Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, chủ động hội nhập quốc tế là những quyết sách quan trọng đã được Đảng ta xác định và khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng. Tinh thần này tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013.
Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, những năm qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một số lượng rất lớn văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hệ thống pháp luật của nước ta vẫn bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết, chưa đáp ứng đầy đủ được yêu cầu của công cuộc đổi mới và tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, nhất là trong điều kiện Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đang đàm phán, tham gia một loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Cùng với việc nâng cao chất lượng và kỹ thuật lập pháp, chúng ta đã có nhiều nỗ lực và thực hiện nhiều hoạt động khác nhau nhằm loại trừ tối đa những khiếm khuyết, bất cập của hệ thống pháp luật. Một trong những hoạt động quan trọng đó chính là, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Từ khi nhiệm vụ kiểm tra văn bản được chuyển giao cho Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp (năm 2003), công tác này đã có những chuyển biến nhất định; thể chế pháp luật từng bước được hoàn thiện; tổ chức, bộ máy, nhân sự làm công tác kiểm tra văn bản bước đầu được quan tâm củng cố, kiện toàn; các điều kiện bảo đảm khác đối với hoạt động kiểm tra văn bản ngày càng được hoàn thiện. Mặc dù vậy, quy định của pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập; việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, ngành và địa phương chưa được tiến hành thường xuyên; thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật chưa thực sự rõ ràng, rành mạch và chưa theo một cơ chế thống nhất, ổn định… Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đã được hình thành, đi vào vận hành từ năm 2003 và đạt được những kết quả quan trọng, song quá trình vận hành cơ chế này trong thời gian qua cũng đã bộc lộ những hạn chế, tồn tại, cần phải có giải pháp khắc phục. Hơn nữa, trong bối cảnh Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2003) được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 và cùng với đó, một loạt đạo luật mới được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung, phát sinh theo nó là các quy định mới (gồm cả các quy định được sửa đổi, bổ sung) và số lượng lớn văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Bối cảnh và thực trạng nêu trên đã làm cho vấn đề tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước trở nên vô cùng cần thiết. Đó cũng là lý do mà nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam” để làm Luận án tiến sĩ Luật học.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của luận án là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm chỉ ra những mặt tích cực, những vấn đề còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, từ đó, đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án nhằm chỉ ra các vấn đề mà luận án có thể kế thừa, cần tiếp tục triển khai trong các nội dung nghiên cứu.
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, như khái niệm, đặc điểm, vai trò, các yếu tố, tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Đánh giá thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; chỉ ra những mặt tích cực, những vấn đề còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là các vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới liên quan đến cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2003 đến hết năm 2015.
Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đề cập trong luận án được xác định là văn bản quy phạm pháp luật do Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được tiếp cận trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích; phương pháp thống kê; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp quy nạp và diễn dịch.
Cụ thể:
Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp này được áp dụng để phân tích các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Tài liệu sơ cấp bao gồm: các văn bản pháp luật và văn kiện của Đảng có liên quan, các công trình khoa học, số liệu thống kê chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tài liệu thứ cấp bao gồm: các bài báo, tạp chí, kết luận, phân tích đã được các tác giả khác thực hiện.
Phương pháp thống kê: Thống kê số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu. Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đề xuất của tác giả luận án ở các chương về thực trạng và quan điểm, giải pháp.
Phương pháp luật học so sánh: Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu mô hình, kinh nghiệm của nước ngoài, từ đó rút ra những giá trị tham khảo, vận dụng phù hợp trong điều kiện, hoàn cảnh ở Việt Nam.
Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Thực hiện để khái quát hóa hoặc cụ thể hóa đối tượng, nội dung, vấn đề nghiên cứu, đảm bảo chính xác, khách quan và có lý trong xây dựng các vấn đề có tính lý luận.
5. Những điểm mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, luận án phân tích và làm sáng tỏ các khái niệm có liên quan, xây dựng khái niệm và chỉ ra đặc điểm, vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; chỉ ra các yếu tố, mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra và tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Làm sâu sắc sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trong đó, làm rõ về mặt lý luận cũng như nhu cầu thực tiễn của một số vấn đề cần nghiên cứu hoàn thiện, như: quy định của pháp luật (thể chế pháp luật) về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; chủ thể (tổ chức, bộ máy, nhân sự) kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; các điều kiện bảo đảm của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Đưa ra bức tranh tổng thể về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
Trên cơ sở phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện thể chế; tăng cường tổ chức, biên chế; bổ sung các nguồn lực và điều kiện bảo đảm khác của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là công trình khoa học có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 04 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
- Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
- Chương 3: Tình hình, kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua và thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 4: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
1.1.1.1. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế và hoàn thiện cơ chế có liên quan đến đề tài
Trương Thị Hồng Hà “Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [42], tác giả phân tích về cơ chế pháp lý và làm sáng tỏ khái niệm cơ chế pháp lý, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống cơ chế pháp lý. Mỗi yếu tố trong hệ thống cơ chế đóng một vai trò nhất định, là tiền đề của nhau, bổ sung cho nhau, không thể có cái này mà không có cái kia. Xét về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ chế pháp lý, phân tích sâu các yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội và sự vận hành, mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố đó. Mặc dù phạm vi nghiên cứu của luận án nghiên cứu về cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội, song một số vấn đề lý luận về các yếu tố cấu thành của cơ chế pháp lý có ý nghĩa tham khảo đối với đề tài của nghiên cứu sinh.
Nguyễn Quang Anh “Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam” [1] đã nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở trong nước và nước ngoài, trên cơ sở đó, đi sâu vào nghiên cứu đề tài hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước dưới góc độ khoa học pháp lý, trong đặc điểm, điều kiện ở Việt Nam. Về cơ sở lý luận, luận án nghiên cứu yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước; phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục đích của cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước; các yếu tố cấu thành và mối liên hệ tác động giữa các yếu tố của cơ chế; nội dung và phương thức vận hành của cơ chế; các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến vận hành của cơ chế. Luận án đã tổng hợp, phân tích quá trình hình thành và phát triển của cơ chế qua các giai đoạn lịch sử của đất nước kể từ năm 1945 đến nay qua các thể chế pháp lý, đặc biệt là qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 1992 (bổ sung, sửa đổi năm 2001) và năm 2013 về quyền lực nhân dân, về nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, về trách nhiệm của nhà nước trong mối quan hệ với công dân; quy định về quyền con người, quyền công dân, nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội đến kiểm soát, giám sát hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, đại biểu dân cử. Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước chính là một trong những bảo đảm chính trị, pháp lý quan trọng góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân theo quan điểm, đường lối của Đảng và Hiến pháp năm 2013. Đồng thời là giải pháp phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, góp phần hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Phạm vi của đề tài này nghiên cứu về hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước, song một số vấn đề lý luận về khái niệm cơ chế, hoàn thiện cơ chế pháp lý có ý nghĩa tham khảo đối với đề tài của nghiên cứu sinh. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, còn nhiều công trình, bài viết của các học giả trong nước về cơ chế giám sát, cơ chế kiểm soát quyền lực, như: “Cơ chế thực thi giám sát quyền lực nhà nước” của Nguyễn Mạnh Bình [3]; bài “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong nhà nước pháp quyền” của Lê Văn Cảm và Dương Bá Thành [9]. Do giới hạn của luận án nên tác giả chỉ nêu một số công trình khoa học liên quan, song, trong danh mục tài liệu tham khảo, tác giả có đề cập và trích dẫn.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
- Sách và đề tài khoa học
Cuốn sách “Bình luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật” của Uông Chu Lưu [55] đã bình luận khá cụ thể những quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật với mục đích làm rõ ý tưởng, tinh thần của nhà soạn thảo nhằm triển khai thực thi đúng đắn và có hiệu quả quy định của Luật trong thực tiễn. Cuốn sách có nhiều nội dung liên quan chặt chẽ và trực tiếp đến đề tài của luận án như khái niệm văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, giám sát và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật sai trái. Các tác giả của cuốn sách đã bình luận thuyết phục về hoạt động giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Các tác giả cho rằng, giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đều là sự xem xét, đánh giá hình thức và nội dung văn bản để kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật. Tuy hoạt động kiểm tra mới chỉ được xem xét, đánh giá về tính hợp pháp còn tính hợp lý chưa được đề cập đến trong cuốn sách nhưng những nội dung này thực sự có ý nghĩa khi triển khai nghiên cứu hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội [96] đã dành một chương riêng đề cập đến kiểm tra và xử lý văn bản. Kiểm tra, xử lý văn bản được xem xét, phân tích với đối tượng là văn bản pháp luật bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật. Những vấn đề cơ bản nhất về kiểm tra văn bản pháp luật như khái niệm, nguyên tắc, phương thức kiểm tra; thẩm quyền và nghiệp vụ kiểm tra văn bản pháp luật được đề cập khá cụ thể. Ngoài ra, giáo trình này còn phân tích và lý giải khá sâu sắc về xử lý văn bản pháp luật. Dù tiếp cận hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản pháp luật nói chung nhưng nội dung của giáo trình này đã đem lại ý nghĩa thiết thực để luận giải về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Trực tiếp nghiên cứu về xử lý văn bản có cuốn sách “Xử lý văn bản quản lý hành chính nhà nước khiếm khuyết” của Nguyễn Thế Quyền [85]. Cuốn sách đã đề cập tương đối tổng thể về các khía cạnh liên quan đến hoạt động xử lý văn bản hành chính. Tác giả đã lý giải về khái niệm văn bản quản lý hành chính nhà nước; về các văn bản quản lý hành chính nhà nước thuộc diện xử lý; khái niệm xử lý và hình thức, chính nhà nước khiếm khuyết. Cuốn sách đã đề cập việc xử lý văn bản quản lý hành chính nhà nước với nhiều loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính thông thường, song chưa làm nổi bật được sự khác biệt về xử lý đối với từng nhóm văn bản. Một số vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động xử lý văn bản quản lý hành chính nhà nước khiếm khuyết nhưng chưa được đề cập sâu trong cuốn sách, như thẩm quyền, thủ tục và biện pháp xử lý. Mặc dù vậy, nội dung cuốn sách có giá trị trong việc gợi mở một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm sâu sắc thêm về xử lý văn bản nói chung dưới góc độ khoa học pháp lý.
Cuốn sách mang tính nghiệp vụ và có giá trị ứng dụng cao, đó là cuốn “Sổ tay kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật” do nhóm chuyên gia (bao gồm một số chuyên gia độc lập và một số chuyên gia của Bộ Tư pháp) thực hiện soạn thảo và biên tập [54]. Mặc dù một số nội dung đề cập trong cuốn sổ tay còn mang tính trừu tượng, cập nhật nhiều kiến thức, kinh nghiệm mới của nước ngoài về xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật mà không có nội dung về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành, song nhiều nội dung có giá trị mang tính nền tảng để tác giả luận án bàn luận cũng như lý giải sâu sắc hơn, logic hơn về cơ chế kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, có thể kể đến như tiêu chí chung của một văn bản quy phạm pháp luật tốt; nội dung của thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật…
Đề tài “Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp [111] đã nghiên cứu khá sâu sắc về khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phân biệt kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với một số khái niệm tương tự để khẳng định kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có những dấu hiệu đặc thù; phân tích về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và mục đích, ý nghĩa của việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới. Có thể nói, đây là đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về cơ sở lý luận kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cũng như đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, chưa đề cập đến xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Kỷ yếu hội thảo quốc tế về bảo hiến là cuốn sách đã tập hợp đầy đủ các báo cáo tham luận của các chuyên gia Việt Nam và quốc tế được trình bày tại hội thảo. Hội thảo quốc tế về bảo hiến do Dự án hỗ trợ cải cách pháp luật và tư pháp Việt Nam, Văn phòng hỗ trợ dự án chung phối hợp với Văn phòng Quốc hội tổ chức. Cuốn sách này là một trong những đóng góp của các nhà khoa học luật nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng thiết chế bảo hiến phù hợp ở Việt Nam. Tuy nội dung cuốn sách không nghiên cứu trực tiếp về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật nhưng từ những cơ sở lý luận về thiết chế bảo hiến nhưng những nghiên cứu này đã gợi mở cho nghiên cứu sinh tiếp cận về cơ chế kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ngoài hệ thống. Nếu như thiết chế bảo hiến bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp thì thiết chế Tòa án hành chính lại bảo vệ tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành, bảo đảm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật không chỉ hợp hiến mà còn hợp pháp, thống nhất và đồng bộ. Trong các báo cáo tham luận, bài viết “Tính hợp hiến và hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật” của Bùi Thị Đào [28] đã luận giải cụ thể và khá xác đáng về các biểu hiện của tính hợp pháp, tính hợp hiến, là tiền đề và cơ sở quan trọng để Tòa Hiến pháp ra phán quyết đối với văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù nội dung của cuốn sách chỉ liên quan đến một vài khía cạnh của luận án, song đây cũng là những nội dung mà luận án cần nghiên cứu, bởi vì muốn hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu chí để nhận biết văn bản quy phạm pháp luật hợp hiến, hợp pháp.
Đề tài “Kiểm tra, rà soát, xử lý, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật” [30] được nhóm tác giả nghiên cứu công phu với cách tiếp cận khái niệm kiểm tra rất rộng bao gồm cả kiểm tra trước (thẩm định, thẩm tra) và kiểm tra sau khi văn bản được ban hành. Đồng thời, khái niệm kiểm tra mà đề tài tiếp cận còn được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và hoạt động kiểm tra của cơ quan hành chính. Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu về hoạt động rà soát, xử lý và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật theo hướng các hoạt động này tuy có nét khác biệt song cùng chung mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành.
- Luận án, luận văn và các bài báo Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
“Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính” của Bùi Thị Đào [29] đã đi sâu phân tích các tiêu chí về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính để từ đó khẳng định tính hợp pháp và hợp lý luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, làm tiền đề cho nhau. Tác giả đã tiếp cận khái niệm quyết định hành chính bao gồm hai loại quyết định hành chính quy phạm pháp luật và quyết định hành chính áp dụng pháp luật (cá biệt). Vì vậy khi đưa ra những tiêu chuẩn về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính ngoài những điểm chung giống nhau, mỗi nhóm quyết định hành chính lại có tiêu chuẩn đặc thù về tính hợp pháp và tính hợp lý (với quyết định hành chính cá biệt phải được ban hành đúng thời hạn…).
“Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” của Đoàn Thị Tố Uyên [116] có phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp; đã xây dựng được các tiêu chuẩn đánh giá tính hợp pháp và hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở lý luận để kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật; chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa các biện pháp xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu bất hợp pháp và bất hợp lý. Trong số các giải pháp đảm bảo cho hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả nhất, luận án đã đưa ra giải pháp mang tính lâu dài, đó là trao thẩm quyền cho Tòa án hành chính trong việc phán quyết tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật, vấn đề này có giá trị tham khảo rất bổ ích, nhất là đề xuất giải pháp liên quan đến thẩm quyền xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật trong luận án.
“Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta hiện nay” của Trương Thị Phương Lan [53] cũng đã nghiên cứu những vấn đề tổng quan về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn lý giải một số vấn đề cơ bản về lý luận, thực trạng và giải pháp cho hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, phạm vi mới chỉ giới hạn với những văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành.
“Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp bộ ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Tuấn [102], tác giả đã tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp bộ Việt Nam. Tuy nhiên, với quy mô luận văn thạc sĩ, nên phạm vi còn hẹp, một số vấn đề cần tiếp tục tranh luận, hoàn thiện thêm.
Bài viết “Văn bản quy phạm pháp luật và quy định của luật thực định Việt Nam về văn bản quy phạm pháp luật” của Nguyễn Minh Đoan [32] đã khẳng định hai dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất của văn bản quy phạm pháp luật là luôn gắn liền với Nhà nước (do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện) và có chứa quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung). Theo tác giả những dấu hiệu khác của văn bản quy phạm pháp luật như thủ tục, trình tự ban hành và hình thức của văn bản tuân theo quy định pháp luật là những dấu hiệu quan trọng và bắt buộc. Vì vậy, tác giả cho rằng, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ cần định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật với hai dấu hiệu bắt buộc như gắn liền với Nhà nước và có chứa đựng quy tắc xử sự chung là đủ. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Bài viết “Văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật” của Phạm Hồng Thái [92] đã chỉ ra những điểm bất cập của quy định pháp luật hiện hành về văn bản quy phạm pháp luật, là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và chất lượng hệ thống pháp luật. Từ đó tác giả đã đề xuất những giải pháp có ý nghĩa nhằm nhận diện chính xác văn bản quy phạm pháp luật hiện nay.
Bài viết “Tính hợp pháp và hợp lý của văn bản pháp luật và các biện pháp xử lý khiếm khuyết của nó” của Vũ Thư [94], tác giả đã phân tích khá sâu sắc và cụ thể về tiêu chí đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật nói riêng; các biểu hiện tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản pháp luật, để từ đó thấy được giữa tính hợp pháp và tính hợp lý luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong hợp pháp đã có hợp lý và ngược lại. Đồng thời, bài viết còn bình luận khá lôgic, tương đối rõ ràng về từng biện pháp xử lý đối với văn bản pháp luật khiếm khuyết.
Bài viết “Trách nhiệm về ban hành văn bản quy phạm pháp luật sai trái” của Hoàng Thị Ngân [62], tác giả đã đề cập, bàn luận về một vấn đề khá nhạy cảm và khó thực hiện trong bối cảnh của Việt Nam lúc đó cũng như hiện nay, đó là trách nhiệm của người ban hành văn bản quy phạm pháp luật sai trái. Bài viết khẳng định, cơ quan ban hành cũng như cơ quan tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật sai trái sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật, thậm chí trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng.
Tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, tác giả luận án cũng tham gia một số sách và có một số bài viết liên quan đến kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, như: “Hỏi – đáp về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật” [98]; “Tình huống nghiệp vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật“, tập I và II [99]; các bài viết: “Một số vấn đề về thao tác kiểm tra, phát hiện và đề xuất hướng xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp pháp luật” [100]; “Một số vấn đề về kiểm tra văn bản theo chuyên đề, theo lĩnh vực” [101]; “Bàn về khái niệm kiểm tra và một số khái niệm liên quan đến kiểm tra” [103]; “Một số quan điểm hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” [104]; “Cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật” [105]; “Một số đặc trưng cơ bản của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật” [106].
Ngoài các công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp pháp luật như đã trình bảy ở trên, quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy, có một số công trình khác có thể nghiên cứu, đánh giá, rút ra những giá trị tham khảo, ví dụ như: Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Sách nghiệp vụ “Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật” do Lê Hồng Sơn [88], bên cạnh các nội dung hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, đã phân tích khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, khái niệm rà soát, thường xuyên rà soát văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc, trình tự thủ tục rà soát văn bản quy phạm pháp luật… đồng thời, đánh giá rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật có thể được xem là một trong các cơ chế hậu kiểm nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản đã được ban hành. Mặc dù đến nay nhiều nội dung của cuốn sách đã lạc hậu so với Nghị định số 16/2013/NĐ-CP của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa văn bản vừa được ban hành, song cuốn sách trên vẫn là tài liệu bổ ích giúp tác giả tham khảo, cũng như có điều kiện để đối chiếu, so sánh hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình thực hiện Đề tài luận án. (ii) Bài viết “Giám sát xã hội như một giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí” của Tạ Ngọc Tấn [91] đã chỉ rõ rằng, thực chất giám sát xã hội là sự kiểm tra đánh giá, điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ thực thi quyền lực nhà nước. Đồng thời, phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp khắc phục những thiếu sót, hạn chế, cũng như những hành vi sai trái, những vấn đề bất hợp lý, lỗi thời, không phù hợp với bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa và quản lý, giáo dục đội ngũ cán bộ trong hệ thống cơ quan nhà nước. Trên cơ sở phân tích thực trạng giám sát trong bộ máy nhà nước và chỉ rõ giám sát xã hội là một trong phương thức quan trọng, góp phần bổ sung giám sát trong bộ máy nhà nước nhằm chủ động phòng ngừa, khắc phục sự độc đoán, chuyên quyền đối với thiết chế quyền lực nhà nước; (iii) “Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước” của Nguyễn Đăng Dung [15], đã đề cập tới một số phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Trên cơ sở luận chứng của mình về sự cần thiết của nhà nước đối với xã hội, nhưng nhà nước luôn luôn có xu hướng lạm quyền, sự tha hóa của nhà nước, xâm phạm đến quyền tự do, lợi ích chính đáng của con người. Để thực hiện chế ước quyền lực nhà nước bằng cơ chế của hiến pháp, pháp luật và phân chia quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, ba nhánh quyền lực đó chế ước lẫn nhau, bảo đảm các nhánh quyền lực không được lạm quyền “quyền lực giám sát quyền lực”. Vì vậy, để thực hiện quyền lực giám sát quyền lực có hiệu quả bắt buộc xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền và giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước. Trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn hệ thống chính trị Hoa Kỳ, tác giả đã khảo cứu và đưa ra các kiến nghị về chế ước quyền lực nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, dưới góc độ chủ yếu phân tích về chế độ trách nhiệm của Nhà nước, tác giả chú tâm nghiên cứu về phân chia quyền lực và quyền lực chế ước quyền lực trong bộ máy nhà nước, chưa đi sâu nghiên cứu giám sát xã hội đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Những cơ sở lý luận về thiết kế mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó cơ chế giám sát quyền lực nhà nước ở các nhà nước tư bản đương đại, dựa trên cơ sở học thuyết phân quyền của Motesquieu và học thuyết chủ quyền nhân dân của Rousseau. Nếu như Motesquieu xây dựng mô hình tổ chức và giám sát quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân công quyền lực, quyền lực chế ước quyền lực để đảm bảo quyền lực không dẫn đến độc đoán, chuyên quyền, thì Rousseau với quan điểm xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nghị viện do nhân dân ủy thác quyền lập pháp tối cao, thực hiện giám sát quyền lực của chính phủ, tôn trọng quyền độc lập xét xử của tòa án. Hầu hết nhà nước tư sản đương đại, xây dựng mô hình quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, xác lập cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nằm chính ngay trong cấu trúc của quyền lực nhà nước, trên cơ sở hai học thuyết nêu trên, tận dụng những điểm hợp lý của chúng và luật hóa cơ chế giám sát quyền lực nhà nước. Trên cơ sở tư tưởng về phân chia quyền lực và giám sát quyền lực nhà nước, các học giả tư sản nghiên cứu và phát triển giám sát quyền lực được thực hiện thông qua hai hệ thống cơ chế giám sát quyền lực bao gồm: (i) Cơ chế giám sát quyền lực bên trong quyền lực nhà nước, tự nhà nước kiểm soát quyền lực (thông qua thiết kế mô hình về cơ chế vận hành quyền lực nhà nước như: phân quyền và đối trọng; giám sát lập pháp với hành pháp; tư pháp và tư pháp với lập pháp, hành pháp; (ii) Cơ chế giám sát bên ngoài quyền lực nhà nước (thông qua hoạt động các nhóm lợi ích, các nhóm áp lực…). Mặc dù các học thuyết nêu trên chủ yếu đề cập đến xây dựng mô hình quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, xác lập cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước…, song có thể tham khảo có chọn lọc một số giá trị của các học thuyết trong quá trình nghiên cứu, đề xuất những vấn đề liên quan đến thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật.
Cuốn sách “Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp” của Martin Lombard và Gilles Dumont [56] đã lý giải về nguồn Luật và trật tự thứ bậc giữa các nguồn của pháp luật hành chính và cơ chế kiểm tra sự tuân thủ trật tự thứ bậc đó. Quá trình phân tích về từng loại nguồn luật, cuốn sách đã tiếp cận cách hiểu, bản chất, trật tự pháp lý và đặc biệt là đã đưa ra những tiêu chí để kiểm tra, giám sát về tính hợp hiến, về sự phù hợp của quyết định hành chính với quy định của điều ước quốc tế; cơ chế kiểm tra, giám sát của Tham chính viện đối với pháp lệnh và điều kiện về tính hợp pháp của thông tư có hiệu lực thi hành bắt buộc. Cuốn sách là tài liệu hữu ích để tác giả luận án có điều kiện so sánh, tham khảo luận giải về những vấn đề liên quan đến cơ chế kiểm tra và tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Cuốn sách “Cải cách cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản hành chính ở Trung Quốc” của tác giả Meng Sheng do Đinh Văn Minh và Nguyễn Văn Toàn biên dịch [57] đã đề cập đến những kinh nghiệm trong việc đánh giá tính hợp pháp, tính đúng đắn của một văn bản hay một việc làm của cơ quan hành chính. Cuốn sách có dung lượng lớn dành cho việc phân tích, bình luận về truyền thống, lịch sử phát triển việc kiểm tra các văn bản hành chính ở Trung Quốc từ các triều đại phong kiến đến nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Phù hợp với nguyên tắc Hiến pháp và với đặc điểm của đối tượng kiểm tra, việc kiểm tra các văn bản hành chính hướng tới việc nghiên cứu về ba vấn đề sau: (i) Cân bằng giữa lợi ích chung và lợi ích cá nhân; (ii) Cân bằng giữa việc thực hiện tốt công quyền và bảo vệ các quyền của công dân;
Cân bằng giữa nguyên tắc về tính hợp pháp và sự phù hợp với các tình huống ngoại lệ. Về hoạt động hành chính, hệ thống kiểm tra hoạt động hành chính trong luật pháp Trung Quốc có đặc điểm riêng bởi tính đa dạng, phong phú với các hình thức khác nhau, như: kiểm tra của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; kiểm tra theo hệ thống thứ bậc trong nội bộ nền hành chính, kiểm tra chuyên ngành của Ủy ban thẩm kế và giám sát, kiểm tra chính trị và nhân dân; kiểm tra của Tòa án thông qua hoạt động xét xử… Cuốn sách còn luận giải về cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài và tự kiểm tra đối với văn bản hành chính, các hình thức pháp lý của kiểm tra văn bản hành chính, cải cách cơ chế kiểm tra văn bản hành chính từ cách tiếp cận mới về đối tượng của hoạt động kiểm tra, cải cách cơ chế kiểm tra không mang tính tố tụng với văn bản hành chính đến cải cách về tố tụng hành chính, trong đó nhấn mạnh vai trò, phạm vi và đối tượng kiểm tra của Tòa án hành chính. Khái niệm văn bản hành chính mà cuốn sách đề cập gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt và hợp đồng chính. Tuy có quan niệm khác nhau về cơ chế kiểm tra văn bản giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng cuốn sách có giá trị tham khảo bổ ích và liên quan đến đề tài luận án.
1.1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Từ kết quả hệ thống, đánh giá ở trên cho thấy, ở những khía cạnh khác nhau, việc nghiên cứu về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã được đề cập đến, tuy nhiên, các tác giả chưa có điều kiện để giải quyết toàn diện và sâu sắc mọi khía cạnh của kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Các nghiên cứu về cơ chế pháp lý và hoàn thiện cơ chế pháp lý, trong đó một số công trình mới được công bố, nghiệm thu, đã phân tích, luận giải tương đối toàn diện về một số vấn đề liên quan, như: khái niệm cơ chế pháp lý, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống cơ chế pháp lý, có giá trị tham khảo bổ ích khi nghiên cứu về cơ chế và các yếu tố cấu thành một cơ chế nhất định nào đó. Song các nghiên cứu này thường gắn với các hoạt động, chế định rất đặc thù như: giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước.
Các nghiên cứu về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung tính đến nay không nhiều và chưa mang tính hệ thống. Các công trình nghiên cứu về kiểm tra văn bản thường ở phạm vi hẹp, các tác giả thường nghiên cứu một khía cạnh, hay một, một số nội dung của kiểm tra văn bản như các hình thức xử lý văn bản quy phạm pháp luật, các điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản, thực trạng kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật hiện nay… Vì vậy, với phạm vi và mục đích đã lựa chọn, các công trình nghiên cứu trên chưa đánh giá được toàn diện hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, cũng như chưa đưa ra được hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp đã bị lạc hậu. Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu được triển khai trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (nay đã được thay thế bằng Nghị định số 40/2010/NĐ-CP) hoặc trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, nên nhiều vấn đề nghiên cứu đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành; hoặc một số vấn đề nghiên cứu về cơ bản đã được triển khai trên thực tiễn, tuy nhiên, vẫn cần phải củng cố, hoàn thiện thêm… Về cơ bản, các công trình nghiên cứu thừa nhận rằng, kiểm tra văn bản là giải pháp quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch, khả thi cũng như sự cần thiết, tầm quan trọng của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Song về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh các vấn đề như: thẩm quyền kiểm tra văn bản; hình thức và thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật; trách nhiệm của cơ quan, người ban hành văn bản trái pháp luật; trách nhiệm bồi thường khi áp dụng văn bản trái pháp luật… Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Mặc dù cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt, song, dường như chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án đó là, Luận văn thạc sĩ luật học của chính tác giả luận án “Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp Bộ“, bảo vệ năm 2010 tại Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tuy nhiên, dưới góc độ của một luận văn thạc sĩ, công trình này còn một số hạn chế, phạm vi hẹp, một số nội dung cần tiếp tục bổ sung và hoàn thiện thêm.
Ở nước ngoài, trong phạm vi những công trình mà tác giả đã tiếp cận được cho thấy, các nước không sử dụng cơ chế kiểm tra văn bản như Việt Nam, mà việc kiểm tra, xử lý văn bản được thực hiện thông qua cơ chế khác, như: cơ chế bảo Hiến hoặc sử dụng Tòa án hành chính để giải quyết các vấn đề với tính chất là một kênh giám sát quyền lực nhà nước. Vì vậy, rất hiếm các công trình nghiên cứu về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, có thể nói rằng, cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam là một đặc thù. Khi nghiên cứu, luận giải về những vấn đề liên quan đến hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam cần chú ý đến đặc thù này.
Trên cơ sở sơ lược và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án, tác giả luận án thấy rằng, việc kế thừa, tiếp thu một số kết quả nghiên cứu trước đây như: các đánh giá, phân tích về khái niệm liên quan đến cơ chế, các yếu tố cấu thành cơ chế, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế; một số vấn đề liên quan đến khái niệm, đặc điểm, vai trò của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; về thực trạng hệ thống pháp luật…, đồng thời, sẽ tiếp tục đánh giá, bình luận và từ đó đưa ra nhận định riêng của mình là cần thiết. Nhiều vấn đề khác cũng cần tiếp tục được đánh giá lại, hoặc tiếp tục nghiên cứu, nhằm đưa ra cái nhìn thấu đáo, toàn diện về những vấn đề liên quan đến cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, việc đề xuất các quan điểm, giải pháp riêng cho việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng của luận án và là một trong những điểm mới, một trong những đóng góp quan trọng của luận án.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu trước đây, luận án nghiên cứu về đề tài Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, tiếp tục nghiên cứu, giải quyết những vấn đề cụ thể sau:
Về mặt lý luận, luận án phải làm sáng tỏ:
- Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
- Các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; mối quan hệ giữa các yếu tố của cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Tiêu chí hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án tập trung vào các vấn đề sau đây:
Nghiên cứu thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, bao gồm: thực trạng các quy định của pháp luật về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; thực trạng chủ thể (tổ chức, bộ máy và nhân sự) kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam; các điều kiện bảo đảm. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, đánh giá khái quát tình hình, kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam trong thời gian qua, qua đó giúp cho việc đánh giá thực trạng cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được đúng đắn, khách quan hơn.
Từ lý luận và thực tiễn cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, luận án luận chứng, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về vấn đề hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu, cả về lý luận và thực tiễn được tiếp cận trên các phương diện, góc độ mới, bám sát tinh thần và nội dung Hiến pháp năm 2013, quan điểm, đường lối của Đảng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đặc điểm, truyền thống lịch sử, văn hóa của Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cần thiết. Trên cơ sở đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài luận án cho thấy, công trình nghiên cứu về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đến nay chưa nhiều; các nghiên cứu về kiểm tra văn bản nói chung hoặc là ở phạm vi hẹp hoặc là quá rộng. Riêng nghiên cứu về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hầu như chưa được nhắc đến. Một số kết quả nghiên cứu trước đây, như: về thực trạng hệ thống pháp luật; về khái niệm, đặc điểm của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; về khái niệm, đặc điểm, giải pháp hoàn thiện một số cơ chế khác (cơ chế giám sát quyền lực, cơ chế pháp lý…) có thể kế thừa và tiếp tục được đánh giá, bình luận, từ đó giúp tác giả đưa ra cái nhìn thấu đáo, toàn diện hơn về những vấn đề có liên quan đến cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. Ở nước ngoài, hầu như không có nghiên cứu về cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với cơ chế tương tự Việt Nam, vì vậy, có thể nói rằng, cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam là một đặc thù. Luận văn: Hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Luận án nghiên cứu đề tài cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn một cách hệ thống, toàn diện, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm tra văn bản pháp luật
