Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.1.1. Khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Để làm rõ khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trước tiên cần luận giải, làm rõ khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật. Pháp luật được ban hành không chỉ nhằm làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhà nước, bảo đảm cho các thiết chế này được tổ chức và vận hành trong khuôn khổ và có thể kiểm soát được, mà còn nhằm bảo đảm phát huy quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo đảm quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích của mọi tổ chức, cá nhân. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước là hoạt động lao động thực hiện quyền lực nhà nước. Về nguyên tắc, các hoạt động lao động quyền lực này cần phải được kiểm tra, kiểm soát và giám sát chặt chẽ. Có như vậy mới có thể bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phòng chống sự quan liêu, lạm quyền (thậm chí là cửa quyền), vì lợi ích cục bộ bản vị địa phương chủ nghĩa và cục bộ ngành; bảo đảm sự thống nhất của cả hệ thống pháp luật; nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước.

Văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng nội dung và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể ban hành là một nguyên tắc hiến định. Có nhiều cơ chế, hoạt động để bảo đảm nguyên tắc này và kiểm tra văn bản là một trong số hoạt động đó.

Kiểm tra là hoạt động của chủ thể có chức năng (có thẩm quyền) thực hiện việc xem xét, đối chiếu đối tượng được kiểm tra với các tiêu chí đã được định sẵn nhằm đánh giá, nhận xét, kết luận về sự đúng đắn, phù hợp của đối tượng được kiểm tra so với các tiêu chí tương ứng và đặt ra các yêu cầu, phương án nhằm làm cho đối tượng được kiểm tra trở nên đúng, phù hợp với các tiêu chí. Hay nói một cách cụ thể hơn, đây chính là hoạt động xem xét, đánh giá và kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất đối với các văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng kiểm tra, nhằm phát hiện và xử lý kịp thời đối với văn bản trái pháp luật, đồng thời, xử lý trách nhiệm đối với chủ thể đã ban hành văn bản sai trái đó.

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động “hậu kiểm” (tức được thực hiện sau khi văn bản đó được ban hành) nằm trong hệ thống các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng cách loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, làm cho hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch. Việc đặt ra nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong khi văn bản đó đã được thẩm định, thẩm tra trước khi ban hành và đã được rà soát, giám sát sau khi ban hành là vì: Thứ nhất, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật giúp phát hiện, xử lý những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật của văn bản mà khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định, thẩm tra có thể không hoặc chưa phát hiện được hết. Hơn nữa, hoạt động thẩm định, thẩm tra chỉ mang tính chất khuyến nghị nên không thể xử lý triệt để những mâu thuẫn, chồng chéo trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (nếu những đề nghị của cơ quan thẩm định không được cơ quan soạn thảo tiếp thu). Thứ hai, hoạt động kiểm tra văn bản có thể phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời những văn bản trái pháp luật vì hoạt động này được tiến hành thường xuyên, ngay sau khi văn bản được ban hành, với sự tham gia đồng thời của nhiều chủ thể (khác với hoạt động giám sát, rà soát văn bản – chủ yếu được thực hiện theo định kỳ, không thường xuyên). Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động tách khỏi hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản. Cơ quan kiểm tra chỉ tiến hành kiểm tra sau khi văn bản đã được ban hành, ngay cả khi văn bản đó đã phát sinh hiệu lực. Hoạt động kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện những sai trái của văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để kịp thời xử lý, khắc phục sai trái đó, do vậy, không phụ thuộc vào việc văn bản có dấu hiệu trái pháp luật hay không, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra văn bản vẫn phải tiến hành kiểm tra.

Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là sự xem xét, đánh giá về hình thức và nội dung văn bản để kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật. Các tiêu chí có tính quyết định khi đánh giá một văn bản quy phạm pháp luật là sự tuân thủ thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung và sự phù hợp của văn bản với các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bằng các phương thức: (i) Tự kiểm tra văn bản của cơ quan ban hành văn bản (tự kiểm tra); (ii) Kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản theo nhiệm vụ được phân công (kiểm tra theo thẩm quyền). Việc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản nhận được văn bản do cơ quan ban hành gửi đến theo quy định hoặc khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý (trường hợp phát hiện thấy trái pháp luật) bao gồm: (i) Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; (ii) Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (iii) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân. Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức vãn bản quy phạm pháp luật, vãn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương ban hành cũng được kiểm tra, xử lý. Tuy nhiên, loại văn bản này chỉ được kiểm tra với phương thức kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin mà không phải đối tượng được kiểm tra ở tất cả các phương thức. Pháp luật hiện hành cũng “dự liệu” các trường hợp có khả năng làm “bỏ sót” quy phạm pháp luật trong quá trình kiểm tra, nên đã đưa đối tượng văn bản này vào đối tượng được kiểm tra, nhằm hạn chế tối đa những tác động xấu của việc ban hành và thực hiện những quy phạm pháp luật trái pháp luật gây ra. Như vậy, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các nội dung của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật còn giúp các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản tự nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm về việc cần phải ban hành văn bản có chất lượng, đúng pháp luật, làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trở nên công khai, minh bạch, dễ tiếp cận hơn.

Có thể thấy rõ một điều là, văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành hoặc liên tịch ban hành và văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành là đối tượng văn bản chủ yếu được kiểm tra. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Cho đến trước thời điểm Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì chưa có định nghĩa chính thức nào về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định “Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật”.

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được hiểu sâu sắc hơn khi đặt trong sự so sánh, phân biệt với một số hoạt động có tính chất khá gần gũi như hoạt động thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (hoạt động diễn ra trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật); hoạt động rà soát văn bản quy phạm pháp luật; hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật (là hoạt động diễn ra sau khi ban hành văn bản). Cụ thể là:

Về mối quan hệ với thẩm định văn bản quy phạm pháp luật: Bản chất của thẩm định là kiểm tra trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những điểm sai trái có thể có trong dự thảo. Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và điểm chung giữa chúng là, hướng tới việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, chúng có sự khác nhau cơ bản về phạm vi nội dung, đối tượng, thời điểm, giá trị pháp lý của kết quả kiểm tra. Ngoài ra, nếu như thẩm định là việc xem xét, đánh giá và phát hiện những nội dung sai trái, không hợp lý, không khả thi nhằm hoàn thiện dự thảo, bảo đảm một văn bản được ban hành có chất lượng tốt thì, kiểm tra văn bản là việc xem xét để phát hiện những nội dung trái pháp luật của một văn bản quy phạm pháp luật, hướng tới việc xử lý kịp thời, toàn diện, triệt để những sai trái đó, nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tránh được những thiệt hại có thể có khi những văn bản đó tiếp tục được thực hiện trên thực tiễn.

Về mối quan hệ với hoạt động rà soát văn bản quy phạm pháp luật:

Rà soát văn bản “l Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Như vậy, có thể thấy, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật có điểm giống nhau, đều được tiến hành sau khi văn bản được ban hành và đều nhằm phát hiện những quy định mâu thuẫn, không phù hợp của văn bản được kiểm tra/rà soát với văn bản làm căn cứ đối chiếu, từ đó có biện pháp khắc phục nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và tính khả thi của văn bản, nhưng hai hoạt động này luôn là hai hoạt động độc lập, chúng khác nhau cơ bản ở những khía cạnh hợp giữa các thao tác kỹ thuật nghiệp vụ và hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các nội dung được kiến nghị qua công tác rà soát nhằm xem xét lại các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành vào thời gian nào, quy định vấn đề gì, đang ở trạng thái nào (khi cơ quan nhà nước cấp trên ban hành văn bản mới làm cho nội dung văn bản quy phạm khi tình hình kinh tế – xã hội thay đổi, hệ – . Về mặt đối tượng, đối tượng của hoạt động rà soát văn bản quy phạm pháp luật là toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (trừ Hiến pháp), còn đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản là những loại văn bản quy phạm pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật mà không phải là toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Về mối quan hệ với hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật: Có thể hiểu, kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật đều là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành. Việc giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung sai trái hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái. Có sự khác nhau về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được quy định cụ thể tại Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, ngoài ra, thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật của các cơ quan thực hiện giám sát văn bản quy phạm pháp luật cũng được quy định rõ tại Luật này; thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành. Về phạm vi, đối tượng, hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đối với toàn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bởi các chủ thể có thẩm quyền ở cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước.

Nhưng kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật hiện nay chỉ được thực hiện đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Một vấn đề nữa cần làm sáng tỏ trong quá trình đi tìm khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đó là, văn bản và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Quá trình nghiên cứu, tác giả nhất quán nguyên lý, văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là đối tượng văn bản kiểm tra, do vậy sẽ không đi sâu vào việc nghiên cứu, luận giải riêng biệt về cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, mà xem văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là đối tượng kiểm tra để nghiên cứu, tức là, các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đề cập ở đây phải luôn gắn với vấn đề kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan này ban hành. Nguyên lý này xuất phát từ thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản quy pháp luật đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật như đã được phân tích ở trên và hoàn toàn phù hợp, thống nhất với phạm vi nghiên cứu của luận án đã được xác định.

Cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam gồm cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương, gồm: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ. Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, gồm: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; Ủy ban nhân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp là ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền này gọi là thẩm quyền lập quy. Theo pháp luật hiện hành, văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành thuộc diện giám sát tối cao của Quốc hội [84, tr. 2] mà không thuộc đối tượng văn bản được kiểm tra theo pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, do vậy, có thể xác định được nội hàm khái niệm văn bản quy phạm luật của các cơ quan hành hành chính nhà nước ở Việt Nam đề cập ở đây chính là văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành theo hình thức, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành thông tư hoặc thông tư liên tịch (chỉ còn hình thức thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao); Ủy ban nhân dân ban hành quyết định. Trước đó, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 còn có các hình thức văn bản quy phạm pháp luật là quyết định, chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với người đứng đầu cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị xã hội và trước nữa, các cơ quan thuộc Chính phủ (như Ban Cơ yếu Chính phủ; Ban Thi đua khen thưởng; Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thuế; Tổng cục Du lịch…) cũng được trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật [69, tr. 1]; theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2003 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 còn có hình thức văn bản quy phạm pháp luật là chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Việc giảm bớt hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân ban hành theo phương châm, mỗi cơ quan chỉ ban hành một loại văn bản quy phạm pháp luật, không còn hình thức văn bản quy phạm pháp luật là quyết định, chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và chỉ thị của Ủy ban nhân dân nữa là bước tiến đáng kể trong quá trình đổi mới hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta.

Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra định nghĩa về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam như sau: Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là hoạt động xem xét, đánh giá và kết luận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất đối với thông tư, thông tư liên tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp, nhằm phát hiện và xử lý đối với những văn bản trái pháp luật, đồng thời, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó.

Để công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực, hiệu quả, đòi hỏi phải có một cơ chế kiểm tra hữu hiệu.

Theo Từ điển Tiếng Việt, cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” [113, tr. 214]. Tương tự như vậy, các tác giả của cuốn Đại Từ điển Tiếng Việt cho rằng, cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện. Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm “cơ chế”. Trong cuốn “Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO”, các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng” [87, tr. 58]. Một quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong cuốn “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp” của Tổ chức Thương mại Thế giới – World Trade Organization (Nxb Lao động xã hội năm 2006). Theo các tác giả của cuốn sách này thì nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: Bên ngoài (thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong nội tại của sự vật, hiện tượng).

Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Như vậy, về phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù cách tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể nhận thấy, có hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế. Đó là yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Yếu tố tổ chức đề cập đến các thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức (cơ cấu) và cách thức tổ chức hệ thống nội tại. Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành của cơ chế và nội dung hoạt động của nó. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Từ những luận giải nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam như sau: Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là toàn bộ các yếu tố và sự vận hành các yếu tố, như thể chế pháp luật, chủ thể và các điều kiện bảo đảm khác, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và vận hành để xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất đối với thông tư, thông tư liên tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp, nhằm phát hiện và xử lý đối với những văn bản trái pháp luật, đồng thời, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Giá Viết Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Đặc điểm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Xuất phát từ các khái niệm có liên quan đến cơ chế kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đã luận giải ở trên, đồng thời từ việc đánh giá, nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm tra văn bản trong thời gian qua, có thể nhận thấy cơ chế kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Một là, cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam bao gồm tổng thể các yếu tố cấu thành do pháp luật quy định nhằm đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được thực hiện đúng mục đích, yêu cầu.

Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam có đặc điểm này, bởi lẽ, bất kỳ một cơ chế nào cũng được cấu thành bởi các yếu tố, bộ phận tạo nên nó, đồng thời, nội hàm của khái niệm cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cũng đã chỉ ra điều này. Các yếu tố cấu thành cơ chế không phải tùy tiện đặt ra, mà phải do pháp luật quy định và cơ chế này cũng có tính hướng đích, đó là nhằm đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được thực hiện đúng mục đích, yêu cầu. Các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam và sự vận hành của nó nhằm mục đích xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp đối với thông tư, thông tư liên tịch của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp, nhằm phát hiện và xử lý đối với những văn bản trái pháp luật, đồng thời, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó, qua đó góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản thuộc đối tượng kiểm tra trong hệ thống pháp luật. Mỗi yếu tố của cơ chế có một vai trò nhất định và có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục nghiên cứu, luận giải làm rõ các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Hai là, cơ chế đó đảm bảo cho hoạt động của một hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên trách công tác kiểm tra và được tổ chức tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bất kỳ một chủ thể nào khi đặt ra một cơ chế, thiết chế để phục vụ cho hoạt động hướng đích của mình cũng đều có động cơ, mục đích riêng và phải phù hợp, tương thích với điều kiện, khả năng tổ chức thực hiện nó. Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cũng vậy, nó đảm bảo cho hoạt động của một hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên trách công tác kiểm tra và được tổ chức tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ đặc điểm này cho thấy, vấn đề đặt ra đối với pháp luật về kiểm tra văn bản là, phải quy định đầy đủ, rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời, cũng phải quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản, qua đó giúp các chủ thể thực hiện, vận hành nhiệm vụ được giao một cách đúng nguyên tắc, nhanh chóng, thuận lợi và bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.

Ba là, cơ chế này được thực hiện bằng một hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với đối tượng nhất định, gắn với quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy công quyền, cũng như công vụ của các công chức trong bộ máy đó.

Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam do các chủ thể đã được pháp luật trao quyền thực hiện, ở đây là các quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra văn bản, như: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân các cấp. Các chủ thể thực hiện thẩm quyền kiểm tra đối với đối tượng rõ ràng, cụ thể, đối tượng đó ở đây chính là văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Đồng thời, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản phải gắn với quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy công quyền, cũng như công vụ của các công chức trong bộ máy đó. Như vậy, đặc điểm này cũng chính là yêu cầu đối với cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, một mặt vừa phải bảo đảm rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản, một mặt, cũng phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan đã ban hành văn bản thuộc đối tượng kiểm tra.

Bốn là, mục đích của cơ chế kiểm tra là nhằm làm cho quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước, cũng như công vụ của các công chức trong bộ máy đó đạt được hiệu quả cao, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản được thừa nhận của nhà nước pháp quyền và được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và xã hội.

Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam bao gồm các yếu tố do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và vận hành, đương nhiên nó phải phục vụ mục tiêu mà chủ thể đặt ra nó hướng tới và phải bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc chung về tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước. Mục đích của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là nhằm làm cho quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước, cũng như công vụ của các công chức trong bộ máy đó đạt được hiệu quả cao, qua đó có thể kiểm tra, phát hiện, xử lý kịp thời, chính xác đối với các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, đồng thời, phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và xã hội, qua đó, tránh sự tùy tiện, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan có văn bản được kiểm tra hoặc “bỏ sót” văn bản kiểm tra, cũng như việc không xử lý hoặc xử lý không triệt để đối với văn bản trái pháp luật được phát hiện qua kiểm tra v.v…

2.1.3. Vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Đánh giá vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trước tiên cần phải đánh giá vai trò của kiểm tra đối với loại văn bản này.

Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ, làm cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật suy cho cùng là nhằm thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cũng không nằm ngoài mục tiêu này. Để thực hiện mục tiêu trên, nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách được đặt ra, trong đó nhiệm vụ

Yêu cầu này, đòi hỏi phải xây dựng cơ chế kiểm tra để có thể phát hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời các nội dung trái pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng kiểm tra, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, minh bạch, công khai của hệ thống pháp luật, qua đó, đóng góp thiết thực vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta.

Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam với toàn bộ các yếu tố cấu thành và sự vận động của các yếu tố đó có vai trò quan trọng và tác động trở lại một cách mạnh mẽ, tích cực đối với hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam thể hiện qua một số khía cạnh cơ bản sau đây:

Một là, góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Quá trình kiểm tra, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đã và đang góp phần làm cho việc soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân các cấp ngày càng đi vào nề nếp, siết chặt kỷ luật trong soạn thảo, ban hành văn bản, nhất là việc làm cho hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp chính quyền địa phương cũng được điều chỉnh cho phù hợp hơn.

Với việc thường xuyên công bố, thông tin trên các phương tiện truyền thông như hiện nay để đưa tin, phản ánh về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật, đã tác động mạnh mẽ đối với việc đảm bảo chất lượng, trật tự, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan, tổ chức, công dân liên tục phản ánh về các nội dung trái pháp luật của các văn bản quy phạm pháp luật chính là sự giám sát chặt chẽ nhất, tác động lớn nhất, làm cho cơ quan ban hành văn bản cũng như cơ quan kiểm tra văn bản buộc phải nêu cao trách nhiệm hơn, khẩn trương hơn trong xem xét, xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Đồng thời, cũng là dịp để cơ quan ban hành văn bản nhìn lại, đánh giá lại khâu tổ chức xây dựng, ban hành văn bản của cơ quan mình, từ đó có những kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Do vậy, có thể nói, kiểm tra văn bản góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật không chỉ là việc của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản mà theo các quy định hiện hành về kiểm tra văn bản thì còn có sự tham gia rộng rãi của cơ quan, tổ chức, công dân vào hoạt động này. Nhờ các quy định này, mà thời gian vừa qua, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản đã tiếp nhận và kiểm tra, xử lý kịp thời nhiều văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, nhất là các văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương ban hành.

Như vậy có thể nói, cơ chế kiểm tra kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Hai là, góp phần đảm bảo tính hợp lý, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, một số văn bản đã gặp phải những phản ứng khá gay gắt của người dân, do văn bản không những có dấu hiệu trái pháp luật (kể cả có văn bản có thể không trái pháp luật), mà còn không đảm bảo tính khả thi và khó có thể được thực hiện trên thực tiễn. Qua kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, cơ quan kiểm tra văn bản còn phát hiện thấy văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra (Luật, Pháp lệnh, Nghị định) trong một số trường hợp có nội dung chưa đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, nhất là tính hợp lý, dẫn đến văn bản quy định chi tiết của bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương cũng có những khiếm khuyết tương tự. Do đó, qua kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, chủ thể có thẩm quyền kiểm tra văn bản còn phát hiện và kiến nghị đối với nội dung các văn bản khác của các cơ quan nhà nước cấp trên để nghiên cứu, hoàn thiện các văn bản đó.

Ba là, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân; đảm bảo lợi ích của người dân.

Trong nhà nước pháp quyền giá trị con người luôn được đề cao, nhất là trong mối quan hệ với Nhà nước. Một trong những yêu cầu không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền là tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Bằng pháp luật, Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm cho quyền con người được thực thi trên thực tế. Song pháp luật nói chung, một mặt là phương tiện nhằm bảo vệ quyền con người, cụ thể hóa các quyền con người đã được công nhận, mặt khác cũng có thể chứa đựng nhiều khả năng vi phạm, hạn chế hay tước đoạt quyền con người. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế để loại bỏ các khả năng này của toàn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là hết sức cần thiết. Cần nhận thức rằng, văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước là một trong những phương tiện quan trọng nhất để triển khai thực hiện, ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, nhưng cũng có khả năng chứa đựng các “nguy cơ” xâm phạm quyền con người. Cho nên, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan này góp phần bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam có tính chất quan trọng trong bảo vệ quyền con người. Bởi việc tổ chức, hướng dẫn thi hành các quy định của luật, pháp luật về quyền con người chủ yếu được thực hiện thông qua việc ban hành văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ. Chính vì thế, cần kiểm tra và ngăn chặn ngay lập tức những quy định vi phạm (hạn chế hay tước đoạt) quyền con người.

Đảm bảo lợi ích của người dân nói ở đây bao gồm lợi ích của các tổ chức, doanh nghiệp và người dân nói chung. Văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là công cụ để Nhà nước quản lý kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được thực hiện và phát triển thuận lợi. Nhà nước ban hành văn bản với phương châm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển tốt, mở rộng sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu thuận lợi, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Chính sách pháp luật của Nhà nước đã có những tác động lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua phản ánh của các doanh nghiệp thì một số văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, có ảnh hưởng tới lợi ích (kinh tế, thủ tục…) của doanh nghiệp. Thời gian qua, một số doanh nghiệp đã có nhiều phản ánh về nội dung trái pháp luật của một số văn bản gây ảnh hưởng đến lợi ích của các doanh nghiệp. Việc kiểm tra, xử lý đối với các văn bản này mất khá nhiều thời gian và cũng có nhiều ý kiến khác nhau, đặc biệt là từ phía cơ quan ban hành văn bản. Việc này đôi khi khó giải quyết và có thể giải quyết không được triệt để, tuy nhiên, đó cũng là lý do để các cơ quan ban hành văn bản sẽ phải thận trọng hơn khi nội dung văn bản đó có liên quan đến lợi ích của đối tượng chịu tác động. Nhiều phản ánh đã giúp cơ quan có thẩm quyền xử lý được những văn bản trái pháp luật, đảm bảo tính thống nhất, minh bạch của văn bản pháp luật và lợi ích của doanh nghiệp. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Về phía người dân, thời gian qua cũng có nhiều phản ánh của công dân liên quan đến văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Những phản ánh này thường liên quan trực tiếp đến lợi ích của họ, như các văn bản liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, liên quan đến thủ tục, giấy tờ hành chính, các vấn đề khác… Trong đó, một số phản ánh đã giúp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xử lý đối với một số văn bản trái pháp luật.

Cùng với cơ chế thanh tra, giám sát và các cơ chế khác do pháp luật quy định, cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam góp phần đắc lực để hoạt động các cơ quan hành chính nhà nước bảo đảm đúng pháp luật, công khai, minh bạch và hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

2.2. CÁC YẾU TỐ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ CỦA CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.2.1. Các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Muốn hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trước tiên phải nhận diện, làm rõ một cách đầy đủ, khách quan về các yếu tố cấu thành cơ chế.

Từ khái niệm, đặc điểm của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cho thấy, cơ chế này có các yếu tố cơ bản sau đây:

Một là, các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất để thiết lập các quy định cụ thể của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật chính là Hiến pháp. Hiến pháp đưa ra nguyên tắc căn cốt nhất, làm nền tảng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cụ thể hóa nó thành pháp luật. Đề cập đến nội dung quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong Hiến pháp, chúng ta cần phải quán triệt nội dung “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật” [78, tr. 20]. Đối với Ủy ban nhân dân, tuy không chỉ rõ cụ thể trách nhiệm trong công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, song Hiến pháp 2013 cũng đã xác định rõ trách nhiệm của cơ quan này trong việc tổ chức thực thi pháp luật, theo đó “Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao” [78, tr. 26]. Không chỉ xác định những vấn đề mang tính nguyên lý chung trong việc trao thẩm quyền cho các chủ thể kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật như đã nêu trên, Hiến pháp cũng đã đưa ra nguyên tắc, hình thức xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật.

Cụ thể hóa các nguyên tắc Hiến định, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nghị định của Chính phủ về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; các quy định trong Nghị định của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang Bộ; các quy định trong các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng bộ, cơ quan ngang bộ; các thông tư và thông tư liên tịch hướng dẫn về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp ban hành theo thẩm quyền quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương và các văn bản có liên quan khác.

Hai là, chủ thể thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Chủ thể thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ chỉ thực hiện công tác tự kiểm tra văn bản); Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Các chủ thể thực hiện việc tự kiểm tra văn bản do mình ban hành hay còn gọi là kiểm tra từ bên trong và kiểm tra theo thẩm quyền được giao hay còn gọi là kiểm tra từ bên ngoài vào, đây chính là hai phương thức kiểm tra. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Điểm cốt lõi nhất và cũng là cách tốt nhất có thể giúp chúng ta có cái nhìn thấu đáo về những vấn đề liên quan đến chủ thể thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam (gọi chung là chủ thể kiểm tra) là, đặt nó qua “lăng kính” thẩm quyền kiểm tra đối với loại văn bản này.

Về thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ:

Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước; ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực đó. Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; quy định biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương và biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Đương nhiên, các văn bản này phải theo trình tự thủ tục chung và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, đồng thời, nó phải được đặt dưới sự kiểm tra của người có thẩm quyền. Theo đó, Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thông qua một bộ máy giúp việc cụ thể hoặc một bộ, cơ quan ngang bộ nào đó trong Chính phủ. Ở Việt Nam, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên [80, tr. 80].

Về thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ:

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành và do bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản [80, tr. 80].

Trong công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện hai phương thức, trước hết, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải chủ động thực hiện việc tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành, kịp thời phát hiện nội dung sai trái và tự xử lý các nội dung đó. Bên cạnh đó, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ còn thực hiện việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do bộ, cơ quan ngang bộ khác, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, có nội dung liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. Như vậy, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền, trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền.

Riêng Bộ Tư pháp không những thực hiện các quyền trong kiểm tra văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ ban hành tương tự như các bộ, cơ quan ngang bộ khác, mà còn có vai trò trong việc giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ. Cụ thể các văn bản thuộc đối tượng kiểm tra gồm: Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ đó hoặc liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật luật năm 2015, tới đây sẽ không còn hình thức văn bản này nữa); nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ trong thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp còn có trách nhiệm kiểm tra một số loại văn bản đặc thù như: Văn bản có chứa quy phạm pháp luật được ban hành không đúng hình thức, thẩm quyền, như: văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành hoặc liên tịch ban hành nhưng không được ban hành bằng hình thức thông tư; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành; văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành nhưng không bằng hình thức quyết định; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành. Như vậy, toàn bộ văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành đúng thể thức, thẩm quyền do Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân ban hành sẽ được Bộ Tư pháp kiểm tra khi có kiến nghị, yêu cầu của cơ quan, tổ chức, công dân.

Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ngoài việc tự kiểm tra văn bản do mình ban hành và kiểm tra văn bản do Bộ, cơ quan ngang bộ khác và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành liên quan đến lĩnh vực do mình quản lý, còn có một nhiệm vụ khác so với các Bộ trưởng khác đó là, giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra Thông tư do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các văn bản khác khi được Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ giao. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ còn tiến hành kiểm tra, xử lý đối với các văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp ban hành không đúng thể thức, thẩm quyền. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Vể thẩm quyền của Ủy ban nhân dân:

Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân cấp dưới ban hành. Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp dưới [80, tr. 80-81].

Bên cạnh việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ tự kiểm tra và kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp còn có trách nhiệm đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản của các bộ, ngành và địa phương; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về công tác kiểm tra văn bản của bộ, ngành, địa phương mình. Đây là một trong các nội dung công việc thuộc về chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trong công tác kiểm tra văn bản. Riêng Bộ trưởng Bộ Tư pháp còn có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc và định kỳ hàng năm tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình kiểm tra, xử lý văn bản trong phạm vi toàn quốc.

Ba là, các điều kiện bảo đảm đối với công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Như đã luận giải ở trên, các điều kiện bảo đảm đề cập ở đây bao gồm: kinh phí, phương tiện làm việc phục vụ hoạt động kiểm tra văn bản; hệ cơ sở dữ liệu kiểm tra văn bản; các điều kiện bảo đảm khác (chế độ thông tin báo cáo; cơ chế phối hợp…).

Về kinh phí, đây là nguồn tài chính hỗ trợ cho một số hoạt động kiểm tra văn bản, như: (i) Chi cho công tác kiểm tra văn bản (tổ chức các cuộc họp, hội thảo, tọa đàm để trao đổi nghiệp vụ kiểm tra văn bản, xử lý văn bản theo yêu cầu, kế hoạch kiểm tra; in ấn, chuẩn bị tài liệu, thu thập các văn bản thuộc đối tượng kiểm tra; tổ chức các đoàn kiểm tra theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực v.v…); (ii) Chi tổ chức đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản (tổ chức họp cộng tác viên theo yêu cầu và kế hoạch kiểm tra; trả thù lao cộng tác viên; thanh toán công tác phí cho cộng tác viên tham gia đoàn kiểm tra theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnh vực); (iii) Chi tổ chức thu thập thông tin, tư liệu, lập hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản (thu thập, phân loại, xử lý các thông tin, tư liệu, tài liệu, dữ liệu, văn bản; trang bị sách, báo, tạp chí; rà soát, xác định văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực tại thời điểm kiểm tra văn bản để lập hệ cơ sở dữ liệu; trang bị hoặc nâng cấp các trang thiết bị; tổ chức mạng lưới thông tin phục vụ cho việc xây dựng và quản lý hệ cơ sở dữ liệu; duy trì, bảo dưỡng và nâng cao hiệu quả, hiệu suất hoạt động của hệ thống công nghệ thông tin v.v…); (iv) Chi các hoạt động khác liên quan đến công tác kiểm tra văn bản (công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp luật; tổ chức nghiên cứu khoa học; tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra văn bản; sơ kết, tổng kết, tổ chức hội thi theo ngành, lĩnh vực, địa phương và toàn quốc v.v…).

Kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do ngân sách nhà nước cấp. Pháp luật hiện hành giao cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm.

Về phương tiện làm việc, gồm trụ sở, máy móc, trang thiết bị phục vụ hoạt động của cơ quan, công chức được giao nhiệm vụ kiểm tra văn bản, trong đó bao gồm cả cơ sở hạ tầng để thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các chủ thể kiểm tra văn bản. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Về hệ cơ sở dữ liệu kiểm tra văn bản, là toàn bộ các thông tin, tư liệu, tài liệu, dữ liệu, văn bản phục vụ hoạt động nghiệp vụ hoặc có liên quan đến công tác kiểm tra văn bản, trong đó, văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực tại thời điểm kiểm tra văn bản, làm cơ sở pháp lý phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản là tài liệu trọng yếu nhất. Cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản do chính các chủ thể được giao thực hiện nhiệm vụ này thiết lập, xây dựng bằng cách tập hợp một cách khoa học các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý đã được rà soát, chuẩn hóa hiệu lực; các kết quả kiểm tra văn bản; các thông tin về nghiệp vụ kiểm tra văn bản và các thông tin, tài liệu liên quan khác. Bảo đảm về cơ sở dữ liệu, các thông tin, tư liệu là bảo đảm thiết yếu. Cơ sở dữ liệu, các thông tin, tư liệu là phương tiện quan trọng, thiết yếu cho quá trình thực hiện kiểm tra văn bản. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu, các thông tin, tư liệu càng sớm, càng hoàn chỉnh thì hiệu quả kiểm tra văn bản càng cao.

Về chế độ thông tin, báo cáo, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản của các bộ, ngành, địa phương mình; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về công tác kiểm tra văn bản của bộ, ngành, địa phương mình. Đây là một trong các yếu tố thuộc về chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trong công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Một vấn đề nữa cần lưu ý khi bàn về các điều kiện bảo đảm đối với kiểm tra quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, đó là mối quan hệ phối hợp. Mối quan hệ phối hợp ở đây gồm quan hệ phối hợp trong nội bộ cơ quan có văn bản được kiểm tra và trong nội bộ cơ quan kiểm tra văn bản; giữa cơ quan kiểm tra với cơ quan có văn bản được kiểm tra; giữa cơ quan kiểm tra với các cơ quan, tổ chức khác. Về nội dung phối hợp gồm phối hợp trong việc gửi và nhận văn bản kiểm tra; trong thực hiện trình tự, thủ tục kiểm tra; trong thông tin, kiến nghị về văn bản có dấu hiệu sai sót, vi phạm; trong xử lý văn bản có sai sót, vi phạm và khắc phục hậu quả. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Bên cạnh đó còn có các điều kiện bảo đảm khác, như chế độ chính sách đối với công chức thực hiện kiểm tra văn bản; triển khai hoạt động của đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản v.v…

Về cách thức, quy trình kiểm tra văn bản, về nguyên lý, có thể được xem là một trong các yếu tố của cơ chế này. Tuy nhiên, cách thức, quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam, một mặt phải do pháp luật quy định và phải được vận hành, thực hiện theo quy định của pháp luật, mặt khác, cách thức, quy trình này do các chủ thể kiểm tra thực hiện, đồng thời, nó cũng phải bảo đảm phù hợp, tương thích với các điều kiện bảo đảm khác của cơ chế. Do đó, sẽ là thiếu logic và cứng nhắc nếu đặt cách thức, quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam như một yếu tố “độc lập” của cơ chế để phân tích, luận giải riêng rẽ về nó, vì thế, vấn đề liên quan đến cách thức, quy trình kiểm tra văn bản sẽ được phân tích, luận giải lồng ghép, đan xen một cách hài hòa với các yếu tố về thể chế pháp luật (tức các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản), chủ thể kiểm tra và các yếu tố khác của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

2.2.2. Mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Đánh giá về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cũng có nghĩa là đánh giá về toàn bộ các yếu tố cấu thành hoặc có ảnh hưởng, liên quan đến cơ chế này. Mỗi yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy pham pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đóng một vai trò nhất định, là tiền đề của nhau, bổ sung cho nhau, có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam xuất phát từ thực tiễn khách quan và mang tính quy luật.

Thể chế pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật quy định nguyên tắc, đối tượng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm tra, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan… Đồng thời, các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam còn quy định về những vấn đề liên quan đến các điều kiện bảo đảm, như về kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra văn bản, thậm chí cả về điều kiện, tiêu chuẩn của cán bộ làm công tác này, cũng như công tác phối hợp trong công tác kiểm tra văn bản, thông qua việc quy định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Có các quy định pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, rành mạch, phù hợp với pháp luật sẽ giúp các chủ thể kiểm tra thực hiện đúng, đủ thẩm quyền, trách nhiệm của mình, đồng thời, quy định của pháp luật cũng là căn cứ quan trọng trong việc bố trí, vận hành các điều kiện bảo đảm cho công tác này, qua đó giúp các chủ thể kiểm tra phát hiện và xử lý kịp thời đối với văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, khẳng định hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản. Ngược lại, các quy định của pháp luật không đầy đủ, thiếu cụ thể, không rành mạch, không phù hợp sẽ khiến các chủ thể lúng túng, khó khăn, không có cơ sở để tổ chức triển khai thực hiện công việc, kể cả hoạt động chuyên môn nghiệp vụ cũng như bố trí, vận hành các điều kiện bảo đảm khác, từ đó tác động trực tiếp đến tiến độ, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các chủ thể kiểm tra. Chủ thể kiểm tra văn bản chỉ được thực hiện những quyền hạn, trách nhiệm trong phạm vi quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản, vấn đề này hoàn toàn phù hợp với nguyên lý, trong nhà nước pháp quyền, cơ quan nhà nước, công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Như vậy, các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là yếu tố quan trọng hàng đầu, có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng rất lớn đến các yếu tố khác của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Đến lượt mình, chủ thể kiểm tra văn bản cũng có vai trò vô cùng q uan trọng và tác động tích cực trở lại đối với thể chế pháp luật về kiểm tra văn bản quy pham pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Suy cho cùng, các quy định của pháp luật nói chung, pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói riêng cũng là do con người làm ra và việc tổ chức thực thi nó cũng là do con người. Chính các chủ thể kiểm tra văn bản là nhân tố tạo lập và vận hành các quy định của pháp luật; họ là những người đánh giá chính xác, đúng đắn nhất về những vấn đề liên quan đến thể chế pháp luật về kiểm tra văn bản, như quy định những gì là cần thiết, quy định như thế nào là đúng đắn, phù hợp… Tổ chức, bộ máy và nhân sự làm công tác kiểm tra văn bản (tức chủ thể kiểm tra văn bản) có quy mô phù hợp, bảo đảm về số lượng và chất lượng chắc chắn sẽ tạo lập được hệ thống các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản đồng bộ, phù hợp và khả thi, đồng thời, việc tổ chức thực thi các quy định này sẽ đạt kết quả, hiệu quả. Ngược lại, bộ máy, tổ chức và nhân sự không tốt, kém chất lượng thì khó có thể tạo lập được hệ thống các quy định pháp luật tốt, kể cả khi đã có hệ thống các quy định pháp luật tốt nhưng các chủ thể kiểm tra không vận hành, tổ chức thực hiện nó một cách đồng bộ thì hiệu quả cũng chỉ là trên giấy. Như vậy, chủ thể kiểm tra vừa là nhân tố tạo ra, vừa là nhân tố tổ chức thực thi các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, kể cả việc tạo ra, vận hành và sử dụng các yếu tố vật chất khác của cơ chế này.

Trở lại vấn đề liên quan đến các điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam, như đã luận giải ở trên, kinh phí, trang thiết bị làm việc và các điều kiện bảo đảm khác phục vụ công tác này được pháp luật quy định và phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc vận hành yếu tố này của cơ chế chủ yếu và trước hết thuộc trách nhiệm của các chủ thể kiểm tra văn bản, điều đó có nghĩa là, căn cứ vào các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, không phải ai khác mà chính các chủ thể kiểm tra văn bản sẽ bố trí, phân bổ, sử dụng kinh phí, trang thiết bị làm việc và vận hành các điều kiện bảo đảm khác phục vụ cho hoạt động của mình. Bảo đảm đầy đủ, kịp thời về kinh phí, trang thiết bị làm việc và các điều kiện bảo đảm khác sẽ hỗ trợ các chủ thể kiểm tra văn bản triển khai thực hiện nhanh chóng, toàn diện và có hiệu quả các mặt công tác kiểm tra văn bản; bảo đảm đầy đủ, chặt chẽ các quy định của pháp luật về kinh phí, trang thiết bị làm việc và các điều kiện bảo đảm khác phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp các chủ thể kiểm tra văn bản quản lý, sử dụng các nguồn lực này đúng quy định pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Như vậy, mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam không phải là cái gì trừu tượng, khó hiểu, mà chúng ta có thể dễ dàng nhận diện, đánh giá được nó. Quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam suy cho cùng cũng là do con người (ở đây là chủ thể kiểm tra) tạo lập ra và tổ chức thực hiện; chất lượng các quy định pháp luật về về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam và hiệu quả của việc áp dụng nó không phải do ai khác, mà do chính các chủ thể đã tạo lập và tổ chức thực thi nó quyết định. Pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật phải có “bổn phận” xác lập đầy đủ, rõ ràng, rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam (kể cả các chủ thể tham gia với vai trò phối hợp). Có các quy định pháp luật, có nguồn lực con người rồi thì phải có các điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện; việc quản lý, phân bổ, sử dụng kinh phí cũng như các điều kiện bảo đảm khác phục vụ cho công tác kiểm tra do các chủ thể kiểm tra thực hiện, đồng thời, việc quản lý, sử dụng nó cũng phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc, quy định của pháp luật. Bên cạnh đó là sự vận hành trong mối quan hệ tương hỗ của các yếu tố khác, như: mối quan hệ phối hợp, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra v.v… Cứ như vậy, các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau, phát huy tốt “chức năng” của mình, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo thành một hệ thống các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Vận hành cơ chế này một cách đúng đắn, khoa học, đồng bộ chắc chắn sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, qua đó góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của loại văn bản này trong hệ thống pháp luật của đất nước.

2.3. TIÊU CHÍ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

2.3.1. Khái lược về tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Nói đến “tiêu chí” (criterion) là nói đến các tiêu chuẩn dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng, bao gồm các yêu cầu về số lượng, chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng tuân thủ các qui tắc và qui định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó.

Tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là các tiêu chuẩn dùng để đánh giá, kiểm định về thể chế pháp luật, tổ chức, bộ máy (tức chủ thể) và các yếu tố khác của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Các tiêu chí này phải đáp ứng các yêu cầu chung về tiêu chí, như yêu cầu về số lượng, chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng tuân thủ các quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững, bên cạnh đó, nó còn phải thể hiện được yêu cầu về tính đặc thù của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Đáp ứng yêu cầu số lượng có nghĩa là phải có đầy đủ quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Hơn thế nữa, cần bảo đảm chất lượng của các quy định, có nghĩa là, các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam phải phù hợp, không chồng chéo, mâu thuẫn với pháp luật hiện hành và phải bảo đảm khả thi, theo đó, cần phải quy định rành mạch, rõ ràng về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản (nếu có dấu hiệu trái pháp luật), kể cả việc quy định về công tác phối hợp và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động này.

Đối với chủ thể kiểm tra, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc để bố trí, sắp xếp cho bảo đảm đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu tổ chức và đáp ứng yêu cầu về chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản, đồng thời, phải xác định rõ nguyên tắc tổ chức hoạt động, trách nhiệm, thẩm quyền của các chủ thể.

Việc đưa ra tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam còn phải hướng tới việc tiếp tục hoàn thiện và tạo lập thêm những cơ sở pháp lý trong việc bố trí, hỗ trợ các nguồn lực khác phục vụ hoạt động này, trong đó có các điều kiện bảo đảm như kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc…

2.3.2. Các tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Một là, có đầy đủ các quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Đây là một trong những “điều kiện cần” trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Việc đặt ra tiêu chí này trước tiên xuất phát từ tiêu chuẩn “cứng” của yêu cầu về bảo đảm “số lượng” của một tiêu chí nói chung, ở đây là việc khắc phục những hạn chế, bất cập của tình trạng thiếu các quy định pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam nói riêng.

Bảo đảm về số lượng các quy định của pháp luật không chỉ đơn thuần là về số lượng các đạo luật, nghị định, thông tư hay các văn bản khác quy định về công tác này, mà điều cốt lõi là, cần phải bảo đảm có đầy đủ các quy định điều chỉnh các vấn đề liên quan ngay trong một văn bản, đồng thời, cần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của các quy định đó. Có thể nói, vấn đề này từ lâu vẫn luôn là đòi hỏi, thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, bởi lẽ: quan hệ xã hội thì rất đa dạng, luôn vận động, phát triển, trong khi đó, pháp luật thì luôn tỏ ra lạc hậu, không theo kịp sự vận động, phát triển của quan hệ xã hội hoặc pháp luật đã quy định rồi nhưng chưa bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, còn mâu thuẫn, chống chéo. Khắc phục những khiếm khuyết, bất cập của hệ thống pháp luật nói chung là yêu cầu, nhiệm vụ bắt buộc phải làm, nhất là đối với các quốc gia theo mô hình xây dựng nhà nước pháp quyền. Ở Việt Nam, vấn đề này đã được thể chế hóa bằng pháp luật và nằm trong chuỗi hoạt động phục vụ công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đó chính là hoạt động rà soát văn bản, sơ kết, tổng kết đánh giá hệ thống pháp luật, trên cơ sở đó giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời bổ sung quy định còn thiếu, sửa đổi quy định không còn phù hợp, loại bỏ ra khỏi hệ thống pháp luật những quy định thừa, không cần thiết v.v…

Như vậy, việc đặt ra tiêu chí, có đầy đủ các quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, vừa bảo đảm về cơ sở lý luận, vừa xuất phát từ chính yêu cầu thực tiễn và suy cho cùng cũng là nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm tra văn bản, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hai là, bảo đảm rõ ràng, minh bạch, không chồng chéo về thẩm quyền, kiểm tra; đa dạng hóa các phương thức kiểm tra.

Nếu như tiêu chí có đầy đủ các quy định về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam như đã trình bày ở trên là bảo đảm yêu cầu về “số lượng” thì bảo đảm yêu cầu rõ ràng, minh bạch, không chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể kiểm tra có thể được coi là bảo đảm yêu cầu về “chất lượng”. Đây là một trong các tiêu chí vô cùng quan trọng, có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, kết quả kiểm tra văn bản. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Trong nhà nước pháp quyền, sự rõ ràng, minh bạch là yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối với hoạt động của cơ quan nhà nước thì bảo đảm yêu cầu này càng trở nên quan trọng. Khi nói đến chủ thể thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản và đối tượng văn bản được kiểm tra, xử lý (nếu trái pháp luật) thì bao giờ cũng liên hệ ngay đến thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, công chức nhà nước. Chính vì vậy, bảo đảm rõ ràng, minh bạch, không chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể kiểm tra là điều kiện tiên quyết giúp các chủ thể kiểm tra văn bản thực hiện đúng, đủ chức trách, nhiệm vụ của mình; bảo đảm cho kết quả kiểm tra có chất lượng, hiệu quả, đạt được mục đích, yêu cầu đề ra.

Đa dạng hóa các phương thức kiểm tra không có nghĩa là tiến hành kiểm tra một cách tùy tiện, vô nguyên tắc mà việc kiểm tra ở đây vẫn phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục, bảo đảm đúng thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể; phát huy tối đa các phương thức đã và đang thực hiện, như: kiểm tra từ ngoài vào, tự kiểm tra của chính cơ quan đã ban hành văn bản đó và kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của tổ chức, cá nhân và của các cơ quan thông tin đại chúng. Việc đặt ra và phát huy yêu cầu, bảo đảm kiểm tra từ ngoài vào, tự kiểm tra và kiểm tra khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của tổ chức, cá nhân và của các cơ quan thông tin đại chúng là nhằm bảo đảm nguyên tắc khách quan, minh bạch trong quá trình kiểm tra văn bản, đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm, sự chủ động và tự giác của các chủ thể khi tham gia hoạt động này.

Ba là, bảo đảm sự phối hợp trong công tác kiểm tra văn bản.

Sự phối hợp trong công tác kiểm tra văn bản nói ở đây chính là phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương, cơ quan, tổ chức có liên quan ở địa phương đã ban hành văn bản với cơ quan kiểm tra văn bản; giữa tự kiểm tra văn bản và kiểm tra văn bản theo thẩm quyền. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Nội dung, yêu cầu của công tác phối hợp nói chung, trước tiên là, các chủ thể có liên quan thực hiện đúng, đủ chức trách, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đối với kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam thì nội dung, yêu cầu là: cơ quan có thẩm quyền kiểm tra phải kịp thời kiểm tra, xử lý triệt để đối với văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam có dấu hiệu trái pháp luật; cơ quan có văn bản được kiểm tra (các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp) phải thực hiện nghiêm túc quy định về gửi văn bản thuộc đối tượng kiểm tra do mình ban hành đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, kịp thời xem xét, xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật theo quy định khi nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đó. Đối với những vướng mắc, bất cập phát sinh cần có bàn bạc, trao đổi, thống nhất giữa các cơ quan, cá nhân có liên quan trước khi đưa ra phán quyết cuối cùng v.v… Sự phối hợp này phải được thể chế hóa bằng pháp luật, làm cơ sở để các chủ thể có liên quan tuân thủ, thực hiện.

Bốn là, bảo đảm phán quyết và xử lý kịp thời, triệt để văn bản có sai sót. Đưa ra phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp đối với một văn bản chính là công đoạn, thành quả cuối cùng của hoạt động kiểm tra. Việc phán quyết và xử lý ở đây bao gồm việc kết luận về tính trái pháp luật của văn bản, về hướng giải quyết, khắc phục đối với sai trái của văn bản, kể cả việc xem xét trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái đó, chính vì vậy, bảo đảm cho việc phán quyết và xử lý kịp thời, triệt để khi phát hiện văn bản có sai sót, vi phạm là không hề đơn giản, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, kể cả khách quan và chủ quan, ví dụ như: chất lượng các nguồn lực, đặc biệt là trình độ, chuyên môn của cá nhân thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản; sản phẩm đầu ra của hoạt động kiểm tra văn bản; nhận thức và ý thức trách nhiệm của các chủ thể; các điều kiện bảo đảm khác v.v… Do đó, bảo đảm cho việc phán quyết và xử lý kịp thời, triệt để khi phát hiện văn bản có sai sót, vi phạm, với những nội dung, yêu cầu của nó, là một trong những tiêu chí để hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Năm là, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.

Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam bên cạnh việc bảo đảm pháp chế, tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, nó còn góp phần tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; khắc phục được tồn tại, bất cập hiện nay về sự cồng kềnh, khó áp dụng của hệ thống pháp luật nói chung; tránh sự chồng chéo, không rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, kể cả của các chủ thể tham gia với tư cách là tổ chức/người phối hợp, đồng thời, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các yếu tố của cơ chế này, trong đó bao gồm cả việc bổ sung, tăng cường các nguồn lực vật chất về con người, kinh phí, các điều kiện bảo đảm khác. Đáp ứng yêu cầu nêu trên, suy cho cùng là nhằm hướng tới mục tiêu và cũng là một trong những tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đó là, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác này.

Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cần phải bảo đảm thiết thực, khả thi và dễ dàng trong việc triển khai, áp dụng; giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm soát một cách thuận lợi và thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước của mình đối với công tác này; bảo đảm sự tham gia ngày càng rộng rãi hơn của cá tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng vào hoạt động kiểm tra văn bản, nhất là việc phản ánh, kiến nghị và giám sát quá trình xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là tổng thể và sự vận hành của các yếu tố tạo nên, như: thể chế pháp luật, chủ thể thực hiện và các điều kiện bảo đảm khác trong kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật. Mỗi một yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy pham pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đóng một vai trò nhất định và là tiền đề của nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy pham pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam suy cho cùng là hoàn thiện các yếu tố tạo nên cơ chế này.

Để tiếp tục làm sáng tỏ lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay và trả lời câu hỏi tại sao phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế này, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay, tác giả thấy rằng, cần phải nghiên cứu, đánh giá để đưa ra những kết luận khoa học, khách quan về thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

One thought on “Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *