợ xấu có khả năng thu hồi vốn rất thấp, thậm chí có nhiều khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi vốn. Hơn nữa, suy cho cùng đây không phải là phương pháp phản ánh đúng giá trị của nợ xấu tại thời điểm mua bán. Khả năng để VAMC thu hồi được đầy đủ khoản nợ đã mua bằng giá mua xác định theo giá trị sổ sách dường như là không thể, vì vậy khi mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại, toàn bộ rủi ro về nợ xấu thuộc về VAMC. Chính vì vậy, để hạn chế rủi ro đối với VAMC, chỉ nên sử dụng phương pháp này ở giai đoạn đầu của quá trình xử lý nợ xấu nhằm làm sạch báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại, hạ tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng thương mại về mức an toàn tối thiểu bằng cách “gom” nợ xấu của hệ thống Ngân hàng thương mại về VAMC và trao cho VAMC những quyền năng đặc biệt để xử lý khối nợ xấu đã mua. Khi mục tiêu này đã được thực hiện, cần thiết phải chuyển đổi phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị sổ sách sang phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị thị trường vì đây là phương pháp phản ảnh chính xác giá trị của nợ xấu tại thời điểm mua bán, từ đó đảm bảo tốt hơn quyền lợi của VAMC.
Ở Trung Quốc trong giai đoạn 1999 – 2003, mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị sổ sách là một trong những nguyên tắc xác định giá cơ bản được áp dụng rất thành công. Theo phương pháp này, giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại được xác định theo giá trị ghi sổ số dư nợ gốc khách hàng vay chưa trả khấu trừ số tiền dự phòng cụ thể đã trích lập chưa sử dụng cho khoản nợ xấu đó. Phương pháp này không xem xét đến mức độ rủi ro hay giá trị thực tế của khoản nợ xấu tại thời điểm xác lập hợp đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Vì vậy, phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại này tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn đối với bên mua nợ. Tuy nhiên, Trung Quốc có lý do đặc biệt để lựa chọn phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị sổ sách, đó là mục tiêu được Chính phủ nước này hướng đến thông qua mua nợ xấu của hệ thống ngân hàng không chỉ đơn thuần hạ tỷ lệ nợ xấu mà chủ yếu là để bơm vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh đang đình trệ của các doanh nghiệp, qua đó đẩy mạnh chỉ số tăng trưởng. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Khác với phương pháp xác định giá theo giá trị sổ sách, phương pháp xác định giá theo giá trị thị trường của khoản nợ hay còn gọi là phương pháp định giá nợ theo giá trị phù hợp có tính tới giá trị thực tế của khoản nợ xấu tại thời điểm mua bán khi xác định giá mua bán. Theo đó, tùy thuộc vào tính thanh khoản, mức độ rủi ro và khả năng thu hồi vốn của khoản nợ, bên bán nợ và bên mua nợ sẽ thỏa thuận về giá mua bán. Như vậy, so với phương pháp định giá sổ sách, phương pháp định giá theo giá trị thị trường của khoản nợ xấu hạn chế được rủi ro cho bên mua nợ. Vấn đề này được phân tích, đánh giá trên hai phương diện cơ bản sau:
Một là, trong quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại giữa Ngân hàng thương mại (bên bán nợ) với VAMC (bên mua nợ). Khoản 2 Điều 14 Nghị định 53/2013/NĐ-CP quy định: “Công ty Quản lý tài sản mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại theo giá trị thị trường trên cơ sở thỏa thuận và giá trị khoản nợ xấu được đánh giá lại”. Trên cơ sở này, Quyết định 618/QĐ-NHNN xây dựng hai nguyên tắc xác định giá trị thị trường của khoản nợ xấu như sau: (i) Căn cứ kết quả định giá khoản nợ, tài sản bảo đảm; đánh giá khả năng phát mại tài sản bảo đảm hoặc triển vọng phục hồi khả năng trả nợ của khách hàng vay hoặc khả năng bán khoản nợ xấu của VAMC cho nhà đầu tư. Trường hợp xét thấy cần thiết, VAMC tham khảo giá mua, bán các khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm có tính chất tương đồng trên thị trường (nếu có) để xác định giá mua nợ; (ii) Đàm phán, thỏa thuận với Ngân hàng thương mại về việc mua nợ xấu trên cơ sở bảo đảm an toàn, hiệu quả hoạt động của VAMC. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Ngoài ra, VAMC phải xây dựng phương án mua nợ theo giá trị thị trường để trình lên Ngân hàng nhà nước chấp thuận. Phương án này bao gồm tối thiểu các nội dung: (i) Phạm vi các khoản nợ xấu mua theo giá trị thị trường (được phân loại theo nhóm khách hàng vay, ngành, lĩnh vực, loại tài sản bảo đảm; (ii) Tổng số dư nợ xấu dự kiến mua, nguồn vốn (tiền, trái phiếu, nguồn vốn khác) và điều kiện tài chính của VAMC để mua nợ theo giá trị thị trưởng; (iii) Kế hoạch phát hành trái phiếu để mua nợ xấu theo giá trị thị trường (nếu có); (iv) Phân tích, đánh giá hiệu quả, rủi ro và khả năng thu hồi vốn mua nợ theo giá trị thị trường; (v) Biện pháp bán, xử lý nợ và tài sản bảo đảm.
Trên cơ sở đó, căn cứ vào Phương án mua nợ theo giá trị thị trường đã được Ngân hàng nhà nước chấp thuận, năng lực tài chính, hiệu quả kinh tế và điều kiện thị trường, VAMC quyết định và chịu trách nhiệm về việc mua khoản nợ xấu theo giá trị thị trường. Để xác định giá trị thị trường của khoản nợ xấu, Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐ-CP) quy định: “Trường hợp mua nợ xấu theo giá trị thị trường, Công ty Quản lý tài sản đánh giá lại giá trị khoản nợ xấu trên cơ sở khả năng thu hồi vốn và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu; khi cần thiết, Công ty Quản lý tài sản thuê tổ chức tư vấn định giá khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm”. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 42/2017/QH14 quy định, khi mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị thị trường, VAMC và Ngân hàng thương mại thống nhất lựa chọn tổ chức định giá độc lập. Trên cơ sở đó, giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại bằng giá trị định giá của tổ chức định giá độc lập.
Việc xác định giá nợ xấu thông qua tổ chức định giá độc lập nhằm đảm bảo nợ xấu được định giá độc lập, khách quan, sát theo giá trị thị trường nhằm tránh tình trạng tư lợi hoặc móc ngoặc giữa VAMC và Ngân hàng thương mại bán nợ xấu. Quy định này được coi là điều kiện tiên quyết đặt ra đối với các Công ty quản lý tài sản tập trung được Chính phủ các nước trao quyền giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Không chỉ Việt Nam, Thái Lan cũng đặt ra nguyên tắc này cho hoạt động của Công ty quản lý tài sản tập trung Thái Lan (TAMC). Mục 21 Nghị định khẩn ngày 22/10/1997 quy định: Khi tiến hành mua hoặc nhận chuyển nhượng tài sản của các tổ chức tài chính, TAMC tiến hành định giá thông qua tổ chức định giá độc lập hoặc cố vấn tài chính chuyên nghiệp, trong đó, giá mua hoặc chuyển nhượng không được cao hơn giá thẩm định của thị trường.
Hai là, trong quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại giữa NHTM (bên bán nợ) với các bên mua nợ khác. Điều 12 Thông tư 09/2015/PTNHNN quy định: Việc xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo phương thức thỏa thuận, giá khởi điểm đối với mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo phương thức bán đấu giá được thực hiện như sau: (i) Giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại, giá khởi điểm được xác định trên cơ sở giá trị ghi sổ khoản nợ, khoản lãi mà bên nợ sẽ phải trả trong tương lai, phân loại nhóm khả năng thu hồi của khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm (nếu có); (ii) Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá thực hiện định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo phương thức thỏa thuận, giá khởi điểm đối với mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại phương thức bán đấu giá để Hội đồng mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại quyết định. Như vậy, giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá thực hiện định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại thông qua việc đánh giá các yếu tố như: (1) giá trị ghi sổ khoản nợ; (2) khoản lãi mà bên nợ sẽ phải trả trong tương lai; (3) phân loại nhóm khả năng thu hồi của khoản nợ và (4) giá trị tài sản bảo đảm. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Trong quá trình thực hiện mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cho thấy, với việc quy định phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường của khoản nợ xấu, pháp luật đã quy định tương đối linh hoạt và phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của thị trường. Mỗi phương pháp được sử dụng cho một quan hệ mua bán, nợ đặc thù nhằm phát huy tối đa vai trò của mỗi chủ thể khi mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại của các Ngân hàng thương mại trong các giai đoạn khác nhau. Thực tiễn hoạt động xử lý nợ xấu của các công ty quản lý tài sản tập trung ở các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc, cũng như thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong những năm qua cho thấy, việc mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại theo giá trị sổ sách của nợ xấu chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn đầu của quá trình xử lý nợ xấu. Ở đó, với mục tiêu trọng tâm được hướng tới là nhanh chóng đưa tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng về mức an toàn tối thiểu, giá mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại được xác định theo giá trị sổ sách của nợ xấu giúp các công ty mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại tập trung ở các nước và VAMC ở Việt Nam nhanh chóng thâu tóm nợ xấu của hệ thống ngân hàng về một mối. Tuy nhiên như phân tích ở trên điều này sẽ rất rủi ro đối với VAMC và chưa thực sự giải quyết bền vững các khoản nợ xấu của Ngân hàng thương mại bởi nó chưa phản ánh đúng bản chất của quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
2.2.4. Áp dụng quy định pháp luật về phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Để tiến hành hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại các bên mua nợ có thể lựa chọn một trong hai phương thức Thỏa thuận hoặc Đấu giá. Trong quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại giữa Ngân hàng thương mại bán nợ xấu với bên mua nợ là VAMC, phương thức thỏa thuận gắn liền với phương pháp mua nợ xấu theo giá trị sổ sách của khoản nợ xấu quy định tại Điều 7 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2016/NĐCP).
Như vậy, để xác lập quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại: các bên có toàn quyền lựa chọn phương thức thỏa thuận mà không chịu bất kỳ sự can thiệp hay chỉ đạo nào của các cơ quan công quyền. So với phương thức đấu giá, phương thức thỏa thuận có khả năng bảo vệ các thông tin của Ngân hàng thương mại tốt hơn vì các thông tin về khoản nợ xấu sẽ không phải thông báo công khai nhằm mời gọi các bên mua nợ xấu. Ngoài ra, phương thức thỏa thuận có thủ tục đơn giản nên có khả năng chuyển giao nợ xấu từ Ngân hàng thương mại bán nợ sang bên mua nợ nhanh hơn, đồng thời chi phí ít tốn kém hơn nên được các bên ưu tiên lựa chọn khi xác lập quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Đối với VAMC, phương thức này giúp đẩy nhanh quá trình “gom” nợ xấu, đưa tỷ lệ nợ xấu của hệ thống Ngân hàng thương mại về mức an toàn, phù hợp với mục tiêu của VAMC nên được áp dụng triệt để khi mua nợ xấu của Ngân hàng thương mại. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Phương thức đấu giá được tiến hành bằng cách bên bán nợ thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản hoặc tự tổ chức bán đấu giá khoản nợ. Mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại thông qua việc đấu giá các khoản nợ là một phương thức mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại điển hình. Sở dĩ như vậy vì các khoản tín dụng mà Ngân hàng thương mại cấp cho khách hàng thông thường được đảm bảo bằng bất động sản. Vì vậy, thông qua hoạt động đấu giá của tổ chức đấu giá chuyên nghiệp, giá trị của tài sản bảo đảm sẽ được đánh giá một cách khách quan và sát giá thực tế nhất.
Thực tiễn cho thấy rằng, hiện nay các quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại giữa Ngân hàng thương mại bán nợ với các bên mua nợ được thực hiện chủ yếu bằng phương thức thỏa thuận vì những ưu thế của phương thức này so với phương thức đấu giá. Tuy nhiên, khi thị trường mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại hình thành, đặc biệt khi các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại (bao gồm cả các AMC thuộc các Ngân hàng thương mại) hoạt động thành mạng lưới, phương thức đấu giá sẽ được Ngân hàng thương mại lựa chọn nhiều hơn. Khi đó, nợ sẽ được giao dịch phổ biến trên thị trường, Ngân hàng thương mại có nhiều sự lựa chọn về việc sẽ bán nợ xấu cho ai, bán theo phương thức nào.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
Trong phạm vi nội dung của Chương 2 tác giả đã tập trung phân tích để làm rõ thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại với các nội dung cơ bản: (i) Đối tượng mua bán nợ xấu; (ii) Chủ thể mua bán nợ xấu; (iii) Phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu; (iv) Phương thức mua bán nợ xấu. Qua đó cho thấy, nhìn chung hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) điều chỉnh về hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại đã được Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước ban hành khá đồng bộ, đầy đủ; khung pháp luật về cơ bản đã có sự tương thích với thông lệ quốc tế; và thực tiễn hoạt động xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, một số quy định pháp luật vẫn tồn tại những hạn chế, tồn tại nhất định cần tiếp tục hoàn thiện
Đồng thời, Chương 2 của luận văn đã tập trung phân tích để làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Bên cạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ thì thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh vẫn phát sinh một số vướng mắc, bất cập nhất định; chẳng hạn: Việc định giá các khoản nợ phức tạp, chưa có một hệ thống đánh giá chuẩn giá trị của khoản nợ; Chưa khuyến khích được các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào việc mua bán nợ xấu; Chưa có quy định cụ thể phương pháp thẩm định giá các khoản nợ. Việc thẩm định giá các khoản nợ xấu đang được các TCTD, doanh nghiệp có chức năng mua, bán nợ thuê các doanh nghiệp thẩm định giá vận dụng hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam để thực hiện. Do các phương pháp hướng dẫn tại Hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam được áp dụng chung cho thẩm định giá các loại tài sản, nên khi thẩm định giá các khoản nợ xấu đôi khi việc vận dụng của các doanh nghiệp thẩm định giá là khác nhau, gây khó khăn cho các bên lựa chọn mức giá tham khảo làm cơ sở xác định mức giá khởi điểm trong giao dịch mua, bán nợ; Phạm vi hoạt động cũng quy mô của các công ty mua bán nợ xấu chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn..vvv. Để hoạt động mua bán nợ xấu phát sinh từ Hợp đồng tín dụng của các Ngân hàng thương mại đạt được hiệu quả cao thì việc sửa đổi, khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành là rất cần thiết. Các nội dung nghiên cứu tại Chương 2 là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả tiếp tục nghiên cứu đề xuất định hướng; và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ xấu phát sinh từ hợp đồng tín dụng của các ngân hàng thương mại tại Chương 3. Luận văn: Thực trạng PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL mua bán nợ xấu phát sinh HĐ tín Dụng
