Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tình hình, kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua và thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Hiện Nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THỜI GIAN QUA

Như đã trình bày ở trên, công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta được chuyển giao cho các cơ quan Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2003. Có hai phương thức chủ yếu để kiểm tra văn bản là, tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản và kiểm tra văn bản theo thẩm quyền. Khi thực hiện kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, các chủ thể có thẩm quyền kiểm tra có thể triển khai thông qua nhiều cách thức khác nhau, như: kiểm tra văn bản do cơ quan ban hành văn bản gửi đến; tổ chức kiểm tra văn bản theo chuyên để, địa bàn; kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức và các phương tiện thông tin đại chúng.

Về tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản, theo báo cáo hàng năm và báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, từ năm 2003 đến hết tháng 3/2013, các bộ, ngành và địa phương đã tự kiểm tra được 3.665.901 văn bản, trong đó, các Bộ, cơ quan ngang bộ tự kiểm tra được 10.752 văn bản, các địa phương tự kiểm tra được 3.655.149 văn bản [6, tr. 2]. Qua tự kiểm tra, đã phát hiện 30.115 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản, trong đó, các Bộ, cơ quan ngang bộ phát hiện được 248 văn bản, các địa phương phát hiện được 29.867 văn bản [6, tr. 2]. Năm 2013, đã tự kiểm tra 1.018.055 văn bản, trong đó: các Bộ, cơ quan ngang bộ tự kiểm tra được 2.679 văn bản, các địa phương tự kiểm tra được 1.015.376 văn bản. Qua tự kiểm tra, đã phát hiện được 6.667 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản [6, tr. 5]. Năm 2014, đã tự kiểm tra được 1.255.808 văn bản, trong đó: các Bộ, cơ quan ngang bộ tự kiểm tra được 2.389 văn bản, các địa phương tự kiểm tra được 1.253.419 văn bản. Qua tự kiểm tra, đã phát hiện được 6.872 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản (gồm 12 văn bản của cơ quan cấp Bộ; 6.860 văn bản của địa phương) [7, tr. 2-3]. Năm 2015, đã tự kiểm tra được 107.463 văn bản, trong đó: các Bộ, cơ quan ngang bộ tự kiểm tra được 4.135 văn bản, các địa phương tự kiểm tra được 103.328 văn bản. Qua tự kiểm tra, đã phát hiện 561 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản [8, tr. 4]. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Theo đánh giá của Bộ Tư pháp, công tác tự kiểm tra, xử lý văn bản trong thời gian qua đã được các Bộ, ngành và địa phương thực hiện tương đối nghiêm túc và cơ bản kịp thời; đã tự kiểm tra được số lượng văn bản “khổng lồ”.

Về kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, cũng theo báo cáo của các bộ, ngành và địa phương, từ năm 2003 đến hết tháng 3/2013, trên tổng số các văn bản đã tiếp nhận, các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã kiểm tra theo thẩm quyền được 2.353.490 văn bản, trong đó, các Bộ, cơ quan ngang bộ kiểm tra được 43.262 văn bản. Qua kiểm tra, đã phát hiện được 63.277 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản [6, tr. 3]. Năm 2013, kiểm tra được 740.399 văn bản, trong đó, các Bộ, cơ quan ngang bộ kiểm tra được 4.343 văn bản, các địa phương kiểm tra được 694.610 văn bản. Qua kiểm tra, đã phát hiện 11.507 văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp pháp của văn bản [6, tr. 6]. Năm 2014, kiểm tra được 495.737 văn bản, trong đó, các Bộ, cơ quan ngang bộ kiểm tra được 7.393 văn bản, các địa phương kiểm tra được 488.344 văn bản. Qua kiểm tra, đã phát hiện 1.642 văn bản sai về thẩm quyền ban hành và nội dung (trong đó có 293 văn bản của cấp Bộ; 1.349 văn bản của địa phương) và 5.482 văn bản quy phạm pháp luật sai sót về hiệu lực văn bản, căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản [7, tr. 3]. Năm 2015, đã kiểm tra được 66.849 văn bản, trong đó, các Bộ, cơ quan ngang bộ kiểm tra được 6.005 văn bản, các địa phương kiểm tra được 60.844 văn bản. Qua kiểm tra, đã phát hiện 126 văn bản sai về thẩm quyền ban hành và nội dung 237 văn bản quy phạm pháp luật sai về thẩm quyền ban hành; 813 văn bản quy phạm pháp luật sai về nội dung [8, tr. 5-6].

Bên cạnh việc thực hiện phương thức kiểm tra văn bản do các cơ quan ban hành gửi đến, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra còn thực hiện phương thức kiểm tra văn bản theo địa bàn và chuyên đề, kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, từ phản ánh, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng.

Các số liệu trên cho thấy, kiểm tra văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương ban hành đã có những kết quả thực tế, thể hiện qua những con số “đồ sộ”, qua hàng loạt văn bản cụ thể đã bị xử lý, được các phương tiện truyền thông đưa tin, xã hội quan tâm, theo dõi… Tuy nhiên, chúng ta chưa thể đánh giá được đầy đủ thực trạng công tác này thông qua các con số, ví dụ như, nếu muốn đánh giá, so sánh số lượng văn bản đã được tự kiểm tra với số lượng văn bản đã ban hành thì rất khó, bởi chưa có hướng dẫn hay quy định cụ thể về vấn đề này. Chính vì vậy, các cơ quan ban hành văn bản cũng chỉ báo cáo con số đã tự kiểm tra mà không có thông tin để đối chiếu, đánh giá mức độ đầy đủ của việc tự kiểm tra văn bản do mình ban hành. Tương tự như vậy, đối với số lượng văn bản đã kiểm tra theo thẩm quyền, cần báo cáo hoặc đánh giá, so sánh về số lượng văn bản đã kiểm tra theo thẩm quyền với số lượng văn bản đã tiếp nhận và với số lượng văn bản đã ban hành để đánh giá về mức độ đầy đủ hay không của việc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, từ đó, đánh giá và đưa ra các kiến nghị hoặc giải pháp xử lý tiếp theo, tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Ngay tại Báo cáo số 24/BC-BTP ngày 23/01/2014 cửa Bộ Tư pháp về tổng kết 10 năm thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật (2003 – 2013) cũng không đưa ra được tổng số văn bản đã tiếp nhận để kiểm tra, do nhiều bộ, ngành Trung ương và địa phương không báo cáo. Vì vậy, rất khó để so sánh và đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ theo một số tiêu chí nêu trên. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Trên cơ sở số văn bản kiểm tra, bước đầu phát hiện văn bản có dấu hiệu vi phạm, cơ quan kiểm tra văn bản đã tiến hành phân loại và tùy vào mức độ vi phạm của văn bản mà tiến hành xử lý văn bản đó theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản theo quy định. Thực tế cho thấy, một số bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương rất chú trọng đến việc xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan có thẩm quyền để trao đổi, thảo luận, thống nhất phương án và tiến hành tự kiểm tra, xử lý kịp thời, đúng kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản, hoặc một số nơi còn xử lý đối với văn bản sai về thể thức, kỹ thuật trình bày bằng việc ban hành văn bản đính chính. Một số văn bản cụ thể đã được kịp thời kiểm tra, kiến nghị xử lý, như: Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT ngày 30/9/2008 của Bộ Y tế về việc ban hành tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Quyết định số 34/2008/QĐ-BYT ngày 09/11/2008 của Bộ Y tế về việc ban hành sức khỏe người khuyết tật điều khiển xe mô tô, xe gắn máy ba bánh dùng cho người khuyết tật; Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của liên Bộ Y tế và Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế… Việc kịp thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý kiên quyết, triệt để nhiều văn bản trái pháp luật, đặc biệt là các văn bản liên quan đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã được dư luận xã hội quan tâm và đồng tình ủng hộ.

Với việc kiểm tra văn bản có hệ thống, tương đối toàn diện, bước đầu có chiều sâu, kết quả kiểm tra, xử lý văn bản thời gian qua đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và doanh nghiệp, được dư luận xã hội ghi nhận, đồng thời, đã góp phần nâng cao nhận thức của các cơ quan hành chính nhà nước, làm cho các cơ quan chú trọng hơn trong việc tuân thủ kỷ luật, kỷ cương trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản. Đây là tiền đề quan trọng góp phần hoàn thiện thể chế, xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, khả thi, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Qua đó, công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật cũng đã tiếp tục khẳng định và góp phần nâng cao vị trí, vai trò của công tác tư pháp trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Trong báo cáo tổng kết 10 năm triển khai thực hiện công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (2003-2013) đã đưa ra đánh giá, nhận định chung là, thời gian qua, cùng với những tác động tích cực, hiệu quả do công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật mang lại, chất lượng công tác soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên rõ rệt, có nhiều chuyển biến tích cực, bảo đảm chất lượng văn bản, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của Bộ, ngành và địa phương. Những kết quả đã đạt được cũng thể hiện vị trí, vai trò, trách nhiệm của cơ quan kiểm tra văn bản, thông qua đó, đưa công tác kiểm tra văn bản đi vào nề nếp. Kết quả đã đạt được trong thời gian qua cũng cho chúng ta thấy, hoạt động kiểm tra, xử lý và rà soát văn bản quy phạm pháp luật là một trong những công cụ quan trọng “làm sạch”, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời, cũng khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, khả thi của việc xác lập cơ chế này trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, chính vì vậy, trong thời gian tới cần phải tiếp tục tăng cường, củng cố và phát huy hơn nữa công tác này để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập của đất nước. Mặc dù trong tương lai, có thể thiết lập cơ chế tài phán hoặc một cơ chế khác, ngoài hệ thống cơ quan hành chính để phán quyết đối với các văn bản trái pháp luật thì việc tiếp tục phát huy cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trong nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước vẫn là yêu cầu cấp thiết, nhằm đảm bảo tính đúng đắn của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, nổi lên là: (i) Vẫn còn văn bản có nội dung trái pháp luật nhưng chưa được kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời; cơ quan ban hành văn bản chưa tự kiểm tra, xử lý kịp thời, đúng yêu cầu sau khi nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền, điều đó tác động tiêu cực, thậm chí gây bức xúc trong xã hội; (ii) Cơ quan ban hành văn bản chưa chủ động xử lý đối với văn bản trái pháp luật dẫn đến tình trạng văn bản trái pháp luật này vẫn được áp dụng hoặc xử lý không đúng hình thức theo quy định của pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản; việc theo dõi, đôn đốc quá trình xử lý văn bản trái pháp luật của các cơ quan ban hành văn bản chưa được quan tâm chú trọng; (iii) Việc kiểm tra văn bản theo yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cá nhân, tổ chức và các phương tiện thông tin đại chúng chưa được chú ý đúng mức; Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Việc khắc phục hậu quả do ban hành, áp dụng các văn bản trái pháp luật trên thực tế còn hạn chế; (v) Việc xử lý trách nhiệm đối với cá nhân tham mưu, thẩm định, ký ban hành văn bản trái pháp luật còn chưa nghiêm, chưa thích đáng. Nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế nêu trên có cả khách quan và chủ quan, có thể kể đến một số nguyên nhân chủ yếu như: (i) Thể chế phục vụ công tác soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản mặc dù đã được quan tâm xây dựng, hoàn thiện nhưng vẫn còn nhiều khiếm khuyết, như: khái niệm văn bản quy phạm pháp luật còn chưa rõ và chưa thống nhất; việc quy định “cứng” thời điểm có hiệu lực của văn bản (sau 45 ngày kể từ ngày ký ban hành) gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực (tài chính, ngân hàng…); chưa làm rõ thế nào là văn bản ban hành trong tình trạng khẩn cấp; chưa có hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, công chức trong việc tham mưu soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và ký ban hành văn bản trái pháp luật; chưa có cơ chế bồi thường thiệt hại do việc ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây ra. (ii) Trong một số trường hợp, văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra chưa đảm bảo tính hợp pháp, tính thống nhất, gây khó khăn cho việc quy định chi tiết để tổ chức thực hiện, dẫn đến việc cơ quan ban hành văn bản biện hộ để giải trình cho việc ban hành các quy định trái pháp luật. (iii) Một số Lãnh đạo Bộ, ngành và địa phương (kể cả cấp ủy) chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác văn bản dẫn đến việc tuân thủ quy định kỷ luật, kỷ cương trong công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản tại một số Bộ, ngành và địa phương còn chưa nghiêm; cán bộ tham mưu còn hạn chế về năng lực, chưa làm hết trách nhiệm. Việc đôn đốc, kiểm tra công tác này của cấp trên đối với cấp dưới chưa được thường xuyên, quyết liệt. (iv) Trong kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật, còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”; còn tư tưởng “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ địa phương” dẫn đến một số văn bản có dấu hiệu trái pháp luật không được kiểm tra hoặc kiểm tra nhưng không được xử lý, gây tác động tiêu cực, bức xúc trong xã hội. (v) Kiểm tra và xử lý văn bản là công việc phức tạp, khó khăn, việc xử lý văn bản đòi hỏi phải có chuyên môn sâu, bản lĩnh nghề nghiệp, trong khi đó, cán bộ tham mưu còn hạn chế về năng lực, chưa làm hết trách nhiệm dẫn đến công tác kiểm tra, xử lý văn bản chưa đạt được hiệu quả tối đa; kinh phí và chính sách thu hút, đãi ngộ cán bộ làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản chưa được quan tâm đúng mức. (vi) Chất lượng của công tác xây dựng, ban hành văn bản còn nhiều hạn chế dẫn đến thực tế là trong một số trường hợp, văn bản làm cơ sở pháp lý để kiểm tra (Luật, Nghị định) có nội dung chưa đảm bảo tính hợp pháp, tính thống nhất, gây khó khăn cho việc hướng dẫn, quy định chi tiết để tổ chức thực hiện, đồng thời, trở thành nguyên cớ dẫn đến việc cơ quan ban hành văn bản biện hộ, giải trình cho việc ban hành các quy định trái pháp luật.

Đánh giá khách quan, toàn diện về tình hình, kết quả công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta trong thời gian qua, nhất là những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại, sẽ góp phần quan trọng vào việc đánh giá đúng thực trạng và đưa ra các giải pháp phù hợp để hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

3.2.1.1. Về đối tượng văn bản kiểm tra, nội dung và thẩm quyền kiểm tra văn bản

Về đối tượng văn bản kiểm tra, trước ngày 01/7/2016 – thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành, văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý (trường hợp phát hiện thấy trái pháp luật) bao gồm: (i) Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; (ii) Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (iii) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân.

Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, một mặt, sẽ không còn hình thức thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; chỉ thị (quy phạm pháp luật) của Ủy ban nhân dân các cấp; bổ sung thêm hình thức văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành, do đó, quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cần phải loại bỏ thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; chỉ thị (quy phạm pháp luật) của Ủy ban nhân dân các cấp ra khỏi đối tượng văn bản kiểm tra, đồng thời, bổ sung thêm văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt vào đối tượng văn bản được kiểm tra. Mặt khác, trên thực tế, một số loại văn bản đã ban hành trước đó, đến nay không còn phù hợp về hình thức theo quy định mới của Luật, song nó vẫn tiếp tục được áp dụng nếu chưa hoặc không bị bãi bỏ, do đó, cũng cần có phương án giải quyết vấn đề này.

Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật đã nêu ở trên, văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại Bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương ban hành cũng được kiểm tra, xử lý theo quy định. Tuy nhiên, loại văn bản này chỉ được kiểm tra với phương thức kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin mà không phải đối tượng được kiểm tra ở tất cả các phương thức. Như vậy, pháp luật hiện hành cũng dự báo khả năng quy phạm pháp luật bị “bỏ sót” trong quá trình kiểm tra, nên đã đưa đối tượng văn bản này vào diện văn bản được kiểm tra, nhằm hạn chế tối đa những tác động xấu của việc ban hành và thực hiện những quy phạm pháp luật trái pháp luật gây ra. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Về nội dung kiểm tra, để đảm bảo một văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra toàn diện, đầy đủ, không bỏ sót nội dung trái pháp luật thì cần tiến hành kiểm tra đối với các nội dung được pháp luật quy định. Nội dung kiểm tra ở đây chính là tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản. Văn bản hợp hiến, hợp pháp là văn bản bảo đảm đủ các điều kiện: Thứ nhất, được ban hành đúng căn cứ pháp lý, tức là (i) Có căn cứ pháp lý cho việc ban hành; và (ii) Những văn bản làm căn cứ pháp lý đó đã được ký ban hành, thông qua vào thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra. Thứ hai, được ban hành đúng thẩm quyền, gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Theo đó: (i) Thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản theo đúng hình thức đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; (ii) Thẩm quyền về nội dung là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản phù hợp với thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật. Thứ ba, nội dung văn bản phù hợp với quy định của pháp luật. Nội dung này được hiểu là: (i) Văn bản được ban hành theo thẩm quyền phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; (ii) Văn bản quy phạm pháp luật không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác và bảo đảm thống nhất giữa văn bản hiện hành với văn bản mới được ban hành của cùng một cơ quan; (iii) Văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác ban hành phải phù hợp với văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về lĩnh vực đó; (iv) Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân phải phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Ngoài ra, văn bản do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành phải bảo đảm yêu cầu không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Thứ tư, được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật.

Quy định hiện hành về nội dung kiểm tra như đã nêu ở trên, về cơ bản là phù hợp, cần tiếp tục kế thừa. Riêng nội dung kiểm tra về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định như hiện nay còn chung chung, khó thực hiện nếu không được hướng dẫn chi tiết. Trên thực tế, nội dung kiểm tra về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản chưa được quan tâm chú trọng và chỉ trong trường hợp kiểm tra phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền kiểm tra mới xem xét đến trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản để làm cơ sở cho việc xử lý văn bản và xem xét, xử lý trách nhiệm cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền, tức là chỉ khi văn bản có nội dung trái pháp luật thì mới xem xét đến nội dung kiểm tra này. Do đó, cần có nghiên cứu để quy định cụ thể hơn về nội dung kiểm tra này. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Cũng liên quan đến nội dung kiểm tra, có một vấn đề đặt ra là, hiện nay vấn đề về bảo đảm tính hợp lý và tính khả thi của văn bản đang được điều chỉnh, xử lý thông qua hoạt động thẩm tra, thẩm định văn bản, trong khi đó, thẩm tra, thẩm định văn bản được tiến hành trong giai đoạn xây dựng văn bản, diễn ra trước khi văn bản được ban hành. Như vậy, trường hợp văn bản sau khi được ban hành, nếu bộc lộ sự bất hợp lý hoặc không khả thi thì chưa có cơ chế xử lý. Đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh cùng với việc hoàn thiện các chế định về rà soát văn bản quy phạm pháp luật.

Về thẩm quyền kiểm tra, một trong những nguyên tắc Hiến định là, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật.

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định, Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành và do bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành; Ủy ban nhân dân cấp trên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới ban hành [80, tr. 79-81].

Trên thực tế, để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản, Bộ trưởng, Thủ trưởng ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp giao cho các đơn vị, công chức thuộc quyền quản lý của mình trực tiếp triển khai thực hiện với vai trò là tổ chức, cá nhân chuyên trách. Vấn đề này cũng được thể chế hóa bằng pháp luật, theo đó, (1) Người đứng đầu tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện việc kiểm tra các văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp kiểm tra các văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; (3) Giám đốc Sở Tư pháp giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện việc kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; (4) Trưởng phòng Tư pháp giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện việc kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Như đã luận giải ở trên, cũng xuất phát từ đối tượng văn bản kiểm tra, tới đây sẽ không còn hình thức Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chỉ thị (quy phạm pháp luật) của Ủy ban nhân dân các cấp, đồng thời, bổ sung thêm văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành (nếu có), bên cạnh đó, sẽ còn một số lượng nhất định văn bản quy phạm pháp luật là thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp ban hành trước thời điểm thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành, nhưng chưa hoặc không bị bãi bỏ, vẫn đang được áp dụng. Do đó, quy định của pháp luật về thẩm quyền kiểm tra văn bản cũng cần được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp.

3.2.1.2. Về xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Về các hình thức xử lý văn bản trái pháp luật, thời gian qua áp dụng các hình thức sau đây:

Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản: Hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp nội dung trái pháp luật đó nếu chưa được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

(ii) Hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật từ thời điểm văn bản được ban hành.

(iii) Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản làm căn cứ ban hành văn bản được kiểm tra đã được thay thế bằng văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến nội dung của văn bản không còn phù hợp với pháp luật hiện hành hoặc tình hình kinh tế – xã hội thay đổi.

Ngoài ra, trong quá trình kiểm tra phát hiện văn bản chỉ sai về căn cứ pháp lý được viện dẫn, thể thức, kỹ thuật trình bày còn nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp thì đính chính đối với những sai sót đó.

Liên quan đến vấn đề này, Hiến pháp năm 2013 không quy định “hủy bỏ” văn bản quy phạm pháp luật là một hình thức xử lý văn bản trái pháp luật. Vì vậy, các nội dung về hủy bỏ văn bản quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 và các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định về kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật cần phải được rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và vấn đề này đã được xử lý tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Như vậy, một số hình thức xử lý văn bản trái pháp luật như đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản vẫn bảo đảm phù hợp với pháp luật và tiếp tục được áp dụng, song sẽ không còn hình thức hủy bỏ văn bản trái pháp luật nữa. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Vấn đề cần lưu ý ở đây là, trong hoạt động rà soát văn bản, khi phát hiện văn bản không còn phù hợp với pháp luật mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình thực tiễn thì sẽ áp dụng hình thức bãi bỏ, do đó, cần cân nhắc đưa ra phương án xử lý vấn đề này cho bảo đảm phù hợp với đặc thù và có cơ sở phân biệt giữa xử lý bãi bỏ văn bản qua hoạt động kiểm tra văn bản với xử lý bãi bỏ văn bản qua hoạt động rà soát văn bản.

Về thẩm quyền, trách nhiệm xử lý văn bản trái pháp luật:

Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ: Đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung đối với: Thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành, liên tịch ban hành, quyết định, chỉ thị do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các quy định về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ khác (trái với nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp đối với quyết định, chỉ thị do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung đối với: Nội dung trái pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ trong thông tư liên tịch do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành, đồng thời, yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thỏa thuận với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng xử lý văn bản đó.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định các nội dung trên trong xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật và giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện các thẩm quyền khác trong việc xử lý văn bản trái pháp luật theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Kiến nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình; Đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, ngành mình; Thực hiện những thẩm quyền khác khi được Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ giao trong việc xử lý văn bản trái pháp luật.

Ngoài thẩm quyền, trách nhiệm như các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác, riêng Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thẩm quyền, trách nhiệm: Kiến nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành liên quan đến ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang bộ hoặc liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước; xử lý văn bản liên tịch trái pháp luật giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao như sau: Trường hợp phát hiện nội dung quy định thuộc lĩnh vực của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thông tư liên tịch có dấu hiệu trái pháp luật thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (đối với thông tư liên tịch với Bộ Tư pháp) thông báo để các cơ quan đó tự kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật; nếu Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận được thông báo không xử lý hoặc Thủ tướng Chính phủ không nhất trí với kết quả xử lý thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, xử lý theo quy định.

Ngoài thẩm quyền, trách nhiệm như các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ còn có thẩm quyền, trách nhiệm: Kiến nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; Xử lý thông tư liên tịch trái pháp luật giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Về thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền: (i) Đình chỉ việc thi hành và hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; (ii) Đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hủy bỏ hoặc bãi bỏ. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt cũng cần được bổ sung cho phù hợp với pháp luật hiện hành. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Do có những vấn đề mới phát sinh; không còn hình thức hủy bỏ văn bản trái pháp luật; phát sinh thêm hình thức văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ban hành, nên các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm của Thủ tướng Chính phù và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp trong việc xử lý văn bản trái pháp luật cũng cần được rà soát, xem xét để điều chỉnh, bổ sung cho bảo đảm thống nhất, phù hợp.

Riêng về hình thức hủy bỏ văn bản trái pháp luật, để bảo đảm phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, khi xử lý theo thẩm quyền đối với văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật đương nhiên sẽ không áp dụng hình thức xử lý này. Song đối với trường hợp văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người không có thẩm quyền tại Bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương ban hành, nếu cũng áp dụng hình thức xử lý bãi bỏ như các trường hợp khác thì sẽ không bảo đảm tính phòng ngừa, răn đe. Tác giả luận án cho rằng, cần quy định hình thức xử lý mạnh mẽ hơn, mang tính đặc thù đối với dạng vi phạm này, đó là hủy bỏ văn bản trái pháp luật (hình thức xử lý này trước đây đã được quy định tại Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 và Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phù về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật).

Bên cạnh những vấn đề trên, một số vấn đề khác, như: quy định về kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, quy định về thời hạn kiểm tra đối với văn bản quy phạm pháp luật cũng có những khiếm khuyết, bất cập, cần được nghiên cứu, hoàn thiện. Về kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, mặc dù hiện nay đã được quy định, song thực tế triển khai cho thấy, một số nội dung quy định còn thiếu cụ thể, chưa sát thực tế, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, trong đó, chú trọng việc nghiên cứu, xây dựng quy trình mẫu tiếp nhận và xử lý thông tin phục vụ công tác kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin; vấn đề phối hợp giữa cơ quan truyền thông, các phương tiện thông tin đại chúng và cơ quan kiểm tra văn bản; tổ chức kênh thu thập, tiếp nhận thông tin v.v… Về thời hạn kiểm tra, pháp luật cũng chưa quy định thời hạn kiểm tra đối với văn bản quy phạm pháp luật kể từ ngày nhận được văn bản. Trên thực tế, có cơ quan đã tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ngay sau khi nhận được văn bản, có cơ quan kiểm tra sau 10 – 30 ngày nhận được văn bản, thậm chí có những văn bản quy phạm pháp luật sau hàng năm mới được kiểm tra. Có thể nói, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tùy tiện trong kiểm tra văn bản, đồng thời làm giảm ý nghĩa của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Về thời hạn xử lý đối với văn bản khi phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật, trong một số trưởng hợp, pháp luật đã quy định, nhưng còn dài (15 – 30 ngày); có trường hợp chưa quy định cụ thể, do đó, vấn đề này cũng cần phải được quan tâm xem xét trong quá trình hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

3.2.1.3. Về xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được ban hành để triển khai thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước theo từng ngành, lĩnh vực và trên địa bàn; có phạm vi áp dụng trên cả nước hoặc địa phương với đối tượng áp dụng rộng, tầm ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế, xã hội của đất nước cũng như từng địa phương. Do vậy, đòi hỏi rất cao về chuẩn mực, chất lượng, sự phù hợp với đường lối phát triển đất nước, không mâu thuẫn, chồng chéo và phải phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc gia. Yêu cầu của nhà nước pháp quyền không chỉ đòi hỏi nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật một cách chặt chẽ và thống nhất mà còn đòi hỏi một cơ chế bảo đảm cho nhà nước cũng phải tuân thủ theo pháp luật, thông qua xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan nhà nước, công chức nhà nước nếu ban hành văn bản trái pháp luật.

Việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người đã ban hành văn bản trái pháp luật phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ trái pháp luật của văn bản và hậu quả của nội dung trái pháp luật gây ra đối với xã hội và trên cơ sở tính chất, mức độ lỗi của cơ quan/người đã ban hành, tham mưu ban hành văn bản đó. Căn cứ vào nội dung trái pháp luật của văn bản và mức độ thiệt hại trên thực tế do văn bản trái pháp luật gây ra, cơ quan/người có thẩm quyền kiểm tra kiến nghị: (i) Cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật kịp thời áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành và thực hiện văn bản trái pháp luật gây ra; (ii) Cơ quan, người có thẩm quyền xác định hình thức, mức độ xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật. Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm của văn bản trái pháp luật, cơ quan/người đã ban hành văn bản trái pháp luật phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Việc xem xét trách nhiệm đối với cơ quan/người đã ban hành văn bản trái pháp luật được thực hiện như sau: (i) Cơ quan ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật phải tổ chức việc kiểm điểm, xác định trách nhiệm của tập thể và báo cáo cơ quan cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật, đồng thời, xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật; (ii) Cán bộ, công chức trong quá trình tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản có nội dung trái pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ lỗi và nội dung trái pháp luật của văn bản, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về kỷ luật cán bộ, công chức. Thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ, công chức thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; (iii) Trường hợp cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị đề nghị xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; (iv) Cơ quan, người ban hành văn bản khi nhận được thông báo, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản mà không thực hiện việc tự kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật hoặc không thực hiện thông báo kết quả xử lý theo quy định thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Mặc dù pháp luật hiện hành đã quy định về việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan/người đã ban hành văn bản trái pháp luật, song, các quy định còn mang tính nguyên tắc, rất khó áp dụng trong thực tiễn, đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào bị xử lý do ban hành/tham mưu ban hành văn bản trái pháp luật. Trước đây Nghị định số 40/2010/NĐ-CP đã giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cụ thể các nội dung có liên quan về xử lý trách nhiệm đối với người/cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật [11, tr. 21]. Tuy nhiên, văn bản này chưa được ban hành. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như chất lượng nội dung văn bản và hiệu quả công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Vấn đề khắc phục hậu quả do áp dụng, thực hiện văn bản trái pháp luật, vấn đề bồi thường thiệt hại, việc xác định trách nhiệm, xử lý trách nhiệm của cơ quan, người ban hành/tham mưu ban hành văn bản trái pháp luật … là những vấn đề lớn, quan trọng, được nhiều tổ chức, cá nhân và dư luận xã hội quan tâm. Hiện nay, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mới chỉ quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra mà chưa quy định về các vấn đề đã đề cập ở trên. Pháp luật hiện hành về kiểm tra, xử lý văn bản cũng chưa quy định cụ thể vấn đề xử lý trách nhiệm của cơ quan/người ban hành văn bản trái pháp luật trong việc tự kiểm tra, xử lý văn bản do mình ban hành khi nhận được yêu cầu/phản ánh; xử lý trách nhiệm trong trường hợp không tuân thủ việc kiểm tra văn bản, gửi văn bản để kiểm tra; kiểm tra không phát hiện nội dung trái pháp luật; không kiểm tra văn bản; không xử lý văn bản trái pháp luật theo thẩm quyền; chưa có quy định cụ thể về thi đua, khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong kiểm tra, xử lý văn bản, đặc biệt là thành tích trong phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật…

Việc cụ chế hóa những nội dung trên là hết sức cần thiết, có tính chất quyết định đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động kiểm tra văn bản, xử lý văn bản trái pháp luật.

3.2.2. Thực trạng về chủ thể kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

3.2.2.1. Về tổ chức bộ máy, cán bộ chuyên trách công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Hiện nay cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Để giúp các chủ thể có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, pháp luật hiện hành đã giao cho một số tổ chức làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ này, bao gồm: Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp; cơ quan kiểm tra văn bản thuộc tổ chức pháp chế của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cơ quan kiểm tra văn bản thuộc các cơ quan tư pháp ở địa phương [11, tr. 7-8].

Tại Bộ Tư pháp, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được giao giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về kiểm tra văn bản và tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Tính đến hết ngày 31/12/2015, số lượng biên chế của Cục Kiểm tra văn bản mới được phê duyệt là 38. Với khối lượng công việc được giao, dù đã cơ cấu thành các Phòng độc lập nhưng một chuyên viên vẫn phải kiêm nhiệm nhiều việc, dẫn đến quá tải, có trường hợp không đảm bảo được tiến độ  việc theo yêu cầu.

Tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị làm công tác kiểm tra văn bản được thực hiện theo các mô hình khác nhau. Một số Bộ, cơ quan ngang bộ thành lập Phòng kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Vụ pháp chế; tính đến năm 2014, có 04 Bộ thành lập phòng chuyên trách kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Có nơi tổ chức bộ phận kiểm tra văn bản thuộc Vụ pháp chế hoặc thuộc Phòng Pháp chế của Văn phòng. Trong thời gian qua, chỉ có một số Bộ, ngành bố trí, bổ sung biên chế chuyên trách kiểm tra văn bản, nhưng vẫn còn rất ít (có nơi chỉ bố trí 01 người), một số nơi chưa bố trí được biên chế, bộ phận chuyên trách kiểm tra văn bản. Với những bộ, ngành còn lại, công chức phải kiêm nhiệm công tác kiểm tra văn bản và nhiều nhiệm vụ khác, dẫn đến tình trạng làm việc quá tải, ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tiến độ thực hiện nhiệm vụ được giao [6, tr. 7-8]. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Ở cấp tỉnh, để thực hiện công tác kiểm tra văn bản, Sở Tư pháp đã tổ chức bộ máy cơ quan kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các mô hình: Thành lập Phòng Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc Sở Tư pháp; tổ chức bộ phận kiểm tra văn bản trực thuộc Phòng Văn bản pháp quy hoặc Phòng xây dựng và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở tách Phòng Văn bản – Tuyên truyền; giao nhiệm vụ kiểm tra văn bản cho Phòng Văn bản – Tuyên truyền thực hiện (nhưng chưa bố trí biên chế chuyên trách). Theo Báo cáo của Bộ Tư pháp, có 51/63 Sở Tư pháp đã thành lập Phòng Kiểm tra văn bản (hoặc Phòng Kiểm tra văn bản và theo dõi thi hành pháp luật) và bố trí từ 03 đến 05 biên chế có trình độ chuyên môn nghiệp vụ để giúp Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh thực hiện việc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền; số ít địa phương còn lại, nhiệm vụ kiểm tra văn bản giao cho Phòng Văn bản pháp quy thực hiện. Các sở, ngành khác cũng bố trí cán bộ pháp chế giúp Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trong việc kiểm tra, xử lý văn bản theo quy định của pháp luật [6, tr. 8].

Ở cấp huyện, nhiệm vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được giao cho Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện. Nhưng do số lượng biên chế ít (các phòng tư pháp cấp huyện trung bình có 03 – 05 biên chế) nên hầu hết các phòng tư pháp chưa phân công công chức chuyên trách công tác kiểm tra văn bản [6, tr. 8].

Ở cấp xã, cán bộ tư pháp – hộ tịch có nhiệm vụ làm đầu mối giúp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản. Tuy nhiên, hiện nay, ngoài công tác kiểm tra văn bản, cán bộ tư pháp – hộ tịch còn phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khác, trong khi đó, số lượng biên chế cán bộ tư pháp cấp xã thường chỉ có 01 – 02 người, thậm chí có nơi còn phải kiêm nhiệm, nên dẫn đến tình trạng hoạt động tự kiểm tra văn bản ở cấp xã chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng.

Về trình độ chuyên môn, thực tế cho thấy, đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã được đào tạo luật ở các trình độ khác nhau. Ở Trung ương và cấp tỉnh, hầu hết công chức kiểm tra văn bản có trình độ cử nhân luật, nhiều công chức đã được đào tạo sau đại học ở trong và ngoài nước. Trong khi đó, ở cấp huyện và cấp xã, nhất là những địa bàn vùng sâu, vùng xa thì tỷ lệ công chức kiểm tra văn bản có trình độ cử nhân luật còn thấp.

Kiểm tra văn bản là công tác tương đối phức tạp, có ảnh hưởng sâu, rộng đến đời sống xã hội cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người dân nên đòi hỏi công chức thực hiện nhiệm vụ này ngoài việc phải được đào tạo về kiến thức pháp luật và quản lý nhà nước còn cần phải được bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ cũng như phải được trau dồi, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Từ tình hình trên có thể nhận thấy, tổ chức bộ máy làm công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật chưa có sự thống nhất, nhất là ở Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tình trạng thiếu biên chế làm công tác kiểm tra văn bản là hạn chế, bất cập khá phổi biến. Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này cũng chưa đồng đều, còn nhiều hạn chế. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Về chế độ, chính sách đối với công chức kiểm tra văn bản, kiểm tra văn bản là một công việc khó khăn, phức tạp, có khối lượng và áp lực công việc nặng nề, căng thẳng; quá trình thực thi công vụ đòi hỏi công chức thực hiện phải có tinh thần trách nhiệm cao và chịu nhiều sức ép. Vì vậy, để động viên, khuyến khích, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, cần phải có các quy định chế độ phụ cấp nghề nghiệp cho đội ngũ này. Tuy nhiên, hiện nay ngoài chế độ chung về tiền lương như đối với mọi công chức, viên chức khác, đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra văn bản chưa được hưởng thêm một chế độ phụ cấp nào; điều này phần nào cũng đã tác động đến tâm lý, tinh thần làm việc và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức kiểm tra văn bản.

3.2.2.2. Về chủ thể khác

Kiểm tra văn bản là hoạt động đa ngành, đa cấp, được tiến hành bởi nhiều chủ thể, liên quan trực tiếp đến rất nhiều cơ quan khác nhau, do đó để triển khai tốt cần phải có phối hợp giữa các cơ quan nhằm trao đổi, thảo luận về những nội dung trái pháp luật của văn bản và hướng xử lý những nội dung trái pháp luật đó; trong rà soát, xác định hiệu lực văn bản để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản; trao đổi kinh nghiệm, tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng về nghiệp vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; hợp tác quốc tế về công tác kiểm tra văn bản v.v…

Tuy nhiên, theo khảo sát [89, Chuyên đề 9, tr. 4], có 78,8% số người được khảo sát cho rằng một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua, đó là do sự phối hợp chưa cao giữa các cấp, các ngành, các cơ quan trong kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật. Có thể nói, trong thời gian qua, sự phối hợp giữa cơ quan kiểm tra với nhau và với các cơ quan hữu quan khác chưa thực sự chặt chẽ và nhuần nhuyễn, dẫn đến tình trạng chậm hoặc khó khăn trong việc tiến hành các hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.

Về đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản, cộng tác viên kiểm tra văn bản là những người công tác ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau tại các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính nhà nước, trường đại học hoặc viện nghiên cứu… có trình độ pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn, chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng các yêu cầu của công tác kiểm tra văn bản. Ngoài đội ngũ cán bộ công chức được giao nhiệm vụ kiểm tra, xử lý văn bản, các cơ quan kiểm tra văn bản còn huy động các chuyên gia có kinh nghiệm trong các lĩnh vực chuyên môn khác để xây dựng, hình thành đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản, nhiều nơi đã xây dựng được mạng lưới cộng tác viên đông đảo ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác kiểm tra văn bản. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Đội ngũ cộng tác viên đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản được tổ chức triển khai trên thực tế. Trên cơ sở các quy định chung, hiện nay nhiều bộ, ngành, địa phương đã tổ chức được đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản. Theo thông tin từ Cục Kiểm tra văn bản, Bộ Tư pháp, tính đến hết năm 2013, đã có 09/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 46/63 địa phương tổ chức được đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản. Ví dụ như các Bộ: Tư pháp (46 cộng tác viên), Công an (18 cộng tác viên)… và các địa phương (cấp tỉnh) như: Hà Nội (50 cộng tác viên), Quảng Ngãi (50 cộng tác viên), Tuyên Quang (41 cộng tác viên), Tây Ninh (40 cộng tác viên)… Song cũng còn nhiều nơi chưa quan tâm chú trọng tổ chức, phát triển đổi ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản. Trong quá trình cộng tác, nhiều cộng tác viên đã rất tích cực hoạt động, đáp ứng tốt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và bảo đảm tiến độ công việc, tuy nhiên, một số cộng tác viên trách nhiệm còn chưa cao, chưa tích cực kiểm tra hoặc kiểm tra chưa đảm bảo chất lượng và tiến độ [6, tr. 8].

Liên quan đến chủ thể kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, có một vấn đề đặt ra là, cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta hiện nay, dù hoàn thiện và thực hiện tốt đến mức nào chăng nữa cũng chỉ là việc tự kiểm tra, tự đánh giá và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trong nội bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước. Điều này đặt ra nhiều băn khoăn về việc bảo đảm triệt để tính khách quan, minh bạch trong kiểm tra, xử lý văn bản. Do vậy, việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước, bên cạnh cơ chế nội bộ như hiện nay, cần được thực hiện bởi hệ thống cơ quan nhà nước khác, độc lập với hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, ở đây là vai trò của Tòa án. Việc nghiên cứu, xác định vai trò của Tòa án trong việc xem xét, phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới là phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng ta về kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Liên quan đến vấn đề này, hiện nay trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án [82, tr. 2]. Do đó, thời gian tới cần nghiên cứu, quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc xem xét, phán quyết, xử lý văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước có dấu hiệu trái pháp luật. Đây là vấn đề lớn, cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, thấu đáo, phù hợp với đặc thù tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp.

3.2.3. Thực trạng các điều kiện bảo đảm và một số vấn đề khác liên quan đến cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

3.2.3.1. Về các điều kiện bảo đảm

Về kinh phí, trên cơ sở các mục chi và mức chi đối với công tác kiểm tra văn bản theo quy định của pháp luật, các Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp đã quan tâm chỉ đạo và triển khai việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung, trong đó có kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; cấp kinh phí cho công tác này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Tùy vào điều kiện thực tế và khả năng ngân sách của từng nơi mà việc bố trí kinh phí hàng năm là khác nhau, ví dụ như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (năm 2010: 45 triệu đồng, 2011: 62 triệu đồng), Bộ Giáo dục và Đào tạo (hàng năm được cấp từ 30 đến 40 triệu đồng), Bộ Thông tin truyền thông (năm 2010: 50 triệu đồng)… và các địa phương, như: Ninh Bình (năm 2011: 350 triệu đồng), Bắc Kạn (năm 211: 33 triệu đồng), Quảng Ngãi (năm 2011: 220 triệu đồng), Hưng Yên (năm 2010: 130 triệu đồng), Nghệ An (năm 2011: 100 triệu đồng), Quảng trị (năm 2003 đến 2008 mỗi năm 10 triệu đồng), Lâm Đồng (năm 2011: 400 triệu đồng), Phú Yên (năm 2011: 50 triệu đồng), Bình Dương (năm 2011: 60 triệu đồng), Sóc Trăng (năm 2011: 238 triệu đồng)… Tuy nhiên, mức kinh phí đặc thù cấp cho công tác này còn chưa đồng đều, ở một số nơi còn thấp, một số Bộ, ngành và địa phương (đặc biệt là cấp huyện) chưa được cấp kinh phí độc lập phục vụ công tác này, gây khó khăn cho việc triển khai công việc. Theo khảo sát, chỉ có 16,6% số đơn vị (Sở Tư pháp) được khảo sát cho rằng mức kinh phí cấp cho công tác kiểm tra văn bản là đáp ứng yêu cầu; có 80,9% cho rằng mức kinh phí đã được cấp chưa đáp ứng yêu cầu; cá biệt, có 2,5% số đơn vị được khảo sát chưa được cấp kinh phí cho công tác này [89, Chuyên đề 9, tr.2-3].

Về trang thiết bị làm việc, khảo sát thực tế cho thấ và công chức kiểm tra văn bản vẫn chưa được bố trí phòng làm việc thích hợp, các trang thiết bị như máy vi tính, bàn làm việc và tủ đựng tài liệu…; có đến 38,10% số đơn vị (Sở Tư pháp) được khảo sát cho rằng trang thiết bị làm việc chưa đáp ứng yêu cầu công tác, tình trạng này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả và chất lượng kiểm tra văn bản [89, Chuyên đề 9, tr. 3].

Về cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra văn bản bao gồm tập hợp một cách khoa học các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý đã được rà soát, chuẩn hóa hiệu lực; các kết quả kiểm tra văn bản; các thông tin về nghiệp vụ kiểm tra văn bản và các thông tin, tài liệu khác. Thời gian qua, một số bộ, ngành, địa phương đã triển khai xây dựng hệ cơ sở dữ liệu và đã đăng tải trên trang web của bộ, ngành, địa phương mình, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Theo khảo sát, chỉ có 7,1% các đơn vị được khảo sát cho rằng hệ cơ sở dữ liệu hiện có là đáp ứng yêu cầu công việc, có 47,6% cho rằng chưa đáp ứng yêu cầu, 28,5% số đơn vị được khảo sát chưa có hệ cơ sở dữ liệu [89, Chuyên đề 9, tr. 3]. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

3.2.3.2. Về một số vấn đề khác liên quan đến cơ chế kiểm tra quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Một số vấn đề khác liên quan đến cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đề cập ở đây bao gồm: việc tiếp nhận kiến nghị, yêu cầu của tổ chức, cá nhân về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra văn bản với phương tiện thông tin đại chúng trong hoạt động kiểm tra văn bản…

Về tiếp nhận kiến nghị, yêu cầu của tổ chức, cá nhân về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật: Trong thời gian qua, các cơ quan kiểm tra văn bản đã tiếp nhận một số kiến nghị về văn bản trái pháp luật nhưng chủ yếu là từ các cơ quan tư pháp, còn thông tin, kiến nghị từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác còn rất khiêm tốn. Nguyên nhân chính là do các cơ quan kiểm tra văn bản chưa tổ chức được kênh để tiếp nhận, xử lý một cách thường xuyên; việc tuyên truyền, phổ biến chưa thực sự sâu rộng trong nhân dân và chưa gây được sự chú ý của dư luận xã hội. Đây là một trong những hạn chế cần khắc phục vì, muốn công tác kiểm tra, xử lý văn bản được triển khai hiệu quả, nhanh chóng, kịp thời thì nhất thiết phải huy động sự vào cuộc và tham gia tích cực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Tại Bộ Tư pháp, từ các nguồn thông tin, trong những năm qua, Bộ Tư pháp đã triển khai kiểm tra và phát hiện nội dung trái pháp luật của nhiều văn bản, kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tự kiểm tra, xử lý, quá trình xử lý một số văn bản được dư luận, báo chí quan tâm và đồng tình ủng hộ, ví dụ như: Công văn số 10966/BCT-TTTN ngày 14/11/2008 của Bộ Công thương về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư số 10/2008/TT-BCT ngày 25/7/2008 của Bộ Công thương hướng dẫn một số điều của Nghị định số 40/2008/NĐ-CP ngày 07/4/2008 của Chính phủ về sản xuất, kinh doanh rượu, Thông tư số 52/2010/TT-BCA ngày 30/11/2010 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 về cư trú; Thông tư 27/2009/TT-BCA (C11) của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát của Cảnh sát giao thông đường bộ v.v… Hoạt động này không những góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn giúp giải quyết những băn khoăn, vướng mắc, bức xúc của xã hội nói chung đối với một số văn bản có dấu hiệu sai trái, củng cố lòng tin của tổ chức và công dân vào nhà nước, vào pháp luật. Tuy nhiên, theo thông tin từ Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp, hiện nay phương thức kiểm tra văn bản này mới chủ yếu được thực hiện tại Bộ Tư pháp, còn lại, rất ít các Bộ, ngành và địa phương báo cáo kết quả về việc kiểm tra văn bản bằng phương thức này, vì vậy, trong thời gian tới, việc kiểm tra theo kênh thông tin này cần được chú trọng triển khai một cách tích cực, có bài bản nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của việc kiểm tra, xử lý văn bản theo phương thức này.

Về sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra văn bản với phương tiện thông tin đại chúng trong hoạt động kiểm tra văn bản: Để phát hiện, xử lý kịp thời đối với văn bản mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật thì bên cạnh yêu cầu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định của các cơ quan, người có thẩm quyền trong công tác kiểm tra văn bản thì phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan, tổ chức và công dân có vai trò quan trọng.

Với đặc điểm đa dạng và phạm vi hoạt động rộng lớn, các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ kịp thời phát hiện, kiến nghị, chuyển tải yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản; tác động tích cực tới hoạt động kiểm tra, giám sát văn bản. Trong thời gian qua, một số cơ quan kiểm tra văn bản, nhất là Cục Kiểm tra văn bản, Bộ Tư pháp đã tích cực tranh thủ, sử dụng phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền phổ biến về công tác kiểm tra văn bản cũng như cung cấp kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, ví dụ như: sau khi Cục Kiểm tra văn bản tiến hành kiểm tra và phát hiện các dấu hiệu trái pháp luật đối với văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của 33 địa phương, Cục đã thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Kết quả cho thấy hầu hết các địa phương đã nhanh chóng sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác thay thế. Tuy nhiên, trên thực tế, một số cơ quan kiểm tra chưa chú trọng sử dụện thông tin đạỗ trợ nghiệp vụ ; kết quả kiểm tra, xử lý văn bản được đăng tải trên các phương tiện thông tin còn rất ít.

Từ thực trạng như đã trình bày ở trên về các quy định của pháp luật, về chủ thể và các điều kiện bảo đảm (tức thực trạng về các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam) cho thấy, bên cạnh những ưu điểm và mặt tích cực, cơ chế này còn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Những hạn chế, bất cập đó là:

Về quy định của pháp luật: (i) Quy định về đối tượng văn bản kiểm tra: một số loại văn bản thuộc đối tượng kiểm tra bị thu hẹp hoặc mở rộng thêm, do đó, cần điều chỉnh quy định về đối tượng kiểm tra cho phù hợp với pháp luật hiện hành. (ii) Quy định của pháp luật hiện hành về nội dung kiểm tra văn bản: nội dung quy định về kiểm tra trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn chưa thực sự chi tiết, cụ thể, trên thực tế, việc kiểm tra nội dung này chỉ được tiến hành khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật; pháp luật hiện hành chưa quy định kiểm tra về tính hợp lý của văn bản. (iii) Quy định về thẩm quyền kiểm tra: do đối tượng văn bản kiểm tra đã có sự thay đổi, nên thẩm quyền kiểm tra văn bản cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp. Riêng về hình thức xử lý văn bản trái pháp luật, pháp luật không quy định hình thức hủy bỏ văn bản nữa, quy định về hình thức bãi bỏ văn bản như hiện nay không thể phân biệt được áp dụng trên cơ sở kết quả rà soát văn bản hay kết quả kiểm tra văn bản, từ đó dẫn đến khó khăn trong việc việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người/cơ quan đã ban hành văn bản trái pháp luật. (iv) Quy định về xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật còn mang tính nguyên tắc, rất khó áp dụng; pháp luật cũng chưa quy định về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp ban hành văn bản trái pháp luật. (v) Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng chưa quy định cụ thể về thời hạn kiểm tra đối với một văn bản (bao gồm tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền), nên việc xem xét trách nhiệm đối với các chủ thể kiểm tra văn bản gặp khó khăn, vướng mắc; liên quan đến vai trò trách nhiệm của Tòa án trong kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, hiện nay pháp luật chưa quy định, vấn đề này cần được nghiên cứu, hoàn thiện (trường hợp triển khai phương án giao thẩm quyền kiểm tra văn bản cho Tòa án); một số mức chi quy định tại văn bản hiện hành về kinh phí hỗ trợ cho hoạt động kiểm tra văn bản không còn phù hợp với tình hình thực tiễn, một số khoản chi chưa được pháp luật quy định… Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Về chủ thể kiểm tra văn bản: (i) Về tổ chức bộ máy, cán bộ chuyên trách công tác kiểm tra văn bản: tổ chức, bộ máy làm công tác kiểm tra văn bản tại bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương còn chức thống nhất; thiếu biên chế; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ còn chưa đồng đều (ii) Chủ thể kiểm tra văn bản như hiện nay, dù có hoàn thiện đến mức nào chăng nữa, song vẫn chỉ là trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, nên còn có những dấu hỏi, băn khoăn về tính khách quan, minh bạch (ở đây đề cập đến vai trò của Tòa án trong kiểm tra, xử lý văn bản); (iii) Việc tổ chức hoạt động của đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản ở mộ số nơi chưa được quan tâm triển khai, phát triển; trình độ chuyên môn của công tác viên còn chưa đồng đều, một số trường hợp ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu.

Về các điều kiện bảo đảm và một số vấn đề khác liên quan: (i) Kinh phí, trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra văn bản còn chưa đồng đều, nhiều nơi chưa bố trí (thậm chí không có) kinh phí hỗ trợ công tác này; trang thiết bị làm việc còn thiếu. (ii) Hệ cơ sở dữ liệu: nhiều nơi đã xây dựng được cơ sở dữ liệu, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; một số nơi chưa có hệ cơ sở dữ liệu. (iii) Một số vấn đề khác: sự vào cuộc và tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan vào hoạt động kiểm tra còn chưa đáp ứng yêu cầu; một số cơ quan kiểm tra chưa chú trọng sử dụện thông tin đạỗ trợ nghiệp vụ ; kết quả kiểm tra, xử lý văn bản được đăng tải trên các phương tiện thông tin còn rất ít…

Nhận diện,đánh giá đúng thực trạng, nhất là những hạn chế, bất cập của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay sẽ giúp chúng ta đề xuất, đưa ra được các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế này một cách đúng đắn, toàn diện và khả thi.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam thể hiện qua các nội dung: (i) Thực trạng quy định pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; (ii) Thực trạng về tổ chức, bộ máy, nhân sự (tức chủ thể) kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam (iii) Thực trạng các điều kiện bảo đảm phục vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam. Bên cạnh đó, nội dung chương này còn phân tích, đánh giá thực trạng tình hình, kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam trong thời gian qua.

Đánh giá thực trạng về những vấn đề trên cho thấy, công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật từ 2003 đến tháng hết 12/2015 đã đạt được một số kết quả khả quan; cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có kiểm tra văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước đã được hình thành và vận hành từ năm 2003 đến nay. Bên cạnh những mặt tích cực, cơ chế này cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; quy định của pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ; việc kiểm tra, xử lý văn bản chưa đầy đủ, kịp thời; điều kiện bảo đảm còn nhiều khó khăn v.v…

Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới, cần phải nghiên cứu để khắc phục những hạn chế, bất cập đã được nhận diện ở trên, có các giải pháp đồng bộ để làm thay đổi căn bản công tác này, nhất là việc đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *